ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ NGỌC LAN THẢO
THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM
CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60.22.01.13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ NGỌC LAN THẢO
THÀNH NGỮ TRONG TÁC PHẨM
CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN NHẬT ÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60.22.01.13
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN THỊ MAI NHÂN
Thành phố Hồ Chí Minh 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nghiên cứu trong luận văn này là của
riêng tôi chưa công bố trong bất cứ cơng trình nghiên cứu nào khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
Người cam đoan
Vũ Ngọc Lan Thảo
.
năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc và chân thành đến TS. Trần Thị Mai Nhân – người
đã tận tâm hướng dẫn tơi trong suốt q trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Việt Nam học đã giảng dạy và tạo
điều kiện cho tôi trong thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình
giúp đỡ tơi trong q trình tìm tài liệu và thực hiện đề tài.
Tơi xin gửi lời tri ân đến cha mẹ – những người luôn ở bên ủng hộ tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến anh chị, bạn bè đã luôn động viên tôi.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
8
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
9
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
9
5. Phương pháp nghiên cứu
11
6. Kết cấu luận văn
12
CHƯƠNG 1: THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
14
1.1 Khái niệm thành ngữ
14
1.2 Đặc trưng của thành ngữ
16
1.2.1
Tính cố định
16
1.2.2
Tính hồn chỉnh về nghĩa
18
1.2.3
Tính hình tượng - cụ thể
19
1.2.4
Tính biểu thái
21
1.2.5
Tính dân tộc
22
1.3 Phương thức cấu tạo thành ngữ
23
1.3.1
Phương thức so sánh
23
1.3.2
Phương thức ghép từ
24
1.3.3
Phương thức đối
25
1.3.4
Phương thức điệp
27
1.4 Phân loại thành ngữ
28
1.4.1
Căn cứ vào nguồn gốc
28
1.4.1.1
Thành ngữ thuần Việt
28
1.4.1.2
Thành ngữ Hán Việt
28
1.4.2
Căn cứ vào phương thức tạo nghĩa
29
1.4.2.1
Thành ngữ so sánh
29
1.4.2.2
Thành ngữ ẩn dụ hóa
31
1.4.3
Căn cứ vào hình thức cấu trúc
32
1.4.3.1
Thành ngữ đối xứng
32
1.4.3.2
Thành ngữ phi đối xứng
34
CHƯƠNG 2: NGUYỄN NHẬT ÁNH – NHÀ VĂN VẬN DỤNG TRIỆT ĐỂ
THÀNH NGỮ TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC
36
2.1 Nguyễn Nhật Ánh - Nhà văn của tuổi hoa niên
36
2.1.1 Vài nét về cuộc đời
36
2.1.2 Sự nghiệp sáng tác
41
2.1.3 Quan niệm sáng tác - Phong cách nghệ thuật
45
2.2 Quy mô sử dụng thành ngữ trong sáng tác văn học của Nguyễn Nhật Ánh
54
2.2.1 Số lượng thành ngữ
55
2.2.2 Tần số sử dụng thành ngữ
59
CHƯƠNG 3: NGUYỄN NHẬT ÁNH - NHÀ VĂN TÀI HOA TRONG VIỆC SỬ
DỤNG THÀNH NGỮ
68
3.1 Sự đa dạng trong nghệ thuật sử dụng thành ngữ của Nguyễn Nhật Ánh
68
3.1.1 Sử dụng thành ngữ nguyên dạng
69
3.1.2 Sử dụng thành ngữ cải biến
83
3.1.3 Sử dụng thành ngữ theo chức năng ngữ pháp trong câu
98
3.2 Sự sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng thành ngữ của Nguyễn Nhật Ánh
108
3.2.1 Ý thức “làm mới” thành ngữ dân gian
109
3.2.2 Sử dụng “chuỗi” thành ngữ trong câu
112
3.3 Hiệu quả thẩm mĩ của việc sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Nhật
Ánh
115
3.3.1 Khắc họa hình tượng nhân vật
115
3.3.2 Tăng giá trị diễn đạt, sắc thái biểu cảm và tính hình tượng cho lời văn
120
KẾT LUẬN
126
TÀI LIỆU THAM KHẢO
129
PHỤ LỤC
139
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. Bàn có 5 chỗ ngồi (BCNCN)
2. Bồ câu không đưa thư (BCKĐT)
3. Buổi chiều Windows (BCW)
4. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (CTXMVĐTT)
5. Chú bé rắc rối (CBRR)
6. Chuyện xứ Lang Biang (CXLB)
7. Cịn chút gì để nhớ (CCGĐN)
8. Cơ gái đến từ hôm qua (CGĐTHQ)
9. Hạ đỏ (HĐ)
10. Hoa hồng xứ khác (HHXK)
11. Hội nhà văn (HNV)
12. Kính vạn hoa (KVH)
13. Ngôi trường mọi khi (NTMK)
14. Nhà xuất bản (Nxb)
15. Những chàng trai xấu tính (NCTXT)
16. Những cơ em gái (NCEG)
17. Nữ sinh (NS)
18. Phòng trọ ba người (PTBN)
19. Quán Gò đi lên (QGĐL)
20. Tái bản (TB)
21. Thanh niên xung phong (TNXP)
22. Thành đồn thành phố Hồ Chí Minh (TĐTPHCM)
23. Thành ngữ (TN)
24. Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)
25. Thằng quỷ nhỏ (TQN)
26. Thiên thần nhỏ của tôi (TTNCT)
27. Thứ tự (TT)
28. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (TTHVTCX)
29. Trại hoa vàng (THV)
30. Trung ương Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TWĐTNCSHCM)
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam trải qua quá trình phát triển lâu dài và đạt được những thành
tựu nhất định. Đặc biệt, từ năm 1986 trở về sau, diện mạo văn học nước ta thay đổi
theo chiều hướng mới, đến gần hơn với đời sống con người Việt Nam. Trong đó, lực
lượng sáng tác trẻ đã đem đến những thay đổi tích cực, đưa văn học đến với giới trẻ
nhiều hơn. Và nói đến sự phát triển văn học nước nhà, chúng ta không thể khơng nói
đến mảng văn học viết cho thiếu nhi và thanh thiếu niên. Từ những bước phát triển ban
đầu vào những năm 40 của thế kỉ XX, văn học viết cho thiếu nhi, thanh thiếu niên đã
phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần làm phong phú thêm cho văn
học dân tộc. Nhiều cuốn sách nổi tiếng đã trở thành người bạn đồng hành với các thế
hệ thiếu niên Việt Nam. Trong những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, văn
học viết cho thiếu niên đã trải qua những bước thăng trầm, với sự trăn trở và nỗ lực hết
mình của lực lượng sáng tác để có được những tác phẩm mới, theo kịp đời sống của
giới trẻ hiện nay.
Nếu nhìn lại những thành tựu văn xuôi trong nước dành cho thiếu nhi và thanh
thiếu niên, chúng ta dễ dàng nhận thấy thể loại truyện vừa thành cơng hơn truyện dài.
Dưới ngịi bút tự sự, với giọng văn hài hước dí dỏm, với những hình tượng sống động
và gần gũi, mang tính tưởng tượng và hư cấu, lồng vào đó là những tâm tư tình cảm
của các tác giả…, các tác phẩm văn học “trẻ” này dễ dàng đến gần hơn với tâm hồn
bạn đọc. Có thể kể đến một số nhà văn tiêu biểu cho mảng văn học này như: Tơ Hồi,
Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Trần Hoài Dương, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn
Nhật Ánh, Lý Lan, Phan Hồn Nhiên, Dương Thụy, Bùi Chí Vinh, Nguyên Hương….
2
Trong những tác giả kể tên trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến nhà văn Nguyễn
Nhật Ánh - một trong những cây bút tài hoa của dòng văn học viết cho thiếu nhi và
thanh thiếu niên. Những tác phẩm của ông đã đạt được những thành công nhất định,
với một giọng văn dí dỏm, với việc sử dụng ngơn từ độc đáo, xây dựng nhân vật, tình
huống, cốt truyện giản dị mà ấn tượng… Trong đó, Nguyễn Nhật Ánh đã dùng lối viết
gần gũi với lời ăn tiếng nói của lớp trẻ, đặc biệt là sử dụng thành ngữ một cách khá
nhuần nhuyễn, đặc sắc, tạo nên một phong cách hành văn riêng. Qua khảo sát bước đầu,
chúng tôi nhận thấy ơng đã có những đóng góp đáng kể cho mảng văn học tuổi hoa,
đồng thời những tác phẩm của ơng cũng có đóng góp nhất định trong việc phát triển
vốn ngôn ngữ dân tộc thông qua việc vận dụng thành ngữ trong sáng tác văn học.
Vận dụng thành ngữ trong sáng tác văn học, Nguyễn Nhật Ánh như thổi hồn cho
câu văn, mang đến cho lời văn màu sắc dân gian bình dị gần gũi, đậm nét văn hóa Việt.
Đây cũng là vấn đề làm nên nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Tuy
nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có cơng trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
nghệ thuật vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Đó là lý
do chúng tơi chọn nghiên cứu đề tài: “Thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn
Nguyễn Nhật Ánh”.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu một cách có hệ thống, có chọn
lọc về các phương thức vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật
Ánh. Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi cố gắng tìm hiểu thêm về bình diện ngữ
pháp và ngữ nghĩa của thành ngữ được sử dụng trong tác phẩm, nhằm giúp người đọc
hiểu rõ hơn về nghệ thuật diễn đạt lời văn thông qua thành ngữ, đồng thời cho thấy
những phương thức biểu đạt mang đậm chất dân tộc trong văn học hiện đại của nhà văn.
Đặc biệt, chúng tôi tiến hành khảo sát sự xuất hiện của thành ngữ trong các tác phẩm
của Nguyễn Nhật Ánh, qua đó thấy được nghệ thuật vận dụng thành ngữ điêu luyện,
3
linh hoạt trong hệ thống ngôn từ tiếng Việt phong phú, đa dạng, tạo nên giá trị biểu
cảm và những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc của nhà văn.
Cuối cùng, thơng qua việc tìm hiểu, thu thập một cách có chọn lọc và phân tích
các thơng tin, dữ liệu liên quan đến thành ngữ - sử dụng thành ngữ trong tác phẩm của
Nguyễn Nhật Ánh nói riêng và kiến thức về thành ngữ nói chung, chúng tơi hi vọng
luận văn sẽ góp phần bổ sung kiến thức cho người đọc về giá trị sử dụng, ý nghĩa, cách
thức sử dụng và nghệ thuật diễn đạt của hệ thống thành ngữ trong đời sống người Việt
Nam nói chung và trong văn học nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tính đến nay, số lượng cơng trình, bài viết nghiên cứu về thành ngữ là rất lớn, chia
làm nhiều mảng khác nhau. Hầu hết, các cơng trình nghiên cứu trước đó đều đưa ra
những phân tích, nhận xét xung quanh các vấn đề về thành ngữ trên các phương diện: cấu
trúc, ngữ nghĩa, thi pháp, tri nhận... Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tơi quan
tâm tìm hiểu đóng góp của những cơng trình nghiên cứu về thành ngữ, cách sử dụng
thành ngữ trong tác phẩm văn học và trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Trước hết, chúng tơi muốn đề cập đến cơng trình của Nguyễn Văn Tu, Từ vựng
học tiếng Việt hiện đại (1968). Trong cơng trình này, ơng cho rằng: “Những thành ngữ là
từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm
thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng
thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể
khơng có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa
nguyên do như từ nguyên học” [95, tr.147]. Mặt khác, ông cũng cho thấy thành ngữ trong
tiếng Việt phần lớn là những câu rút gọn. Thành ngữ có thể trùng với tục ngữ hoặc chỉ là
một bộ phận của tục ngữ [95, tr.151-152]. Dù khơng chủ yếu xốy vào thành ngữ nhưng
cơng trình cũng có giá trị cung cấp tư liệu cho giới nghiên cứu và phát triển thành ngữ
sau này.
4
Thứ hai là cuốn sách của tác giả Đái Xuân Ninh (1978): Hoạt động của từ tiếng
Việt. Trong cuốn sách này, ông đã đi sâu nghiên cứu những điểm nổi bật của thành ngữ.
Về hình thức, ơng chia ra hai nhóm thành ngữ theo quan hệ cú pháp: quan hệ đối xứng và
phi đối xứng.
Một cơng trình nghiên cứu khác về thành ngữ rất có ý nghĩa là Thành ngữ tiếng
Việt do hai tác giả Nguyễn Lực – Lương Văn Đang viết vào năm 1993. Trong cơng trình,
nhóm tác giả đã phân biệt tục ngữ và thành ngữ, bên cạnh đó cịn chỉ ra mối liên hệ giữa
hai loại hình này chủ yếu là về mặt nghĩa, mặt nhận thức của con người. Điểm đặc biệt
của quyển sách này là phần sưu tầm và giải nghĩa thành ngữ tiếng Việt tương đối đầy đủ
và chính xác. Nó tương tự như một cuốn từ điển thành ngữ, giúp người nghiên cứu có thể
dùng trong việc tra cứu ý nghĩa thành ngữ.
Gần đây nhất là ba cuốn sách đi sâu vào phân tích hệ thống thành ngữ tiếng Việt
của Hồng Văn Hành. Ông là người đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu
thành ngữ ở nước ta. Trong cuốn Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (xuất bản năm 2002),
ông chủ yếu giải nghĩa và nêu ra nguồn gốc của một số thành ngữ thuần Việt - Hán Việt.
Bên cạnh đó, tác giả cịn dành hẳn một chun mục luận bàn về đặc điểm cấu tạo-ngữ
nghĩa của thành ngữ.
Trong cuốn chuyên khảo Thành ngữ học tiếng Việt (2008), tác giả đã chỉ ra hai
đặc trưng lớn nhất của thành ngữ tiếng Việt: “Tính ổn định, cố định về thành phần từ
vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói quen sử dụng của người bản ngữ”
[39, tr.32]. Bên cạnh đó, tác giả cịn đi sâu phân tích cấu trúc của ba loại hình thành ngữ
tiếng Việt: thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng và thành ngữ
so sánh. Đây là một cơng trình phân tích cấu trúc thành ngữ tương đối hồn chỉnh, có giá
trị và ảnh hưởng sâu sắc đối với các cơng trình nghiên cứu về thành ngữ sau này. Đặc biệt,
trong luận văn này, chúng tơi có sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của tác giả vào
việc phân tích đặc trưng, cấu trúc, phân loại... của thành ngữ.
5
Trong cuốn Tuyển tập ngôn ngữ học (2010), tác giả Hoàng Văn Hành đề cập đến
vấn đề cấu tạo thành ngữ, ông chia thành ngữ làm hai loại: thành ngữ so sánh và thành
ngữ ẩn dụ hố. Ơng cịn đưa ra những nhận định xác đáng về thành ngữ: “Một là nếu thừa
nhận rằng đặc trưng bản chất của thành ngữ là những tổ hợp từ bền vững, có nghĩa bóng
bẩy, thì sự phân loại và miêu tả thành ngữ dựa vào phương thức chuyển nghĩa của chúng
là sự phân loại và miêu tả hợp lí. Hai là, mọi sự khó khăn và phức tạp trong sự nhận diện
các đơn vị được gọi là thành ngữ, có thể có là do tính chất trung gian hay tính chất
chuyển tiếp của chúng.” [41, tr.440]. Nhìn chung, đây cũng là một trong những cơng
trình nghiên cứu có giá trị về thành ngữ nói riêng và ngơn ngữ nói chung.
Ngồi những cơng trình nghiên cứu, cịn có nhiều bài báo viết về thành ngữ, trong
đó có nhiều bài nghiên cứu mối quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ: “Về ranh giới giữa
thành ngữ và tục ngữ” (Nguyễn Văn Mệnh - Tạp chí Ngơn ngữ số 3 năm 1972), “Góp ý
kiến về việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ” (Cù Đình Tú- Tạp chí Ngơn ngữ, số 1
năm 1976). Bên cạnh đó, có thể nhắc đến một số bài viết nghiên cứu về vấn đề vận dụng
thành ngữ trong tác phẩm văn học: “Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xn
Hương” (Đặng Thanh Hồ - Tạp chí Ngơn ngữ & đời sống, số 4/2001); “Thành ngữ,
tục ngữ cải biên trong tác phẩm Sơn Nam”(Nguyễn Văn Nở - Dương Thị Thu Hằng Tạp chí Ngơn ngữ & Đời sống, số 11/2010); “Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng” (Lâm Thị Thiên Lan - Tạp chí Đại học Sài Gịn, năm 2011);
“Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” (Phan
Quan Thông - Tạp chí Ngơn ngữ, số 9/2011), .... Nhìn chung, những bài báo này đi sâu
vào nghiên cứu giá trị sử dụng của thành ngữ trong tác phẩm của một nhà văn nhất định.
Do giới hạn của bài báo nên những bài viết này chưa thực sự nghiên cứu đầy đủ giá trị sử
dụng của thành ngữ trong tác phẩm văn học. Song, mỗi bài viết đều đem đến cho người
đọc những kiến thức về hiệu quả vận dụng thành ngữ cũng như phong cách hành văn của
các tác giả.
6
Bên cạnh những đề tài nghiên cứu về thành ngữ, chúng tơi muốn nhắc đến một số
cơng trình nghiên cứu chuyên sâu về những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Đó
là luận văn Cao học chun ngành Lí luận Văn học của Bùi Thị Thu Thủy – Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2007: “Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật
Ánh”. Luận văn đã khảo sát 4 tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh là: Kính vạn hoa,
Chuyện xứ Lang Biang, Cho tơi xin một vé đi tuổi thơ, Tôi là Bêtô và đưa ra các nhận
xét về đặc điểm nội dung cũng như nghệ thuật truyện Nguyễn Nhật Ánh. Theo tác giả,
truyện Nguyễn Nhật Ánh như là một bộ “tiểu bách khoa về thiếu nhi”, đem đến những
bài học quý trong cuộc sống cho thiếu nhi và cho cả người lớn. Bên cạnh đó, tác giả cũng
tập trung phân tích nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn
ngữ và phong cách hành văn giản dị của Nguyễn Nhật Ánh.
Hai tác giả Trương Thị Diễm và Nguyễn Thị Dạ Hiếu trong bài viết: “Kết hợp từ
ngữ bất thường trong tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh”
đăng trên Tạp chí Khoa học và Cơng nghệ - Đại học Đà Nẵng số 6 (47) năm 2011 đã có
những nhận xét về tần số kết hợp những từ ngữ bất thường trong các tác phẩm của
Nguyễn Nhật Ánh. Trong bài viết, các tác giả tập trung khảo sát, phân tích những kết hợp
bất thường về nghĩa trong truyện “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” ở 3 cấp độ: cụm từ bất
thường về nghĩa, phát ngơn bất thường về nghĩa và nhóm phát ngơn bất thường về nghĩa.
Nhóm tác giả này đã cho thấy được sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ văn chương
của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Ngoài ra, luận văn Cao học chuyên ngành Ngữ văn của Nguyễn Thị Thúy Hằng
trường Đại học Quy Nhơn năm 2012: “Ngôn ngữ đối thoại trong truyện Nguyễn Nhật
Ánh” đã đưa ra những phân tích, nhận xét về ngôn ngữ hội thoại trong các truyện của
Nguyễn Nhật Ánh. Theo tác giả, nguyên nhân việc nhà văn sử dụng thường xuyên các
mẩu đối thoại ngắn là để thu hút các bạn đọc nhí. Trong luận văn, tác giả cũng đưa ra
những nhận xét về việc sử dụng thành ngữ để tăng khả năng diễn đạt cho lời văn.
7
Với tình cảm chân thành, nồng hậu dành cho nhà văn đồng hương xứ Quảng
Nguyễn Nhật Ánh, năm 2012 nhà thơ Lê Minh Quốc đã biên soạn Nguyễn Nhật Ánh Hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ (cuốn sách thuộc Tủ sách Nhà văn của em của Nhà
xuất bản Kim Đồng). Tác phẩm là một cơng trình cơng phu nghiên cứu về Nguyễn Nhật
Ánh. Nó tựa như một “bức chân dung” miêu tả tương đối hoàn chỉnh về cuộc đời, con
người và tài năng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, đồng thời cũng giải mã những bí quyết
tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ với các bạn trẻ tuổi hoa niên trong từng tác phẩm của
“Hoàng tử bé” Nguyễn Nhật Ánh.
Trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Thanh Kiều:“Nhà thơ Nguyễn Nhật Ánh:
Một người tài năng và đáng yêu” (Báo Thể thao và Văn hóa Online ngày 6 tháng 9 năm
2012), nhà thơ Lê Minh Quốc đã nhận xét:“Với dòng văn học dành cho thiếu nhi và tuổi
mới lớn, hiện nay anh đang giữ một vị trí đặc biệt. Khó có người thay thế. Khi liệt kê tên
tuổi và tác phẩm của một thế hệ nhà văn, hội đồng làm văn học sử có thể nhớ đến người
này và quên béng người kia. Có thể chọn người này và bỏ sót người kia. Nhưng với
Nguyễn Nhật Ánh, người ta khơng thể, dù cố tình hoặc vơ tâm” [ 59 ]. Có thể nói, đây là
một bài viết có giá trị tham khảo cao, cung cấp cho chúng tôi nhiều thơng tin trong q
trình nghiên cứu về con người và quan điểm sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Gần đây nhất là những đánh giá của tác giả Thái Phan Vàng Anh trong bài báo:
“Nguyễn Nhật Ánh, người kể chuyện của thiếu nhi”, in trong Tạp chí Non nước, Đà
Nẵng (số 187 tháng 6 năm 2013). Người viết đã có những nhận định tương đối khách
quan về phong cách - quan điểm nghệ thuật trong sáng tác văn học dành cho thiếu nhi của
nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Thái Phan Vàng Anh đưa ra những cái nhìn chứng tỏ sức thu
hút trong tác phẩm của ông đến từ cấu trúc tự sự, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ
giàu biểu cảm và giọng điệu trẻ thơ hồn nhiên: “Nguyễn Nhật Ánh không chỉ kể chuyện
cho thiếu nhi, kể chuyện về thiếu nhi mà anh còn là người - kể - chuyện - của - thiếu nhi”, “Tác giả như đã hóa thân vào thế giới trẻ thơ, nhìn vạn vật bằng cái nhìn của trẻ
8
thơ, thậm chí như sống cùng với các em nhỏ để rồi kể chuyện về thiếu nhi cho chính thiếu
nhi. Nguyễn Nhật Ánh được coi như là người kể chuyện mang điểm nhìn trẻ thơ, và trở
thành người kể chuyện của thiếu nhi chính bởi sự hóa thân, nhập vai khéo léo này” [ 5 ].
Tuy nhiên, bài viết chỉ đánh giá về phong cách sáng tác phù hợp với thiếu nhi của
Nguyễn Nhật Ánh mà chưa đi sâu phân tích dưới góc độ thi pháp học.
Như vậy, cho tới nay đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng
Việt nói chung cũng như nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm của
ơng nói riêng, với nội dung đa dạng, với quy mô và mức độ khác nhau...Và những tác
giả chúng tôi vừa nêu trên đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu rất nhiều mảng
liên quan đến những đề tài này. Những tư liệu trên rất q giá, giúp chúng tơi có những
định hướng ban đầu khi nghiên cứu, đánh giá về việc sử dụng thành ngữ trong tác
phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Bên cạnh đó, chúng tơi cũng kế thừa những
thành quả từ các cơng trình nghiên cứu đi trước về thành ngữ trong quá trình thực hiện
luận văn này. Từ sự kế thừa thành quả lao động khoa học của những bậc đi trước,
chúng tơi mong muốn góp phần làm phong phú cho những cơng trình nghiên cứu về
việc sử dụng thành ngữ trong văn học Việt Nam hiện nay.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Thực hiện luận văn này, trước hết, chúng tôi mong muốn làm đa dạng thêm cho
các cơng trình nghiên cứu về đề tài thành ngữ tiếng Việt nói riêng và thành ngữ học nói
chung hiện nay.
Thứ hai, chúng tơi mong rằng luận văn sẽ góp phần làm phong phú, đa dạng hơn
những cơng trình khảo sát việc sử dụng thành ngữ làm phương tiện diễn đạt trong tác
phẩm văn học Việt Nam hiện đại, cụ thể là nghiên cứu giá trị sử dụng của thành ngữ và
nghệ thuật vận dụng thành ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Bên
cạnh đó, trong q trình nghiên cứu, chúng tơi có thống kê số lượng và đi sâu phân tích
9
nghệ thuật sử dụng thành ngữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Việc thống kê - phân tích
đó giúp người đọc có cái nhìn tồn diện hơn về việc vận dụng thành ngữ trong tác
phẩm văn học cả trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Đồng thời, luận văn cũng giúp người đọc hiểu sâu hơn về khái niệm thành ngữ,
cấu trúc, phân loại, ý nghĩa, các trường hợp áp dụng thành ngữ nói chung và cụ thể là
hệ thống những thành ngữ đang được vận dụng trong dòng văn học dành cho tuổi hoa
niên hiện nay.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn giúp người đọc hiểu thêm về cấu trúc, cách sử dụng thành ngữ và ý
nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, qua đó người đọc có thể vận dụng thành ngữ một cách
chính xác vào cuộc sống, vào sáng tác văn học. Đặc biệt, chúng tôi hi vọng đề tài sẽ
góp phần khơi gợi niềm u thích thành ngữ dân gian của các bạn trẻ. Chúng tôi cũng
mong muốn luận văn sẽ góp phần tơn vinh nhà văn Nguyễn Nhật Ánh - một cây bút tài
hoa, sáng tác không mệt mỏi, có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà.
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích,
phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu về thành ngữ trong nhà trường.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là thành ngữ tiếng Việt được sử
dụng trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thành ngữ được sử dụng trong các tác
phẩm truyện dài của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, được sáng tác trong giai đoạn từ năm
1987 đến năm 2010. Nguyễn Nhật Ánh cho ra đời quyển truyện dài đầu tiên vào năm
1985, nhưng thực sự đến 1987 ơng mới chính thức bước vào con đường văn học dành
cho lứa tuổi hoa niên. Và kể từ 1987 cho đến nay, các “đứa con tinh thần” của ông lần
lượt ra đời một cách đều đặn, khơng ngừng nghỉ. Hành trình sáng tác kéo dài hơn hai
10
mươi năm của Nguyễn Nhật Ánh với các tác phẩm làm say lịng độc giả “nhí”, càng
ngày càng thăng hoa và đến với thế giới. Đỉnh cao sự nghiệp của ông được đánh dấu
bằng giải thưởng văn học ASEAN vào năm 2010 với tác phẩm Cho tôi xin một vé đi
tuổi thơ. Như vậy, giai đoạn 1987 - 2010, là khoảng thời gian quan trọng trong cuộc
đời cầm bút của ơng. Chính vì thế, chúng tơi sử dụng có chọn lọc các tập truyện được
xuất bản trong giai đoạn này làm cứ liệu nghiên cứu. Tuy nhiên, trong quá trình khảo
sát, chúng tôi cũng liên hệ so sánh với việc sử dụng thành ngữ trong một số tác phẩm
được tác giả sáng tác từ năm 2010 trở về sau.
Dưới đây là những tác phẩm được khảo sát trong luận văn:
- Bộ truyện nhiều tập Kính Vạn Hoa 54 tập (1995 – 2010). Trong luận văn,
chúng tơi khơng khảo sát tồn bộ 54 tập truyện mà chỉ tiến hành khảo sát 30 tập nhỏ
nằm trong bộ truyện, gồm: 20 tập đầu (từ tập 1 đến tập 20), 5 tập giữa (từ tập 35 đến
tập 39) và 5 tập cuối (từ tập 50 đến tập 54). Chúng tôi chọn những tập trên để khảo sát
bởi vì đây là các tập truyện có sử dụng thành ngữ nhiều hơn và đặc sắc hơn so với các
tập còn lại. Việc khảo sát này giúp chúng tôi so sánh được mật độ sử dụng thành ngữ
của tác giả từ tập truyện đầu tiên đến tập cuối (sử dụng thành ngữ có đều hay khơng...).
- Các tập truyện dài:
1.
Bàn có 5 chỗ ngồi (2011), tái bản lần 30, Nxb Trẻ.
2.
Bồ câu không đưa thư (2012), tái bản lần 24, Nxb Trẻ.
3.
Buổi chiều Windows (1997), tái bản lần 3, Nxb Trẻ.
4.
Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (2008), Nxb Trẻ.
5.
Chú bé rắc rối (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ.
6.
Cịn chút gì để nhớ (2012), tái bản lần 26, Nxb Trẻ.
7.
Cô gái đến từ hôm qua (2011), tái bản lần 31, Nxb Trẻ.
11
8.
Hạ đỏ (1997), tái bản lần 5, Nxb Trẻ.
9.
Hoa hồng xứ khác (2008), tái bản lần 16, Nxb Trẻ.
10. Ngôi trường mọi khi (2009), tái bản lần 15, Nxb Trẻ.
11. Những chàng trai xấu tính (2011), tái bản lần 26, Nxb Trẻ.
12. Những cô em gái (2011), tái bản lần 18, Nxb Trẻ.
13. Nữ sinh (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ.
14. Phòng trọ ba người (2011), tái bản lần 22, Nxb Trẻ.
15. Quán Gò đi lên (2011), tái bản lần 16, Nxb Trẻ.
16. Thằng quỷ nhỏ (2011), tái bản lần 24, Nxb Trẻ.
17. Thiên thần nhỏ của tôi (2011), tái bản lần 28, Nxb Trẻ.
18. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2010), Nxb Trẻ.
19. Trại hoa vàng (2011), tái bản lần 19, Nxb Trẻ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu khoa học sau:
5.1 Phương pháp thống kê:
Sau khi tiến hành việc sưu tầm các tác phẩm của tác giả Nguyễn Nhật Ánh,
chúng tôi sẽ thực hiện việc thống kê, định lượng thành ngữ trong các tác phẩm, từ đó
đưa ra những nhận định, đánh giá về toàn bộ giá trị sử dụng thành ngữ trong những tác
phẩm đó.
12
5.2 Phương pháp so sánh:
Sự sáng tạo trong quá trình ứng dụng thành ngữ vào nghệ thuật diễn đạt của nhà
văn Nguyễn Nhật Ánh, cũng như những nét tương đồng và dị biệt của ông với các tác
giả khác sẽ được làm rõ thông qua phương pháp này. Chúng tôi sẽ thực hiện việc đối
chiếu, so sánh nghệ thuật sử dụng thành ngữ của ơng với các tác giả khác.
Ngồi ra, trong quá trình nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn
Nhật Ánh, chúng tôi đã vận dụng các thao tác phân tích, miêu tả. Chúng tơi tiến hành
phân tích sự vận dụng thành ngữ trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh trên hai bình
diện ngữ nghĩa và ngữ pháp. Sau đó, thơng qua những phân tích đó để miêu tả nội dung,
ý nghĩa của thành ngữ; mục đích sử dụng thành ngữ; cũng như những nét đặc sắc trong
nghệ thuật vận dụng thành ngữ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập (13 trang), trình bày những vấn đề chung như: Lý do chọn
đề tài, Lịch sử nghiên cứu vấn đề, Mục đích nghiên cứu, Đối tượng - phạm vi nghiên
cứu, Phương pháp nghiên cứu; Phần Kết luận (3 trang); Phần Tài liệu tham khảo (10
trang) và phần Phụ lục (32 trang), Nội dung chính của luận văn gồm có 112 trang, phân
bố thành 3 chương như sau:
Chương 1: Thành ngữ tiếng Việt - Những vấn đề chung (22 trang)
Chương này giải quyết hai vấn đề: thứ nhất là giới thiệu khái niệm về thành ngữ.
Thứ hai sẽ trình bày một số yếu tố liên quan đến thành ngữ (đặc trưng, phương thức
cấu tạo, phân loại, chức năng) và những thành tố này sẽ làm cơ sở cho việc phân tích
sử dụng thành ngữ trong các truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh trên cả hai bình diện ngữ
pháp - ngữ nghĩa trong hai chương kế tiếp.
13
Chương 2: Nguyễn Nhật Ánh - Nhà văn vận dụng triệt để thành ngữ trong
sáng tác văn học (32 trang)
Chương này nhằm giới thiệu cuộc đời của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đặt trong
bối cảnh chung của đời sống xã hội hiện nay, cũng như không gian văn học - nghệ
thuật trong giai đoạn 1986 đến nay.
Mục thứ hai của chương là kết quả thống kê và phân tích về quy mô, số lượng,
tần số sử dụng thành ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh. Từ đó chúng tơi
có những đánh giá, nhận định bước đầu về bút pháp vận dụng triệt để thành ngữ trong
quá trình sáng tác của ông.
Chương 3: Nguyễn Nhật Ánh - Nhà văn tài hoa trong việc sử dụng thành ngữ
(58 trang)
Chương này đi sâu vào phân tích phương thức vận dụng thành ngữ trong những
truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh. Ông đã giữ nguyên dạng hay cải biến thành ngữ, từ
đó vận dụng chúng một cách đầy ngẫu hứng và sáng tạo, tạo nên những giá trị nghệ
thuật đặc sắc trong sáng tác cũng như trong phong cách diễn đạt bằng thành ngữ mang
đậm dấu ấn riêng của ơng. Bên cạnh đó, chương này cịn trình bày những hiệu quả
thẩm mĩ của việc sử dụng thành ngữ dưới ngòi bút của Nguyễn Nhật Ánh.
14
CHƯƠNG 1
THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm thành ngữ
Thành ngữ là một bộ phận giữ vai trị quan trọng trong hệ thống ngơn ngữ của
mỗi dân tộc trên thế giới nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Do mục đích sử
dụng, thành ngữ đã trở thành một công cụ giao tiếp đắc lực cũng như một phương thức
diễn đạt hữu hiệu trong sáng tác văn học. Đồng thời do những đặc trưng riêng mà thành
ngữ đã góp phần làm phong phú thêm vốn từ của dân tộc, tăng sắc thái biểu cảm, làm
cho lời nói, câu văn vừa mang tính dân tộc vừa giàu tính chất nghệ thuật. Trong những
cơng trình nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt từ 1975 đến nay, mỗi cơng trình đều tiến
hành gọi tên khái niệm thành ngữ và đặt nó trong thế so sánh với các đơn vị ngơn ngữ
có cùng tính chất (như tục ngữ, qn ngữ...) để làm rõ hơn về thành ngữ.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Tu trong Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại đã định
nghĩa thành ngữ như sau: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất
tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc,
hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra.
Những thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể khơng có. Nghĩa của
chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.”
[96, tr.187]
Một khái niệm khác về thành ngữ được tác giả Hoàng Phê đưa ra trong Từ điển
tiếng Việt: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể
giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.” [79, tr.899]
Hay trong Từ điển giải thích thuật ngữ Ngơn ngữ học, nhóm tác giả đã giải
15
thích khái niệm thành ngữ như sau: “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính
ngun khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác
tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là khơng có nghĩa đen và hoạt động
như là một từ riêng biệt ở trong câu” [106, tr.271].
Trong Cơ sở Ngôn ngữ học và tiếng Việt, nhóm tác giả cũng đưa ra một khái
niệm khác: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa
của chúng có tính hình tượng hoặc gợi cảm.” [13, tr.157]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp trong Từ và nhận diện từ tiếng Việt, cho
rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hồn chỉnh về nghĩa vừa có giá
trị gợi tả. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái
niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể. Tính hình tượng của
thành ngữ được xây dựng trên cơ sở của hiện tượng so sánh và ẩn dụ.” [29, tr.181].
Trong Giáo trình Ngơn ngữ học, ơng cũng đưa ra một cách giải thích khác về thành
ngữ: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của
chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là
một cụm từ mà ý nghĩa của nó khơng được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên
nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả các từ trong đó vẫn chưa thể đốn chắc nghĩa
thành ngữ của cả cụm từ đó.... Thành ngữ có tính hồn chỉnh về nghĩa nhưng lại có
tính chất tách biệt của các thành tố trong kết cấu, do đó nó hoạt động trong câu với tư
cách tương đương với một từ cá biệt.” [32, tr.209-210]
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành, “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố
định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hồn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng
rộng rãi trong giao tiếp thường ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ.” [37, tr.25]
Để hiểu được chính xác các khái niệm trên, chúng ta cần hiểu rõ cụm từ cố định
hay ngữ cố định và mối quan hệ của nó với thành ngữ: “Cụm từ cố định là đơn vị do
một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và
16
ngữ nghĩa cũng ổn định như từ.” [13, tr.153]. Cụm từ cố định còn gọi là ngữ cố định,
một đơn vị thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt tương đương với từ, nó tồn tại hiển nhiên,
có chức năng định danh (chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng, quan hệ, tính chất,
hành động, khái niệm...) và chức năng tham gia tạo câu. Đặc điểm cơ bản của cụm từ
cố định là một chỉnh thể có hình thức - cấu trúc bền vững chặt chẽ, đơn vị có sẵn trong
hệ thống ngơn từ và có tính thành ngữ cao.1
Mỗi nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều xuất phát từ những tiêu chí, những bình diện
khác nhau để đưa ra khái niệm về thành ngữ. Những khái niệm trên cũng có điểm
chung và điểm khác biệt, chúng bổ sung cho nhau và giúp người đọc có thể hiểu thành
ngữ theo cách của mình. Từ những quan điểm của các bậc “cây đa cây đề” trong giới
nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi đã rút ra một số điều cơ bản về thành ngữ:
Thành ngữ là một tổ hợp các từ mang tính cố định, do đó cấu trúc ngữ pháp và hình
thức của thành ngữ tương đối vững chắc, khơng thể tự do thay đổi; Thành ngữ có chức
năng định danh nên nghĩa của thành ngữ là nghĩa được suy diễn thơng qua các biện
pháp tượng trưng, ẩn dụ, hốn dụ... Và các thành ngữ thường mang sắc thái biểu cảm
cao, đặc trưng trong lớp ngôn ngữ dân tộc.
1.2 Đặc trưng của thành ngữ
1.2.1 Tính cố định
Có thể nói, tính cố định là tính chất đặc trưng cơ bản nhất của thành ngữ. Muốn
xác định một cụm từ có phải là một thành ngữ hay không, trước tiên chúng ta phải xác
định tính chất cố định của tổ hợp từ đó. Tính cố định của thành ngữ thể hiện qua hai
bình diện: hình thái - cấu trúc và ý nghĩa diễn đạt.
1
Theo cách hiểu đơn giản nhất, một cụm từ có tính thành ngữ nghĩa là ý nghĩa của nó là một nghĩa mới hồn
tồn (nghĩa bóng), chứ khơng chỉ là sự tổng hợp nghĩa của từng yếu tố trong tổ hợp tạo thành. Lớp nghĩa thứ hai
của cụm từ này chỉ được tạo ra khi các yếu tố đi với nhau theo một cấu trúc nhất định.