ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Phạm Hải Vân
VĂN HĨA VIỆT TRONG
LĨNH NAM CHÍCH QI CỦA TRẦN THẾ PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Thái Ngun - Năm 2022
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Phạm Hải Vân
VĂN HĨA VIỆT TRONG
LĨNH NAM CHÍCH QI CỦA TRẦN THẾ PHÁP
Chun ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ THANH
Thái Nguyên - Năm 2022
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn nay là cơng trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của PGS. TS. Vũ Thanh
Các tài liệu, những kết luận nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn
này là trung thực và chƣa từng đƣợc cơng bố dƣới bất cứ hình thức nào.
Tơi xin chịu trách nhiệm hồn tồn về nghiên cứu của mình./.
Học viên
Phạm Hải Vân
ii
LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám
hiệu trƣờng Đại học khoa học – Đại học Thái Nguyên, các thầy giáo, cơ giáo
khoa Ngơn ngữ và văn hóa, các thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy,
tạo điều kiện thuận lợi cho em hồn thành cơng việc học tập bồi dƣỡng nâng
cao kiến thức cho bản thân.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Vũ Thanh đã
tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực
hiện luận văn này.
Trong suốt quá trình học tập, em cũng đã nhận đƣợc tình cảm động
viên và ủng hộ của bạn bè, ngƣời thân. Em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc và chân thành nhất đối với tất cả sự giúp đỡ quý báu trên!
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong đƣợc đón nhận đƣợc sự chỉ dẫn, góp ý
của các nhà khoa học, của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2022
Tác giả
Phạm Hải Vân
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...........................................................................7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:........................................................................................8
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................................9
7. Cấu trúc của luận văn ..............................................................................................9
CHƢƠNG 1. QUAN HỆ VĂN HĨA – VĂN HỌC VÀ LĨNH NAM CHÍCH QI
CỦA TRẦN THẾ PHÁP ..........................................................................................10
1.1. Văn học - văn hóa và hƣớng tiếp cận văn học từ văn hóa .................................10
1.1.1. Khái niệm văn hóa và một số đặc trƣng của văn hóa Việt ..........................10
1.1.2. Quan hệ giữa văn học và văn hóa ................................................................14
1.1.3. Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dƣới góc nhìn văn hóa - một
hƣớng tiếp cận khoa học phù hợp ..........................................................................16
1.2. Khái quát bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học Việt Nam thế kỷ XIV và
tác phẩm Lĩnh Nam chích quái..................................................................................18
1.2.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam thế kỷ XIV .............................18
1.2.2. Khái quát tình hình văn học và thể loại truyện văn xuôi Việt Nam thế kỷ
XIV ........................................................................................................................20
1.2.3. Trần Thế Pháp và Lĩnh Nam chích quái ......................................................24
CHƢƠNG 2. BIỂU HIỆN CỦA VĂN HĨA VIỆT TRONG LĨNH NAM CHÍCH
QI .........................................................................................................................29
2.1. Các dấu ấn văn hóa thể hiện trong tín ngƣỡng, phong tục, tập quán, lễ hội
truyền thống trong Lĩnh Nam chích quái ..................................................................29
2.1.1. Tín ngƣỡng dân gian thể hiện sức sống lâu đời của dân tộc........................29
2.1.2. Hồn dân tộc thể hiện trong phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống .........35
2.2. Dấu ấn văn hóa Việt trong bức tranh thiên nhiên đất nƣớc ...............................40
2.2.1. Phong cảnh thiên nhiên đất nƣớc .................................................................40
2.2.2. Các di tích gắn liền với lịch sử, với các anh hùng và danh nhân văn hóa dân
tộc...........................................................................................................................45
iv
2.3. Bức tranh sinh hoạt văn hóa và lối ứng xử ........................................................47
2.3.1. Bức tranh sinh hoạt văn hóa ........................................................................47
2.3.2. Lối sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên đất nƣớc .....................................50
2.3.3. Phê phán các hủ tục, thực trạng đạo đức xã hội và bảo vệ các giá trị truyền
thống tốt đẹp ..........................................................................................................53
2.4. Lĩnh Nam chích quái phản ánh xung đột và hịa giải văn hóa của thời đại ......54
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN VÀ Ý NGHĨA CỦA VĂN HÓA VIỆT
TRONG LĨNH NAM CHÍCH QUÁI .........................................................................59
3.1. Khai thác cốt truyện dân gian để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc của truyện 59
3.1.1. Phƣơng thức mô phỏng thể loại truyện dân gian .........................................59
3.1.2. Lối kể chuyện hấp dẫn và điểm nhìn nghệ thuật .........................................61
3.2. Khắc họa những khơng gian văn hóa mang tính biểu trƣng dân tộc .................69
3.2.1. Khơng gian văn hóa tâm linh và bút pháp kỳ ảo - hiện thực trong việc tạo
dựng khơng gian văn hóa Việt ...............................................................................69
3.2.2. Khơng gian văn hóa vật chất gắn với các truyền thống, lễ nghi phong tục,
tập quán đƣợc thể hiện bằng bút pháp kết hợp tƣợng trƣng - hiện thực ................72
3.3. Xây dựng tính cách và biểu tƣợng văn hóa Việt ................................................75
3.3.1. Xây dựng tính cách Việt ..............................................................................75
3.3.2. Xây dựng các biểu tƣợng văn hóa Việt .......................................................80
3.4. Ý nghĩa của việc thể hiện văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích quái. ................86
KẾT LUẬN ...............................................................................................................92
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................97
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
Văn học là một thành phần của văn hóa, ln gắn liền với văn hóa và là
bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa. Bởi vậy nên từ rất sớm văn học
Việt Nam đã giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện và bảo tồn các giá trị
văn hóa Việt. Nói đến văn học là nói đến ngơn từ. Cũng bằng sức mạnh của
ngôn từ, văn học đã diễn đạt đƣợc khá đầy đủ và trực tiếp lớp vỏ của tƣ duy
và tầng sâu của cảm xúc. Vì vậy, ta có thể nói tác phẩm văn học là những
thực thể tinh thần, mà giá trị tinh thần lại nằm trong hệ thống những đặc trƣng
cơ bản của văn hóa, thế nên văn học sẽ là một bộ phận của văn hóa. Và nhƣ
thế chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng văn học trung đại Việt Nam nằm
trong lịng văn hóa Việt.
Việc nghiên cứu văn hóa trên nền tảng văn học là một xu thế mở có
nhiều triển vọng trong nghiên cứu văn học hiện nay.
Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là một trong những tác phẩm văn xuôi
tự sự đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ Hán rất quý hiếm còn lại từ thời Lý
- Trần. Đây là tập truyện ghi chép một cách có sáng tạo các truyền thuyết
mang nhiều biểu tƣợng triết lý và tâm linh Việt Nam, chứa đựng nhiều giá trị
văn hóa và văn hóa dân tộc. Tác phẩm đã đƣợc tìm hiểu từ nhiều góc độ khác
nhau nhƣng chƣa có một cơng trình nào nghiên cứu một cách hệ thống những
biểu hiện của văn hóa Việt trong tác phẩm nổi tiếng này.
1.2. Lý do thực tiễn
- Các tác phẩm của Trần Thế Pháp in trong tập truyện Lĩnh Nam chích
quái là những tác phẩm mang nguồn gốc cốt truyện cho nhiều tác phẩm đƣợc
giảng dạy ở bậc phổ thơng. Tìm hiểu những giá trị văn hóa Việt trong tác
phẩm của Trần Thế Pháp là một công việc cần thiết đối với ngƣời dạy và
ngƣời học.
2
- Cần thiết phải nâng cao năng lực giảng dạy, phân tích tác phẩm từ
nhiều góc độ khác nhau, hiểu rõ hơn phƣơng diện văn hóa và những đóng góp
nghệ thuật trong các tác phẩm của nhà văn hóa Trần Thế Pháp.
2. Lịch sử vấn đề
Lĩnh Nam chích quái là tác phẩm tiêu biểu cho văn xuôi tự sự thời
trung đại giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV. Nghiên cứu văn hóa Việt
trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp gắn liền với sự phát triển của
văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại là một trong những đề tài đƣợc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Trong phần lịch sử vấn đề này, tôi xin giới thiệu những
thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trƣớc. Đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu tác phẩm Lĩnh Nam chích quái gắn liền với những tên tuổi của các
tác giả: Đinh Gia Khánh, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na, Trần Nho Thìn,
Nguyễn Hùng Vĩ, Tạ Chí Đại Trƣờng...
Trƣớc tiên chúng ta phải nhắc tới Vũ Quỳnh và Kiều Phú - hai ngƣời
đầu tiên có cơng phát hiện và biên soạn Lĩnh Nam chích quái. Hai sử gia đã
nói lên niềm tự hào dân tộc trong những thiên truyện. Cách đây mấy trăm
năm, trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Vũ Quỳnh đã viết: “.... Kẻ
ngu tôi xin nghiên cứu gốc ngọn, trần thuật lại mà suy xét cho sáng tỏ ý ngƣời
viết truyện. Xem Truyện Hồng Bàng thì hiểu rõ đƣợc lai do việc khai sáng
nƣớc Hoàng Việt; Truyện Dạ Xoa Vương lƣợc thuật về điểm manh nha của
nƣớc Chiêm Thành. Có Truyện Bạch Trĩ chép sự tích họ Việt Thƣờng; Truyện
Rùa Vàng chép sử vua An Dƣơng Vƣơng. Đồ sính lễ quý nhất nƣớc Nam
khơng gì bằng trầu cau cũng lấy đó mà biểu dƣơng nghĩa vợ chồng, tình
huynh đệ. Nƣớc Nam Việt về mùa hạ khơng gì q bằng quả dƣa hấu cũng
dùng nó mà kể chuyện tự cậy vật báu của mình, quên cả nghĩa chúa. Truyện
Bánh chưng ngợi khen lòng hiếu dƣỡng; Truyện Hà Ơ Lơi răn dặn thói dâm ơ,
Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Lý Ông Trọng diệt Hung Nơ, đủ để biết nƣớc
Nam có ngƣời tài giỏi. Chử Đồng Tử gá nghĩa cùng Tiên Dung, Thôi Vĩ tao
phùng tiên khách cho nên ơn đức có thể thấy vậy. Những Truyện Đạo Hạnh,
3
Không Lộ khen việc báo đƣợc thù cha, các vị thần tăng ấy há có thể mai một
sao? Những Truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh nêu rõ sức trừ yêu quái mà ơn đức
Long Quân không thể quên đƣợc vậy! Thần Tản Viên linh thiêng, trừ loài
thủy tộc, nêu lên cho hiển hách, ai lại bảo không phải? Than ôi! Nam Chiếu là
con cháu Triệu Vũ Đế, nƣớc mất lại biết phục thù; Man Nƣơng là mẹ Mộc
Phật năm hạn làm đƣợc mƣa rào; Tô Lịch là thần đất Long Đỗ; Xƣơng Cuồng
là thân cây chiên đàn; một đằng thì lập đàn tế lễ, dân đƣợc hƣởng phúc, một
đằng thì dùng trị vui mà trừ, dân đƣợc thốt hoạ, việc tuy kì dị mà khơng qi
đản, văn tuy thần bí mà khơng nhảm nhí, tuy có phần hoang đƣờng mà tơng
tích vẫn có phần bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều
ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục mà thơi ƣ!” [22, tr. 25]. Ông
đã đƣa thâu tóm đƣợc cái thần, hồn của các thiên truyện trong tác phẩm “Lĩnh
Nam chích qi”.
Trần Đình Sử trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt
Nam cho rằng: “Lĩnh Nam chích quái tiêu biểu cho truyện thần quái Việt
Nam, có truyện quái, có truyền thuyết lịch sử, có truyện cổ tích, truyện tình
u, truyện tiên, truyện Phật, truyện trong nƣớc, truyện ngoài nƣớc... Cái mới
của Lĩnh Nam chích quái là thu thập đƣợc nhiều truyện quái lạ về cội nguồn
dân tộc, anh hùng dân tộc, thần thiêng sông núi, về các phong tục độc đáo, về
chiến công trừ hại của tiên nhân. Ý thức về dân tộc, dòng giống, quốc gia qua
các truyện ấy là hết sức rõ rệt. Ngồi ra cịn có truyện đền ơn, truyện dị nhân,
truyện báo oán, thác sinh, truyện hiếu sắc... Tình tiết các truyện đã phức tạp
hơn nhiều” [25, tr. 344].
Trần Quốc Vƣợng trong cơng trình Văn hố Việt Nam, tìm tịi và suy
ngẫm, ở mục Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền thuyết nói
về thời kỳ dựng nước cụ thể là thời kỳ Hùng Vƣơng – An Dƣơng Vƣơng đã
nghiên cứu về một số thiên truyện trong Lĩnh Nam chích quái với mục đích
khơi phục dần vốn từ vựng cơ bản và hệ thống ngữ âm tiếng Việt cổ nhằm
khẳng định rằng tên riêng trong truyền thuyết là một nguồn tài liệu quý đối
4
với ngôn ngữ học lịch sử đặc biệt đối với giai đoạn lịch sử trƣớc thế kỷ X ở
nƣớc ta. Bên cạnh đó ơng cũng cho rằng truyền thuyết có tính “dân gian hố”
và bản thân nó khơng phải lịch sử.
Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại,
dựa trên xu hƣớng phát triển của văn xi tự sự, ơng xếp Lĩnh Nam chích
qi vào xu hƣớng dân gian (sƣu tầm, ghi chép, cải biên truyện dân gian)
nhƣng cũng có mầm mống của xu hƣớng thế tục [16, tr. 34- 42].
Nguyễn Hùng Vĩ trong bài viết Lĩnh Nam chích qi từ điểm nhìn văn
hố, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 8), trang 98 - 112, năm 2006
cho rằng Lĩnh Nam chích quái là một tƣợng đài tinh thần cổ kính vừa thiêng
liêng vừa kì diệu. Đó là một kì quan văn hóa kết tụ qua thăng trầm của một
lịch sử phức tạp nhƣng đầy quyết tâm cho độc lập dân tộc, cho văn hiến bản
địa... Về cấu trúc, Lĩnh Nam chích quái đã hƣớng hẳn về cội nguồn dân tộc,
về phía nhân dân và văn hóa bản địa.” Đồng thời, ơng nhấn mạnh tƣ tƣởng ái
quốc trong tác phẩm chính là kim chỉ nam cho mọi học giả dù tiếp cận tác
phẩm dƣới bất cứ phƣơng pháp khoa học Ngữ văn nào. Ông còn cho rằng với
22 cốt truyện, mỗi câu chuyện là một diễn ngơn lịch sử, Lĩnh Nam chích qi
trình diễn trƣớc chúng ta ý thức về truyền thống lịch sử riêng của đất nƣớc từ
buổi hồng hoang đến những câu chuyện xảy ra ở thời đại nhà Trần. Sau này,
các bậc túc nho giàu nhiệt huyết có bổ sung thêm bao nhiêu đi nữa thì vẫn
theo tƣ tƣởng đó: đây là những câu chuyện đƣợc truyền ở cõi Lĩnh Nam, khác
với Trung Hoa. Bên cạnh đó về mặt nghệ thuật, ơng cịn chỉ ra Lĩnh Nam
chích qi là “sử trong truyện” với kiểu tự sự trầm tích và kết cấu các thiên
truyện theo mạch thẳng của trình tự thời gian đồng dạng với kiểu chí qi,
truyền kì.
Nhà sử học Tạ Chí Đại Trƣờng trong Thần, người và đất Việt, tác giả
đã có những đóng góp về phƣơng pháp nghiên cứu mới về tơn giáo và tín
ngƣỡng. Ơng đã nhấn mạnh những biến chuyển văn hóa ẩn sâu dƣới lớp hỗn
độn của thần thoại, huyền sử và tín ngƣỡng. Trong đó tác giả nhắc tới Lĩnh
5
Nam chích qi vì là truyện dân gian, chỉ cần có các dấu vết niên đại đủ làm
nên khung truyện, cịn nội dung thì dàn trải ra trong sự phơ diễn phần ý thức
xã hội…” [41, tr. 27]. Tác giả không chỉ dừng lại ở việc khảo sát hệ thống
thần linh thủa sơ khai với các Nhiên thần: các thần Cây đá, thần Sông nƣớc và
các Nhân thần nhƣ Cao Lỗ, An Dƣơng Vƣơng… mà còn đặt những bƣớc đi
đầu tiên trong việc làm sáng tỏ chiều hƣớng kết tập thần linh mới.
Trần Đăng Trung trong bài viết Mối quan hệ giữa quyền lực và diễn
ngôn văn chương qua trường hợp “Lĩnh Nam chích quái” (2014), đăng trên
tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 2) đã chỉ ra rằng: “ Lĩnh Nam chích qi
khơng đơn thuần chỉ là sƣu tầm, biên soạn hay bảo tồn các sáng tác dân gian,
mà sâu xa hơn, tất cả các truyện kể ở đây đều nhằm tới việc xây dựng và củng
cố quyền lực phong kiến trên hai bình diện chính: kiến tạo một ý niệm chính
thống về vƣơng quyền và độc tơn các giá trị của ý thức hệ Nho giáo, tất nhiên,
theo những cách hết sức tinh vi và không dễ nhận ra. Mặc dù 22 cốt truyện là
những sáng tác truyền miệng đặc sắc dân gian, nhƣng các quan điểm của học
thuyết Nho giáo, hệ giá trị thuộc về tầng lớp thống trị khẳng định vị trí tối
thƣợng của vua có sức ảnh hƣởng mạnh mẽ và xuyên suốt “nhƣ một quyền
lực chi phối sự hình thành văn bản Lĩnh Nam chích quái. Hệ thống các yếu tố
mang tính chất phong kiến ở đây phải đƣợc nhìn nhận nhƣ một trung tâm kiến
tạo ý nghĩa của tác phẩm.” [40, tr. 88 -98]
Lĩnh Nam chích qi cịn là đối tƣợng tìm hiểu của các luận án, luận
văn Thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp. Xu hƣớng chung của các cơng trình nghiên
cứu là phƣơng diện nghệ thuật của tác phẩm.
Phạm Thị Lệ Phƣơng trong luận văn thạc sĩ: Thế giới biểu tượng trong
Lĩnh Nam chích qi đã tìm hiểu biểu tƣợng văn hóa Việt trong tác phẩm.
Qua tác phẩm đó, luận văn tìm hiểu những giá trị ẩn sau biểu tƣợng, cũng nhƣ
mối quan hệ giữa chúng. Thơng qua đó hiểu đƣợc giá trị văn hóa truyền
thống, bản sắc dân tộc nhƣ dịng chảy ngầm trong tâm thức ngƣời Việt không
bao giờ đứt mạch.
6
Phó Thị Thu Thảo trong luận văn thạc sĩ: Nhân vật trong Lĩnh Nam
chích qi từ góc nhìn tự sự đã nghiên cứu đặc điểm nhân vật trong Lĩnh Nam
chích qi từ góc nhìn tự sự, góp phần nêu đặc điểm riêng của văn xi tự sự
giai đoạn này nói chung và đặc điểm nhân trong tác phẩm nói riêng. Đề tài
nghiên cứu nhân vật từ các phƣơng diện: motip, khơng gian, thời gian, điểm
nhìn trần thuật và ngơn ngữ trần thuật… Từ đó phân tích nhân vật từ góc độ
tự sự.
Nhƣ vậy, đã có những nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Lĩnh Nam chích quái nhƣng những cơng trình này chƣa đi sâu vào nghiên cứu
một cách có hệ thống văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế
Pháp. Chính vì vậy, trên tinh thần tiếp thu kết quả và sự gợi ý của những cơng
trình nghiên cứu đã có trƣớc đây, trong luận văn này, chúng tơi sẽ đi sâu vào tìm
hiểu văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp nhằm đƣa ra
những phát hiện góp phần mở rộng và phát triển thêm giá trị của một trong
những tác phẩm đầu tiên của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Bàn luận về văn
hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp là một cơng việc có ý
nghĩa. Chúng tơi mong muốn góp một phần cơng sức nhỏ bé của mình để tìm
hiểu về tính dân tộc, cội nguồn, tinh thần và bản sắc văn hố dân tộc thể hiện tâm
hồn, tính cách, nhân cách con ngƣời Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi, từ đó hiểu tác phẩm
khơng đơn thuần chỉ có giá trị nghệ thuật mà chứa đựng giá trị văn hóa của cả
dân tộc từ thời kỳ hồng hoang của dân tộc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của
Trần Thế Pháp của chúng tôi nhằm:
7
- Chỉ ra vấn đề quan hệ văn hóa – văn học trong và Lĩnh Nam chích
quái của Trần Thế Pháp.
- Nghiên cứu biểu hiện của văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích quái.
- Nghiên cứu phƣơng thức thể hiện và ý nghĩa của văn hóa việt trong
Lĩnh Nam chích quái.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu văn hóa Việt trong Lĩnh
Nam chích qi của Trần Thế Pháp. Đồng thời chúng tơi sẽ tìm hiểu và tham
khảo thêm nội dung các tài liệu sử học, các tài liệu văn hóa, các tài liệu văn
học khác có liên quan với hai bộ phận văn học: văn học dân gian và văn học
trung đại để thấy văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp
nói riêng và văn xi tự sự Việt Nam trung đại nói chung.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi nội dung
Căn cứ vào yêu cầu đề tài luận văn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu văn
hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi của Trần Thế Pháp trên những phƣơng
diện sau: đề tài, thi pháp, thể loại, khuynh hƣớng sáng tác, hình tƣợng nhân
vật, sự ảnh hƣởng mơi trƣờng văn hóa, bản sắc dân tộc gắn liền với sự hình
thành tín ngƣỡng tâm linh của ngƣời Việt… nhằm có cái nhìn tổng thể và khái
qt về văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích quái. Qua việc nghiên cứu và bàn
luận về căn nguyên tính dân tộc trong văn xi tự sự trung đại Việt Nam qua
tập Lĩnh Nam chích qi, chúng tơi muốn chỉ ra điểm đặc sắc trong cội rễ văn
hoá, các giá trị cố kết dân tộc, nét truyền thống, sự kế thừa tinh hoa của nền
văn học dân tộc. Đồng thời chỉ ra những sáng tạo, cách tân trong phƣơng
pháp, tƣ duy lý luận thực tiễn, trong việc nghiên cứu khi tìm về những giá trị
truyền thống văn hóa, văn học dân tộc.
8
4.2.2. Phạm vi tư liệu
Do hiện nay có nhiều dị bản và phức tạp trong quá trình truyền bản của
tác phẩm Lĩnh Nam chích qi, chúng tơi tập trung nghiên cứu và khảo sát
thiên truyện trong tập sách do Nguyễn Hữu Vinh dịch từ Hán Văn, từ bộ sách
đồ sộ: Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, gồm hơn 40 bộ sách cổ xƣa của
Việt Nam, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, hợp tác với Viện Viễn
Đông Bác cổ (Ecole Francaise d’Extreme Orient), Paris và Đại học Chung
Cheng, Taiwan, Trần Khánh Hạo chủ biên, và nhà sách Học sinh thƣ cục ở
Taipei ấn hành, năm 1992. Ngoài ra chúng tơi cịn nghiên cứu các bản dịch
của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Đăng Na…
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp liên ngành:
Chúng tôi vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu văn học dƣới góc độ
văn hóa, phƣơng pháp lịch sử… nhằm tìm hiểu tƣ tƣởng, kiểu tƣ duy của các
tác giả, quá trình phát triển của chủ đề tác phẩm trong mối quan hệ với các
phƣơng diện của đời sống xã hội nhƣ: văn hóa, chính trị, lịch sử, tƣ tƣởng...
5.2. Phương pháp so sánh loại hình:
Đây đƣợc xem là phƣơng pháp quan trọng, đƣợc sử dụng chủ yếu nhằm
chỉ ra những nét đặc trƣng cơ bản trong nội dung và nghệ thuật mang bản sắc
dân tộc trong tập truyện của Trần Thế Pháp.
5.3. Phương pháp tiếp cận thi pháp học:
Vận dụng phƣơng pháp này chúng tơi mong muốn tìm ra những nét đặc
sắc trong thi pháp nghệ thuật của tác giả trong việc thể hiện những giá trị văn
hóa Việt, từ đó thấy đƣợc sự đóng góp của tác phẩm trong tiến trình lịch sử
văn học.
Ngồi ra luận văn cịn vận dụng kết hợp các thao tác nghiên cứu khác
nhƣ thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh.
9
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần nghiên cứu đặc trƣng văn hóa Việt đƣợc phản ánh trong
Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp.
- Thấy đƣợc cố gắng của nhà văn trong việc đem lại cho tác phẩm của
mình màu sắc dân tộc, thốt khỏi những ảnh hƣởng thụ động của văn hóa, văn
học Trung Quốc.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Quan hệ văn hóa – văn học và Lĩnh Nam chích quái.
Chƣơng 2: Biểu hiện của văn hóa Việt trong Lĩnh Nam chích qi.
Chƣơng 3: Phƣơng thức thể hiện và ý nghĩa của văn hóa Việt trong
Lĩnh Nam chích quái.
10
CHƢƠNG 1. QUAN HỆ VĂN HÓA – VĂN HỌC VÀ
LĨNH NAM CHÍCH QUÁI CỦA TRẦN THẾ PHÁP
1.1. Văn học - văn hóa và hƣớng tiếp cận văn học từ văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa và một số đặc trưng của văn hóa Việt
Tính đa dạng, phong phú và phức tạp của văn hóa dẫn tới việc chƣa có
sự thống nhất về khái niệm văn hóa. Khái niệm Văn hóa mang nội hàm rất
rộng, có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau liên quan đến mọi mặt đời
sống tinh thần và vật chất của con ngƣời. Trên thế giới, cũng nhƣ ở nƣớc ta có
rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO, “Văn hóa là tổng
thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua
các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị,
các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi
dân tộc”. Theo nhƣ định nghĩa này của UNESCO nhấn mạnh vào các hoạt
động sáng tạo các cộng đồng ngƣời gắn bó với tiến trình phát triển lịch sử của
cộng đồng và trải qua thời gian dài để tạo nên các giá trị có tính chất phổ qt,
bên cạnh đó có tính đặc thù riêng tạo ra giá trị và bản sắc riêng mỗi dân tộc.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa đƣợc định nghĩa
nhƣ sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, lồi ngƣời mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở
và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là
văn hóa”. Định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh thấy rõ văn hóa ở đây cụ
thể và rõ nét hơn. Văn hóa hình thành trong hoạt động sống, nó trải qua thực
tế và đƣợc lặp đi lặp lại nhiều lần, hình thành thói quen, phong tục tập quán,
sau đó đƣợc chắt lọc tinh hoa và chuẩn mực tạo nên giá trị vật chất và tinh
thần, đƣợc lƣu truyền tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm của con ngƣời, nó đƣợc vun
đắp và phát triển trong quá trình lao động sản xuất, trong các mối quan hệ
11
tƣơng tác qua lại giữa ngƣời với ngƣời. Sau đó chính văn hóa tham gia vào
định hƣớng, duy trì giá trị bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa là toàn bộ giá
trị liên quan đến vật chất và tinh thần của đời sống con ngƣời, đƣợc hình
thành theo chiều dài lịch sử. Văn hóa nói lên trình độ phát triển của cộng
đồng, đƣợc biểu hiện qua các hình thức tổ chức xã hội trong đời sống và hành
động của con ngƣời để tạo nên những giá trị văn hóa tốt đẹp đƣợc gìn giữ và
bồi đắp lƣu truyền từ đời này qua đời khác.
Đặc trƣng văn hóa của Việt Nam đƣợc kết tinh hình thành từ ngàn đời
xƣa. Đặc trƣng văn hóa của nƣớc ta đƣợc hình thành trong suốt chiều dài lịch
sử đó là sự kết tinh trong lao động sản xuất, nghệ thuật ứng xử tự nhiên, xã
hội, quá trình đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc... Tất cả yếu tố đó hun đúc tạo
nên đặc trƣng riêng của văn hóa Việt. Đặc trƣng của nền văn hóa Việt Nam
đặc điểm mang tính nổi bật, thuộc tính riêng khi đặt cùng với nền văn hóa
khác trong khu vực cũng nhƣ trên thế giới. Đặc trƣng văn hóa Việt Nam nổi
bật ở một số đặc điểm nhƣ: Nền nông nghiệp lúa nƣớc; Đề cao giá trị truyền
thống gia đình (thể hiện đậm nét tín ngƣỡng thờ tổ tiên); Văn hóa đậm tính
cộng đồng, làng xã; Tinh thần yêu nƣớc; Đa dân tộc thống nhất trong đa dạng;
Văn hóa mở tiếp cận thích ứng hài hịa các nền văn minh của thế giới...
Đặc trƣng văn hóa của nền nơng nghiệp lúa nƣớc: Trong tiến trình phát
triển dân tộc nói chung và phát triển xã hội, kinh tế nơng nghiệp lúa nƣớc góp
phần vơ cùng quan trọng hình thành bản sắc văn hóa Việt. Ngƣời dân Việt
Nam ta đã sống bằng nghề trồng lúa nƣớc từ ngàn đời nay. Ngƣời Việt đã gắn
bó với cây lúa từ thuở sơ khai khi dân ta cịn sử dụng những cơng cụ thô sơ,
lƣỡi cày bằng đồng để trồng trọt cho đến xã hội hiện đại ngày nay, khi chúng
ta đã bắt đầu áp dụng công nghệ hiện đại vào nghề trồng lúa nƣớc. Chính vì
vậy, nghề trồng lúa nƣớc đã đi vào cuộc sống ngƣời dân ta, trở thành một
phần trong cuộc sống của ngƣời Việt.
Đặc trƣng văn hóa là đề cao giá trị truyền thống gia đình (thể hiện đậm
nét tín ngƣỡng thờ tổ tiên): Thờ cúng tổ tiên đóng vai trò quan trọng trong
12
việc tu dƣỡng và giáo dục các phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp cho các
thành viên trong gia đình. Thơng qua việc thờ cúng tổ tiên giúp bản thân và các
thành viên trong gia đình tu dƣỡng nhiều phẩm chất đạo đức tốt đẹp nhƣ: lòng
biết ơn, sự hiếu thảo. Lòng biết ơn là giá trị đạo đức truyền thống của toàn thể
dân tộc Việt Nam đã và đang đƣợc gìn giữ và phát huy qua phong tục, tập qn,
tín ngƣỡng. Từ thờ cúng tổ tiên đã hình thành đạo đức con ngƣời Việt Nam là
lòng biết ơn, sự hiếu thảo đối với các thế hệ tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Giá trị cốt
lõi của tín ngƣỡng này chính là lịng biết ơn đối với sự sinh thành, dƣỡng dục,
yêu thƣơng, chăm sóc, sự che chở của ông bà, cha mẹ và các thế hệ trƣớc đối với
thế hệ sau. Con cháu thể hiện lòng biết ơn của mình đối với tổ tiên khơng chỉ ở
sự tơn kính, sự quan tâm, chăm sóc cha mẹ, ơng bà, cụ, kỵ khi họ còn sống mà
còn phụng thờ khi họ đã mất. Việc phụng thờ thƣờng xuyên nhắc nhở ngƣời ta
không bao giờ đƣợc quên công lao của tổ tiên.
Đặc trƣng văn hóa mang đậm tính cộng đồng, làng xã: Chính văn hóa
làng xã đã tạo nên những đặc trƣng văn hóa, những đức tính tốt đẹp của ngƣời
Việt Nam. Từ quan hệ láng giềng “bán anh em xa, mua láng giềng gần” nên
ngƣời Việt có truyền thống đồn kết, gắn bó u thƣơng xóm làng. Tình u
xóm làng, quê hƣơng đƣợc đẩy lên cao thành tình yêu quốc gia, đất nƣớc. Văn
hóa làng xã là cốt lõi, là bản sắc của văn hóa dân tộc. Từ bao đời nay, chính
đặc trƣng văn hóa này đã hun đúc nên những giá trị tinh thần, những mối
quan hệ bền chặt và khăng khít. Tính cộng đồng trong phạm vi làng xã là cơ
sở tạo nên tính đồng nhất trong hàng loạt lĩnh vực nhƣ đồng tộc, đồng niên,
đồng hƣơng, đồng nghiệp và tất yếu dẫn đến sự đồng nhất trong phạm vi quốc
gia: Đồng bào (sinh ra từ một bọc trứng) giúp cho ngƣời Việt có tính đồn
kết, gắn bó rất cao, luôn yêu thƣơng, giúp đỡ nhau, coi ngƣời trong cộng đồng
nhƣ anh em trong nhà. Đặc trƣng cơ bản bao trùm xuyên suốt của văn hóa
làng xã truyền thống Việt Nam chính là tính cộng đồng.
Đặc trƣng văn hóa về tinh thần u nƣớc: Nhìn chiều dài lịch sử, thấy
rõ đặc trƣng hiện lên lịch sử Việt Nam là dân tộc anh hùng. Tƣ tƣởng yêu
13
nƣớc là một giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt, đƣợc
hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại
nền độc lập cho dân tộc. Do vậy, tinh thần yêu nƣớc đã thẩm thấu vào tình
cảm, vào tƣ tƣởng của mỗi ngƣời dân Việt mọi thời đại, làm nên một lịch sử
oai hùng. Từ xƣa đến nay, mỗi khi đất nƣớc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
hiện ra rõ nét, nó kết thành một làn sóng vơ cùng mạnh mẽ, to lớn, nhấn chìm
tất cả mọi kẻ thù xâm lƣợc. Giáo sƣ Trần Văn Giàu đã viết: “Trơng vào lịch
sử cũng dài nhiều nghìn năm của dân tộc Việt Nam, từ Văn Lang, Âu Lạc cho
đến nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nƣớc Cộng hịa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thì ngƣời quan sát có thể thấy ngay rằng các tƣ tƣởng chủ đạo, cái
“lý thƣờng hằng” nhất, quán triệt cổ kim, là chủ nghĩa yêu nƣớc, chống xâm
lăng, bảo vệ sự tồn tại của dân tộc, là tƣ tƣởng “khơng có gì quý hơn độc lập,
tự do”. Tình cảm và tƣ tƣởng yêu nƣớc là tình cảm và tƣ tƣởng lớn nhất của
nhân dân, của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nƣớc là sợi chỉ đỏ xuyên qua
toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, ở đây bản chất Việt Nam
biểu lộ rõ ràng, đầy đủ, tập trung nhất hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nƣớc
thành một triết lý xã hội và nhân sinh của ngƣời Việt Nam”.
Đặc trƣng văn hóa đa dân tộc thống nhất trong đa dạng: Cả nƣớc ta có
hơn 50 dân tộc sống trên cùng dải đất hình chữ S, đều có những giá trị và màu
sắc văn hóa riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú
nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững
sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em.
Đặc trƣng văn hóa mở tiếp cận thích ứng hài hịa các nền văn minh của
thế giới; Xét trên bình diện quốc gia - dân tộc trong ứng xử với các dịng văn
hóa lớn của nhân loại thì những dấu hiệu biểu hiện trong văn hóa Việt chứng tỏ
đây là nền văn hóa mở. Ngƣời Việt chủ động đón nhận tơn giáo và các thiết chế
văn hóa của Ấn Độ giáo (Hindu giáo), Phật giáo (dòng tiểu thừa và dòng đại
thừa), Nho giáo (còn gọi tên khác là Khổng giáo), Đạo giáo (thần tiên và phù
thủy), Kitô giáo (tên gọi khác là Công giáo, Thiên Chúa giáo), Tin lành...
14
Ngƣời Việt tiếp nhận các tôn giáo thế giới, một mặt thích nghi, mặt khác ứng
phó với những bất cập không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Tiếp biến tôn giáo thế giới theo phƣơng châm giữ gìn văn hóa dân tộc và dân tộc
hóa tơn giáo thế giới. Du nhập Phật giáo biến đổi tƣợng thờ Phật thành Phật
Bà. Một kiểu Phật bị dân gian hóa nhƣ Phật Mẫu Man Nƣơng ở vùng Dâu. Đạo
giáo bên Trung Quốc sang Việt Nam phát sinh thành dòng Đạo giáo nội "Tháng
Tám giỗ Cha (Thánh Trần Hƣng Đạo), tháng Ba giỗ Mẹ (Thánh Liễu
Hạnh)”. Ngƣời theo đạo Công giáo, trong nhà vừa thờ Thiên Chúa vừa thờ tổ tiên.
Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay là lịch sử dựng
nƣớc và giữ nƣớc luôn song hành với nhau. Q trình dựng nƣớc ln ln
gắn chặt với giữ nƣớc, trong đó dựng nƣớc là yếu tố cơ bản. Nhà nƣớc ta luôn
xác định phải xây dựng đƣợc đất nƣớc hùng mạnh về mọi mặt mới có điều
kiện, khả năng chiến thắng các thế lực thù địch và phải giữ đƣợc nƣớc mới có
điều kiện để xây dựng đất nƣớc. Trong quá trình hình thành và phát triển,
truyền thống đó có ảnh hƣởng sâu sắc đến hệ tƣ tƣởng và các thành quả tinh
thần và vật chất của nhân dân ta. Đó là tinh hoa kết tinh suốt chiều dài lịch sử
và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của dân tộc ta.
1.1.2. Quan hệ giữa văn học và văn hóa
Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ tƣơng tác lẫn nhau. Văn
hóa giữ vai trị là cội nguồn cung cấp chất liệu sáng tạo cho văn học. Trong q
trình vận động, văn học ln chịu ảnh hƣởng từ những thay đổi của xã hội, từ
trong nguồn cội có thể nói văn học chứa đựng, truyền tải yếu tố văn hóa.
Văn học có vai trị vơ cùng quan trọng phản ánh văn hóa của cộng
đồng, dân tộc trên nhiều bình diện nhƣ: phong tục tập quán, lễ hội, tín
ngƣỡng, tơn giáo, tri thức, truyền thống, địa danh, danh lam thắng cảnh... Có
thể nói tác phẩm văn học chứa đựng, phản ánh ký ức văn hóa dân tộc. Thơng
qua đó ngƣời đọc nhận thức đƣợc giá trị văn hóa đƣợc phản ánh, giúp ngƣời
đọc hiểu đƣợc tầng sâu của khơng gian văn hóa riêng.
15
Mối quan hệ tƣơng quan giữa văn học và văn hóa có thể nhận diện hai
khía cạnh: Văn hóa trong văn học; Văn học trong văn hóa.
Văn hóa trong văn học: Văn học là sự tự ý thức văn hóa. Văn học
khơng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự tác động và ảnh hƣởng trực
tiếp của văn hóa mà cịn là một trong những phƣơng tiện tồn tại và bảo lƣu
văn hóa. Văn học ngồi việc chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ mơi trƣờng văn hóa
thời đại cịn thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của cả một cộng
đồng dân tộc. Cùng với hệ giá trị văn hóa là những mơ thức văn hóa riêng của
một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và kiến tạo nên những
giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ.
Văn học trong văn hóa: Văn học là một kho tàng bao la và liên tục phát
triển. Văn học thừa hƣởng và hấp thụ những yếu tố của một khơng gian văn
hố rộng: văn hố phƣơng Đơng, văn hóa phƣơng Tây, văn hoá dân tộc. Ở
gần, văn học thừa hƣởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn
hoá hẹp: văn hoá tộc ngƣời, văn hoá vùng. Những vùng văn hoá giao nhau sẽ
tạo ra những nét chung trong văn học của từng vùng, đồng thời nó vẫn giữ lại
những nét riêng làm căn cứ giúp ta nhận diện bộ mặt của từng vùng văn hố,
từ đó phân biệt “lãnh thổ” trên bản đồ văn học. Thiên nhiên, địa lý, phong tục,
tập quán, lề thói sinh hoạt ở vùng đất mới là cái nơi văn hố hình thành nên
tính cách con ngƣời và tính cách văn chƣơng đƣợc thể hiện qua tâm lý, hành
động và ngôn ngữ.
Văn học và văn hóa có mối tƣơng quan vơ cùng khăng khít, văn học là
tấm gƣơng phản chiếu văn hóa. Văn hóa là những tính chất khơng thể thiếu
của đời sống con ngƣời, phẩm tính đó đƣợc thể hiện sinh động và sắc nét
trong tác phẩm văn học. Theo Lê Nguyên Cẩn, để giải mã mối quan hệ giữa
văn hóa và văn học “là một vấn đề không dễ giải quyết trong một sớm một
chiều nhƣng gợi mở một hƣớng nghiên cứu, một hƣớng tiếp cận tác phẩm văn
chƣơng để hiểu hơn vì sao văn học tồn tại trong đời sống con ngƣời và vì sao
16
nhân loại cần tới văn học. Tất nhiên, khi nói văn hóa là của con ngƣời, do con
ngƣời và cho con ngƣời thì văn học cũng phải mang các tính chất đó”.
1.1.3. Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa - một
hướng tiếp cận khoa học phù hợp
Bất kỳ ngành nghiên cứu khoa học nào cũng có lý thuyết và hệ thống
nghiên cứu phù hợp. Trên thế giới từ những năm cuối thế kỷ XX, đặc biệt
những năm gần đây nghiên cứu liên ngành đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học
lƣu tâm. Trên cơ sở xu hƣớng phát triển nghiên cứu chung quốc tế, trong
nƣớc, các nhà khoa học Việt Nam đã kế thừa, lĩnh hội phƣơng pháp nghiên
cứu liên ngành. Xu hƣớng nghiên cứu trong văn học theo phƣơng pháp liên
ngành là hƣớng tiếp cận để có cái nhìn tồn diện và khái qt hơn. Trong
khoảng hai mƣơi năm gần đây, nghiên cứu văn học nói chung và văn học
trung đại nói riêng, áp dụng phƣơng pháp liên ngành, đây coi nhƣ xu hƣớng
tất yếu của thời đại. Nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam dƣới góc nhìn
văn hóa là một xu hƣớng tiếp cận khoa học phù hợp.
Trong khoảng hai mƣơi năm gần đây, nghiên cứu văn học trung đại dựa
trên cơ sở văn hóa rất đƣợc coi trọng, xác định đƣợc nền tảng lý thuyết, phác
thảo đại cƣơng tìm hiểu văn hóa, lịch sử trong phạm vi khu vực, dân tộc. Việc
vận dụng nghiên cứu dựa trên kiến giải văn hóa trong văn học là chìa khóa phù
hợp nghiên cứu văn học trung đại. Vận dụng kiến giải văn hóa giúp cho việc
nhìn nhận văn học một cách tồn diện hơn. Đây là xu thế tất yếu của thời đại.
Nghiên cứu văn học trung đại trên cơ sở văn hóa, hay nói một cách
khác là dùng phƣơng pháp văn hóa để nghiên văn học trung đại: Nghiên cứu
theo phƣơng pháp này giống nhƣ cuộc du hành về tìm hiểu giá trị văn hóa,
lịch sử, địa danh, danh nhân, q trình dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc
suốt chiều dài lịch sử. Nghiên cứu theo phƣớng pháp này dựa trên một số hình
thức nhƣ: Nghiên cứu tác phẩm văn học trung đại từ yếu tố văn hóa; Nghiên
cứu văn học trung đại trên cơ sở chỉ ra các chủ đề, giá trị, tƣ tƣởng văn hóa
17
trong tác phẩm văn học; Nghiên cứu văn học từ hồn cảnh xã hội; Nghiên cứu
theo ngữ học văn hóa, ký hiệu văn hóa.
Nghiên cứu tác phẩm văn học trung đại từ yếu tố văn hóa: Nghiên
cứu văn hóa trong quan hệ với văn học từ góc độ văn hóa là việc làm vừa có ý
nghĩa khoa học mà cịn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần luận giải mối quan hệ
văn hóa - văn học trong việc vận dụng lý thuyết nghiên cứu liên ngành để
khảo sát các giá trị văn hóa đƣợc phản ánh qua văn học, mở ra những hƣớng
nghiên cứu văn hóa từ góc nhìn thơng qua tác phẩm văn học.
“Nghiên cứu văn học trung đại trên cơ sở chỉ ra các chủ đề, giá trị, tƣ
tƣởng văn hóa trong tác phẩm văn học. Thời trung đại Việt Nam là thời đại
phát triển rực rỡ của dân tộc. Đây là thời kỳ mà hầu hết các giá trị truyền
thống quý báu của dân tộc đều hình thành. Văn học, ngôn ngữ đã phát triển
rực rỡ và đạt tới đỉnh cao. Tâm hồn Việt Nam, nhân cách Việt Nam đƣợc
khẳng định và đƣợc biểu hiện rõ nét trong văn học trung đại. Sẽ không thể
hiểu đƣợc văn hoá, văn học, con ngƣời Việt Nam hiện đại nếu không nghiên
cứu kỹ lƣỡng thời kỳ văn học trung đại. Suốt mƣời thế kỉ trung đại, văn học
Việt Nam đã kết tinh nhiều giá trị, trở thành niềm tự hào cho dân tộc. Văn học
trung đại Việt Nam đến nay vẫn là một sức hút mãnh liệt đối với các nhà
nghiên cứu, là nơi thể nghiệm và đạt đƣợc nhiều thành tựu của nhiều hệ thống
lí thuyết nghiên cứu văn học. Chúng ta có thể tìm thấy trong kho tàng văn học
trung đại những điều giúp tìm lại quá khứ vinh quang nhƣng khơng ít phần
gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo
hơn và hƣớng về tƣơng lai một cách tin tƣởng hơn.
Nghiên cứu văn học trung đại từ hoàn cảnh xã hội: Văn học trung đại là
một loại hình văn học, là một sản phẩm của xã hội đƣợc xây dựng trên những
nền tảng quan niệm có tính chất phong kiến. Nền văn học ấy đã hình thành
nên một hệ thống quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, quan niệm về cái đẹp
trải qua nhiều thế kỷ. Những vấn đề đƣợc hình thành, xây dựng từ thực tiễn
xã hội.
18
Nghiên cứu văn học trung đại theo ngữ học văn hóa, ký hiệu văn hóa:
Vận dụng những phƣơng thức, phƣơng pháp và cách nhìn cũ sẽ khơng thể
xâm nhập và thấy hết đƣợc các chiều kích của sự sáng tạo mới. Văn học đã
khơng chỉ phản ánh văn hóa, mà cịn sáng tạo văn hóa. Trong văn học có ký
hiệu giải đáp giá trị văn hóa. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, ký hiệu
văn hóa ngồi việc đặt văn học trong mối quan hệ mật thiết với văn hóa tác
giả, văn hóa thời đại, giá trị văn hóa thì các nhà nghiên cứu cũng đã nỗ lực
định danh các hình thức nghệ thuật biểu đạt mới của văn học bằng các ký hiệu
văn” hóa.
Nghiên cứu văn học Trung đại dƣới góc nhìn văn hóa, cách nghiên cứu văn
hóa, tác nhân góp phần hình thành tác phẩm văn học. Nói theo cách khác nghiên
cứu tác phẩm văn học đặt trong khơng gian văn hóa. Đây là mối tƣơng quan hữu
ích giúp chúng ta thơng qua tác phẩm văn học thấy văn hóa của thời đại.
1.2. Khái quát bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học Việt Nam thế kỷ
XIV và tác phẩm Lĩnh Nam chích quái
1.2.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam thế kỷ XIV
Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Việt Nam thế kỷ XIV có nhiều biến
động sâu sắc. Đất nƣớc ta đang muốn mở ra kỷ nguyên mới, sau khi đánh
đuổi đƣợc giăc ngoại xâm, đất nƣớc đang trong thời kỳ kiến tạo, xây dựng.
Triều đình đang dùng chính sách “khoan dân”, “thân dân” để củng cố sự phát
triển đất nƣớc. Giai đoạn này đƣợc coi là giai đoạn phục hƣng dân tộc, đất
nƣớc ta có bƣớc phát triển về mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa…
Về kinh tế: Nhà nƣớc phong kiến lúc này đặc biệt quan tâm sản xuất
nông nghiệp, sức lao động của nông dân trên đồng ruộng, sức kéo trong nông
nghiệp đƣợc bảo vệ. Chủ trƣơng khai khẩn đất hoang, quản lý các cơng trình
thủy lợi đƣợc hƣởng ứng và quan tâm. Nơng nghiệp phát triển tạo điều kiện
cho thủ công nghiệp cũng có những bƣớc tiến quan trọng. Những nghề nhƣ:
dệt lụa, nung gạch ngói, đồ gốm, hàng thủ cơng lúc này đạt chất lƣợng cao.
19
Tƣơng ứng với sự phát triển ấy là sự mở rộng của đƣờng giao thông thủy bộ,
các hệ thống trạm dịch. Có thể nói nền kinh tế của Đại Việt lúc này phát triển
với một sinh lực dồi dào đạt trình độ khá cao.
Về kết cấu xã hội: Tầng lớp quý tộc và quan lại đứng đầu là vua và giai
cấp phong kiến thống trị. Tiếp đó là giai cấp địa chủ, tăng lữ là một tầng lớp
xã hội khá đáng kể. Cịn đơng đảo quần chúng nhân dân gồm có: nơng dân ở
làng xã lĩnh canh cơng điền, cơng thổ hoặc ruộng của địa chủ, bên cạnh đó là
nơng nơ, nơ tì trong các điền trang... Tất cả các giai cấp và tầng lớp đều đứng
trƣớc hai nhiệm vụ dựng nƣớc và giữ nƣớc. Trong đời sống chính trị là sự
trƣởng thành của tầng lớp nho sĩ và giai cấp địa chủ.
Văn hóa thời kỳ này phát triển, đặc biệt là giáo dục và thi cử. Một nền
giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nƣớc phong kiến quản lý, khác
hẳn với nền giáo dục nhà chùa trƣớc đó. Nó có ý nghĩa to lớn đối với sinh
hoạt văn hóa và tƣ tƣởng nƣớc Đại Việt. Nhà Trần mở các khoa thi đều kỳ
hơn, một số khoa thi tam giáo.
Trên lĩnh vực văn học, nhiều áng thơ văn đƣợc xuất hiện, bên cạnh
những bài thơ và văn bia đề cao Phật giáo là những áng văn chính luận nổi
tiếng phản ánh cơng cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân. Thời Trần,
văn học sôi nổi, chủ đề thơ là về Phật giáo, bên cạnh đó là của Nho giáo với
những áng thơ văn yêu nƣớc và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta.
Đặc biệt đến thế kỷ XIV xuất hiện Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp là
tác phẩm tiêu biểu thời Trần. Chữ Nôm đƣợc sử dụng rộng rãi, điều đó chứng
tỏ tƣ tƣởng văn hóa có tính độc lập. Trong thời Trần, các ngành nghệ thuật
sân khấu ca vũ có những bƣớc phát triển, đã xuất hiện những loại hình ca kịch
nhƣ: hát ả đào, chèo, tuồng. Thời Trần, việc biên soạn lịch sử dân tộc đƣợc
đẩy mạnh, đặc biệt Viện Quốc sử đƣợc thành lập, nhiều bộ sử ra đời, đặc biệt
nhƣ tác phẩm Lĩnh Nam chích quái ngồi giá trị văn chƣơng cịn có giá trị lịch
sử lớn lao.