Tải bản đầy đủ (.pdf) (146 trang)

Tìm hiểu văn xuôi du hành của các tác giả nữ việt nam đương đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.96 MB, 146 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
  

PHẠM TRÚC HUỲNH KHƠI

TÌM HIỂU VĂN XI DU HÀNH
CỦA CÁC TÁC GIẢ NỮ VIỆT NAM
ĐƯƠNG ĐẠI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN LÊ HOA TRANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn đề tài “Tìm hiểu văn xi du hành của các tác giả
nữ Việt Nam đương đại” là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, các kết quả nghiên cứu
có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở
bất kỳ đâu. Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú
thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các cơng
trình nghiên cứu đã được cơng bố, các website.

Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN



PHẠM TRÚC HUỲNH KHÔI


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả thầy cô chuyên ngành Văn học Việt Nam đã
tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS. TS. Trần Lê
Hoa Tranh - người đã tận tình giúp đỡ tơi trong suốt q trình nghiên cứu khoa học và
hoàn thành luận văn này.

TP.HCM, tháng 8 năm 2016
Phạm Trúc Huỳnh Khôi


MỤC LỤC

DẪN NHẬP

Trang

1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 2
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 6
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .............................................................................. 7
6. Kết cấu luận văn .................................................................................................... 7

NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG........................................................................9
1.1 Lược khảo văn xuôi du hành thế giới.......................................................................9
1.1.1 Khái niệm thuật ngữ “du hành” và văn xuôi du hành..........................................9
1.1.2 Các cột mốc phát triển của văn xuôi du hành thế giới.......................................15
1.1.2.1 Thời kì cổ đại...........................................................................................15
1.1.2.2 Thời kì trung và cận đại............................................................................17
1.1.2.3 Thời kì từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX (1660-1837)................................19
1.1.2.4 Thời kì từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX (1837-1914)...................................21
1.1.2.5 Thời kì từ 1914-nay.................................................................................23
1.2 Diện mạo văn xuôi du hành nữ đương đại.............................................................25
1.2.1 Đôi nét về lịch sử phát triển của văn xuôi du hành Việt Nam............................25
1.2.2 Về văn xuôi du hành nữ đương đại...................................................................29


1.2.2.1 Vai trị của “tính nữ” trong các sáng tác văn xuôi du hành thế giới........29
1.2.2.2 Văn xuôi du hành Việt Nam đương đại - Những tác gia nữ tiêu biểu.....32
Chương 2: VĂN XUÔI DU HÀNH NỮ VIỆT NAM - MỘT CÁI NHÌN ĐA
DIỆN..............................................................................................................................42
2.1 Nhà văn nữ với cái nhìn từ chủ thể sáng tạo..........................................................42
2.1.1 Những điểm nhìn chuyển dịch.........................................................................42
2.1.1.1 Trung Đông - giãy giụa trong sự đấu tranh giữa các mặt đối lập...............43
2.1.1.2 Châu Phi - con lắc dao động dữ dội giữa hai thái cực................................50
2.1.1.3 Châu Á - cố gắng đi thăng bằng giữa truyền thống và hiện đại.................51
2.1.1.4 Châu Âu - bên ngoài kiêu sa, bên trong già cỗi.........................................54
2.1.1.5 Châu Mỹ - rối loạn trong cuộc chiến xác định danh tính...........................58
2.1.2 Những cảm thức ám ảnh..................................................................................60
2.1.2.1 Quê nhà - nỗi ám ảnh từ vết thương quá khứ..........................................60
2.1.2.2 Lạc loài - nỗi ám ảnh từ xung đột văn hóa................................................64
2.1.2.3 Sốc văn hóa “ngược” - nỗi ám ảnh đảo chiều...........................................67

2.1.2.4 Hoài niệm - nỗi ám ảnh từ ký ức tuổi thơ..................................................69
2.1.3 Vấn đề Tình dục và Giới..................................................................................72
2.2 Chân dung con người đương đại: đối tượng thẩm mĩ của các nhà văn nữ.......76
2.2.1 Con người dấn thân..........................................................................................76
2.2.2 Con người vỡ mộng.........................................................................................80


2.2.3 Con người cơ đơn.............................................................................................85
Chương 3: VĂN XI DU HÀNH NỮ VIỆT NAM - NHỮNG GIÁ TRỊ NGHỆ
THUẬT..........................................................................................................................95
3.1 Kết cấu.....................................................................................................................95
3.1.1 Kết cấu trực quan.............................................................................................95
3.1.2 Kết cấu hành trình............................................................................................98
3.1.3 Motif chuyến xe và lữ quán...........................................................................100
3.2 Không gian và thời gian........................................................................................103
3.2.1 Không gian ....................................................................................................104
3.2.2 Thời gian........................................................................................................107
3.2.3 Không gian đa chiều và thời gian đa tuyến.....................................................109
3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu........................................................................................112
3.3.1 Giọng điệu đa dạng........................................................................................113
3.3.1.1 Giọng tỉnh táo, lạnh lùng, triết lý...........................................................113
3.3.1.2 Giọng trào phúng, giễu nhại, hài hước...................................................115
3.3.2 Ngôn ngữ đa phương......................................................................................119
KẾT LUẬN ................................................................................................................123
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

DẪN NHẬP


1. Lý do chọn đề tài
Du hành là một đề tài khá hấp dẫn và thú vị của văn học. Hầu như ở bất cứ thời
đại nào và trong bất kỳ một nền văn học có ngơn ngữ nào cũng xuất hiện các sáng tác
thuộc thể loại này. Trong thời kì tồn cầu hóa hiện nay, thì đề tài này càng trở nên hấp
dẫn hơn bao giờ hết, bởi nó đáp ứng được nhiều tiêu chí chọn lựa của độc giả, nhất là
độc giả của một thời đại muốn ra đi và khám phá. Hàng loạt tác phẩm thuộc đề tài du
hành được xuất bản và nhanh chóng tái bản. Các cuốn sách đa dạng về nội dung, phong
phú về phong cách, bút pháp với đầy ắp tư liệu chính là điểm làm nên cơn sốt cho thị
trường xuất bản. Hình thức của đề tài này rất đa dạng: ký, tiểu thuyết, truyện ngắn,… và
tất cả đều có một điểm chung, chính là những bước chân khơng mệt mỏi của các nhà
văn. Họ ra đi để tìm kiếm, để thỏa mãn đam mê và mở rộng tầm nhìn. Đề tài này tưởng
chừng như dễ viết, dễ tiếp cận độc giả và bất cứ ai cũng viết được, nhưng để viết được
hay, hấp dẫn lại là một thách thức lớn.
Trong nghiên cứu văn học, thường có xu hướng tập trung vào những đối tượng
mang tính truyền thống cùng với các hiện tượng văn học được nhận thức đầy đủ, còn
những bộ phận văn học nằm giữa lằn ranh như du hành hay du ký lại bị bỏ quên. Tình
trạng tập trung vào một số đối tượng trong nghiên cứu văn học vơ tình đã bỏ qua một số
bộ phận mang tính đại chúng, đồng nghĩa với việc tách văn học ra khỏi văn hóa, mơi
trường phát triển của nó. Việc làm này đã đẩy thể loại văn chương du hành nói chung,
du ký Việt Nam nói riêng vào cảnh khan hiếm tài liệu nghiên cứu. Bước sang thời đại
công nghệ số, nghiên cứu văn học chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khơng chỉ trong lãnh
địa của mình mà còn bị chi phối bởi các lĩnh vực khác như văn hóa, kinh tế, chính trị, du
lịch,… nên văn chương du hành đã có cơ hội trở thành đối tượng của nghiên cứu văn
học.


2

Tất nhiên, trong nền văn học nước ta cũng đã có một vài cá nhân nghiên cứu về

thể loại này, nhưng nhìn một cách bao qt thì chưa có cơng trình nào đầy đủ, tất cả chỉ
mang tính sơ khảo. Với việc hình ảnh người phụ nữ đang dần thay đổi trong mắt xã hội,
đơng đảo cơng chúng khơng cịn thiên về ngưỡng mộ những phụ nữ xinh đẹp mà ngưỡng
mộ những phụ nữ khám phá thế giới, mạnh mẽ và khao khát sống, những người có tri
thức cao và tự tin thể hiện bản thân mình, biểu hiện rõ qua những trải nghiệm mà họ kể
lại trong các cuốn sách. Xét theo khía cạnh thời đại, cũng như nhu cầu của lịch sử văn
học thì việc nghiên cứu văn xuôi du hành đương đại mà đặc biệt là tác phẩm của tác giả
nữ là cần thiết.
Lựa chọn đề tài Tìm hiểu văn xi du hành của các tác giả nữ Việt Nam đương
đại người viết không những sẽ tập trung khảo sát các trang viết về những chuyến đi của
các tác giả nữ, mà còn nhấn mạnh vai trò điểm nhìn tự sự và đặc trưng thể loại trên cơ
sở đó xác định rõ thêm đặc điểm q trình hiện đại hóa văn xi đương đại Việt Nam.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài Tìm hiểu văn xi du hành của các tác giả nữ Việt Nam đương đại, đối
tượng nghiên cứu trực tiếp là các tác phẩm văn xi có yếu tố du hành mà tác giả là nữ.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đồng thời sẽ đặt ký, tiểu thuyết, truyện ngắn và
một số hình thức nghệ thuật khác vào trong hệ thống so sánh để làm rõ đặc trưng về thể
loại.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu khảo sát hai mươi chín tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam
từ năm 2005 đến nay, của bảy tác giả bao gồm: Huyền Chip, Trang Hạ, Đinh Hằng, Di
Li, Nguyễn Phương Mai, Nguyễn Thiên Ngân, Dương Thụy, Ngô Thị Giáng Uyên và
Phan Việt.


3

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn xuôi du hành ở Việt Nam bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm và chú ý từ

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi phong trào “đi Tây” dần trở nên cực thịnh. Các tác
phẩm như: Thượng kinh ký sự (1783) của Lê Hữu Trác, Tây hành nhật ký (1881-1882)
của Phạm Phú Thứ, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký,... chính là tiền
đề cho q trình khảo cứu về sau.
Trong Nhà văn hiện đại (1942-1945), Vũ Ngọc Phan nhận xét Chuyến đi Bắc Kỳ
năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký chỉ sử dụng chữ Nôm như lời nói trơn tuột hàng
ngày, khơng có “chất văn”, hoặc nói nơm na rằng những tác phẩm viết bằng chữ Quốc
ngữ thế kỷ XIX không thể gọi là văn chương. Tuy thế, với Ba tháng ở Paris của Phạm
Quỳnh thì ơng lại có đánh giá tích cực: “là một quyển du ký rất thú vị, chuyện ơng kể có
dun, lại vui, tường tận từng nơi từng chốn”, đây là tín hiệu đầu tiên cho sự công nhận
thể loại. Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961), Phạm Thế Ngũ cho rằng
Thượng kinh ký sự là một “truyện dài du ký” tức khơng hồn tồn là phi hư cấu. Tương
tự, cuốn Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XX (2004) của
Bùi Đức Tịnh đã xem du ký như những ký sự mà “chỉ tơ điểm thêm cho những gì tác giả
chứng kiến”. Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận (2005) của
Phan Cự Đệ nói “Ký là loại hình văn học trung gian giữa báo chí và văn học. Ký bao
gồm nhiều thể dưới dạng văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký,…” . Nhìn chung, tất cả mọi
tài liệu và cơng trình nghiên cứu đều tương tự nhau và khơng hề có bước đột phá.
Với quan điểm truyền thống cho rằng du ký là thể loại ngoại biên, đơn giản là
việc ghi chép mọi thứ về người thật việc thật trong một hành trình nên du ký chưa bao
giờ trở thành đối tượng thực sự hấp dẫn. Cho đến những năm gần đây, với sự ra đời của
bộ Du ký Việt Nam - Nam Phong tạp chí 1917-1934, Nguyễn Hữu Sơn đã đưa du ký
sang một khía cạnh khác “nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, nội dung và cảm hứng nghệ
thuật từ người viết” [83, tr.13]. Trong bài Thể tài văn xuôi du ký chữ Hán thế kỷ XVIII-


4

XIX và những đường biên thể loại, ông cho rằng “du ký có sự thể hiện rõ đặc điểm giao
thoa, đan xen, thâm nhập, chuyển hóa, hỗn dung và tích hợp thể loại theo nhiều hình

thức và mức độ khác biệt nhau”. Đồng thời, Nguyễn Hữu Sơn cũng có một loạt các bài
viết về du ký in trên sách báo và tạp chí: Thể tài du ký nửa đầu thế kỷ XX và đôi điều về
bài học quản lý, kinh doanh (2012), Phạm Quỳnh và những trang du ký viết về nước
Pháp (2013), Văn học du ký của học giả Phạm Quỳnh (2014),...
Song song đó, phải kể đến những cơng trình nghiên cứu lấy du ký làm trung tâm
như: Luận văn Du ký Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX của Võ Thị Thanh Tùng, đề cập đến sự
hình thành, phát triển cùng những tác giả và đặc điểm tiêu biểu của thể loại du ký Nam
Bộ những năm đầu thế kỷ XX. Luận văn: Du ký, một bộ phận độc đáo trong sự nghiệp
của nhà văn Phạm Quỳnh của Nguyễn Thị Kim Nhạn, đã đề cập đến những tác phẩm du
ký của Phạm Quỳnh, nhận xét đó là những dấu hiệu tiên báo của nền văn học mới, thể
hiện ở kết cấu, nghệ thuật kể chuyện và đặc biệt là ngôn ngữ. Luận văn: Đặc trưng của
thể tài du ký trên Nam Phong tạp chí của Phan Thị Minh nêu được một số đặc trưng thể
loại nhưng khơng có tính khái quát cao. Luận án: Đặc điểm du ký Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX của Nguyễn Hữu Lễ tương đối khái quát về đặc trưng thể loại.
Mặc dù văn học du hành ra đời đã khá lâu và có một giai đoạn phát triển rực rỡ;
các nhà văn nữ cũng đã dám đi, dám viết, thể hiện cái tơi nổi loạn muốn thốt khỏi sự
gị bó của lễ giáo phong kiến nhưng lại khơng được nhìn nhận. Bằng chứng là khơng có
cơng trình nào nghiên cứu về văn xi du hành nữ. Ngun nhân chủ yếu chính là thân
phận bé mọn cũng như tư tưởng nam quyền tuyệt đối trong những thế kỉ trước. Sau đó,
văn xi du hành nữ giới tuy vẫn tồn tại nhưng rất ít và không được đề cập đến nhiều.
Văn xuôi du hành nữ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI đã tạo ra được một luồng
sinh khí mới, vang vọng tinh thần thời đại cùng những bước chuyển mình, dự cảm của
một xã hội đầy biến động. Họ được chú ý và trở thành đối tượng để nghiên cứu.


5

Minh chứng cho sự “sống dậy” ngoạn mục này là sự xuất hiện các bài báo: Trào
lưu sách du ký: Những bước chân ngoại quốc (thethaovanhoa.vn, 20/06/2013), Loại hình
văn học du ký nở rộ (vnexpress.net, 20/06/2013), Văn học du ký: Hồi sinh và đắt khách

(suckhoedoisong.vn, 20/07/2013),... Và các tác phẩm ăn khách, phần lớn đều từ các tác
gia nữ. Họ đã thốt khỏi “cái giếng” để vươn mình lên bầu trời. Họ đã trở thành biểu
tượng của chủ nghĩa xê dịch, của tự do, của bình đẳng giới.
Là một Nguyễn Phương Mai không bao giờ ngừng bước, sống là phải dấn thân:
“Tôi thường xin nghỉ việc để tham gia vào các dự án nghiên cứu nho nhỏ của mình. Hai
năm trước tôi làm một chuyến du hành theo dấu vết di cư của lồi người từ cái nơi của
nhân loại ở Châu Phi, qua Châu Úc, Châu Á rồi tới Châu Mỹ. Tôi vừa trở về từ chuyến
đi tới 13 nước Trung Đơng thời kì đỉnh cao của Mùa Xn Ả rập. Nghề của tôi là phải
đi, không đi rêu bám đầy mình thì dạy cho ai nghe?” [105]. Là một Phan Việt đầy cô
đơn, khắc khoải, suy tư trên hành trình kiếm tìm bản ngã: “Đi tìm "những tiếng nói một
đời khơng bày tỏ hết", Phan Việt là người phụ nữ hiện đại, văn chương của chị loại bỏ
toàn bộ những khuôn thức cũ, tràn trề tự do. Nhưng trên hết, tôi cảm giác ở Phan Việt,
viết văn như hành trình đi tìm chính mình, đi tìm những ý nghĩa mới trong những chiều
kích khác nhau của cuộc sống” [136]. Hay là một Dương Thụy lạc quan sẵn sàng lang
thang khắp ngõ ngách Châu Âu: “Có lẽ phải gọi Dương Thụy là nhà văn của những
thành phố lãng mạn nhất trên thế giới. Đi nhiều và cảm nhận cũng nhiều, cây bút trẻ
này đã đưa tất cả vào những cuốn sách của mình: từ khung cảnh tuyệt vời của những
đất nước tận trời Âu xa xôi đến rung động tinh tế trong tâm hồn những cô gái Á Đông
gần gũi” [133].
Cần phải nói, những phê bình và điểm sách về văn xi du hành nữ thì rất nhiều.
Nguyễn Hữu Sơn trong Du ký Việt Nam – Nam Phong tạp chí 1917-1934 (2007) đã từng
nhắc đến Sang Tây (Phạm Vân Anh, 1930) và Bà Nà du ký (Huỳnh Thị Bảo Hịa, 1931)
song chỉ mang tính giới thiệu. Nhà nghiên cứu Trần Lê Hoa Tranh đã nghiên cứu kỹ


6

lưỡng và đi sâu về đề tài này qua hai bài viết: Hiện tượng đi và về của các nhà văn đương
đại Việt Nam, Không gian du ký của các nhà văn nữ Việt Nam. Tuy thế, cũng chỉ phác
họa được phần nào các tên tuổi tiêu biểu.

Từ đây, cần khẳng định rằng tất cả các nghiên cứu đều chỉ tập trung ở địa hạt du
ký nửa đầu thế kỷ XX, tuy đã khái quát được phần nào diện mạo của văn chương du ký
Việt Nam những năm đầu thế kỷ nhưng vẫn chưa có sự quan tâm đúng mực hay nhấn
mạnh đến nhà văn du ký là nữ giới. Chính vì lý do này, chúng tơi đã chọn đề tài Tìm hiểu
văn xi du hành của các tác giả nữ Việt Nam đương đại để thực hiện.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn một cách khoa học, chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp loại hình: để xác định được những đặc trưng cơ bản của các thể
loại như ký, truyện ngắn và tiểu thuyết, người viết phải sử dụng phương pháp
loại hình. Phương pháp này nhằm xác định vị trí và ý nghĩa của các thể loại
trong hệ thống văn xuôi Việt Nam đương đại.
4.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống: để có cái nhìn tổng quan và logic về thể
loại, người viết sẽ đặt nội dung theo hệ thống xuyên suốt các tác phẩm nhằm
làm rõ vấn đề.
4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: người viết tiến hành phân tích, tổng hợp
tất cả những tư liệu để hiểu rõ đặc trưng của thể loại du ký, các đặc điểm về
nội dung và hình thức.
4.4 Phương pháp lịch sử: người viết tiếp cận sự vật, hiện tượng trong quá trình
hình thành và phát triển của nó. Phương pháp này yêu cầu khi xem xét đối
tượng phải đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể và lịch sử phát triển. Sử dụng
phương pháp này, chúng tôi xem xét sự phát sinh và hình thành của văn xi


7

du hành qua các giai đoạn phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, văn hóa nhất
định.
4.5 Phương pháp liên ngành: Thi pháp học, Phong cách học, Văn bản học, Mĩ
học tiếp nhận được chúng tôi sử dụng để khảo sát các vấn đề lí thuyết thể loại

và sáng tác theo yêu cầu của đề tài đặt ra.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Qua việc Tìm hiểu Văn xuôi du hành của các tác giả nữ Việt Nam đương đại, mục
đích của chúng tơi là tạo nên một cái nhìn bao qt tồn diện về diện mạo, sự hình thành
và phát triển, đặc điểm về nội dung, thể loại, cảm hứng nghệ thuật của văn xuôi du hành
nữ đương đại, từ đó thấy được cái hay, cái đẹp và sự hấp dẫn của đề tài này.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần phát hiện và làm rõ những giá trị và đóng góp của văn xi
du hành nữ trong tiến trình đổi mới và hiện đại hóa văn học dân tộc cũng như văn học
thế giới.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn chia làm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Tổng quan về lý thuyết du hành, tình hình nghiên cứu văn xi du hành
thế giới và Việt Nam, diện mạo của văn xuôi du hành nữ đương đại và những tác
giả tiêu biểu.
Chương 2: Văn xuôi du hành nữ Việt Nam - Một cái nhìn đa diện


8

Đặc điểm nội dung: điểm nhìn dịch chuyển từ Đơng sang Tây, cảm thức
ám ảnh về thân phận bên lề, chân dung con người đương đại và vấn đề về tính
dục trong các sáng tác văn xi du hành nữ Việt Nam đương đại.
Chương 3: Văn xuôi du hành nữ Việt Nam – Những giá trị nghệ thuật
Đặc điểm nghệ thuật: kết cấu, không thời gian và ngôn từ trong các sáng
tác văn xuôi du hành nữ Việt Nam đương đại.



9

CHUƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Luợc khảo về thể loại văn xuôi du hành thế giới
1.1.1 Khái niệm thuật ngữ “du hành” và “văn xuôi du hành”
Thể tài du hành khá phổ biến trên thế giới và đến nay vẫn còn rất nhiều tranh cãi
xung quanh tên gọi cũng như thống nhất một định nghĩa chung. Vậy tại sao trong luận
văn này chúng tôi lại sử dụng thuật ngữ “du hành” mà không phải là một thuật ngữ nào
khác? Trên thực tế, chỉ có một vài thuật ngữ được cho là có quan hệ gần gũi hoặc tương
đương với “du hành” và dùng phổ biến, tiêu biểu là: du lịch, lữ hành và hành hương.
Theo Từ điển tiếng Việt (bộ mới) năm 2010, “du lịch” là đi xa cho biết xứ lạ khác với
nơi mình ở; “lữ hành” là đi đường xa; “hành hương” là đi đến những nơi xa được xem
là linh thiêng như đền, chùa để cúng bái cho thỏa sự ngưỡng vọng; “du hành” là đi chơi
xa. Xét trên tính chất và đặc điểm thể tài thì người viết cho rằng, “du hành” là thuật ngữ
phù hợp hơn cả, bởi nó có thể bao hàm cả việc du lịch lẫn hành hương mà không bị giới
hạn hoặc bó buộc vào bất cứ khn khổ nào. Và “văn xuôi du hành”, hiển nhiên là tất cả
các tác phẩm viết về những chuyến đi, những trải nghiệm do chính bản thân tác giả thực
hiện.
Paul Fussel được xem là người có sức ảnh hưởng, góp phần thu nhỏ khái niệm
cũng như tạo nét riêng cho thuật ngữ “văn xuôi du hành”. Tác phẩm Abroad: British
Literary Travelling Between the Wars (Hải ngoại: Văn học Anh du hành giữa những
cuộc chiến, 1982) của ông được xem là hạt giống trong việc nghiên cứu thể tài du hành,
tác phẩm đã tập trung nhiều đến một thể loại mà trước đây bị xem là không đáng kể, và
nằm bên lề văn học. Theo Fussel, chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa việc du hành và
du lịch, du lịch không phải là du hành, sách hướng dẫn du lịch cũng không phải là sách



10

du hành. Văn xuôi du hành thực chất cũng được phân loại như văn học du ký, đều thuộc
loại hình văn tự sự có tính tường thuật, thường chia thành chương, nhìn chung thì cũng
tương tự như tiểu thuyết, truyện vừa hay truyện ngắn kèm theo đó là cái nhìn trực quan
của người viết, đơi khi có xen kẽ cả bản đồ, bảng biểu, danh sách, hoặc các hình thức
phi tự sự và thơng tin khi trình bày; việc nhấn mạnh vào tính tự sự, và kinh nghiệm cá
nhân của chính tác giả về các vùng đất và con người mà họ đi qua cũng làm cho văn xuôi
du hành khác hồn tồn so với sách du lịch. Fussel cịn đặc biệt nhấn mạnh rằng, tác
phẩm du hành đúng nghĩa phải thể hiện được yếu tố cá nhân, người viết phải thật sự hiểu
những gì bản thân làm chứ khơng đơn thuần chỉ tái hiện thực tiễn. Việc nhấn mạnh trong
văn bản sẽ làm nổi bật sự nhạy cảm cũng như phong cách của tác giả, và việc này thể
hiện một chiều kích văn chương chưa từng có. Nếu như ở tiểu thuyết, nhà văn có thể
thêm thắt hoặc điều chỉnh các chi tiết một cách có chọn lọc, xen lẫn vào đó một vài sản
phẩm từ trí tưởng tượng của bản thân mình thì văn xi du hành bắt buộc tác giả phải
tôn trọng sự thật, nếu họ hư cấu thì đó khơng khác gì một sự dối trá và gian lận. Có thể
thấy, hầu hết các tác phẩm văn xuôi du hành hay du ký đều kể về một cuộc hành trình
có thật do chính tác giả thực hiện, họ ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe ở những
xứ sở xa lạ và tính chất câu chuyện diễn ra theo thời gian tuyến tính hoặc phi tuyến tính.
Nhìn chung, tác phẩm du hành hay du ký là một “phụ gia” của hồi ức mà ở đó, độc giả
được sống lại với cuộc hành trình ký ức thêm lần nữa.
Trong khi đó, nhà phê bình Borm lại suy nghĩ rất khác Fussel. Ơng khơng nhấn
mạnh tác phẩm du hành phải có tính “văn chương” và đi theo một chu trình có tính thẩm
mĩ. Theo Borm thuật ngữ “văn xuôi du hành” được hiểu như là “một thuật ngữ chung
mang tính đa dạng với những văn bản hư cấu và phi hư cấu có chủ đề chính là du lịch”.
Định nghĩa này có thể xem là hợp lý, nhưng nó tạo ra nguy cơ rằng việc mở rộng phạm
trù thể loại đến mức độ nào đó sẽ làm mất đi giới hạn và xóa nhịa mọi ranh giới. Nhà lí
thuyết người Pháp Michel de Certeau nhận định “mỗi câu chuyện là một câu chuyện du



11

lịch”, theo ông tất cả mọi văn bản đều là văn bản du hành. Một số nhà phê bình khác
như Von Martels cũng cho rằng thơ, văn xuôi cũng được xem là tác phẩm du hành,…
Rõ ràng, việc phân loại và đồng nhất cho khái niệm văn xuôi du hành là vô cùng phức
tạp và đa dạng, mỗi cá nhân và mỗi văn bản sẽ thể hiện một sự lựa chọn khác nhau.
Dựa trên những tác phẩm đã khảo sát kết hợp cùng những đặc trưng thể loại thì
người viết cho rằng định nghĩa của Borm là phù hợp và khả thi nhất. Nói theo Hà Minh
Đức: “Trên cơ sở hiểu biết được cái lõi của sự kiện và tính cách, người viết vẫn có thể
bồi đắp thêm những chi tiết khác miễn là vẫn giữ được tính xác thực của câu chuyện và
khơng làm mất lịng tin ở người thưởng thức” [50, tr.18-19]. Thực tế đã chứng minh,
nhà văn khơng thể đồng thời chứng kiến tất cả các khía cạnh của sự việc đang diễn ra và
muốn có được một bức tranh toàn cảnh hoàn chỉnh, họ phải nhờ đến ý kiến của người
khác, từ đó sử dụng sự hồi tưởng hoặc cả trí tưởng tượng để tái tạo hiện thực. Mà một
khi đã hồi tưởng thì đương nhiên đã có chất hư cấu. Nhưng hư cấu ở đây phải là hư cấu
nghệ thuật, nhà văn phải sử dụng những “hình thức khơng xác định” để trình bày cái xác
định. Cũng nên hiểu rằng dưới ngòi bút của nhà văn, hư cấu trở thành một quá trình lựa
chọn, sắp xếp và tổ chức các tư liệu, chi tiết, dữ kiện kết hợp với việc sáng tạo thêm
những chi tiết dữ kiện mới trong một chừng mực nhất định để phô bày hiện thực một
cách chân thật hơn, đúng với bản chất hơn. Nói cách khác, trong “văn xi du hành” thì
“hư cấu tượng trưng cho sự thật” (Tourists Typewriters Critical Reflections on
Contemporary Travel Writing, Holland và Huggan). Do đó, theo người viết thì” văn xi
du hành” là một thuật ngữ bao hàm nhiều loại hình, có sự đan xen đầy sáng tạo giữa tính
“hư cấu” và “phi hư cấu”, đều viết về một chủ đề chung là du lịch. Ranh giới thể loại
“văn xuôi du hành” là mờ nhạt, cho nên chúng ta đừng quá cứng nhắc khi đưa ra đánh
giá hoặc nhận xét về chúng. Song cần đối chiếu hết sức cẩn thận vì hệ quả trước mắt của
việc mở rộng phạm vi là, thể loại này có nguy cơ ngày càng trở nên rối rắm, phức tạp và
vô nghĩa.



12

Quay trở về với nền văn học nước ta, thuật ngữ “văn xi du hành” có vẻ ít được
dùng trong các văn bản, bởi chúng ta thường sử dụng tên ký và du ký là nhiều hơn cả.
Du ký là một hình thức ghi chép bằng văn xi, chứa đựng cảm xúc và suy nghĩ của
chính tác giả ngay tại thời điểm họ đặt chân đến một miền đất nào đó. Cũng giống như
phóng sự, hồi ký, nhật ký, ký sự,… du ký nằm gói gọn trong phạm vi của loại hình ký,
hội tụ đầy đủ những đặc điểm chung của thể loại này. Khác với tiểu thuyết, truyện ngắn,
thơ hoặc kịch, ký là một loại hình văn học phức tạp, khó phân định nhất về mặt thể loại.
Theo Từ điển văn học (bộ mới) năm 2004, ký là “tên gọi chung cho một nhóm thể tài
nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngồi văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư
liệu các loại,…) chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể loại như bút ký, hồi ký, du ký,
phóng sự, ký sự, nhật ký,… Ký cơ bản khác với truyện (truyện dài, truyện vừa, truyện
ngắn, tiểu thuyết) ở chỗ trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất; phần khai
triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề cũng khác so với
truyện. Nó thường đề cập đến vấn đề trạng thái dân sự (kinh tế, xã hội, chính trị) và
trạng thái tinh thần (phong hóa đạo đức) của bản thân môi trường xã hội chứ không
phải vấn đề sự hình thành tính cách của cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh” [57,
tr.787]. Từ quá khứ cho đến hiện tại, ký đã xuất hiện với nhiều biến thể và ngày càng trở
nên đa dạng hơn. Thời trung đại có chí, lục, tạp lục, khảo,… sang thời hiện đại thì có
phóng sự, du ký, hồi ký, nhật ký,… Chúng đều có chức năng ghi chép lại sự việc nên
mục đích mà ký hướng đến phải là người thật việc thật, được phản ánh một cách khách
quan theo cái nhìn trực quan từ tác giả. Ký là thể loại không hư cấu, không tưởng tượng,
không bịa đặt bởi “nếu khơng phải bị lừa thì cũng là một cái gì gần như là một sự phụ
lịng tin cậy, một cảm giác gần như bị lỡm” [43, tr.23]. Người viết cần tôn trọng sự thật
một cách tuyệt đối, nhờ điều này mà các tác phẩm ký trở thành những tài liệu quý giá,
có giá trị lịch sử cao.


13


Là thể loại gần với báo chí, do đó ký gắn liền với hiện thực đời sống, tái hiện đời
sống, ký viết về hiện tại chứ không viết về quá khứ. Ký ra đời như một sự phản ánh trực
tiếp với những biến cố mang tính thời sự được đặt ra trong đời sống thường nhật. Ở
phương diện văn học, ký là thể loại in đậm dấu ấn của “sự hợp nhất truyện và nghiên
cứu” (Gorki). Ký vừa cung cấp cho người đọc những bức tranh sinh động, có chiều sâu
về sự vận động và phát triển của cuộc sống hiện thực, vừa có chức năng cung cấp những
dữ kiện, những thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu tri thức của con người. Từ điển thuật
ngữ văn học gọi đó là:“một loại hình văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép
của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính
mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến…” [57, tr.108]. Theo
sách Lí luận văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học, đã đưa ra cách hiểu: “Có thể
hiểu du ký là thể loại ghi chép về vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những
cảm nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn, du lịch. Du ký phản
ánh, truyền đạt những nhận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người
đi du lịch về những điều mắt thấy tai nghe ở những xứ sở xa lạ, những nơi mà mọi người
ít có dịp đi đến, chứng kiến” [71, tr.382]. Sách Các thể văn chữ Hán Việt Nam của Trần
Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm cũng đưa ra định nghĩa tương đối đầy đủ: “Văn du
ký là loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành trình, vừa để bày
tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe. Đặc điểm của du ký là chuyên lấy việc mô
tả thắng cảnh núi sông, phóng vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có thể miêu tả, có thể
trữ tình, có thể nghị luận, và phải có chính tác giả ghi chép về chính chuyến đi của mình,
miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông phong vật” [33, tr.113]. Quan sát các
định nghĩa trên, có thể kết luận rằng cái cốt lõi làm nên một tác phẩm du ký là sự thực
hành ba giai đoạn: đi, xem và chép.
Tác phẩm du ký thể hiện sự giao thoa về thể loại, có thể đó là những ghi chép
bằng văn vần hay văn xuôi dưới dạng nhật ký hay ký sự,… sự nhập nhằng trong tên gọi


14


và cách biểu hiện tạo nên khó khăn cho việc đặt ra giới hạn phân biệt rõ ràng giữa du ký
và các thể loại khác. Điều này tương tự như các nhà bình luận và phê bình văn học thế
giới đã đề cập, có thể nêu ra một số dẫn chứng tiêu biểu sau đây. Trong Các thể ký báo
chí, Đức Dũng gọi du ký là phóng sự: “Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX, một loạt
phóng sự đã xuất hiện trên báo chí ở nước ta (…) Tiêu biểu cho loại này là một số phóng
sự như: Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Hạn mạn du ký,…” [43, tr.6566]. Tuy nhiên, nhà phê bình Phạm Xn Ngun lại có quan niệm thống hơn: “Duy
danh mà nói thì du ký là tất cả những ghi chép khi đi đến một nơi nào đó. Đi rồi Viết”.
Nguyễn Hữu Sơn trong Du ký Việt Nam Nam Phong tạp chí 1917-1934 cho rằng: “Du
ký cần quan niệm như là một thể tài. Thể tài du ký cần phải được hiểu nhấn về phía đề
tài, nội dung và cảm hứng nghệ thuật của người viết, chứ không phải về phía thể loại.
Thu hút vào địa hạt du ký có thể là các sáng tác bằng thơ, phú, tụng, cũng có thể là các
bài văn xi theo phong cách ký, ký sự, phóng sự, ghi chép, khảo cứu, hồi ức về các
chuyến đi (…) Do đó đã xuất hiện thực tế có tác phẩm nằm ở trung tâm thể tài du ký và
nhiều trang viết khác lại nằm ở đường biên hoặc hỗn hợp, pha tạp với những sắc độ đậm
nhạt khác nhau, cả về đối tượng, phạm vi đề tài, nội dung hiện thực lẫn phong cách thể
loại” [83, tr.43].
Việc sử dụng thuật ngữ “văn xuôi du hành” để làm tên cho đề tài mà không sử
dụng “du ký” là bởi trong quá trình khảo sát tác phẩm, chúng tôi nhận thấy văn bản xuất
hiện dưới rất nhiều hình thức và khá đa dạng trong phong cách biểu hiện. Lấy ví dụ như
Tơi là một con lừa, Con đường Hồi giáo của Nguyễn Phương Mai được giới thiệu như
một tác phẩm du ký nhưng lại gần với phong cách báo chí, thậm chí hơi nghiêng về ký
báo chí. Hay như Một mình ở Châu Âu, Xuyên Mỹ của Phan Việt thì được viết theo hình
thức tiểu thuyết tự sự. Những đống lửa trên vịnh Tây Tử của Trang Hạ viết theo hình
thức tản văn. Xách ba lơ lên và đi của Huyền Chip viết theo nhật ký hành trình. Rõ ràng,
có q ít văn bản đạt được tiêu chí hàng đầu của du ký là phải viết thật, không hư cấu,


15


không tưởng tượng. Mặt khác, các tác giả lựa chọn cho đứa con tinh thần của mình xuất
hiện dưới qua nhiều lớp vỏ bọc khác nhau, từ du ký, nhật ký cho đến tiểu thuyết, truyện
ngắn, tản văn; đôi khi cịn có sự pha trộn giữa loại hình này với loại hình khác. Cho nên,
có lẽ đã đến lúc chúng ta cần có cái nhìn thống hơn, rộng hơn trong việc xác định ranh
giới của thể loại này. Trên cơ sở xác định đặc trưng thể loại và quá trình tự làm mới mình
liên tục, chúng tơi đề nghị nên hiểu “văn xuôi du hành” như “một thuật ngữ chung mang
tính đa dạng với những văn bản hư cấu và phi hư cấu có chủ đề chính là du hành”.
1.1.2 Các cột mốc phát triển của văn xuôi du hành thế giới
So với nguồn tài liệu nghiên cứu văn xuôi du hành dày dặn cả về chất và lượng,
dễ dàng tiếp cận của phương Tây thì việc tìm kiếm những cơng trình nghiên cứu tương
tự về văn xi du hành phương Đơng vẫn cịn nhiều khó khăn. Với sự chi phối của thời
gian, điều kiện kinh tế và khả năng ngoại ngữ, người viết chỉ dám lựa chọn phác thảo
dựa trên những gì có thể tìm thấy. Vì vậy, trong phần phân kì này, người viết tập trung
phần lớn hướng về văn học phương Tây, phương Đơng chỉ có thể lướt qua và giới thiệu
một vài tác phẩm điển hình. Mọi sự tiếc nuối về một giới hạn buộc phải đặt ra ở luận văn
này xin dành lại ở các cơng trình sau với quy mơ lớn hơn.
Do vẫn cịn được xem như một thể loại đường biên của văn học nên tài liệu phân
kì giai đoạn lịch sử của văn xi du hành cũng rất thưa thớt, chưa chính xác và rõ ràng.
Trong phần này người viết phác thảo các cột mốc phát triển dựa trên hai tài liệu nghiên
cứu phương Tây: Travel writing (Du ký, 2011) của Carl Thompson và Travel Literature
and the Evolution of the Novel (Văn học du ký và sự phát triển của tiểu thuyết, 1983) của
Percy G. Adams, phần phương Đông là kết quả q trình tổng hợp của người viết. Có
thể cịn nhiều thiếu sót nhưng phần nào đã phác họa được bức tranh văn xuôi du hành
thế giới từ thời cổ đại cho đến nay.
1.1.2.1 Thời kì cổ đại


16

Con người đi du hành trong thế giới cổ đại vì những lí do khác nhau như: chiến

tranh, thương mại, hành hương,… thậm chí từ năm 1500 trước Cơng ngun (TCN), một
số khách du hành cịn đi với mục đích giải trí và tham quan kéo dài từ La Mã đến tận Ai
Cập. Từ The Histories (Sự khảo cứu, cuộc thám hiểm, 431-425 TCN) của Herodotus đến
Description of Greece (Mô tả Hy Lạp, 155-80 TCN) của Pausanias đã cho thấy được
tinh thần của một quyển sách hướng dẫn du hành với đầy đủ những nghi lễ và phong tục
tập quán cổ đại, tuy nhiên khơng có tác phẩm nào trong số này nói về kinh nghiệm trong
những chuyến đi. Cho đến A Journey to Brundisium (Hành trình đến Brundisium
(Satires, Tập 1), 35 TCN) của Horace, có lẽ là ngoại lệ duy nhất trong số này, một câu
chuyện tập hợp đầy đủ những khó khăn bất hạnh mà tác giả gặp phải trên đường đi của
mình.
Tác phẩm du hành trong giai đoạn này hầu hết là miêu tả về các cuộc hành hương
mang ý nghĩa tâm linh và tơn giáo. Có thể kể đến The Pilgrimage of Egeria (Cuộc hành
hương của Egeria, 381-84 TCN), đây được xem là câu chuyện phi hư cấu đầu tiên thuộc
thể loại văn xuôi du hành; Odyssey và True History (Sự thật lịch sử) của Lucian, hai tác
phẩm chứa đầy tính hư cấu về những chuyến đi không tưởng;… Tác phẩm du hành nổi
tiếng nhất của thời đại này phải nhắc đến Marco Polo du ký, xuất hiện từ cuối thế kỷ
XIII và được lưu hành rộng rãi dưới những phiên bản khác nhau. Sau Marco Polo du ký,
câu chuyện du hành có ảnh hưởng và lưu hành rộng rãi ở giữa thời kì là Travels of Sir
John Mandeville (Chuyến đi của Ngài John Mandeville, 1356) một quyển sách hướng
dẫn mang tính chất bách khoa tổng hợp với các kiến thức địa lý của thời đại dành cho
những người muốn hành hương đến Đất Thánh.
Tại một số nền văn hóa, các tác phẩm du hành cũng xuất hiện từ rất sớm. Ở Trung
Quốc, thể loại này tồn tại dưới những tên gọi khác nhau như: yu-chi (遊記: du ký) hay
jih-chi (際記: biên chép, ghi chép) hình thành từ thế kỷ thứ VIII Sau Công Nguyên và
thịnh hành từ thế kỷ thứ X trở về sau. Sử ký (109-91 TCN) của Tư Mã Thiên là văn bản
lịch sử mang tính hệ thống đầu tiên của Trung Quốc, có ảnh hưởng cực lớn đến q trình


17


ghi chép văn chương và sử đến tận ngày nay, thậm chí trong quan điểm của phương Tây,
Sử ký của Tư Mã Thiên hồn tồn có thể đặt ngang hàng với The Histories của
Herodotus. Ở Triều Tiên, xuất hiện Tam quốc sử ký (1145) của Kim Phú Thức, đã đạt
đến trình độ cao về văn học khi dám phê phán lối văn chương nhàm chán của các tác
phẩm lịch sử trước đó.
Tại Nhật Bản, hệ thống giao thơng chủ yếu thời kì này là con đường ven biển
Seto (瀬戸) kết nối với Yamato (大和), Nara với Kibi (吉備) và Tsukushi (筑紫). Thể
loại văn du hành bắt đầu manh nha khi chế độ luật lệnh được ban hành, Tokaido
(東海道: Đông Hải Đạo) trở thành đường cái quan (quốc lộ). Xuất hiện vào khoảng
đầu thế kỉ thứ X, có thể kể đến những tác phẩm văn chương du hành tiêu biểu như:
Isemonogatari (伊勢物語, Y Thế vật ngữ) với chuyến đi xuống miền Đông của Ariwara
no Narihira; Tosa Nikki (土佐日記, Thổ Tá nhật ký, 935) của Kino Tsurayuki ghi chép
chi tiết cuộc hành trình năm mươi lăm ngày ngày đường của tác giả từ Tosa về đến kinh
đô; Sarashina Nikki (更級日記, Cánh cấp nhật ký, 1020) của Sugakawa Takasue ghi lại
chuyến đi trở về kinh đơ của cả một gia đình sau khi cha của tác giả hoàn thành nhiệm
kỳ giữ chức Quốc tỵ; Kaidoki (海道記, Hải đạo ký, 1223) ghi lại cuộc hành trình của
của một người xuất gia từ Kyoto đến Kamakura, Tokan kiko (東関紀行, Đông Quan kỷ
hành, 1242),…
Tại một số quốc gia Hồi giáo khác, thể loại này tên là rihla với tác phẩm tiêu biểu
Travels (Du ký, 1355) của Moroccan và Ibn Battutah, được miêu tả như một sử thi với
cuộc hành trình dài 75.000 dặm xuyên qua Bắc Phi, Ấn Độ, Trung Quốc và Đơng Nam
Á.
1.1.2.2 Thời kì trung và cận đại
Bốn chuyến đi của Christopher Columbus đã tạo nên một bước ngoặt lớn về du
hành và tác phẩm du hành trong lịch sử Châu Âu, đánh dấu một bước chuyển đổi từ thời
kì Trung Cổ sang cận hiện đại. Kỷ nguyên khám phá được bắt đầu với hàng loạt sự di


18


chuyển của các nhà hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Vasco da Gama đã khởi hành
từ Lisbon đến Ấn Độ thông qua Mũi Hảo Vọng vào năm 1497; năm 1519, Ferdinand
Magellan trở thành người đầu tiên đi vòng quanh thế giới,… Bên cạnh việc thúc đẩy
thương mại và hàng hải là sự trỗi dậy của các đế quốc, họ bắt đầu tiến hành xâm chiếm
đất đai và thuộc địa.
Cùng lúc đó, với sự phát triển của máy in và bản đồ, việc tìm kiếm các tài liệu
liên quan đến du hành nhanh chóng trở thành một làn sóng phổ biến ở Châu Âu. Dù cho
xuất hiện dưới bất kì hình thức nào thì các tác phẩm du hành cũng đã góp phần thúc đẩy
cơng cuộc mở rộng phạm vi thám hiểm ra xa hơn thời đại trước đó. Đáng chú ý có thể
kể đến là: Voyages and Travels (Hành trình và những chuyến đi, 1550) của Giovanni
Batista Ramusio; Principall Navigations, Voyages, Traffics and Discoveries of the
English Nation (Thuyền trưởng, hành trình, thương mại và khám phá nước Anh, 1589)
của Richard Hakluyt; Hakluytus Posthumus, or Purchase His Pilgrimes (Hakluytus
Posthumus, hay là điểm tựa của cuộc lữ hành, 1625) của Samuel Purchas; Discoveries
of the Large, Rich and Beautiful Empery of Guiana (Khám phá Guiana, thuộc địa to lớn,
xinh đẹp và giàu có, 1588) của Thomas Harriott, một tác phẩm miêu tả chi tiết việc tiêu
thụ các loại hàng hóa và những phong tục bản địa của người Anh-điêng, nó được mô tả
như “một quyển sách du hành phức tạp nhất và có ảnh hưởng nhất dưới thời Elizabeth
đệ Nhất”. Bên cạnh đó, sự khao khát thơng tin và tính tị mị cũng dẫn đến hiện tượng
độc giả tìm đến với các nền văn hóa Châu Âu, Châu Á và Trung Đơng trở nên sơi động
hơn bao giờ hết. Ví dụ như Fynes Morison với Itinerary (Hành trình, 1617) miêu tả
mười năm đi qua Châu Âu và Trung Đông; William Lithgow với Rare Adventures &
Painfull Peregrinations (Cuộc phiêu lưu hy hữu và chuyến du lịch đau đớn, 1632) kể về
chuyến du hành khắp Châu Âu, thậm chí tiến đến cả những nơi xa xôi như Bắc Phi,
Palestine và Ai Cập. Đáng nói hơn, hầu hết các nhà văn thực hiện những chuyến du hành
trong giai đoạn này chỉ có nam giới, khơng có tác phẩm nào được xuất bản bởi phụ nữ.
Điều này cho thấy, phụ nữ ít có cơ hội được di chuyển trong thời đại này, và họ cũng


19


phải đối mặt với những rào cản xã hội để có thể trở thành một tác gia.
Tất nhiên, bất kì khám phá mới nào mang tính quan trọng ở đầu kỷ nguyên hiện
đại đều sẽ vấp phải những phê bình và phản ứng trái chiều. Đặc biệt là khi hiện thực khai
thác, bóc lột thuộc địa dưới bàn tay của thực dân Châu Âu trong giai đoạn này đã gây ra
những cuộc tranh luận gay gắt về đạo đức. Brief Account of the Destruction of the Indies
(Ấn Độ suy tàn, 1552) của Bartolomé de las Casas xuất hiện như một bản cáo trạng, tố
cáo mạnh mẽ sự tàn bạo và suy đồi đạo đức của thực dân Tây Ban Nha. Vấn đề hư cấu
và phi hư cấu trong văn học cũng trở thành đề tài bàn luận của thời kì này. Tiểu thuyết
Utopia (1516) của Thomas More đã cho thấy một trí tưởng tượng tuyệt vời khi tác giả
sáng tạo ra cả một nền văn hóa ảo đặt bên cạnh xã hội thực tại Châu Âu. Tiểu thuyết
Mundus Alter et Idem (Another World and Same - Một thế giới giống và khác, 1605) sau
này của Joseph Hall cũng triển khai vấn đề tương tự. Giai đoạn này không thể không đề
cập đến Tây du ký (1590) của Ngô Thừa Ân, tác phẩm trộn lẫn giữa hư và thực, thể hiện
trí tưởng tượng mạnh mẽ, đưa người đọc vào thế giới huyền ảo, diệu kỳ cùng bốn thầy
trò Đường Tăng với những bất ngờ khơng thể đốn trước.
Theo đó, tất cả những phản ánh sự thay đổi của những ràng buộc phong kiến, thể
hiện một sự khao khát tìm đến những gì lãng mạn, với motif là cuộc phiêu lưu của những
con người kì lạ, cuộc hành trình này ln kéo theo một chuỗi những tai ương và bất
hạnh. Tác phẩm được đánh giá tiêu biểu cho hình thức này là Don Quixote (1605) của
Miguel de Cervantes, mang dáng dấp của một sử thi vừa có chất anh hùng lại vừa đậm
chất trào phúng.
1.1.2.3 Thời kì từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX (1660 – 1837)
Các tác phẩm du hành trở nên phổ biến trong thế kỷ thứ XVIII và có sức ảnh
hưởng đến tận thế kỷ thứ XIX, khi chế độ phong kiến Châu Âu phải nhường chỗ cho xã
hội tư bản đang dần phát triển. Có thể nói, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật thời đại này
đã thúc đẩy những cuộc tìm tịi khám phá trên cả đất liền và biển cả, họ dần mở rộng
phạm vi ra khỏi Châu Âu tiến đến những vùng đất xa xôi hơn.



×