XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
LỜI NÓI ĐẦU
Ngành chế biến thuỷ sản ở nước ta đóng vai trò hết sức quan trọng cả về ý nghĩa kinh
tế và xã hội, là một trong ba ngành đóng góp vào thu nhập quốc dân lớn nhất cả nước.
Ngành đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và đã thu được nguồn
ngoại tệ lớn. Tuy nhiên, các cơ sở chế biến thuỷ sản ở nước ta hầu hết được xây dựng từ lâu,
có qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu và chưa tính đến việc xử lý các chất thải ô nhiễm phát sinh
ra từ quá trình sản xuất. Hiện nay với nhận thức ngày càng cao về chất lượng môi trường,
sức khoẻ con người, chúng ta đã thấy việc không xử lý các chất ô nhiễm của công nghiệp
chế biến thuỷ sản mà thải ra môi trường là không thể chấp nhận được. Hơn nữa, để trở thành
một ngành mũi nhọn thu hút nguồn ngoại tệ lớn từ thị trường quốc tế, ngành chế biến thuỷ
sản phải áp dụng một số tiêu chuẩn quản lý chất lượng môi trương quốc tế trong đó bao hàm
cả tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Vì vậy, các cơ
sở chế biến thuỷ sản cần phải có cá giải pháp hữu hiệu để đảm bảo các yêu cầu này.
Theo Nafiqad, hiện nay nước ta có hơn 300 cơ sở chế biến thuỷ sản, và khoảng 220
nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu, có tổng công suất 200
tấn/ngày. Hàng ngày, các cơ sở này thải ra lượng nước thải rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp
không chỉ đến môi trường sinh thái, hoạt động sản xuất nông nghiệp mà qua đó còn ảnh
hưởng đến sinh hoạt của người dân, nhất là khu vực nông thôn.
Không phải cho đến bây giờ, từ nhiều năm trước, khi bắt đầu xuất hiện nhà máy chế
biến thuỷ sản, việc xử lý chất thải từ các dây chuyền chế biến con tôm, con cá đã được đề
cập đến. Những yêu cầu đặt ra đối với việc xử lý chất thải cứ bị "treo lơ lửng", thậm chí càng
lúc càng tệ hại hơn. Đã có kiểm tra, xử phạt nhưng rồi đâu lại vào đấy, tình trạng vi phạm cứ
lặp đi, lặp lại
Với đề tài “Xử lý nước thải trong ngành chế biến thuỷ sản” là một đề tài có tính thực
tiễn sản xuất, có tính thời sự cấp thiết bao hàm cả ý nghĩa kinh tế, kỹ thuật và môi trường.
NHÓM 1 1
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN
Khái quát về ngành chế biến thủy sản ở Việt Nam
Ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản đã và đang đem lại những lợi nhuận không nhỏ
cho nền kinh tế Việt Nam. Nó không những đóng góp ngân sách cho nhà nước mà còn giải
quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động.
Việt Nam với đường bờ biển dài 3260km, thềm lục địa kéo dài cùng với hàng ngàn
đảo lớn nhỏ. Biển Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới có nhiều sông lớn cùng nhiều con
song nhỏ đổ ra biển Đông dồi dào phù sa kết hợp hai dòng hải lưu nóng ấm hình thành biển
Việt Nam dồi dào phong phú nguồn lợi thủy sản, sản lượng đánh bắt mỗi năm có thể lên tới
hàng triệu tấn thủy sản.
Bên cạnh đó các đầm phá, rừng ngập mặn ven biển có diện tích gần một triệu hecta,
mỗi năm có thể cung cấp gần 3 triệu tấn tôm nuôi và 40 triệu tấn thủy sản có giá trị thương
mại.
Tuy ra đời muộn hơn các ngành công nghiệp khác nhưng công nghệ chế biến thủy sản
đã đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản đã
trở thành động lực thúc đẩy kinh tế thủy sản phát triển.
Các sản phẩm chế biến thủy sản xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ rất lớn, năm 1998
giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 858,6 triệu USD và năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ
USD và theo kế hoạch cảu bộ thủy sản thì tổng kim ngạch xuất khẩu ngành chế biến thủy
sản sẽ phấn đấu đạt cao hơn vào các năm sau.
NHÓM 1 2
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Bảng 1. Tăng trưởng thủy sản ( 2000 – 2010 )
Năm Tổng sản
lượng
(vạn tấn)
Sản
lượng
khai thác
Sản
lượng
nuôi
trồng
Diện tích
nuôi trồng
Giá trị
kim
ngạch
xuất
khẩu
Đầu tư Lao
động
Tổng
số tàu
2000 2 003
000
1 280 590 752 000 652 000 1 478,609 3 400 79 769
2001 2 256
941
1 367 393 879 548 887 500 1 777,485 78 978
2002 2 410
900
1 434 800 976 100 955 000 2 014,000 587 000 4 000
2005 2 450
000
1 300 000 1 150 000 3 000,000
2010 3 400
000
1 400 000 2 000 000 10 000 000 2 500,000
Giới thiệu một số công nghệ chế biến thủy sản điển hình
Dựa vào tính chất dặc thù cảu sản phẩm, quá trình chế biến và công nghệ sử dụng có
thể chia công nghệ chế biến thủy sản thành một số công nghệ chế biến điển hình như sau:
- Chế biến thủy sản đông lạnh.
- Chế biến sản phẩm đóng hộp.
- Chế biến thủy sản khô và chế biến bột cá.
- Chế biến agar.
Thực trạng ô nhiễm môi trường ở các cơ sở chế biến thủy sản
Theo Viện nghiên cứu hải sản (Viện NCHS), hiện nay cả nước ta có 1.015 cơ sở chế biến
(CSCB) thủy sản quy mô lớn nhỏ khác nhau, sản xuất sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Sự
phát triển nhanh chóng của ngành chế biến cũng kéo theo những bất cập trong các lĩnh vực phụ trợ
khác, trong đó có quản lý và xử lý chất thải sau chế biến. Các thành phần chính gây ô nhiễm môi
trường từ chế biến thủy sản gồm phế liệu và chất thải rắn; chất thải lỏng; khí thải và mùi trong chế
biến; môi chất lạnh và nhiều chất thải nguy hại khác. Đáng kể nhất là phế liệu và chất thải rắn, chất
thải lỏng như đầu, xương, da, vây, vảy, vỏ tôm….những phế liệu dễ lên men thối rữa và phân hủy.
Các chất thải này có khả năng làm xuống cấp nghiêm trọng chất lượng môi trường sống xung quanh.
NHÓM 1 3
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Điều tra mới đây của Viện NCHS cho thấy, trong chế biến thủy sản đông lạnh, cứ sản xuất
được 1 tấn thành phẩm tôm sẽ thải ra môi trường 0,75 tấn phế thải, cá tra philê là 1,8 tấn, nhuyễn thể
chân đầu - 0,45 tấn, nhuyễn thể hai mảnh vỏ - 8 tấn. Tỷ lệ phế liệu và chất thải rắn phụ thuộc vào
mặt hàng sản xuất và vào loài cũng như chất lượng nguyên liệu …
Chất thải lỏng từ chế biến thủy sản được coi là vấn đề nghiêm trong nhất hiện nay, có chỉ số
ô nhiễm cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại B dùng cho nuôi trồng thủy
sản (TCVN-2005), như BOD vượt từ 10-30 lần, COD từ 9-19 lần, nitơ tổng có nơi cao gấp 9 lần.
Bên cạnh đó còn có một lượng lớn nước thải là các chất tẩy rửa và khử trùng trong vệ sinh nhà
xưởng và thiết bị chế biến.
Khí thải và mùi trong chế biến bao gồm các loại như khí SO2, CO2, NO2, NH3 , H2S… phát
thải từ các CSCB hàng khô và bột cá. Một phần khí thải khác là môi chất lạnh rò rỉ từ hệ thống lạnh
của nhà máy.
Để đánh giá thực trạng môi trường ở các CSCB thủy sản, Viện NCHS đã điều tra trực tiếp
402 cơ sở quy mô công nghiệp ở 34 tỉnh và thành phố trong cả nước. Kết quả cho thấy đã có 338
DN, chiếm tỷ lệ trên 84% cơ sở, có hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT), chủ yếu được xây dựng
trong giai đoạn 2001-2010. Trong năm 2011 có 27 DN xây mới HTXLNT.
Về lượng phế liệu thủy sản sau chế biến, khoảng gần 50% số DN có từ dưới 50 đến 100
tấn/năm; 22,6% có 100-500 tấn/năm, gần 9% có từ 500-300 tấn/năm, 36,5% có trên 500-1.000
tấn/năm và trên 27,5% có trên 1.000 tấn/năm.
Hiện nay, hầu hết phế liệu được thu gom và tận dụng để sản xuất các sản phẩm phụ như bột
cá, dầu cá, chitin, chitosan và thức ăn chăn nuôi,… Do vậy, phế liệu trong CSCB thủy sản chỉ có ảnh
hưởng hạn chế đến môi trường nhưng lại là nguồn thu đáng kể cho các cơ sở đó.
Kết quả phân tích nước thải của cơ sở CBTS về 9 chỉ tiêu gồm pH, BOD5, CO,TSS, Amoni,
nitơ tổng, dầu mỡ, clo dư và coliform theo QCVN 11:2008 cho thấy, tất cả các cơ sở CB nước mắm
đều đạt 100%. Các loại hình chế biến như đông lạnh, hàng khô, bột cá và tổng hợp đều có tỷ lệ ô
nhiễm trên cả 9 chỉ tiêu. Trong đó mức độ ô nhiễm của cơ sở CB bột cá là cao nhất, cơ sở CB đông
lạnh, hàng khô và tổng hợp tương đương nhau.
NHÓM 1 4
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Kết quả phân tích khí thải các cơ sở CBTS về 7 chỉ tiêu, gồm bụi, SO
2
, CO, NO
2
, SO
3
, NH
3
và H
2
S theo TCVN 5339:2005 (tương ứng QCVN 19:2009) cho thấy mức độ ô nhiễm của CSCB bột
cá là cao nhất, tiếp theo là cơ sở hàng khô. CSCB đông lạnh và tổng hợp xấp xỉ nhay. CSCB nước
mắm có mức độ ô nhiễm thấp nhất.
Ảnh hưởng của chất thải chế biến thủy sản đối với môi trường và con người
Cũng như các hoạt động của các ngành công nghiệp khác, hoạt động trong ngành chế
biến thủy sản đã đưa vào môi trường nhiều loại chất thải khác nhau, với tải lượng, thành
phần và mức độ ô nhiễm khác nhau tùy theo quy mô, sản lượng và cơ cấu mặt hàng của các
nhà máy chế biến. Trong đại đa số trường hợp, chất thải rắn của ngành bao gồm các phế liệu
được thải ra từ cơ thể động vật thủy sinh trong quá trình chế biến như: đầu, ruột, máu, nhớt,
…của các loài cá; các loài nhiễm thể ( mực, trai,…); các loài giáp xác ( các loài tôm, cua,
…); các loài rong tảo và sinh vật khác trong nước. Ngoài ra, trong quá trình chế biến các
chất thải rắn từ quá trình sản xuất các bao bì bằng polime, chất dẻo, thủy tinh,…cũng như
các chất thải trong sinh hoạt của người sản xuất cũng được thải ra môi trường với lượng lớn.
Hiện nay, chưa có một nguyên cứu tỉ mỉ nào về khối lượng, thành phần của chất thải chế
NHÓM 1 5
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
biến được công bố. Tuy nhiên, từ nguồn nguyên liệu chế biến thủy sản cũng như trữ lượng
khai thác, nuôi trồng đã có. Ta có thể dự đoán được khả năng gây ô nhiễm môi trường bởi
các chất thải chế biến thủy sản là rất lớn.
Chương 2. CÁC CHẤT THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN
NHÓM 1 6
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Ngành chế biến thủy sản là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường nhiều
nhất. Các chất thải từ các nhà máy chế biến thủy sản như: nước thải, chất thải rắn, khí thải,
mùi và tiếng ồn…là những nguồn gây ô nhiễm lớn.
.
Hình 1. Sơ đồ chế biến đông lạnh.
2.1. Nước thải
NHÓM 1 7
Nước thải
Nước
Bảo quản nguyên liệu
(T
0
= 0.5
0
C)
Bảo quản, làm lạnh
(t
0
-20
0
C, Block, IQF)
Tách khuôn, bao gói
(Vào túi PE, đóng hộp carton)
Xếp khuôn, cấp đông
(Dạng Block, IQF)
Phân loại, rửa sạch
(Phân hạng, phân cỡ, cân đo)
Xử lý, rửa sạch nguyên liệu
(Chặt, cắt, mổ, bóc, tách, đánhvảy…)
Tiếp nhận nguyên liệu(kiểm tra chất
lượng, rửa sơ bộ, bảo quản nguyên liệu)
Hóa chất khử trùng
(Clorin Javen)
Sản xuất nước đá
Nước sạch
Nguyên liệu
(Tôm, cá, mực…)
Nước thải, cát sạn,
Tạp chất
Nước thải, nội
tạng, xương, vây
Nước, muối
Chlorine
Nước ngưng
Nước đá
Túi PE, xốp lỏng Túi PE, xốp lỏng
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
2.1.1. Nguồn phát sinh
Nước thải sản xuất trong CBTS chiếm khoảng 85 – 90% tổng lượng nước thải và chủ
yếu được tạo ra từ các quá trình sau:
Nước rửa trong công đoạn xử lý, chế biến, hoàn tất sản phẩm.
Nước vệ sinh nhà xưởng. trang thiết bị, dụng cụ.
Từ các thiết bị công nghệ như: nước giải nhiệt, nước ngưng.
Tùy thuộc vào loại hình và trình độ công nghệ chế biến, đặc tính nguyên liệu và yêu
cầu về chất lượng sản phẩm mà nước thải từ các nguồn phát sinh có sự khác biệt về thành
phần, tính chất, lưu lượng cũng như chế độ thải nước. Nước thải từ chế biến sản phẩm đông
lạnh, sản phẩm ăn liền, đồ hộp và sản xuất agar được tạo ra gần như liên tục từ hầu hết các
công đoạn sản xuất, trong đó chủ yếu là từ xử lý nguyên liệu và chế biến sản phẩm. Nước
thải từ chế biến đồ khô phần lớn tập trung ở khâu xử lý nguyên liệu. Trong chế biến mắm và
bột cá, ngoài công đoạn rửa nguyên liệu còn tạo ra nhiều nước thải xả theo đợt từ vệ sinh
định kỳ thiết bị máy móc. Riêng đối với sản xuất bột cá, còn phát sinh một lượng nước thải
có hàm lượng hữu cơ rất cao từ công đoạn ép cá.
NHÓM 1 8
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Nước thải sinh hoạt tại các cơ sở CBTS thường chiếm từ 10 – 15% tổng lượng
nước thải, được phát sinh ra từ quá trình phục vụ cho nhu cầu ăn, uống, tắm, rửa, vệ sinh…
của người lao động.
Nguồn gốc nước thải: sơ chế nguyên liệu, giết mổ, luộc, tẩm, hấp, vệ sinh dụng cụ, diện
tích nhà xưởng, nước thải sinh hoạt…
Nước thải từ khâu sơ chế nguyên liệu là nước thải là nước thải từ khâu rã đông ( tan đá
ướp), rửa nguyên liệu, thùng, bao bì đựng nguyên liệu. Tùy thuộc vào dạng nguyên liệu
( tôm, cá, cá mưc, bạch tuột, cua, nghêu, sò) kích cỡ nguyên liệu, thời gian bảo quản, mức độ
sử dụng nước vệ sinh, nước thải có độ ô nhiễm khác nhau và biến động: BOD nằm trong
khoảng 1000 – 10000 mg/l, độ oxy hóa( COD
Mn
) bằng khoảng 30% của BOD. Nước thải có
độ ô nhiễm cao về hàm lượng cặn không tan, protein, dầu mỡ cá ở dạng phân tán và máu.
Nước thải từ quá trình luộc, hấp, tẩm ướp gia vị là quá trình tiếp theo quy trình sơ chế.
Nước sau luộc chứa protit, chất béo, muối khoáng với hàm lượng cao. Nước thải thường
được thu hồi để sản xuất bột cá (sấy khô cùng với bột cá).
Nước thải từ công đoạn giết mổ: làm vây, tách xương (phi lê), moi lòng, bỏ chân, càng,
râu tôm, bóc vỏ có mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào sản phẩm chế biến: nước thải chế biến
tôm, mực, bạch tuộc có mức độ ô nhiễm cao hơn so với chế biến cá đông lạnh.
Với cùng loại sản phẩm thì nguyên liệu có kích thước lớn ít gây ô nhiễm hơn loại có kích
thước bé. Hiện nay rất nhiều cơ sở ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, tiết kiệm nước. Lượng
nước sử dụng ít nhưng mức độ ô nhiễm cao.
Nước vệ sinh nhà xưởng có mức độ ô nhiễm không cao so với các dòng thải khác nhưng
với lưu lượng lớn, tập trung vào cuối các ca làm việc.
Lượng nước thải của một cơ sở chế biến thủy sản xấp xỉ 90% lượng nước cấp hằng ngày
với điều kiện tách triệt để nguồn nước mưa.
NHÓM 1 9
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Như đã trình bày mức độ ô nhiễm dòng nước thải chế biến thủy sản biến động rất mạnh
phụ thuộc vào sản phẩm chế biến, sản phẩm chế biến thay đổi theo mùa, vụ và thậm chí ngay
trong ngày làm việc.
Đặc trưng ô nhiễm nước thải chế biến thủy sản dao động mạnh và được đặc trưng bởi các
khoảng giá trị thể hiện trong bản:
Thông số Khoảng giá trị
BOD (mg/l) 300 – 2000 (1000)
COD (mg/l) 500 – 3000 (1500)
Cặn không tan (mg/l) 200 – 1000 (500)
TN (mg/l) 50 – 200 (100)
TP 10 – 100 ( 30 )
2.1.2. Thành phần ô nhiễm
Nước thải CBTS thường chứa nhiều các thành phần hữu cơ tồn tại chủ yếu ở
dạng keo, phân tán mịn, tạp chất lơ lửng tạo nên độ màu, độ đục cho dòng thải. Nước
thải thường có mùi khó chịu, độc hại do quá trình phân hủy sinh học. Thành phần
không tan và dễ lắng chủ yếu là các mảnh vụn xương thịt, vây, vẩy… và còn có các tạp
chất vô cơ như cát, sạn… Ngoài ra đối với phần lớn các nhóm sản phẩm thủy sản,
trong nước thải thường chứa các loại hóa chất khử trùng, chất tẩy rửa từ vệ sinh nhà
xưởng, thiết bị.
2.2. Chất thải rắn
2.2.1. Nguồn gốc
Đặc điểm chung cho hầu hết các dạng công nghệ CBTS là tổn hao nguyên liệu
khá lớn do tỷ lệ phần không sử dụng được (đầu, xương, vây, vẩy, nội tạng…) cho chế
biến lớn. Vì vậy đã tạo ra một lượng lớn các phế liệu thủy sản từ quá trình sản xuất.
2.2.2. Nguồn phát sinh
NHÓM 1 10
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Nguồn phát sinh chất thải rắn sản xuất tập trung chủ yếu ở công đoạn xử lý nguyên
liệu và chế biến sản phẩm. Tùy thuộc vào chủng loại, giá trị sử dụng nguyên liệu và mục
đích chế biến mà các phế liệu thủy sản có thể là các loại: đầu, vỏ, xương,
da, nội tạng…
Ngoài phế liệu thủy sản, còn có thể có các thành phần chất thải rắn khác như:
giấy bao gói, túi PE, vỏ hộp cacton…từ đóng gói sản phẩm, tro xỉ từ lò hơi cấp nhiệt.
Đặc điểm chung của chất thải rắn: Phế thải từ các nguyên liệu thủy sản có thành phần
chủ yếu là các hợp chất hữu cơ như protein, lipit, hydratcacbon… Ngoài ra còn chứa các
thành phần khoáng vô cơ, vi lượng như Ca, K, Na, Mg, P, S, Fe, Zn, Cu… và nước. Các vụn
phế liệu thủy sản dễ bị phân hủy bởi nhiều loại vi sinh vật làm phát sinh các hơi khí có mùi
khó chịu, độc hại như Metan, Amoniac, Indol, Scatol, Mecaptan, gây ô nhiễm môi trường
không khí và bất lợi cho sức khỏe con người.
2.2.3. Đánh giá chung
Tình hình quản lý chất thải rắn hiện tại về cơ bản không còn là vấn đề đáng lo
ngại đối với công nghiệp CBTS nhưng vẫn cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ,
toàn diện để duy trì công tác ngăn ngừa, kiểm soát và sử dụng có hiệu quả nguồn phế
liệu thủy sản
2.3. Khí thải
2.3.1. Mùi hôi tanh
Tồn tại trong suốt quá trình chế biến các sản phẩm, mùi được phát ra từ các gian trong
cơ sở, từ nơi chứa chất thải rắn, lắng đọng nước từ các thùng chứa nguyên liệu, rác và các
công trình thoát nước. Mùi hôi tanh tạo ra chủ yếu là mùi của các hợp chất hữu cơ meetyl
amin, trimêtyl, NH3, indol, mêcaptan, H2S.
2.3.2. Bụi hơi
Khí độc phát ra từ các quá trình của thiết bị đun nóng nước.
2.3.3. Hơi Clorine
NHÓM 1 11
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Tạo thành trong quá trình sử dụng nước sạch có pha hóa chất Clorine để khử trùng
nguyên liệu, thiết bị, dụng cụ chế biến, nhà xưởng… Hơi Clorine có mùi hắc khóchịu xuất
hiện thường xuyên trong nhà xưởng và chủ yếu tại các khu vực tiếp nhận, sơ chế nguyên
liệu, vệ sinh thiết bị, dụng cụ tập trung.
2.3.4. Tác nhân lạnh rò rỉ
Có thể có vì trong nhà máy chế biến thủy sản sử dụng nhiều thiết bị lạnh để cấp đông,
bảo quản, sản xuất nước đá. Khi đó các hơi độc chủ yếu là NH
3
, CFC.
2.3.5. Điều kiện vi khí hậu
Môi trường làm việc của người lao động tại phần lớn các xí nghiệp CBTS thường có
độ ẩm cao do sử dụng nhiều nước cho các công đoạn chế biến và khả năng thông thoáng bị
hạn chế do yêu cầu cách ly để đảm bảo các điều kiện vệ sinh thực phẩm. Tùy theo loại hình
công nghệ chế biến, môi trường vùng làm việc có thể có những chênh lệch lớn về nhiệt độ so
với ngoài trời gây bất lợi cho sức khỏe người lao động.
2.4. Tiếng ồn, rung động
Do các phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị trong thời gian hoạt động như máy
chạy đá, máy cấp đông, máy lạnh nhưng chỉ mang tính cục bộ không gây nghiêm trọng.
Môi trường làm việc với mùi hôi tanh của thủy sản kết hợp với mùi hôi thối của H
2
S,
mùi hắc đặc trưng của Cl
2
và ứ đọng của CO
2
đã tạo ra vùng không khí quẩn, gây cảm giác
ngột ngạt, khó chịu và mệt mỏi với người lao động nên cần được khắc phụ.
Phát sinh từ thiết bị động lực như máy phát điện, máy lạnh. Mức độ ô nhiễm nói
chung không lớn, mang tính chất cục bộ.
NHÓM 1 12
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Chương 3. CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN
3.1. Những vướng mắc ở Việt Nam
Hiện nay, các DN đang áp dụng các văn bản quy định về quản lý môi trường chủ yếu
là Luật Bảo vệ môi trường (ban hành năm 2005), Nghị định 80/06/ NĐ-CP, Nghị định
21/08/NĐ- CP, Thông tư 05/08/TT-BTNMT, Thông tư 14/09/TT-BNN, Nghị định
29/11/NĐ-CP và các văn bản của địa phương.
Đến nay đã có trên 52,2% DN áp dụng “Sản xuất sạch hơn”, và một số đang trong
bước đầu triển khai biện pháp này. Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 về môi trường của
các DN còn rất thấp, chỉ đạt 3,2% số DN chế biến và tiêu chuẩn về khí thải cũng chưa cao.
Tuy vậy về nước thải CBTS, việc áp dụng các quy chuẩn và tiêu chuẩn của các DN đạt khá
cao.
Hiện nay, ngoài lý do phải giải toả và di dời, khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện
nhiệm vụ môi trường của các DN là vấn đề tài chính. Hơn một nửa số DN vướng phải bất
cập này, nhất là trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay. Bên cạnh đó, là những khó
khăn về mặt bằng, hạn chế về công nghệ xử lý và nhân lực thực hiện. Sự phối hợp không
chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước cũng gây khó khăn phần nào
trong hoạt động kiểm tra và giám sát về môi trường tại các DN.
Hầu hết các DN tham gia trong khảo sát đều có nhu cầu xây mới hoặc nâng cấp hệ
thống xử lý nước thải và khí thải, cũng như đào tạo nhân lực về quản lý môi trường, về công
nghệ và các vấn đề như “sản xuất sạch hơn”, sản xuất bền vững, …
NHÓM 1 13
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Bảng 2. Thống kê các địa điểm còn bất cập trong quản lý môi trường.
ST
T
Địa điểm Bất cập Về mặt khâu quản lý
1 KCN Hòa Trung ( Cà Mau)
( tháng 12/2012)
Bóc mùi hôi thối, nước
xả đen ngòm, tanh hôi
ảnh hưởng tới dân.
Chi cục Bảo vệ môi trường
Cà Mau còn chậm chạp
trong quá trình giải quyết,
hệ thống xử lý chưa tốt…
2 Huyện Long Điền, tỉnh Bà
Rịa Vũng Tàu.
( tính đến tháng 5 năm 2012)
San lấp, xây dựng trái
phép và các chất thải từ
các cơ sở chế biến hải
sản gây ô nhiễm.
Không đầu tư hệ thống xử
lý chất thải hoặc mang hình
thức đối phó mà chưa đạt
quy chuẩn theo quy định
3 Khu công nghiệp dịch vụ
thủy sản Đà Nẵng
( tháng 5 /2012)
Mùi hôi thối nồng nặc
từ trạm xử lý nước thải
Đầu tư thấp vào hệ thống
4 Công ty TNHH khoa học,
công nghệ môi trường Quốc
Việt (trụ sở tại TP.HCM, gọi
tắt là Công ty Quốc Việt)
Nước thải chưa qua xử
lý thải ra ngoài.
Chi phí xả thải cách công ty
quá cao.Hệ thống xây dựng
với công suất thiết kế
2.000m
3
nước/ngày đêm
nhưng hiện chỉ tiếp nhận
khoảng 500m
3
nước/ngày
đêm.
….
Hiện nay, nước ta cũng đang áp dụng các biện pháp về tất cả các mặt như quản lý môi
trường, phương pháp xử lý … để cải thiện các bất cập đang và sẽ tồn tại trong môi trường.
Năm 2006, Trung tâm Quốc gia Quan trắc Cảnh báo Môi trường biển - Viện Nghiên
cứu Hải sản được Bộ Thuỷ sản giao chủ trì nhiệm vụ: Triển khai thực hiện Quyết định
64/2003/QĐ-TTg, ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính Phủ về việc xử lý triệt để các cơ sở
sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản.
NHÓM 1 14
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Sáng 15/12/2011, Tổng cục Môi trường phối hợp với Dự án hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị
dự án VIPMP tổ chức hội thảo về công tác quản lý và quan trắc môi trường khu công nghiệp
(KCN).
Ngày 29/6/2012, kỳ họp thứ 4 của Ủy ban Điều phối chung (JCC) Dự án “Nâng cao
năng lực quản lý môi trường nước tại Việt Nam” đã diễn ra tại thành phố Vũng Tàu.
Trung tâm Đào tạo – Công ty Cố phần Tư vấn môi trường và Quản lý chất lượng
CEM trân trọng thông báo mở khoá đào tạo xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý môi
trường theo tiêu chuẩn 14001:2004. Khai giảng ngày 26/12/2012.
Ngày 11/10/2013, tại Cần Thơ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi
trường phối hợp với Dự án AKIZ (Đức) tổ chức Hội thảo quốc tế quản lý tổng hợp nước thải
tại khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tháng 4/2013, Tăng cường quản lý của địa phương trong kiểm soát ô nhiễm công
nghiệp là nội dung của Dự án Quản lý Nhà nước về Môi trường cấp tỉnh (VPEG) thuộc Dự
án Môi trường Việt Nam-Canada, với mục đích xây dựng năng lực về thể chế cho cấp trung
ương và địa phương để quản lý ô nhiễm công nghiệp có hiệu quả.
3.2. Các công cụ quản lý chính
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động nhằm thực hiện công tác
quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi công cụ có một
chức năng và phạm vi tác động nhất định, chũng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Theo bản chất, có thể chia công cụ quản lý môi trường thành các loại cơ bản như sau:
- Công cụ luật pháp và chính sách.
- Công cụ kinh tế.
- Công cụ quản lý.
- Công cụ giáo dục nâng cao nhận thức.
Công cụ luật pháp và chính sách
NHÓM 1 15
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh
mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại
trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi sử dụng
của quốc gia.
Luật môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý
điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc
tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp
điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người. Hệ
thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp
lý các thành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể của một địa phương, một
ngành.
Quy định là các văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện các nội
dung của luật. Quy định có thể do chính phủ trung ương hay địa phương, do cơ quan hành
pháp hay lập pháp ban hành.
Quy chế là các quy định về chế độ thể lệ, tổ chức quản lý bảo vệ môi trường chẳng
hạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa học, công
nghệ và môi trường…
Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng
làm căn cứ để quản lý môi trường. Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát
triển bền vững của mỗi quốc gia. Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một mặt dựa trên các
quy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều căn cứ khoa học, nhằm đảm
bảo cho tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về
mặt kinh tế, xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường phản ánh trình độ khoa học, công nghệ ,
tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống
tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:
- Những quy định chung.
- Tiêu chuẩn nước ( nước mặt, nước ngầm, nước thải…).
NHÓM 1 16
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
- Tiêu chuẩn không khí ( khói, bụi, khí thải…).
- Tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa.
Chính sách bảo vệ môi trường giải quyết những vấn đề chung nhất về quan điểm quản
lý môi trường, về các mục tiêu bảo vệ môi trường cơ bản cần giải quyết trong một giai đoạn
dài 10 – 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu, chú trọng việc huy động các
nguồn lực cân đối với mục tiêu bảo vệ môi trường.
Công cụ kinh tế
. Thuế môi trường
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sản phẩm
theo nguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền”. thuế môi trường nhằm hai mục đích chủ
yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng
nguồn cho ngân sách.
Trên thực tế, thuế môi trường được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tùy thuộc
mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sản
phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào người sử dụng.
Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường
Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có
thể quy định quyền sở hữu và vì thế thường sử dụng bừa bãi như không khí, đại dương,
sông….
Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môi trường
chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn giản và đòi hỏi
chi phí thực hiện khá lớn. Sau khí quy định mức thải tối đa trong vùng, có thể phát không
giấy phép cho doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn dựa trên một số căn cứ nào đó hoặc tổ
chức bán đấu giá. Cách thực hiện được nhiều người tán thành nhất là phân phối giấy phép
dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, nói
cách khác là thừa kế quyền được thải quá khứ. Khi đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự
NHÓM 1 17
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
giao dịch, mua bán lại một số giấy phép đó; giá giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu
trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm lớn nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và hạn mức ô
nhiễm. So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấy phép mang tính
chắc chắn, đảm bảo hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường.
Hệ thống đặt cọc – hoàn trả
Hoàn trả - đặt cọc được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách quy
định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả
thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm bảo đảm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ
đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phế
thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách an
toàn đối với môi trường. Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do
các tổ chức thu gom hoàn trả lại.
Mục đích của hệ thống đặt cọc – hoàn trả là thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã
dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường.
Ký quỹ môi trường
Là công cụ kinh tế được áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm năng gây ô nhiễm
và tổn thất môi trường. Nguyên lý hoạt động của hệ thống ký quỹ môi trường là yêu cầu các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư phải
kí gởi một khoản tiền tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết và thực
hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Mục đích của việc kí quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi
trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn
ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp/cơ sở có các biện
pháp chủ động ngăn chặn khắc phục không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường,
NHÓM 1 18
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì họ sẽ được nhận lại số tiền đã ký
quỹ đó. Ngược lại nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền dã
kí quỹ sẽ được rút ra từ tải khoản ngân hàng/tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục
sự cố, suy thoái môi trường.
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắc
phục môi trường từ ngân sách. Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp tích
cực trong hoạt động bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại được vốn
khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.
Trợ cấp môi trường
Là công cụ quan trọng được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các tổ
chức OECD. Trợ cấp môi trường có thể dưới các dạng sau:
- Trợ cấp không hoàn lại.
- Các khoản cho vay ưu đãi.
- Cho phép khấu hao nhanh.
- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế).
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công – nông nghiệp và
các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi
trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với
việc xử lý ô nhiễm. Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích các cơ quan nghiên cứu và triển
khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm.
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả, các nhà sản xuất có thể đầu tư quá
mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức tối ưu cũng là
không hiệu quả).
Trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc kéo
dài sẽ dẫn đến phi hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược lại với nguyên tắc “người gây ô
nhiễm phải trả tiền”, nó tạo ra sự thay đổi số công ty (vào – ra tự do đối với nghành công
NHÓM 1 19
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
nghiệp), thay đổi mức hoạt động của ngành công nghiệp mà mục đích giảm ô nhiễm không
đạt được.
Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ vốn từ
các nguồn khác nhau và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự
án hoặc các hoạt động cải thiện môi trường.
Nguồn thu cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như:
- Phí và lệ phí môi trường.
- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp.
- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địa phương
và chính phủ trung ương.
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế.
- Tiền lãi và các khoản lợi khác thu được từ hoạt động của quỹ.
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định bảo vệ môi trường.
- Tiền thu được từ các hoạt động như văn hóa, thế thao, từ thiện, phát hành trái phiếu…
Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp thông thường dưới hình thức hỗ trợ tài chính với
các điều khoản ưu đãi, chằng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay vốn
dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để khuyến khích các dự án đầu
tư bảo vệ môi trường, hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai, đào tạo và truyền thông môi
trường; các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp. Quỹ môi trường thậm
chí còn hỗ trợ tiền cho việc điều trị các nạn nhân ô nhiễm.
Công cụ kỹ thuật quản lý môi trường
Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát Nhà
nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm
trong môi trường.
NHÓM 1 20
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường có thể bao gồm các đánh giá môi trường,
kiểm toán môi trường, các hệ thống quan trắc môi trường, xử lý chất thải, tái chế và sử dụng
chất thải.
Các công cụ kỹ thuật được coi là những công cụ hành động quan trọng của các tỏ
chức trông công tác bảo vệ môi trường.
Thông qua việc thực hiện các công cụ kỹ thuật, các cơ quan chức năng có thể có
những thông tin đầy đủ, chính xác về hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường đồng
thời có những biện pháp, giải pháp phù hợp để xử lý, hạn chế những tác dộng tiêu cực đối
với môi trường.
Các công cụ kỹ thuật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hộ trợ tuân thủ các tiêu
chuẩn, quy định về bảo vệ môi trường.
Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường
Giáo dục môi trường
“Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và
không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện
cho họ tham gia và phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”.
Mục đích của giáo dục môi trường là nhằm vận động những kiến thwucs và kĩ năng
vào giữ gìn, bảo tồn và sử dụng theo cách bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Giáo dục môi trường bao gồm những nội dung chủ yếu:
- Đưa giáo dục môi trường vào trường học.
- Cung cấp thông tin cho những người có quyền ra quyết định.
- Đào tạo chuyên gia về môi trường.
Truyền thông môi trường
“Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm giúp cho
những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mỗi quan hệ phụ thuộc
NHÓM 1 21
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
lẫn nhau giữa chúng và cách tác động vào vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải
quyết các vấn đề môi trường”.
Mục tiêu của truyền thông môi trường nhằm:
- Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạng của họ, từ
đó giúp họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
- Huy đọng các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào các chương
trình bảo vệ môi trường.
- Thương lượng hòa giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các cơ
quan và trong nhân dân.
- Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường, xã
hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
- Khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu thông qua đối thoại thường xuyên
trong xã hội.
Truyền thông môi trường có thể thực hiện thông quá các phương thức chủ yếu sau:
- Chuyển thông tin tới từng cá nhân qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ quan, gọi điện
thoại, gửi thư.
- Chuyển thông tin tới các nhóm thông qua hội thảo tập huấn, huấn luyện, họp nhóm,
tham quan khảo sát.
- Chuyển thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, tivi, radio,
pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh…
- Tiếp cận truyền thông qua những buổi diễn thuyết lưu động, tổ chức hội diễn, các
chiến dịch, các lễ hội, các ngày kỉ niệm.
3.3. Một số công cụ nhà máy sử dụng
3.3.1. Quản lý nội vi
Thay thế phương thức vận chuyển nguyên liệu, phế liệu theo các máng thủy lực bằng
các phương tiện vận chuyển như xe đẩy, thùng chứa, băng tải…
Đá bảo quản khi chuyển đến các bộ phận sản xuất cần sớm đưa vào sử dụng để giảm
mất mát, hao hụt.
NHÓM 1 22
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Thay thế phương thức rửa nguyên liệu dưới vòi nước chảy liên tục trong quá trình xử
lý chế biến bằng rửa trong các thùng, chậu, định kỳ thay nước rửa.
Khóa chặt các van, tránh rò rỉ trong nhà xưởng.
Thu gom chất thải rắn hoặc phụ phẩm trước khi vệ sinh bằng nước.
Vệ sinh nhà xưởng thiết bị bằng vòi phun áp lực cao.
Huấn luyện kỹ thuật chế biến cho công nhân.
Giáo dục nâng cao nhận thức của công nhân về vấn đề tiết kiệm nước.
3.3.2. Kiểm soát quá trình
Kiểm tra chất lượng nguyên liệu trước khi chế biến.
Đảm bảo dây chuyền hợp lý, không phải chờ đông hoặc bảo quản đá.
Bảo ôn các đường ống dẫn tác nhân lạnh, dẫn dầu, cách nhiệt đúng cách các phòng
lạnh.
Sử dụng hợp lý lượng clorine để tẩy trùng.
Lắp đặt các van điều chỉnh lưu lượng tại các khu vực dung nước nhằm kiểm soát việc
tiêu dung và mất mát nước.
Lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng tổng và lưu lượng tại các phân xưởng, các thiết bị sử
dụng nhiều nước. Thiết lập kế hoạch giám sát mức tiêu thụ nước.
Xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ hệ thống cấp nước, phát hiện và sữa chữa, thay
thế kịp thời để chống thất thoát, rò rỉ.
3.3.3. Thu hồi, tái sử dụng
Tái sử dụng mức mạ băng, tách khuôn, xả đá, nước giải nhiệt cho các mục đích khác.
Sử dụng triệt để chất thải rắn bằng cách bán cho các cơ sở chế biến thức ăn gia súc.
NHÓM 1 23
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
3.3.4. Thay thế, cải tạo trang thiết bị và nhà xưởng theo hướng sản xuất sạch hơn
Cải tạo nâng cao hiệu suất các trang thiết bị chế biến và sử dụng phù hợp với công
nghệ sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu.
Cải tạo hoặc lắp đặt mới hệ thống cung cấp nước đáp ứng được yêu cầu: riêng biệt
các mục đích sử dụng, phân phối nước đều, đảm bảo lưu lượng, áp lực cần thiết và phải được
kiểm soát bằng van, khóa và các thiết bị đo.
Cải tạo hoặc xây mới hệ thống thoát nước. Đường thoát nước trong các phân xưởng
được thiết kế sao cho: thuận lợi phân luồng các dòng thải có mức ô nhiễm khác nhau, kín và
thoát nước tốt.
Chương 4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THẢI Ô NHIỄM
NHÓM 1 24
XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CHẾ BIẾN THỦY SẢN GVHD: TRẦN THANH TÙNG
Đứng trước thực trạng môi trường của các cơ sở chế biến thủy sản và năng lực quản lý chưa
đầy đủ của các cơ sở này đối với chất thải và khí thải gây ô nhiễm, một số giải pháp chính nhằm
giảm thiểu nguy cơ này được đề xuất.( tham khảo tài liệu Bộ NN&PTNT ).
4.1. Đối với các cơ quan quản lý trung ương
Cho phép các cơ sở CBTS nằm ngoài hoặc trong các khu công nghiệp áp dụng
QCVN 11:2008/ BTNMT về nước thải công nghiệp CBTS, với 09 chỉ tiêu đặc thù (pH,
BOD¬5, CO,TSS, nitơ tổng, dầu mỡ, clo dư và coliform) và không đưa chỉ tiêu tổng phốt
pho vào; xây dựng QCVN về khí thải của các cơ sở CBTS, quy chuẩn này chỉ nên bao gồm
07 chỉ tiêu đặc thù là bụi, SO2, CO, NO2, NH3, H2S và SO3; xây dựng QCVN về chất thải
nguy hại; Xây dựng định mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp CBTS
thống nhất trong toàn quốc; có cơ chế chính sách đầu tư kinh phí, ưu đãi trong vay vốn về
công tác bảo vệ môi trườngcho các CSCB,…
4.2. Đối với các cơ quan quản lý địa phương
Quy hoạch các CSCB thủy sản vào khu công nghiệp hoặc khu CBTS tập trung để
quản lý hiệu quả việc thực hiện và việc áp dụng các quy chuẩn và tiêu chuẩn về môi trường;
xây dựng nhà máy thu gom, xử lý chất thải nguy hại…
4.3. Đối với các CSCB thủy sản
Thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng và vận
hành hệ thống xử lý ô nhiễm theo cam kết; các cơ sở mới phải xây dựng các phương án bảo
vệ môi trường và trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để làm căn cứ thực hiện và
giám sát.
Phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải nếu CSCB chưa có hoặc phải sửa chữa, thay
thế, nâng cấp, mở rộng cho phù hợp với công nghệ xử lý nước thải; các cơ sở CBTS cần xây
dựng đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường chuyên trách để có thể quản lý, vận hành hệ
thống và giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ về môi trường một cách có hiệu quả.
NHÓM 1 25