Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Nghi thức chào hỏi trong văn hóa giao tiếp của người nga và người việt công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (646.33 KB, 73 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA: NGỮ VĂN NGA


CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG 2010

Tên cơng trình:

NGHI THỨC CHÀO HỎI TRONG VĂN HĨA GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI NGA VÀ NGƯỜI VIỆT

Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: MAI THỊ NGỌC HUYỀN

(Nữ, Lớp 5B, Năm thứ V)

Thành viên: VŨ THỊ NGỌC BÍCH

(Nữ, Lớp 5B, Năm thứ V)

Người hướng dẫn: Th.S. NGUYỄN THỊ THU THỦY

TP. HỒ CHÍ MINH – 2010


Table of Contents
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ...................................................................... 6
1.1 Khái quát về nghi thức ............................................................................ 6


1.2 Khái quát về nghi thức chào hỏi ............................................................ 12
CHƯƠNG 2: NGHI THỨC CHÀO HỎI CỦA NGƯỜI NGA ........................ 14
2.1. Cấu trúc lời chào Nga .......................................................................... 14
2.2. Ý nghĩa của lời chào tiếng Nga ......................................................... 22
2.3. Cử chỉ điệu bộ, ngữ điệu kèm theo khi chào......................................... 23
CHƯƠNG 3: NGHI THỨC CHÀO HỎI CỦA NGƯỜI VIỆT ....................... 29
3.1. Phân loại ........................................................................................... 29
3.2. Cử chỉ điệu bộ khi chào ..................................................................... 44
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NÉT KHÁC BIỆT TRONG NGHI THỨC GIAO TIẾP
CHÀO HỎI GIỮA TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT ...................................... 47
4.1. Bản chất câu chào của người Việt là hành động chào trước tiên, còn Nga
cũng như Anh, Pháp dùng lời chúc làm lời chào. ........................................ 47
4.2. Nếu 24 giờ của một ngày được chia thành buổi sang, buổi chiều, buổi tối
thì ở trong tiếng Nga và một số ngôn ngữ khác, tương ứng với mỗi buổi là
một câu chúc như: Доброе утро!, Добрый день!, Добрый вечер! ............ 47
4.3. “Chào!” hay “Xin chào!” đối với người Việt, kiểu chào này có tần số sử
dụng không cao và thực ra chỉ mới xuất hiện sau này, do ảnh hưởng của việc
học ngoại ngữ. Sự khác biệt xuất phát từ bản chất câu chào, câu chào của
người Việt lời chào thường gồm hai thành phần: ........................................ 47
4.4. Các biểu thức tình thái...................................................................... 48
4.5. Kiểu chào bằng cách hô gọi............................................................... 49
4.6. Đại từ tự xưng ................................................................................... 49
4.7. Hỏi để chào ....................................................................................... 49
KẾT LUẬN.................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 52
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 55


1


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong thời kỳ của thế giới hội nhập đã mở ra nhiều cơ hội cho
chúng ta giao lưu và hội nhập kinh tế, cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO
là việc các đối tác quốc tế cũng nhiều hơn, nhu cầu giao tiếp liên văn hóa và
ngơn ngữ cũng gia tăng địi hỏi giao tiếp có hiểu biết cao hơn đã nảy sinh cơng
tác nghiên cứu văn hóa - ngôn ngữ phục vụ cho hội nhập. Hơn nữa, Liên Bang
Nga - một cường quốc kinh tế, từ lâu đã trở thành một đối tác quan trọng của
Việt Nam trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, đã từ rất lâu, tiếng Nga được xem là
ngôn ngữ phổ biến ở nước ta và việc đưa tiếng Nga vào chương trình học trong
các lớp phổ thơng có thể coi là một minh chứng cụ thể. Trong quá trình học
tiếng Nga, người Việt thường mong muốn hiểu rõ không chỉ về mặt ngữ pháp
của tiếng Nga mà cả về mặt ý nghĩa sử dụng trong ngơn ngữ của họ. Chính vì
vậy, chúng tơi mong muốn đưa ra trong đề tài nghiên cứu khoa học của mình,
một số nét khác biệt trong nghi thức chào hỏi giữa người Nga và người Việt để
giúp người học có thể hiểu rõ hơn cách thức và các quy tắc chào hỏi thông
thường của người Nga nhằm giúp cho giao tiếp có hiệu quả hơn do khơng bị
các khác biệt về văn hóa - ngơn ngữ cản trở.
Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là để làm chủ được một ngoại ngữ
khơng phải là đơn giản, thậm chí là khơng thể, nếu khơng có những hiểu biết
cơ bản về văn hóa của dân tộc đó. Ví dụ: một số sinh viên Việt đang theo học
tiếng Nga, khi gặp một cơ bé người Nga, chào theo thói quen được học trên lớp
khi chào thầy cô là: “Здравствуйте!” mà không hiểu rằng như thế là sai, vì ở
đây trịnh trọng với một cơ bé nhỏ tuổi là khơng thích hợp. Mặt khác, những
người đến từ những nền văn hoá khác nhau giao tiếp với nhau bằng một ngơn
ngữ chung nào đó, họ thường có xu hướng áp đặt văn hóa của dân tộc mình lên
ngơn ngữ được sử dụng để giao tiếp. Ví dụ: người Việt trong giao tiếp với
người Nga đã bộc lộ khá rõ nét những áp đặt đó. Đơn cử tiêu biểu nhất là trong
chào hỏi lần đầu gặp mặt. Nếu như người Việt thấy việc hỏi tên, tuổi, tình trạng



2

hơn nhân… ví dụ: “Anh/Chị bao nhiêu tuổi? Đã lập gia đình chưa?” là một sự
quan tâm bình thường trong xã giao. Tuy nhiên, đối với người Nga điều này sẽ
khiến họ cảm thấy không thoải mái nếu không muốn nói là khó chịu. Ngun
nhân chính là do sự khác biệt văn hóa giữa hai dân tộc Việt và Nga, và đặc biệt
là do người giao tiếp thiếu hiểu biết về văn hóa của nước bạn. Điều đó sẽ dẫn
đến những hiểu lầm đáng tiếc không tránh khỏi khi chào hỏi, xin lỗi, cám ơn,
đề nghị, thỉnh cầu, khuyến cáo, mời…và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến các
đổ vỡ, thất bại trong giao tiếp, làm cho giao tiếp bị ngừng trệ, gián đoạn.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khoa học này, chúng tôi chủ
trương không đi sâu vào tất cả các hành vi giao tiếp trên mà chủ yếu chỉ đưa ra
những khác biệt về văn hoá trong lời chào hỏi trong giao tiếp. Trong cuộc sống,
con người dù đi bất cứ đâu, dù gặp ai đó quen hay không quen cũng không
tránh khỏi những lời chào hỏi đơn thuần xã giao với người khác trước khi bắt
đầu cuộc đối thoại. Do đó, sẽ rất dễ gây ra những khó chịu, hiểu lầm nếu người
chào hỏi khơng biết cách lựa chọn ngôn từ phù hợp và những cử chỉ kèm theo.
Điều này càng dễ nảy sinh trong giao tiếp liên ngôn, khi người tham gia giao
tiếp đến từ những nền văn hóa khác nhau. Chính vì vậy, chúng tôi hi vọng
nghiên cứu về một số điểm khác biệt trong nghi thức chào hỏi của người Nga
và người Việt của chúng tơi có thể giúp người đang theo học tiếng Nga giảm
bớt những xung đột văn hóa khi thực hiện lời chào trong giao tiếp. Để làm
được điều đó thì chỉ có khả năng ngoại ngữ là chưa đủ, mà cịn cần có hiểu biết
về văn hóa. Trong q trình giao tiếp liên ngơn (interlingual communication)
người học chỉ nói đúng ngữ pháp thơi thì chưa đủ, họ cần phải biết cách nói sao
cho phù hợp. Như GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã nói: “Người ta ngày càng
hiểu rõ rằng, khi thiếu chiều sâu văn hóa, ngoại ngữ chỉ là cái xác không hồn”
[40, 9]. Cho nên người học ngoại ngữ cần ý thức rõ vai trị của văn hóa trong

quá trình học ngoại ngữ cũng như cần thấy được mối liên hệ mật thiết giữa
ngơn ngữ và văn hóa. Chính vì tính cấp thiết trong tất cả các nhu cầu nói trên,
chúng tơi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài này.


3

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nước ta cũng như trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu, sách báo và một
số đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, các nghiên cứu sinh về cách nghi
thức chào hỏi trong văn hóa giao tiếp trong tiếng Nga và tiếng Việt như:
- Phạm Thị Thành, Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn:
chào, cảm ơn, xin lỗi, Luận án Phó Tiến sĩ Ngơn ngữ học (1995), trường Đại
học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – ĐHQGTPHCM.
- T.S. Nguyễn Thị Lương, Các hình thức chào trực tiếp của người Việt,
Nghiên cứu ngữ văn, năm 2003.
- Th.S. Nguyễn Thị Hồng Ngân (Khoa Văn – Đại học Sư phạm Hà Nội),
Lời chào của người Việt, Hội thảo Khoa học Trẻ 1 – khoa Ngữ văn.
- T.S. Hà Cẩm Tâm và Vũ Minh Huyền, Cách chào hỏi của người Việt và
người Mỹ, Đề tài nghiên cứu khoa học.
- Nhóm sinh viên năm 3 – khóa 2005, Nghi thức lời nói, Đề tài nghiên cứu
khoa học 2008, trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn –
ĐHQGTPHCM.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trong khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành tổng hợp, khái quát và
liệt kê các nghi thức chào hỏi trong giao tiếp của tiếng Nga và tiếng Việt. Và
thêm vào đó, chúng tơi cịn chỉ ra một vài nét khác biệt trong nghi thức giao
tiếp chào hỏi giữa tiếng Nga và tiếng Việt. Ngồi ra, chúng tơi cịn tiến hành
quan sát, đúc kết lại những tình huống chào hỏi thường gặp dễ gây hiểu lầm,
thậm chí gây khó chịu cho người nghe trong văn hóa giao tiếp trong hai ngơn

ngữ nói trên.
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lí luận
Để nghiên cứu đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã dựa trên những
kiến thức tiếp thu được trong trường lớp, cũng như những tình huống nghiên


4

cứu giao tiếp, xã giao trong phim ảnh, cũng như ngồi xã hội. Ngồi ra, chúng
tơi cịn tham khảo thêm những tài liệu đáng tin cậy trong một số sách sau:
- Ngữ dụng học, Tập 1 của Nguyễn Đức Dân về vấn đề lượt lời và bối cảnh.
- Trần Ngọc Thêm, Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam về các đặc điểm
đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt.
- Русский речевой этикет của Акишина А. А. и Формановская Н. И. về
lời chào trong tiếng Nga.
- Речевой этикет и культура общения của Формановская Н. И. về các
dạng giao tiếp.
- Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn: chào, cảm ơn, xin
lỗi của Phạm Thị Thành về lời chào trong tiếng Việt.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơng trình nghiên cứu đề tài của chúng tơi chủ yếu được tiến hành dựa trên
các phương pháp: liệt kê, phân loại, so sánh, phân tích, tổng hợp và miêu tả.
5. Giới hạn của đề tài
Đề tài của chúng tơi chỉ dừng lại tìm hiểu sâu lời chào thân thiện mở
thoại của lượt lời thứ nhất, phương ngữ Hà Nội lời chào đương đại từ nửa cuối
thế kỷ 20 cho đến nay.
6. Đóng góp mới của đề tài
Sự đóng góp mới trong đề tài của chúng tơi là phân loại về mặt ngôn
ngữ số lượng câu chào được tác giả Балакай А. Г. thống kê trong sách

“Словарь русского речевого этикета” (2001), đồng thời đưa ra một vài nét
khác biệt trong nghi thức giao tiếp chào hỏi giữa tiếng Nga và tiếng Việt và
những tình huống thường gặp gây hiểu lầm, khó chịu cho người nghe khi
chào hỏi khơng đúng cách trong tiếng Nga và tiếng Việt.


5

7. Ý nghĩa thực tiễn
Khi hoàn thành đề tài này, chúng tơi hi vọng có thể củng cố lại kiến
thức cho các bạn học sinh, sinh viên đang theo học tiếng Nga và những ai yêu
thích tiếng Nga, cũng như những người đang nghiên cứu hay theo học ngôn
ngữ Việt về ý nghĩa, cách thức, các quy tắc chuẩn mực được đa số chấp nhận
khi chào hỏi bằng tiếng Nga và tiếng Việt, đồng thời cung cấp thêm một số
thông tin mới về vấn đề này. Qua việc đưa ra những nét khác biệt trong nghi
thức giao tiếp chào hỏi của hai ngôn ngữ, chúng tôi mong muốn đem đến cho
các bạn học sinh, sinh viên một cái nhìn tổng quát hơn về nghi thức giao tiếp
chào hỏi trong cả hai ngôn ngữ Nga và Việt.
8. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Nghi thức chào hỏi trong tiếng Nga
- Chương 3: Nghi thức chào hỏi trong tiếng Việt
- Chương 4: Một vài nét khác biệt trong nghi thức giao tiếp chào hỏi
giữa tiếng Nga và tiếng Việt


6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN


1.1 Khái quát về nghi thức
1.1.1. Định nghĩa
1.1.1.1. Nghi thức
Theo từ điển “Chuyên dụng về nghi thức”: “Nghi thức là toàn bộ những
quy tắc xử sự khi giao tiếp với người khác như cách xử sự với những người
xung quanh, các hình thức giao tiếp hay chào hỏi, cách xử sự ở những nơi công
cộng, cử chỉ điệu bộ và cách ăn mặc.”
«Словарь по этике» определяет это понятие так: «Этикет (фр.
etiquette – ярлык, этикетка) – совокупность правил поведения,
касающихся внешнего проявления отношения к людям (обхождение с
окружающими,

формы

обращения

и

приветствий,

поведение

в

общественных местах, манеры и одежда)» [Словарь по этике 1981: 412].
Tác giả Введенская Л.А. trong “Русский язык и культура речи”
(2002) cho rằng: “Nghi thức là tồn bộ những quy tắc thơng thường quy định
trật tự của một hoạt động nào đó.”
“Этикет представляет собой совокупность принятых правил,

определяющих порядок какой-либо деятельности.”
Яндекс Cловари nói: “Nghi thức là toàn bộ các quy tắc chuẩn phản ánh
các khái niệm về những hành vi cư xử phải có. Chúng hình thành quá trình giao
tiếp của con người trong xã hội.”
“ЭТИКЕТ



совокупность

норм

и

правил,

отражающих

представления о должном поведении и формализующих процесс
коммуникации людей в обществе.”
Trong bộ từ điển tiếng Nga bốn tập, của Viện hàn lâm khoa học Liên Xơ
nghi thức thì được hiểu là: “Nghi thức là thể lệ quy định cách cư xử và các hình


7

thức đối xử trong một xã hội nào đó”. (dẫn theo hai tác giả A. A. A-ki-si-na và
N. I. Phốc-ma-nốp-xcai-a trong “Nghi thức lời nói Nga” (1982)).
Và sau này Формановская Н. И. (1987) đã hình dung vấn đề minh xác
hơn: “Nghi thức – đó là một hệ thống phức tạp các dấu hiệu chỉ ra trong quá

trình giao tiếp (bằng lời nói và bằng dấu hiệu) thái độ đối với người khác –
người đối thoại, ý kiến đáng giá người ấy và đồng thời cũng là sự tự đánh giá
mình, vị trí của mình đối với người đối thoại ấy.”
Theo từ điển của Hoàng Phê (1997), “nghi thức” là “toàn bộ nói chung,
những điều nói chung, những điều quy định theo quy ước xã hội hoặc thói quen
cần phải làm đúng để bảo đảm tính nghiêm túc của sự giao tiếp hoặc của một
buổi lễ. Đón khách nước ngồi theo nghi thức ngoại giao, nghi thức của lời
nói.” [52, 653]
1.1.1.2. Nghi thức lời nói
A. A. A-ki-si-na và N. I. Phốc-ma-nốp-xcai-a trong “Nghi thức lời nói
Nga” (1982) đã xác định: “Nghi thức lời nói…là những quy tắc giao thiệp bằng
lời nói – những ước lệ được xác định bởi mối quan hệ tượng hỗ giữa những
những người nói với nhau. Những quy tắc này được cộng đồng dân tộc ấy và
đồng thời cả những nhóm xã hội nhỏ bé, tiếp nhận tùy thuộc vào lứa tuổi, tầng
lớp xã hội, tình huống giao tiếp…” [1,5].
“... nghi thức lời nói với nghĩa hẹp là những quy tắc ứng xử lời nói đặc
trưng của từng dân tộc được dùng trong các tình huống có những người đối
thoại đang tiếp xúc và giao tiếp với giọng được chọn phù hợp với hoàn cảnh
giao tiếp, với các dấu hiệu xã hội của những người đối thoại và các tính chất
của các mối quan hệ giữa họ với nhau, và được biến thành các động hình giao
tiếp. ”
Sau này Фoрмановская Н. И. trong “Русский речевой этикет” (1987)
cho rằng: “Nghi thức lời nói là các qui tắc hành vi lời nói có khả năng điều
chỉnh, là một hệ thống các cách thức cố định trong giao tiếp, có tính điển hình,
đặc trưng của một dân tộc, được xã hội chấp nhận và quy định trong việc hình


8

thành giao tiếp với người đối thoại, duy trì hay chấm dứt giao tiếp trong cung

cách do người lựa chọn.”
«Под речевым этикетом понимаются регулирующие правила
речевого поведения, система национально специфичных стереотипных,
устойчивых формул общения, принятых и предписанных обществом для
установления контакта собеседников, поддержания и прерывания
контакта в избранной тональности».
Trên trang web về “Русский язык и культура речи”,
chủ đề số 7 viết :“Nghi thức giao tiếp là một hệ thống những quy tắc xử sự
trong giao tiếp và những công thức cố định trong việc giao tiếp lịch sự.”
“Речевой этикет - это система правил речевого поведения и
устойчивых формул вежливого общения .”
Theo Nguyễn Như Ý (1997), nghi thức lời nói là những quy định bắt
buộc về hành vi nói năng [76, 143]. Cịn Bùi Phụng (2000), trong nghi thức lời
nói Anh – Việt (English – Vietnamese Etiquette) [57] , tuy không đả động đến
khái niệm nghi thức, nhưng qua cách phân mục của sách, cũng có thể nhận ra,
quan niệm của tác giả này rất gần gũi với A. A. Акишина và Н. И.
Формановская (1981) đã nhắc ở trên. Cần thấy, đây là sách dạy tiếng Anh
trong các nghi thức giao tiếp cụ thể, đặc biệt có nhắc đến các hình thức trang
trọng hay khơng trang trọng, cho nên có thể tham khảo ngữ liệu khi đối chiếu.
Cuối cùng, Hồ Lê (1996) có nhắc đến cơ chế ngôn giao, nhưng với một nghĩa,
rất rộng, rất gần với việc xác định các phong cách ngôn ngữ khi giao tiếp.
Phạm Thị Thành đã đưa ra một kết luận: “Nghi thức giao tiếp được hiểu
là một hệ thống phức tạp các dấu hiệu chỉ ra trong quá trình giao tiếp bao gồm
lời nói và các dấu hiệu kèm theo hoặc dấu hiệu thay cho lời nói. Những nghi
thức này được quy định theo một trình tự chặt chẽ với những hành vi cụ thể, cả
về hành động lẫn lời nói, mà mỗi bên cần tuân theo ở mỗi loại xác định. Những
quy tắc, quy ước ứng xử bằng lời nói trong những tình huống giao tiếp cụ thể


9


có liên quan đến đặc điểm dân tộc, sự quy định của xã hội, thói quen, phong
tục tập quán lưu hành tại một giai đoạn lịch sử nhất định”1.
1.1.2. Đặc điểm của nghi thức giao tiếp
Nghi thức giao tiếp mang tính đặc trưng cho mỗi dân tộc. Do đó mỗi
dân tộc đều tự tạo riêng cho mình một hệ thống những quy tắc xử xự giao tiếp.
1.1.2.1. Trong xã hội Nga
Sách “Русский язык и культура речи”, chủ đề số 7 đã viết: Trong xã hội
Nga đặc điểm nổi bật của nghi thức giao tiếp là những phẩm chất sau: tính tế
nhị, nhã nhặn (тактичность), tính ân cần niềm nở (предупредительность),
tính kiên nhẫn (терпимость) và tính thiện chí (доброжелательность)2.
a) Tính tế nhị, nhã nhặn (тактичность)
Tính tế nhị, nhã nhặn là tiêu chuẩn đạo đức địi hỏi người nói cần phải
hiểu người đàm thoại, tránh những câu hỏi không đúng chỗ và tránh đề cập đến
những vấn đề có thể làm cho người đàm thoại cảm thấy khó chịu”.
“Тактичность - это этическая норма, требующая от говорящего
понимать собеседника, избегать неуместных вопросов, обсуждения тем,
которые могут оказаться неприятными для него.”
b) Tính ân cần, niềm nở (предупредительность)
Tính ân cần, niềm nở được thể hiện ở chỗ phải biết đốn trước những
vấn đề có thể nói hay những nguyện vọng của người đàm thoại, sẵn sàng nói tỷ
mỷ cho người đó biết những thơng tin về những chủ đề cơ bản khi nói chuyện.
“Предупредительность

заключается

в

умении


предвидеть

возможные вопросы и пожелания собеседника, готовность подробно
проинформировать его по всем существенным для разговора темам.”
1

Phạm Thị Thành, Nghi thức lời nói tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn: chào, cảm ơn, xin lỗi,

Luận án Phó Thạc sĩ Ngơn ngữ học, trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – ĐHQGTPHCM,
1995.
2

về “Русский язык и культура речи”, chủ đề số 7


10

c) Tính kiên nhẫn (терпимость)
Tính rộng lượng được thể hiện ở chỗ phải bình tĩnh khi rơi vào tình
huống bất đồng ý kiến, tránh những lời phê bình gắt gao về những quan điểm
của người đối thoại. Cần phải tôn trọng ý kiến của người khác, cố gắng hiểu tại
sao họ lại phức hóa quan điểm này hay quan điểm khác. Ngồi ra, tính rộng
lượng cũng gần như là phải biết bình tĩnh, nghĩa là phải thật bình tĩnh khi xử lý
những tình huống hay những lời phát biểu khơng mong đợi hay thiếu tế nhị của
người đàm thoại.
« Терпимость состоит в том, чтобы спокойно относиться к
возможным расхождениям во мнениях, избегать резкой критики взглядов
собеседника. Следует уважать мнение других людей, стараться понять,
почему у них сложилась та или иная точка зрения. С таким качеством
характера, как терпимость тесно связана выдержанность умение

спокойно реагировать на неожиданные или нетактичные вопросы и
высказывания собеседника.”
d) Tính thiện chí (доброжелательность)
Tính thiện chí là cần thiết khi giao tiếp với người đối thoại, cũng như
trong bất kỳ cuộc nói chuyện nào bao gồm: trong nội dung, hình thức, ngữ điệu,
việc lựa chọn từ của cuộc nói chuyện đó.
“ Доброжелательность

необходима

как

в

отношении

к

собеседнику, так и во всем построении разговора: в его содержании и
форме, в интонации и подборе слов.”
1.1.2.2. Trong xã hội Việt
Một bài báo dựa theo sách Cơ sở Văn hóa Việt Nam của GS.TSKH
Trần Ngọc Thêm đã viết về “Đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam”3
như sau:
- Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người
Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè, vì người Việt sống phụ thuộc
3

/>


11

lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên
trong cộng đồng. Và việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai đặc điểm:
Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt có tính thích thăm viếng. Đối
với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách.
Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu
như ngược lại là rất rụt rè – điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay
nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp
và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính
cộng đồng và tính tự trị. Khi đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc,
nơi tính cộng đồng ngự trị thì người Việt Nam sẽ tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp.
Cịn khi ở ngoài cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tự trị phát huy tác
dụng thì người Việt Nam sẽ tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược
nhau ấy khơng hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những mơi trường
khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất, là biểu hiện cho cách
ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.
- Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nơng nghiệp với đặc điểm trọng tình
đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử: “Yêu nhau
yêu cả đường đi/ Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.”
- Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thể quen ưa tìm hiểu, quan
sát, đánh giá...Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia
đình (bố mẹ cịn hay mất, đã có vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy
gái...) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm. Thói quen ưa tìm
hiểu này khiến người nước ngồi có nhận xét là người Việt Nam hay tị mị.
Đặc tính này là sản phẩm của tính cộng đồng làng xã. Người Việt tự thấy có
trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì phải biết rõ
hồn cảnh. Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có
những cách xưng hơ riêng, nên nếu khơng có đủ thơng tin thì khơng thể lựa
chọn từ xưng hơ cho thích hợp. Khi khơng được lựa chọn thì người Việt Nam

dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt.


12

- Tính cộng đồng cịn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao
tiếp, có đặc điểm là trọng sỹ diện. Ở làng quê, thói sỹ diện thể hiện trầm trọng
qua tục lệ ngơi thứ nơi đình trung và tục chia phần.
- Về cách thức giao tiếp, người Việt ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa
thuận. Tính tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vịng vo tam
quốc”, khơng bao giờ mở đầu trực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây.
Đồng thời lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ đã tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ
càng khi nói năng ở người Việt: “Ăn có nhai, nói có nghĩ”. Tâm lý ưa hịa
thuận khiến người Việt Nam ln chủ trương nhường nhịn: “Một sự nhịn là
chín sự lành”...
1.2 Khái quát về nghi thức chào hỏi
1.2.1. Định nghĩa
Theo tác giả Скаженик Е. Н., (sách Практикум по деловому
общению) : “Nghi thức chào hỏi là một trong số những dấu hiệu quan trọng
nhất của nghi thức giao tiếp. Nhờ lời chào chúng ta có thể giao tiếp với những
người xung quanh, thể hiện mối quan hệ giữa người với người.”
“Приветствие – один из самых важных знаков речевого этикета.
С его помощью устанавливается контакт общающихся, выражаются
отношения между людьми.”
Chào hỏi mà phương tiện biểu đạt của nó là các phát ngơn chào hỏi là
một trong những nghi thức giao tiếp không thể thiếu được ở bất kỳ một ngôn
ngữ, một xã hội nào. Cũng như những phát ngôn nghi thức khác (phát ngôn
phục vụ cho những hành vi ứng xử), những phát ngôn này được xây dựng để
giúp cho các thành viên trong xã hội thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan
hệ xã hội đối với người cùng giao tiếp nhằm làm nảy sinh ở họ những phản ứng

tích cực đối với hoạt động giao tiếp. Nói cách khác, chào hỏi là nghi thức giao
tiếp đầu tiên để xác lập mối quan hệ giữa người chủ động đối thoại (tôi) và
người cần đối thoại.


13

Tương tự như các nghi thức: cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng…chào hỏi
không làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mới (ngoại trừ cố ý) mà nhằm bộc lộ
thái độ, tình cảm, sự quan tâm lẫn nhau, giữa những người tham gia giao tiếp.
Người Việt vốn có truyền thống trọng lễ nghĩa nên từ ngàn xưa ông cha ta đã
coi “lời chào cao hơn mâm cỗ” và răn dạy con cháu phải “đi thưa về chào”. Do
đâu mà lời chào lại được đề cao như trong câu tục ngữ trên? Phải chăng hành vi
chào luôn được coi là một biểu hiện của phép lịch sự, một nét đẹp của văn hóa
trong mối quan hệ đối xử giữa người với người trong gia đình cũng như ngồi
xã hội.
Chào có thể được biểu thị bằng ngôn ngữ (lời chào) hoặc bằng ngôn ngữ
cơ thể như: bắt tay, giơ tay, vẫy tay, gật đầu, mỉm cười, ôm hôn…hoặc kết hợp
cả hai.
1.2.2. Bối cảnh
Các yếu tố có ảnh hưởng lớn trong nghi thức chào hỏi. Đó là:
- Bối cảnh: Bối cảnh được hiểu là hồn cảnh cụ thể mà ở đó diễn ra cuộc
gặp mặt – rộng hơn là cuộc giao tiếp. Người ta thường nhắc tới hai loại bối
cảnh:
+ Bối cảnh trang trọng: là bối cảnh diễn ra cuộc giao tiếp mang tính chất
lễ nghi, trang trọng, có tính tổ chức, có kế hoạch, được định trước.
+ Bối cảnh không trang trọng: là bối cảnh diễn ra cuộc giao tiếp mang
tính chất thân mật, gần gũi, khơng có tính tổ chức, khơng được định trước.
- Người giao tiếp. Trong nhân tố này thường được xác định bởi các yếu
tố sau:

+ Vị thế xã hội
+ Tuổi tác
+ Giới tính
+ Mối quan hệ giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp


14

CHƯƠNG 2: NGHI THỨC CHÀO HỎI CỦA NGƯỜI NGA

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tơi nhận thấy số lượng câu chào
trong tiếng Nga rất nhiều. Nhưng chúng tôi chỉ thống kê số lượng câu chào dựa
vào hai sách sau:
- Sách Словарь русского речевого этикета của tác giả Балакай А. Г.
(2001), Москва, «АСТ – пресс»: 382 lời chào.
- Trong Pyccкий Речевой Этикет của hai tác giả A. A. Акишинa và Н.
И. Формановская (1982): 54 lời chào.
2.1. Cấu trúc lời chào Nga
2.1.1. Xét về mặt ngôn ngữ
- 54 lời chào thống kê trong Pyccкий Речевой Этикет của hai tác giả A.
A. Акишинa và Н. И. Формановская (1982) cũng nằm trong số 382 lời chào
của sách Словарь русского речевого этикета của tác giả Балакай А. Г.
(2001), Москва, «АСТ – пресс» do đó chúng tôi chỉ tiến hành phân loại và
thống kê số lượng câu chào dựa vào sách Словарь русского речевого этикета
của tác giả Балакай А. Г. (2001), Москва, «АСТ – пресс».
- Theo thống kê của chúng tôi, trong số 382 lời chào của sách Словарь
русского речевого этикета của tác giả Балакай А. Г. (2001), Москва, «АСТ
– пресс» có các dạng sau đây4:
- Lời chào là một danh từ: 21 từ
Cách 1


4

Các cách gián tiếp

Здоровéнько! [Здорово 2]

Здравия![Здравие]

Мир-дорога! (дорóгой)

Путём-дорожкой! [Путь]

Осанна!

С возвращением!

Phụ lục số 3


15

Начистенько!

С выздоровлением!

Особина-поклон

С прибытием!


Привет!

С приездом!

- Lời chào là một cụm danh từ: 115 cụm từ
+ Danh từ + Danh từ: 65 cụm
Ангел за трапезу!
Бело на воде!
Бело на платье!
Бог (в, на) помощь!
Бог за товаром!
Бог на (по) пути!
Бог на поль!

+ Tính từ/ Đại từ + Danh từ: 49 cụm
Cách 1

Các cách gián tiếp

Моё почтение!

Беседе вашей! [Беседа]

Большой привет (Вам от...; кому-л.)

В кои-то веки! [Век]

Весёлый час!

Вашу ручку (пожалуйте) [Рука]


Всенижайшее почтение!

Доброго здоровья (здоровьица...)!

Глубокое (глубочайшее) почтение

Доброго здравьица! [Здравие]


16

Горячий привет!

Красны Ваши белила [Красный]

Доброе утро! [Добрый]

Мирной беседе! [Мирный]

- Lời chào là động từ
+ Động từ không chia: Добропожаловать! [Добро пожаловать]
+ Động từ chia: 3 từ
Доброжалую! [Добро пожаловать]
Здравствуешь! [Здравствовать]
Здравствую! [Здравствовать]

+ Động từ ở dạng mệnh lệnh thức: 5 từ
Беседуйте! [Беседа]
Здравствуйте! [Здравствовать]

Здравствую! [Здравствовать]
Кланяйтесь Н. [Кланяться]
Откланяйтесь Н. [Откланяться]

- Lời chào là một câu:
+ Câu có động từ chia: 75 câu
(Адресант) приветствует (адресата) [Приветствовать]
Андели послали [Ангел]


17

Ба! Знакомые всё лица!
Бог милости прислал!
Бью челом да солью, да третьей любовью [Челом бью]
Вас (тебя) ли я вижу?! [Видеть]

+ Câu động từ không chia: 25 câu
Весело работать! [Весёлый]
Белы лебеди лететь (летят)! [Лебедь]
Хлеб есть! [Хлеб да соль]
Бело мыть (стирать, полоскать...)!
Возами бы вам не вывозить да мешками не выносить! [Возом возить]
Возом (возами) возить!
Возом не свозить, носом не сносить! [Возом возить]

+ Câu mệnh lệnh thức: 44 câu
Будьте здоровы! [Здоров1]
Будьте готовы!
Батюшка, священствуй!

Будьте здоров на сто годов [Здоров1]
Будьте здравы! [Здрав]


18

Бывайте здоровы! [Здоров1]

- Lời chào là một trạng từ: 2 từ
Здорóво! [Здорово2]
Охотно!
- Lời chào là một danh từ/ trạng từ/ đại từ/ cụm danh từ + danh từ/ đại từ
ở cách 3: 30 cụm
Бело (Беленько) тебе!
Беседа вам!
Ведром тебе!
Всем привет!
Гулянье Вам!
Здорóво Вам! [Здорово2]

- Lời chào là một thán từ: 4 từ
Ба (Ба-ба-ба)!
Виват!
Ура!
Физкультпривет!


19

- Lời chào là từ vay mượn: 6 từ

Бонжур!
Гутен
морген!
Гутен таг!
Хай!
Хау ду ю ду!
Хелло!

- Do chúng tơi khơng có đủ khả năng cũng như tài liệu tra cứu 382 lời
chào, do đó chúng tơi chỉ phân loại những lời chào mà chúng tơi có thể kiểm
tra cũng như tra cứu (330 lời chào).
2.1.2. Xét về mặt ngữ dụng
2.1.2.1. Câu chào + tên
a) Tên trong khai sinh
Ví dụ:
1) Здравствуйте, Анна! У моего щенка на коже болячки на которых не
растёт шерс...
(Web showthread.php)
2) “…Здравствуйте, Сергей. Моя лучшая подруга работает официанткой
в ресторане "Космос" (на ВДНХ)…”
(Web />

20

b) Tên khai sinh và tên phụ danh
Ví dụ:
1) Здравствуйте, Иван Андреевич!
(Web />2) Здравствуйте Иван Анатольевич !Спасибо вам большое за
предыдущий ответ…
(Web />c) Tên thân mật, biệt danh

Ví dụ:
1) Здравствуйте, Валентина! Предлагаем список литературы по Вашей
теме.
(Web />2) Здравствуйте, Таня! Нет, стих не про Ассоль, хотя её тоже странной и
блаженной называли. Спасибо за Ваш интересный взгляд на мой стих!
(Web />2.1.2.2. Câu chào + cách xưng hơ (+ (tên) + họ)
a) Trong tình huống mang tính chất trang trọng: “гражданин” (ơng/
anh), “господин” (ngài)
Ví dụ :
1) Добро пожаловать, господин Барышников!
(Web />2) "Здравствуйте, гражданин Сергей Давыдович и все почетные члены
колхоза!
(Web />

21

b) Trong tình huống mang tính chất thân mật: “уважаемый коллега”
(bạn đồng nghiệp kính mến), “старина” (ơng bạn già), “дорогой друг” (bạn
thân mến)…
Ví dụ:
1) Обращаюсь тихо, чтоб парняга тот не слышал:
- Здравствуйте, товарищ командир!
- Здравствуйте, - отвечает. – Мое воинское звание «старшина». Запомните.
(Truyện ngắn “На пороге службы” – Максим Перепелица)
2) … Сидят и панироски плосасывают. Подхожу к ним.
- Здравствуйте, товарищи! – здороваюсь.
- Здравствуйте, - отвечают нестройно.
(Truyện ngắn “На пороге службы” – Максим Перепелица)
3) Добро пожаловать, писатели!
Я не оговорился, назвав наших читателей писателями…

(Web />c) Trong tình huống mang tính chất suồng sã: “милая”, “бабуля”…chỉ
được dùng giữa những người thân thiết.
Ví dụ 1: Привет, милая! Знаешь, а ты мне сегодня ночью снилась!
Мы с тобой шли по берегу моря и любовались закатом!...
(Web />Ví dụ 2: Привет, бабуля!
(Web />2.1.2.3.

Lời chào + câu hỏi kèm

Những câu hỏi kèm theo thường sử dụng khi chào hỏi trong tiếng Nga:
- Hỏi thăm về cuộc sống/ công việc:


22

+ Как (вы) живете?, Как идет (ваша) жизнь?, Как идут (ваши) дела?,
Как ты живешь?, Как идет твоя жизнь?, Как идут твои дела?, Как
живешь?, Как жизнь?, Как дела?, Как успехи?, Как поживаете? ...
+ Что нового?, Что слышно?, Что (у тебя) случилось?, Что
стряслось?...
+ Ну как дела?, Ну что нового?, Ну что у тебя?, Ну как у тебя?, Ну как
ты?...
- Hỏi thăm về sức khỏe:
+ Как вы себя чуствуете?, Как ваше здоровье?, Как ваше самочуствие?,
Как жизнь?, Как здоровье?...
Ví dụ
1) Привет, Маечка. Что нового? Как жизнь?
2) Доброе утро, Петя! Ну, как живёшь?
3) Николай, приветствую! Ну как дела?...
(“Русский речевой этикет”, Акишина А. А. và Формановская Н. И., tr.33)

2.2.

Ý nghĩa của lời chào tiếng Nga
Trong một ngày chúng ta có lẽ khơng thể nhớ nổi nói từ chào bao nhiêu

lần như: “Добрый день!” (Сhào buổi sáng) – Chúng ta nói với một khách hàng
Nga. “Привет!” – Chúng ta nói với một người bạn hay “Здравствуйте!” –
Chúng ta nói qua điện thoại. Nhưng chúng ta có thể khơng biết những lời chào
của người Nga có nghĩa gì và chỉ hiểu đơn giản đó là một lời chào thông
thường, xã giao. Nhưng thực ra lời chào của mỗi dân tộc khác nhau đều mang
một ý nghĩa ẩn sâu xa nào đó.
Có thể nhận thấy rằng, nhiều người ở những dân tộc khác nhau thường
đề cập tới những điều được xem là quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của
họ trong lời chào. Đối với người Nga – đó là sức khỏe và từ “Здравствуй!”
được hình thành từ gốc từ “Здоровье” (sức khỏe), nghĩa là sống mạnh khỏe,
khỏe mạnh. Chính vì vậy, lời chào Nga mang một ý nghĩa là một lời chúc của


23

chủ thể giao tiếp muốn gửi đến đối tượng giao tiếp. Hay một số nước khác như:
“đối với người Anh và người Mỹ - đó là lao động. Đối với người Ý – là sự ổn
định, ngược lại đối với người Pháp lại là sự thay đổi. Đối với người Ả Rập và
một vài nước Châu Phi – đó là hịa bình”5.
Ví dụ: ở Pháp mọi người chào: “Comment ca va”, nghĩa là “Как это
идет?”. Người Ý chào nhau bằng câu chào: “Come sta”, nghĩa là “Как
стоишь?”. Hay khi người Ả Rập chào: “Salaam alei-kun!”, nghĩa là “Мир
вам!”(Bình an cho bạn), người Anh thì lại chào hỏi câu: “How do you do?”,
dịch nguyên văn từng chữ là “Bạn đang làm gì?”. Ở Ấn Độ buổi sáng mọi
người lại chào nhau quan tâm đến vấn đề: “Не слишком ли беспокоили Вас

комары этой ночью?” (Tối nay muỗi có quấy nhiễu bạn hay khơng?”
Ngồi ra, chúng ta có thể nhận biết đặc điểm trong lời chào của người
Nga là lời chúc thông qua ngay chính nghĩa của từ dùng để chào.
Ví dụ:
- Theo từ điển giải nghĩa từ “привет” có nghĩa là lời chúc chân thành đến
một ai đó, diễn tả sự đồng cảm, đoàn kết.
- Từ “Здравствуй(те)” được sử dụng trong tiếng Nga như một câu chào
khi gặp mặt - đó là cử chỉ kính trọng một người. Nghĩa nguyên văn của từ rất
thực chứng – “здравия (здоровья) желаю” (chúc sức khỏe).
- Từ “Доброе утро!” không chỉ là một lời chào buổi sáng mà mang một
lời chúc một buổi sáng tốt lành. Bởi vì cụm từ này có từ “доброе”, theo từ điển
từ này có nghĩa là tốt lành, tốt đẹp.
2.3. Cử chỉ điệu bộ, ngữ điệu kèm theo khi chào.
Khi chào hỏi khơng chỉ đơn thuần nói ra lời chào mà cũng cần thể hiện
tình cảm, thiện chí của mình. Chính vì vậy khi chào hỏi ngữ điệu và cử chỉ điệu
bộ cũng rất quan trọng.

5

/>

×