Tải bản đầy đủ (.pdf) (335 trang)

Di tích kiến trúc po dam (huyện tuy phong tỉnh bình thuận)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (28.16 MB, 335 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH

DI TÍCH KIẾN TRÚC PO DAM
(HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 17

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH

DI TÍCH KIẾN TRÚC PO DAM
(HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHẢO CỔ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 17
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. BÙI CHÍ HỒNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016


MỤC LỤC


Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng thống kê, biểu đồ, sơ đồ, bản đồ
DẪN LUẬN ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 11
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 11
3.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 11
4. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 11
5. Hướng tiếp cận tư liệu và phương pháp nghiên cứu......................................... 12
5.1. Hướng tiếp cận tư liệu ................................................................................... 12
5.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 12
6. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................... 13
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ............................................. 13
7.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................... 13
7.2. Ý nghĩa thực tiễn............................................................................................ 14
8. Bố cục của đề tài ............................................................................................... 14
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH KIẾN TRÚC PO DAM ................... 15
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên................................................................................ 15
1.1.1. Vị trí địa lý ..................................................................................................15
1.1.2. Địa hình.......................................................................................................16
1.1.3. Khí hậu - thủy văn ......................................................................................18
1.2. Lược sử về vương quốc Champa ................................................................... 19


1.2.1. Lâm Ấp .......................................................................................................21
1.2.2. Hoàn Vương................................................................................................23

1.2.3. Chiêm Thành...............................................................................................26
1.3. Tổng quan về nghệ thuật kiến trúc Champa .................................................. 28
1.4. Nghiên cứu về di tích kiến trúc Po Dam ........................................................ 33
1.4.1. Các kiến trúc được ghi nhận trước đây .......................................................35
1.4.1.1. Tháp Trung tâm .......................................................................................35
1.4.1.2. Nhóm kiến trúc phía nam ........................................................................37
1.4.1.3. Nhóm kiến trúc phía bắc ..........................................................................41
1.4.2. Chương trình khai quật - nghiên cứu năm 2013 - 2014..............................43
1.4.2.1. Phương pháp khai quật ............................................................................43
1.4.2.2. Các khu vực khai quật .............................................................................44
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................. 47
CHƯƠNG 2. DI TÍCH KIẾN TRÚC VÀ DI VẬT .............................................. 49
2.1. Di tích kiến trúc ............................................................................................. 49
2.1.1. Các kiến trúc tại di tích Po Dam .................................................................49
2.1.1.1. Các kiến trúc phía bắc..............................................................................49
2.1.1.2. Các kiến trúc phía nam ............................................................................63
2.1.1.3. Các khối gạch xây và đường dẫn .............................................................74
2.1.2. Vật liệu xây dựng ........................................................................................75
2.1.2.1. Gạch .........................................................................................................75
2.1.2.2. Ngói .........................................................................................................81
2.1.3. Kỹ thuật xây dựng.......................................................................................88
2.2. Hiện vật .......................................................................................................... 96
2.2.1. Minh văn .....................................................................................................96
2.2.2. Hiện vật đá ..................................................................................................97



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là cơng trình khoa học do tơi thực hiện dựa
trên kết quả chương trình khai quật - nghiên cứu về di tích Po Dam của Trung tâm

Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng Bình Thuận. Các tài liệu, số liệu, miêu tả, phân
tích, phụ lục minh họa được sử dụng trong luận văn đảm bảo tính trung thực và có
chú thích rõ ràng, những nhận thức được tơi đưa ra trong luận văn là của riêng tơi dựa
trên tình hình tư liệu hiện có.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng 12 năm 2016

Nguyễn Hoàng Bách Linh


LỜI CẢM ƠN
Tơi xin bày tỏ lịng tri ân sâu sắc và chân thành đến PGS. TS. Bùi Chí Hồng,
khơng chỉ là Thầy hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn mà cịn là người dìu dắt và chỉ bảo
cho tơi một cách nhiệt tình, tận tâm trong cơng việc cũng như trong cuộc sống. Phong
cách làm việc chuẩn mực, tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết với nghề của Thầy đã
ảnh hưởng rất lớn đến sự trưởng thành từng bước của tôi trên con đường nghiên cứu
khoa học. Đây là một niềm may mắn và hạnh phúc lớn với tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô đã nhiệt tâm truyền thụ kiến thức
cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. Xin chân thành cám ơn sự hỗ trợ và giúp
đỡ của Cán bộ Giáo vụ khoa Lịch sử và Chuyên viên phòng Sau Đại học để tơi có thể
hồn thành các thủ tục và bảo vệ luận văn Cao học này. Xin chân thành cám ơn Thầy,
Cô trong Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ đã có những nhận xét sâu sắc về chun mơn
và có những góp ý q báu để tơi hồn chỉnh luận văn này.
Tơi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Viện Khoa học xã hội vùng Nam
Bộ đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hồn thành chương trình học của mình. Đặc biệt, tơi
xin hết lòng cảm ơn các đồng nghiệp thuộc Trung tâm Khảo cổ học - nơi tôi đang công
tác - đã luôn hướng dẫn, chia sẻ về chuyên môn hết sức thân tình và hình thành cho tơi
tác phong làm việc nghiêm túc ngay từ khi tôi bắt đầu con đường nghiên cứu. Đồng thời,
đã dành cho tôi sự ưu ái khi gợi ý và cho phép tôi được sử dụng kết quả của chương trình
khai quật - nghiên cứu di tích Po Dam để làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình. Nhân
đây, tơi cũng xin được gửi lời cám ơn đến Bảo tàng tỉnh Bình Thuận đã nhiệt tình hỗ trợ

và đồng hành cùng với chúng tơi trong suốt quá trình khai quật và chỉnh lý, là nền tảng
tư liệu cho tơi hồn thành luận văn.
Cuối cùng, tơi xin dành tặng bản luận văn này như một món q tinh thần và lịng
biết ơn vơ bờ đến Ba Mẹ và những người thân trong gia đình hai bên đã luôn ủng hộ và
yêu thương tôi trong ngần ấy năm qua, để tôi vững bước trên con đường nghiên cứu khoa
học và trong cuộc sống!
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng 12 năm 2016
Nguyễn Hoàng Bách Linh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BA.

Bản ảnh (di tích, di vật)

BV.

Bản vẽ (di tích, di vật)

BD.

Bản dập hoa văn hay dấu vết kỹ thuật

BC

Before Christ (trước Công nguyên)

AD

Anno Domini (Công nguyên)


CE

Common Era (Kỷ nguyên Công nguyên)

ĐH KHXH&NV

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

KHXH

Khoa học Xã hội

KHCN

Khoa học Công nghệ

KT

Kiến trúc

TB

Tây Bắc

m

Metre (đơn vị đo độ dài)

cm


Centimeter (đơn vị đo độ dài)

mm

Millimeter (đơn vị đo độ dài)

gr.

Gram (đơn vị đo khối lượng)

Nxb.

Nhà xuất bản

NPHMVKCH

Những phát hiện mới về khảo cổ học

Tr.

Trang

Tp.

Thành phố


DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ,
BẢN VẼ, BẢN ẢNH, BẢN DẬP


BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1. Gạch kiến trúc Tây Bắc
Bảng 2. Gạch kiến trúc Đông Bắc
Bảng 3. Khối gạch TB1
Bảng 4. Gạch tháp Trung tâm
Bảng 5. Gạch tháp Nam
Bảng 6. Gạch tháp Tây Nam
Bảng 7. Gạch tháp Đơng Nam
Bảng 8. Gạch Cầu thang phía đông
Bảng 9. Gạch Tiền đường (Mandapa)
Bảng 10. Gạch Tháp cổng (Gopura)
Bảng 11. Gạch kiến trúc dạng Nhà dài
Bảng 12. Các khối gạch KT1, KT2, KT3
Bảng 13. Biểu đồ kích thước gạch và xu hướng tại các kiến trúc thuộc di tích Po Dam
Bảng 14. Thống kê số lượng mảnh ngói tìm thấy tại di tích Po Dam
Bảng 15. Loại hình - số lượng ngói tìm thấy trong năm 2013
Bảng 16. Loại hình - số lượng ngói tìm thấy trong năm 2014
Bảng 17. Loại hình miệng gốm pha cát tại di tích Po Dam
Bảng 18. Loại hình nắp gốm pha cát tại di tích Po Dam
Bảng 19. Trang trí trên đồ gốm pha cát tại di tích Po Dam
Bảng 20. Thống kê số mảnh sành tại di tích Po Dam
Bảng 21. Loại hình sành tại di tích Po Dam
Bảng 22. Hướng xây dựng các đơn nguyên kiến trúc tại di tích Po Dam


BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 1. Bản đồ Đơng Nam Á lục địa từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII
Hình 2. Bản đồ vương quốc Champa
Hình 3. Bản đồ tiểu quốc Panduranga

Hình 4. Các cuộc tấn cơng của Java vào phía nam Champa
Hình 5. Bản đồ phân bố các đền tháp phía nam vương quốc Champa
Hình 6. Niên đại và phong cách các đền tháp Champa (theo Philippe Stern)
Hình 7. Mặt bằng khu di tích kiến trúc Po Dam
Hình 8. Sơ đồ khai quật khu di tích Po Dam (2013 - 2014)
Hình 9. Mặt bằng tổng thể đền tháp Po Dam sau hai đợt khai quật
Hình 10. Địa hình khu vực di tích Po Dam
Hình 11. Giai đoạn phát triển thứ nhất của di tích Po Dam
Hình 12. Giai đoạn phát triển thứ hai của di tích Po Dam
Hình 13. Giai đoạn phát triển thứ ba của di tích Po Dam
Hình 14. Giai đoạn phát triển thứ tư của di tích Po Dam
Hình 15. Giai đoạn phát triển thứ năm của di tích Po Dam
Hình 16. Giai đoạn phát triển thứ sáu của di tích Po Dam
Hình 17. Hai hệ thống lỗ cột trước tiền sảnh kiến trúc Tây Bắc

BẢN VẼ - DI TÍCH
Bản vẽ 1. Mặt bằng và mặt cắt tháp Trung tâm
Bản vẽ 2. Bình đồ tháp Trung tâm
Bản vẽ 3. Mặt bằng và mặt cắt tháp Tây Nam
Bản vẽ 4. Bình đồ tháp Tây Nam
Bản vẽ 5. Bình đồ tháp Đơng Nam
Bản vẽ 6. Bình đồ tháp Nam
Bản vẽ 7. Nhóm kiến trúc phía bắc
Bản vẽ 8. Mặt bằng và mặt cắt (đông - tây) Cầu thang lên xuống
Bản vẽ 9. Kiến trúc dạng Nhà dài (tháp Lửa) (?)


Bản vẽ 10. Kiến trúc Tiền đường (Mandapa)
Bản vẽ 11. Kiến trúc Tháp cổng (Gopura)
Bản vẽ 12. Đường dẫn bằng gạch và các khối gạch xây

Bản vẽ 13. Khối gạch KT1
Bản vẽ 14. Khối gạch KT2
Bản vẽ 15. Khối gạch KT3 và tảng đá có khắc minh văn

BẢN VẼ - HIỆN VẬT
Bản vẽ 16. Ngói loại 1a
Bản vẽ 17. Ngói loại 1b
Bản vẽ 18. Ngói loại 1c
Bản vẽ 19. Mảnh ngói loại 1d
Bản vẽ 20. Mảnh thân ngói loại 1
Bản vẽ 21. Mảnh thân ngói loại 1
Bản vẽ 22. Mảnh ngói loại 2
Bản vẽ 23. Mảnh ngói loại 2
Bản vẽ 24. Mảnh thân ngói loại 2
Bản vẽ 25. Mảnh thân ngói loại 2
Bản vẽ 26. Mảnh ngói loại 3
Bản vẽ 27. Mảnh ngói loại 3
Bản vẽ 28. Mảnh móc ngói loại 3
Bản vẽ 29. Mảnh móc ngói loại 3
Bản vẽ 30. Mảnh móc ngói loại 3
Bản vẽ 31. Mảnh móc ngói loại 3
Bản vẽ 32. Bàn nghiền (Pesani)
Bản vẽ 33. Linga vàng
Bản vẽ 34. Nhóm hiện vật đồng: lục lạc, nhẫn Mư-ta, thước tầm
Bản vẽ 35. Chuông đồng
Bản vẽ 36. Chũm chõe đồng


Bản vẽ 37. Nhóm cơng cụ sắt
Bản vẽ 38. Một số loại hình miệng gốm

Bản vẽ 39. Một số loại hình miệng gốm
Bản vẽ 40. Một số loại hình miệng gốm
Bản vẽ 41. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 41. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 43. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 44. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 45. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 46. Loại hình gốm sứ
Bản vẽ 47. [1-4] Các loại hình ngói ở di tích An Phú; [5-8] gốm sứ Trung Quốc tại di
tích An Phú; [9-12] ngói mũi lá ở di tích Bánh Ít
Bản vẽ 48. Ngói mũi lá tìm thấy ở di tích Bính Ít [1-6], di tích Dương Long [7-14],
di tích An Thành [15]
Bản vẽ 49. Loại hình ngói và vật liệu trang trí kiến trúc của di tích An Thành [1], di
tích Gị Sành [2-9], di tích Gị Hời [10], Gị Cây Me [11]
Bản vẽ 50. Kiến trúc được thể hiện trên phù điêu 169 tại Penataran, Java (theo
Dumarcay, 2003)
BẢN ẢNH - DI TÍCH
Bản ảnh 1. Di tích Po Dam nhìn từ chân núi
Bản ảnh 2. Cánh đồng phía đơng di tích
Bản ảnh 3. Dấu vết gạch khu vực quanh di tích Po Dam
Bản ảnh 4. Tháp Trung tâm (nhìn từ phía tây)
Bản ảnh 5. Trang trí mái vịm tháp Trung tâm
Bản ảnh 6. Mặt Kala trang trí ở tháp Trung tâm
Bản ảnh 7. Ô khám nội điện tháp Trung tâm
Bản ảnh 8. Trang trí trên tường và cửa giả tháp Trung tâm
Bản ảnh 9. Nhóm tháp nam nhìn từ góc tây bắc


Bản ảnh 10. Nhóm tháp nam nhìn từ phía nam
Bản ảnh 11. Tháp Đơng Nam nhìn trực diện từ phía nam

Bản ảnh 12. Tháp Tây Nam nhìn trực diện từ phía nam
Bản ảnh 13. Hiện trạng nhóm kiến trúc phía bắc trước khi khai quật
Bản ảnh 14. Bờ kè xi măng sụp đổ, lộ đường dẫn phía đơng
Bản ảnh 15. Khu vực đất phủ lấp phía đơng nhóm kiến trúc phía bắc
Bản ảnh 16. Các vị chức sắc tơn giáo người Chăm của vùng đến làm lễ cầu nguyện
trước khi tiến hành khai quật
Bản ảnh 17. Khai quật nhóm kiến trúc phía bắc (năm 2013)
Bản ảnh 18. Xử lý hiện trường khai quật nhóm kiến trúc phía bắc
Bản ảnh 19. Cấu trúc đền thờ không gian mở (bên dưới)
Bản ảnh 20. Đền thờ Trung tâm - kiến trúc Tây Bắc
Bản ảnh 21. Cấu trúc tường bao quanh kiến trúc Tây Bắc
Bản ảnh 22. Phần tường bao phía bắc bị đổ
Bản ảnh 23. Sàn gạch phía nam kiến trúc Tây Bắc - giai đoạn muộn
Bản ảnh 24. Hệ thống lỗ cột ở tiền sảnh kiến trúc Tây Bắc
Bản ảnh 25. Kiến trúc Đơng Bắc nhìn từ góc đơng bắc
Bản ảnh 26. Nền móng kiến trúc Đơng Bắc chồng lên lớp nền tường bao của kiến trúc
Tây Bắc
Bản ảnh 27. Toàn cảnh kiến trúc Tây Bắc (nhìn từ phía bắc)
Bản ảnh 28. Xuất lộ khối gạch TB1 và hệ thống tường bao
Bản ảnh 29. Cấu trúc khối gạch xây TB1
Bản ảnh 30. Hệ thống tường bao thấp quanh nhóm kiến trúc phía bắc
Bản ảnh 31. Khai quật nền móng tháp Nam
Bản ảnh 32. Xử lý hiện trường khu vực phía đơng tháp Nam
Bản ảnh 33. Nền móng tháp Nam nhìn từ góc đơng bắc
Bản ảnh 34. Lịng và tường đổ phía tây của tháp Nam
Bản ảnh 35. Kết cấu đế tháp Tây Nam sau khi khai quật
Bản ảnh 36. Khu vực tiền sảnh hai tháp Đông Nam và Tây Nam


Bản ảnh 37. Dấu vết đường dẫn (cầu thang từ phía đơng)

Bản ảnh 38. Khai quật kiến trúc cầu thang phía đơng
Bản ảnh 39. Kiến trúc cầu thang sau khi được khai quật
Bản ảnh 40. Hiện trạng khu vực phía nam di tích trước khi khai quật
Bản ảnh 41. Khai quật khu vực phía nam (năm 2014)
Bản ảnh 42. Kiến trúc dạng Nhà dài phía nam tiền sảnh nhóm tháp Đông Nam và Tây Nam
Bản ảnh 43. Xử lý kiến trúc Mandapa
Bản ảnh 44. Kiến trúc Mandapa
Bản ảnh 45. Hốc xây lõm nơi cửa ra vào Mandapa
Bản ảnh 46. Sàn gạch bên trong Mandapa
Bản ảnh 47. Xuất lộ kiến trúc Gopura
Bản ảnh 48. Kiến trúc Gopura
Bản ảnh 49. Hốc xây lõm nơi cửa ra vào Gopura
Bản ảnh 50. Kiến trúc Gopura được đắp thêm về phía tây
Bản ảnh 51. Sàn gạch giai đoạn muộn chồng lên Mandapa và Gopura
Bản ảnh 52. Đường dẫn kết nối qua ba khối gạch KT1, KT2 và KT3 rồi kết nối với
tiền sảnh kiến trúc Tây Bắc
Bản ảnh 53. Bình diện đường dẫn qua khối gạch KT2 và KT3
Bản ảnh 54. Xử lý hiện trường khối gạch KT1
Bản ảnh 55. Toàn cảnh hiện trường khai quật khu vực phía nam
Bản ảnh 56. Phát hiện phiến đá có khắc minh văn
Bản ảnh 57. Giới thiệu kết quả khai quật với lãnh đạo địa phương
Bản ảnh 58. - Sự tương đồng về kiểu giật cấp phần đế và trang trí đai bó bán nguyệt
ở đền thờ Tây Bắc [a], tháp Đông nam [b] và Tây Nam [c]
- Vị trí [b] tháp Đơng Nam cho thấy dấu vết việc xây ở hai thời điểm
Bản ảnh 59. Cấu trúc xây lõm tạo hộc vuông tương đồng ở [a] Gopura, [b] Mandapa
(của Po Dam) và [c] kiến trúc TG.KT3 (của Hòa Lai)
Bản ảnh 60. Dấu vết chồng lấn giữa tháp Nam và tháp Tây Nam ở [a] mái tháp và [b]
đế tháp



BẢN ẢNH - HIỆN VẬT
Bản ảnh 61. Mảnh ngói loại 1a
Bản ảnh 62. Mảnh ngói loại 1b
Bản ảnh 63. Mảnh ngói loại 1c
Bản ảnh 64. Mảnh ngói loại 1d
Bản ảnh 65. Mảnh ngói loại 1d
Bản ảnh 66. Mảnh thân ngói loại 1(a-b-c)
Bản ảnh 67. Mảnh thân ngói loại 1(a-b-c)
Bản ảnh 68. Mảnh thân ngói loại 1 có dấu vết kỹ thuật và in dấu vải
Bản ảnh 69. Mảnh ngói loại 2
Bản ảnh 70. Mảnh ngói loại 2
Bản ảnh 71. Mảnh ngói loại 3
Bản ảnh 72. Mảnh móc ngói loại 3
Bản ảnh 73. Cách thức sử dụng ngói loại 3
Bản ảnh 74. Cách thức sử dụng ngói loại 1 [a] và ngói loại 2 [b]
Bản ảnh 75. Mảnh ngói có vết vỏ trấu
Bản ảnh 76. Hiện vật linga vàng và mảnh gương đồng
Bản ảnh 77. Một số hiện vật bằng đồng: [a] thước tầm; [b] lục lạc; [c] và [d] nhẫn
Mư-ta; [e] và [f] chuông; [g], [h] và [i] chũm chọe
Bản ảnh 78. Công cụ và một số mảnh sắt
Bản ảnh 79. Một số loại hình miệng gốm đất nung
Bản ảnh 80. Một số loại hình miệng gốm đất nung
Bản ảnh 81. Một số mảnh đồ sành: núm nắp và mảnh đế
Bản ảnh 82. Một số loại hình miệng đồ sành
Bản ảnh 83. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 84. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 85. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 86. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 87. Một số loại hình gốm sứ



Bản ảnh 88. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 89. Một số loại hình gốm sứ
Bản ảnh 90. Một số loại hình gốm sứ
BẢN DẬP
Bản dập 1. Mảnh ngói kiến trúc có vẽ trang trí
Bản dập 2. Mảnh ngói kiến trúc có vẽ trang trí (mặt sau)
Bản dập 3. Mảnh ngói kiến trúc có in dấu vải
Bản dập 4. Mảnh ngói kiến trúc có vết in hoa văn trên vải
Bản dập 5. Mảnh ngói kiến trúc có in dấu vải
Bản dập 6. Mảnh ngói kiến trúc có vết in hoa văn trên vải
Bản dập 7. Mảnh ngói kiến trúc có in dấu vải
Bản dập 8. Mảnh ngói kiến trúc có in dấu vải
Bản dập 9. Mảnh ngói kiến trúc có in dấu vải và hoa văn trên vải
Bản dập 10. Hoa văn kỹ thuật trên đồ đất nung
Bản dập 11. Hoa văn kỹ thuật trên đồ đất nung
Bản dập 12. Hoa văn kỹ thuật trên đồ đất nung
Bản dập 13. Các motif hoa văn trang trí trên đồ đất nung
Bản dập 14. Các motif hoa văn trang trí trên đồ đất nung
Bản dập 15. Các motif hoa văn trang trí trên đồ đất nung


1

DẪN LUẬN

1. Lý do chọn đề tài
Champa là một trong những vương quốc hùng mạnh của khu vực Đông Nam
Á cổ đại, tồn tại liên tục qua các thời kỳ từ khi lập quốc vào năm 192 đến năm 1692
trên phần đất ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam. Vương quốc Champa chịu sự

ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Ấn Độ về nhiều mặt từ thiết chế chính trị, tơn giáo
đến đời sống, qua q trình tiếp thu và sáng tạo, cư dân Champa đã đạt được những
thành tựu rực rỡ mà nổi bật là nền nghệ thuật kiến trúc gắn liền với các nhu cầu nghi
lễ tôn giáo. Theo truyền thống Ấn Độ mà các quốc gia khu vực Đông Nam Á chịu
ảnh hưởng, vương triều Champa luôn dành nhiều của cải, sức lực và sự quan tâm đặc
biệt cho việc xây dựng các ngôi đền thờ các vị thần. Qua thời gian, chúng trở thành
chứng tích tiêu biểu, phản ánh một cách sinh động về những ảnh hưởng từ văn minh
Ấn Độ, đồng thời thể hiện sự sáng tạo và bản địa hóa, bên cạnh sự giao lưu thường
xun khơng chỉ về kinh tế mà cịn về văn hóa với các quốc gia khác.
Cho đến nay, hàng loạt các di tích kiến trúc thuộc văn minh Champa đã được
tiếp cận từ góc độ khảo cổ học bên cạnh sự phối hợp nghiên cứu liên ngành, qua đó
nhiều vấn đề về vương quốc cổ Champa cũng như nền nghệ thuật kiến trúc dần được
sáng tỏ và nhận thức đầy đủ hơn. Những Thánh địa Mỹ Sơn, cụm đền tháp Khương
Mỹ, Đồng Dương, Chiên Đàn (Quảng Nam), Dương Long, Bình Lâm, Bánh Ít, Cánh
Tiên (Bình Định), Po Klong Garai, Po Rome, Hịa Lai (Ninh Thuận), Po Sah Inư
(Bình Thuận)… đã phần nào được bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Di tích kiến trúc Po Dam (thuộc huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận ngày nay)
tọa lạc ở tiểu quốc cực nam Panduranga là một trong những di tích kiến trúc Champa
có niên đại sớm cịn tồn tại đến ngày nay, đã được Henri Parmentier ghi nhận vào
những năm đầu thế kỷ XX với những thông tin cơ bản và được tiếp nối nghiên cứu
bởi nhiều nhà khoa học trong nước. Tuy vậy, sau hơn một thế kỷ được biết đến, di
tích Po Dam với nhiều yếu tố khác biệt trong bối cảnh các đền tháp thuộc cùng phong


2

cách nghệ thuật và với truyền thống kiến trúc Champa vẫn chưa được nhận thức tồn
diện và có những lời giải thỏa đáng, nhất là những bí ẩn cịn nằm trong lịng đất.
Nhằm thực hiện cơng việc trùng tu và bảo tồn, đền tháp Po Dam đã được Trung
tâm Khảo cổ học (Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ) phối hợp với Bảo tàng tỉnh

Bình Thuận (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận), khai quật hai đợt
vào các năm 2013 và 2014, trong đó có sự tham gia trực tiếp của học viên. Các kiến
trúc bị chơn vùi bên dưới lịng đất được làm xuất lộ hoàn toàn và cùng với sưu tập
các di vật trong quá trình khai quật đã cung cấp những nhận thức mới và đầy đủ về
di tích Po Dam, góp phần làm rõ tiến trình phát triển, niên đại và mối liên hệ với các
di tích trong phong cách Hịa Lai cũng như trong tiến trình phát triển của lịch sử nghệ
thuật kiến trúc Champa nói chung.
Được sự chấp thuận và hướng dẫn của người chủ trì chương trình khai quật nghiên cứu về di tích Po Dam, học viên lựa chọn đề tài “Di tích kiến trúc Po Dam
(huyện Tuy Phong - tỉnh Bình Thuận)” để thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Khảo cổ học. Luận văn sẽ nghiên cứu về di tích Po Dam trên nền tảng những tư liệu
đã công bố trước đây và đặc biệt là những tư liệu mới về kiến trúc và di vật thông qua
khai quật khảo cổ học và chỉnh lý hiện vật nhằm xác định những đặc trưng, niên đại
và các giai đoạn phát triển của Po Dam trong mối tương quan với các di tích kiến trúc
Champa nói chung và với các kiến trúc trong phong cách Hòa Lai nói riêng, qua đó
xác định giá trị văn hóa của khu di tích, góp phần vào việc phục dựng, bảo tồn và
phát huy bền vững giá trị của khu di tích cũng như lưu giữ và trân trọng những di sản
văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về nền văn minh Champa đã được tiến hành bởi các học giả Pháp
từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt với sự ra đời của Hội Nghiên cứu Đông Dương (Societe
des Etudes Indochinoises, thành lập năm 1885) và Trường Viễn Đông Bác cổ
(L’Ecole Franỗaise dExtrờme-Orient - EFEO, ra i nm 1898) ó tp trung đội ngũ
các nhà nghiên cứu quan tâm đến các vấn đề Đông Dương và Viễn Đông, đứng đầu


3

là Louis Finot và Henri Parmentier cùng với các học giả khác như E. M. Durand, A.
Barth, A. Bergaigne, E. Aymonier, P. Pelliot, G. Maspéro…
Đầu thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu đầu tiên về văn hóa của Champa

được xuất bản. Cũng trong thời gian này, các số đầu tiên của Tạp chí Trường Viễn
Đơng Bác cổ (Bulletin de lẫcole Franỗaise dExtrờme Orient - BEFEO) c phỏt
hnh. Du mc quan trọng trong công cuộc nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc
Champa là cơng trình “Inventaire descriptif des monuments Cams de l’Annam” của
H. Parmentier gồm hai tập thuyết minh và một tập bản vẽ, xuất bản vào năm 1909 và
1918, trong đó ơng đã tiến hành khảo sát, đo vẽ, miêu tả hầu hết các di tích thuộc
Champa ở Trung Kỳ.
Năm 1942, Philippe Stern, dựa trên nền tảng nghiên cứu của H. Parmentier,
kết hợp với phân tích q trình diễn biến của tám yếu tố kiến trúc đền tháp cùng với
sự phát triển liên tục của các phong cách và so sánh với niên đại từ các minh văn tìm
thấy, kết hợp với các biến cố lịch sử đồng thời so sánh kiến trúc Champa với các nền
nghệ thuật láng giềng như Khmer và Java, đã xếp nghệ thuật kiến trúc đền tháp
Champa trong tiến trình phát triển của lịch sử thành sáu phong cách và năm giai đoạn
chuyển tiếp. Phương pháp phân loại phong cách nghệ thuật kiến trúc và nhận thức về
niên đại của P. Stern truyền tải trong “L’Art du Champa (ancient Annam) et son
évolution” được xem như chuẩn mực và là nền tảng nghiên cứu quan trọng cho các
học giả sau này.
Năm 1963, trong “La statuaire du Champa: Recherches sur les cultes et
l’iconographie”, Jean Boisselier đã đưa ra một cách phân loại mới và hoàn thiện từng
chi tiết trong từng phong cách của lịch sử nghệ thuật điêu khắc Champa. Việc thờ tự
và tôn giáo của Champa cũng được đề cập, đồng thời mối quan hệ giữa Champa và
Ấn Độ cũng được nhận thức một cách xác đáng.
Tựu trung, các học giả Pháp đã có những thành tựu quan trọng trong nghiên
cứu về văn minh Champa, trong đó nổi bật là xác lập hệ thống bản đồ các di tích
Champa cùng với bản vẽ chi tiết các di tích kiến trúc (thành, tháp, các vùng đơ thị
cũ...). Về kiến trúc, dựa vào mặt bằng, hình dáng, khối kiến trúc và hoa văn trang trí,


4


họ đã xác lập nên các phong cách kiến trúc cơ bản và niên đại phát triển của nghệ
thuật kiến trúc đền tháp Champa, nêu bật các đặc trưng của các phong cách và quá
trình phát triển. Về điêu khắc, các nghiên cứu cũng đã xác lập nên một hệ thống phong
cách nghệ thuật điêu khắc đá, những đặc trưng riêng của mỗi phong cách và nội dung
thể hiện. Ngoài ra, các học giả Pháp đã công bố về cơ bản hệ thống tư liệu bi ký
Champa và cho ra đời nhiều cơng trình nghiên cứu về phong tục, tập quán, tín ngưỡng
của người Chăm trong lịch sử...
Đến giai đoạn tiếp nối, các nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu về
văn hóa Chăm trên nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, lễ hội, tín ngưỡng, tơn giáo…
Chẳng hạn, Tân Việt Điểu với “Ảnh hưởng và di tích Chiêm Thành trong văn hóa Việt
Nam” (1958); Bố Thuận với “Sự tích vua Po Klong Garai hay sự tích tháp Chàm”
(1959) và “Thượng cổ sử Chiêm Thành và khảo sát di tích Chàm” (1960, viết chung
với Nguyễn Khắc Ngữ, Nghiêm Thẩm); Nguyễn Văn Luận với “Người Chàm Hồi giáo
miền tây nam phần Việt Nam” (Luận văn Cao học, 1972); Nguyễn Khắc Ngữ với “Ảnh
hưởng văn hóa Chàm qua Việt Nam”, “Pô Klong Garai” (1957) và “Mẫu hệ
Chàm” (1967); Phan Lạc Tuyên với “Việt Nam và Champa, sự phát triển lịch sử của
mối tương quan giữa hai nền văn minh” (Luận án Tiến sĩ, 1974); Nguyễn Đình Tồn
với chun khảo “Giang sơn Việt Nam” có giá trị nghiên cứu về địa văn hóa vùng đồng
bào Chăm đang sinh sống, trong đó phải kể đến “Non nước Phú Yên” (1966), “Non
nước Khánh Hịa” (1969) và “Non nước Ninh Thuận” (1974). Ngồi ra cịn có một số
tập san hoặc tạp chí rải rác đăng những bài nghiên cứu hoặc bút ký về dân tộc Chăm
như Việt Nam Khảo cổ Tập san, Văn hóa Á châu, Văn hóa Nguyệt san, Nghiên cứu
Lịch sử, Bách khoa, Sử Địa, Nội san Panrang, Ước vọng…
Sau năm 1975, cơng việc nghiên cứu về văn hóa Champa nói chung và nghệ
thuật kiến trúc Champa được sự quan tâm tiếp nối của nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước. Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu được xuất bản, đã có rất nhiều bài viết
được đăng trên các tạp chí khoa học như Khảo cổ học, Khoa học xã hội, Dân tộc học,
Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, Nghiên cứu Đơng Nam Á, Di
sản, Tập san Khoa học, Ngơn ngữ, Mỹ thuật, Văn hóa dân gian, Thông tin Khoa học



5

và Cơng nghệ… Có thể kể đến Nguyễn Duy Hinh với “Khảo cổ học Champa quá khứ
và tương lai” (1978), “Kalan Chàm - nhận thức mới” (1980) và gần nhất là “Người
Chăm Xưa và Nay” (2013); Po Dharma với “Sử liệu Hoàng gia của xứ Panduranga”
(1978); Lương Ninh với “Mấy vấn đề về vương quốc cổ Champa” (1980), “Các di tích
và vấn đề lịch sử Nam Champa” (1999), “Lịch sử vương quốc Champa” (2004), “Lịch
sử Đông Nam Á” (2008), “Lại bàn về nước Lâm Ấp - Champa” (2013); Cao Xuân Phổ
và cộng sự với “Điêu khắc Chàm” (1988); Võ Công Nguyện với “Quan hệ văn hóa
Việt - Chàm” (1981); Ngơ Văn Doanh với “Ấn Độ và văn hóa Champa” (1994), “Tháp
cổ Champa: sự thật và huyền thoại” (1994), “Văn hóa Champa” (1994), “Tháp cổ
Champa trong lòng lịch sử” (1995), “Nghệ thuật Đơng Nam Á” (2000), “Văn hóa cổ
Champa” (2002), “Thánh địa Mỹ Sơn” (2003); Lê Đình Phụng với “Góp thêm về kỹ
thuật xây dựng tháp Chăm” (1987), “Kỹ thuật xây dựng tháp Chàm một chặng đường
nghiên cứu” (1990), “Di tích văn hóa Champa ở Bình Định” (2002), “Kiến trúc - điêu
khắc ở Mỹ Sơn” (2004), “Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Champa” (2005), “Đối thoại
với nền văn minh cổ Champa” (2015); Trần Kỳ Phương với “Nghệ thuật điêu khắc
Chàm - vấn đề niên đại” (1984), “Mỹ Sơn trong lịch sử nghệ thuật Chăm” (1988), “Góp
phần tìm hiểu về nền văn minh của vương quốc cổ Champa tại miền Trung Việt Nam”
(2004), “Về mối quan hệ giữa kiến trúc và điêu khắc của nghệ thuật Champa trong giai
đoạn đầu từ thế kỉ VII đến đầu thế kỉ IX” (2004), “Nghiên cứu so sánh giữa kiến trúc
đền tháp Chăm và các nền nghệ thuật láng giềng ở Đông Nam Á” (2007); Phạm Hữu
Mý với “Điêu khắc đá Champa” (1995); Huỳnh Thị Được với “Điêu khắc Chăm và
thần thoại Ấn Độ” (2005); Trần Bá Việt với “Nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tháp
Champa phục vụ trùng tu và phát huy giá trị di tích” (2005); Nguyễn Văn Kự, Ngơ Văn
Doanh, Andrew Hardy với “Du khảo văn hóa Chăm” (2005); Đinh Bá Hịa với “Gốm
cổ Champa Bình Định” (2008); Lâm Thị Mỹ Dung với “Đồ gốm trong những địa điểm
khảo cổ học Chămpa ở miền Trung Việt Nam” (2005), “Đồ gốm Chămpa thiên niên
kỷ I công nguyên từ tiếp cận khảo cổ học kỹ thuật và khảo cổ học xã hội” (2012); Ian

Glover và Mariko Yamagata với “Nguồn gốc về văn minh Chăm: các yếu tố bản địa,
các ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ ở miền Trung Việt Nam qua kết quả khai quật


6

Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam - Đà Nẵng) năm 1993” (1995); Nishimura
Masanari với “The roof tiles in the later period of Champa: a consideration for its origin
and diffusion” (2010); Anne-Valérie Schweyer với “Việt Nam ngày xưa, Lịch sử, Nghệ
thuật và Khảo cổ” (2011)…
Các di tích kiến trúc thuộc khu vực Nam Trung Bộ cũng đã có nhiều phát hiện
mới thông qua khai quật khảo cổ học và nghiên cứu, góp phần vào q trình nhận diện
về kiến trúc và lịch sử văn minh Champa. Chẳng hạn, Lê Đình Phụng với “Kỹ thuật
xây dựng tháp Chàm, một chặng đường nghiên cứu” (1990), “Tìm hiểu lịch sử kiến
trúc tháp Chămpa” (2005), “Đối thoại với nền văn minh cổ Champa” (2015), “Khảo
cổ học về Champa sau năm 1975 - những nhận định chung” (2015); Nguyễn Xuân Lý
với “Văn hóa Chăm và những khám phá mới về chất liệu trong kiến trúc” (1992), “Phát
hiện mới về khảo cổ học ở nhóm tháp Chàm Pơshanư, Bình Thuận” và “Nhóm Pơshanư
gồm mấy đền - tháp” (1993), “Khai quật khảo cổ học lần thứ ba tại nhóm đền - tháp
Pơshanư” và “Phát quật khảo cổ học ở nhóm đền - tháp Pơ Shanư, Phan Thiết” (1995);
Trần Bá Việt với “Xây dựng tháp Po Rome - một trường hợp riêng biệt” (1999),
“Nghiên cứu kỹ thuật xây dựng tháp Champa phục vụ trùng tu và phát huy giá trị di
tích” (2005); Trần Kỳ Phương với “Phế tích Champa - Khái luận về kiến trúc tháp”
(2002), “Khảo luận về kiến trúc đền tháp Champa: Những minh văn có niên đại mới
phát hiện và mối quan hệ của chúng với lịch sử nghệ thuật - tham chiếu nhóm tháp Hịa
Lai và Pô Đàm” (2015); Nguyễn Minh Khang với “Nhận thức mới về mơ hình tổng
thể của nhóm đền tháp Chămpa Hịa Lai” (2008), “Trở lại vấn đề mơ hình tổng thể của
nhóm đền tháp Chăm Hịa Lai ở Ninh Thuận” (2012), “Nhóm đền tháp Hịa Lai - Ninh
Thuận trong hệ thống đền tháp Chămpa ở miền Trung Việt Nam” (2015); Bùi Chí
Hồng, Đặng Ngọc Kính với “Tháp Po Rome (Ninh Thuận), tiếp cận từ Sử học và

Khảo cổ học” (2011); Bùi Chí Hồng với “Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học nhóm
đền tháp Hịa Lai (Ninh Thuận)” (2012), “Nhóm kiến trúc đền tháp Hịa Lai, Po Dam
(Nam Trung Bộ), tiếp cận từ kết quả nghiên cứu khảo cổ học” (2015), “Báo cáo khoa
học khai quật khu tháp Po Dam (xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận)”
(2015); Nguyễn Quốc Mạnh với “Khai quật di tích kiến trúc Bang Kheng (Gia Lai)”


7

(2012)… đã làm rõ và phục hồi lại phần nào hiện trạng của các di tích ngàn năm tuổi,
đồng thời cập nhật những thông tin mới về kiến trúc cũng như bi ký, góp phần vào việc
nghiên cứu về phong cách nghệ thuật kiến trúc, xác định niên đại và lịch sử văn minh
Champa nói chung.
Đối với Po Dam, đền tháp nằm ở phía nam vương quốc Champa thuộc lãnh
địa của tiểu quốc Panduranga cổ, đã được H. Parmentier tiến hành khảo sát, đo vẽ và
ghi nhận những thông tin cơ bản và thể hiện trong “Inventaire descriptif des
monuments Cams de l’Annam”. Po Dam được xếp vào nhóm kiến trúc thuộc giai
đoạn I, cụ thể là nghệ thuật hình khối (L’Art cubique) với khung niên đại thuộc phần
tư thứ ba của thế kỷ IX.
Philippe Stern trong “L’Art du Champa (ancient Annam) et son évolution”
(1942), dựa vào phương pháp phân tích những đặc điểm trang trí của các cơng trình
nghệ thuật (gọi là phương pháp phân tích motif hay phân tích họa tiết trang trí, analyse
de motif) đã xếp nghệ thuật kiến trúc đền tháp Champa trong tiến trình phát triển của
lịch sử thành sáu phong cách và năm giai đoạn chuyển tiếp gồm: phong cách nghệ
thuật cổ; giai đoạn chuyển tiếp từ phong cách cổ sang phong cách Hòa Lai; phong
cách Hòa Lai; giai đoạn chuyển tiếp giữa phong cách Hòa Lai và phong cách Đồng
Dương; phong cách Đồng Dương; giai đoạn chuyển tiếp giữa phong cách Đồng
Dương và phong cách Mỹ Sơn A1; phong cách Mỹ Sơn A1; giai đoạn chuyển tiếp
giữa phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định; phong cách Bình Định;
giai đoạn chuyển tiếp giữa phong cách Bình Định và phong cách muộn; phong cách

muộn. Trong đó, di tích Po Dam được đặt trong bối cảnh của phong cách nghệ thuật
kiến trúc Hòa Lai nhưng thuộc giai đoạn muộn của Hòa Lai (phong cách chuyển tiếp
từ Hòa Lai sang Đồng Dương) với khung niên đại khoảng giữa thế kỷ IX.
Lương Ninh, người đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa Chăm
tại Việt Nam, tổng hợp những tư liệu, kết quả nghiên cứu đạt được (qua các văn thư
cổ của Trung Quốc, các bi ký liên quan và tư liệu của các học giả Pháp…) nhằm phân
tích diễn trình lịch sử vương quốc Champa nói chung với từng thời kỳ phát triển cụ
thể và sự phát triển kinh tế, xã hội của Champa. Lương Ninh còn lưu ý đến đặc điểm


8

chính của một số phong cách kiến trúc và điêu khắc. Ông cũng đề cập đến mối quan
hệ giao lưu văn hoá giữa Champa và Ấn Độ, chỉ ra một số ảnh hưởng của Ấn Độ đối
với văn hóa Chăm thể hiện trong “Thần tích Hindu giáo và nghệ thuật tiếu tượng
Hindu ở Đông Nam Á” (1994), “Lịch sử vương quốc Champa” (2004), “Vương quốc
cổ Champa” (2006)... Trong đó, ơng cũng đề cập đến bối cảnh hình thành, cấu trúc
của khu tháp Po Dam và giai đoạn phát triển của Po Dam trong lịch sử chung của
vương quốc Champa.
Ngô Văn Doanh, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa và nghệ thuật điêu khắc
Chăm, với các tác phẩm tiêu biểu như “Tháp cổ Champa: sự thật và huyền thoại”
(1994), “Thánh địa Mỹ Sơn” (2003), “Văn hóa cổ Champa” (2003), “Điêu khắc
Champa” (2004)… tác giả đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc, tồn diện về nền văn
hóa của Champa, từ kiến trúc, điêu khắc đến múa, âm nhạc. Ảnh hưởng của các nền
văn hóa bên ngồi đối với các lĩnh vực nghệ thuật của Champa cũng được tác giả đề
cập đến. Trong đó, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với Champa được tác giả đặc
biệt lưu ý. Với di tích đền tháp Po Dam, Ngơ Văn Doanh đã tổng hợp những tư liệu
trước đây của H. Parmentier và P. Stern kết hợp khảo sát thực tế di tích đồng thời sưu
tầm những câu chuyện huyền thoại trong dân gian về kiến trúc Po Dam, truyền tải
trong “Tháp cổ Champa: Sự thật và huyền thoại”.

Lê Đình Phụng, một nhà khảo cổ học và Champa học kỳ cựu, qua những cơng
trình nghiên cứu đã góp phần vào việc nhận thức nhiều vấn đề thuộc về nghệ thuật
kiến trúc của văn minh Champa nói chung. Trong “Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp
Chămpa” (2005), tác giả đã phân tích những tiền đề để hình thành nên nền nghệ thuật
kiến trúc Champa với hai yếu tố chính: sự ảnh hưởng từ văn minh Ấn Độ và các điều
kiện kinh tế, xã hội của Champa. Đồng thời, tiến hành điều tra tổng thể và hệ thống
hóa tư liệu về các kiến trúc Champa hiện cịn theo tiến trình phát triển của lịch sử với
các giai đoạn từ thế kỷ VII đến XVII. Thông qua những yếu tố về mặt bằng kiến trúc,
hình khối xây dựng, vật liệu xây dựng, mỹ thuật trang trí… để phát họa những đặc
trưng cơ bản cũng như quá trình phát triển của kiến trúc đền tháp Champa trong mỗi
thời kỳ lịch sử. Po Dam được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các đặc điểm về


9

hình khối, họa tiết trang trí và có niên đại sau khơng xa với nhóm Hịa Lai, khoảng
những thập kỷ đầu của thế kỷ IX dưới vương triều Virapura và ảnh hưởng bởi kiến
trúc tháp Java. Và trong “Đối thoại với nền văn minh cổ Champa” (2015), Lê Đình
Phụng đã tổng hợp lại q trình nghiên cứu về văn hóa Chăm của mình, qua đó khái
qt về các giai đoạn trong lịch sử văn minh Champa, phân tích các ảnh hưởng từ nền
văn minh Ấn Độ và Hồi giáo đến đời sống tơn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân
Champa khi đó. Đặc biệt, tác giả đúc kết những nhận thức cụ thể và sâu sắc về các
vấn đề di sản vật chất của Champa gồm kinh đô, kiến trúc đền tháp, điêu khắc, đồ
gốm và bia ký, mang lại nền tảng tư liệu quan trọng cho việc nhận diện di tích Po
Dam trong tổng thể các di tích kiến trúc của văn minh Champa.
Shigeeda Yutaka, kiến trúc sư người Nhật Bản (1994), dựa trên bình đồ/ mặt
bằng kiến trúc đền tháp, vị trí địa lý và những biến cố lịch sử đã phân loại và trình bày
sự chuyển hóa của kiến trúc Champa thành sáu nhóm: nhóm Mỹ Sơn, nhóm kiến trúc
Quảng Nam, nhóm kiến trúc Bình Định, nhóm Po Nagar Nha Trang, nhóm Phú Hài và
nhóm kiến trúc muộn. Di tích Po Dam, tiêu biểu là kiến trúc Trung tâm được Shigeeda

so sánh và đặt đồng thời với tháp Giữa Hòa Lai, niên đại khoảng cuối thế kỷ VIII.
Trần Kỳ Phương, một chuyên gia về nền nghệ thuật Champa, đã cung cấp những
chuyên khảo về những di sản kiến trúc, điêu khắc mà văn minh Champa để lại, nghiên
cứu về những ảnh hưởng của tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ thể hiện trên các kiến trúc, đền
tháp Champa. Trần Kỳ Phương đã kế thừa kết quả nghiên cứu của Stern và của
Shigeeda, kết hợp với nhiều yếu tố ảnh hưởng đã phân loại phong cách và định niên
đại kiến trúc tháp Champa: phong cách Mỹ Sơn E1 (phong cách cổ, thế kỷ VIII), phong
cách Hòa Lai (cuối thế kỷ VIII - giữa thế kỷ IX), phong cách Đồng Dương (giữa thế
kỷ IX - đầu thế kỷ X), phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ X), phong cách Chiên Đàn (hay
phong cách chuyển tiếp từ Mỹ Sơn A1 sang Bình Định, thế kỷ XI - giữa thế kỷ XII),
phong cách Bình Định (thế kỷ XII, XIII và XIV) và phong cách Po Klong Garai (phong
cách muộn, thế kỷ XIV - thế kỷ XVI). Di tích Po Dam được xếp vào phong cách Hòa
Lai với khung niên đại cuối thế kỷ VIII, giữa thế kỷ IX. Bên cạnh đó, với “Khảo luận
về kiến trúc đền tháp Champa: Những minh văn có niên đại mới phát hiện và mối quan


×