Tải bản đầy đủ (.pdf) (352 trang)

Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.6 MB, 352 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
TÁC PHẨM DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
TÁC PHẨM DIỄN NƠM NHỊ ĐỘ MAI
Ngành: Hán Nơm
Mã số: 9.22.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Hoàng Thị Ngọ
2. PGS.TS. Hà Văn Minh

Hà Nội - 2018




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận án Tiến sĩ với đề tài Nghiên cứu văn bản tác
phẩm diễn Nôm Nhị độ mai là kết quả làm việc, nghiên cứu của riêng tơi. Các số
liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực. Và những kết quả của các nhà
nghiên cứu trƣớc đã đƣợc tiếp thu một cách chân thực, có trích dẫn cụ thể.
Tác giả Luận án

Nguyễn Thị Hải Vân


LỜI CẢM ƠN
Trƣớc tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Hoàng Thị Ngọ và PGS.TS.
Hà Văn Minh là hai thầy hƣớng dẫn khoa học đã tận tình dẫn dắt, chỉ bảo nhiều
kiến thức quý báu và cổ vũ nhiệt tình trong q trình tơi học tập, nghiên cứu.
Tơi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Các vị lãnh đạo Học viện Khoa học
Xã hội, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bác, các cô chú, các bạn đồng nghiệp đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tơi cơng tác, nghiên cứu và hồn
thành Luận án.
Xin gửi lời tri ân đến các thầy cô giáo trong Bộ môn Hán Nôm, Khoa Ngữ
văn, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội đã dìu dắt em từ những ngày đầu học tập bộ
môn Hán Nôm, các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, trƣờng Đại
học Sƣ Phạm Hà Nội 2 đã hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình khi em bắt đầu bƣớc vào
giảng dạy bộ mơn Hán Nơm.
Chân thành cám ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện
tốt nhất để tơi hồn thành Luận án.


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ......................................................................................................... 6
1.1. Khái niệm “diễn Nôm” trong Văn học Trung đại Việt Nam ..................... 6
1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai .............. 10
Chƣơng 2: HỆ THỐNG VĂN BẢN DIỄN NÔM NHỊ ĐỘ MAI Ở
VIỆT NAM -NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TRƢNG ......................................... 26
2.1. Các truyện Nhị độ mai ở Trung Quốc ...................................................... 26
2.2. Khảo sát hệ thống văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ở Việt Nam .............. 31
2.3. Vấn đề tác giả truyện thơ Nôm Nhị độ mai ............................................. 61
2.4. Vấn đề niên đại của các truyện thơ Nơm Nhị độ mai .............................. 65
Chƣơng 3: TÌNH HÌNH VĂN BẢN CỦA CÁC TÁC PHẨM DIỄN
NÔM NHỊ ĐỘ MAI QUA KHẢO SÁT VÀ SO SÁNH ĐỐI CHIẾU....... 69
3.1. Khảo sát các đặc điểm của văn bản nền Nhị độ mai diễn ca kí hiệu
VNb.22 ............................................................................................................ 69
3.2. Q trình truyền bản của các văn bản truyện thơ Nôm Nhị độ mai
diễn ca ............................................................................................................. 85
3.3. Quá trình truyền bản của các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai.................... 101
Chƣơng 4: GIÁ TRỊ VÀ VỊ THẾ CỦA CÁC TÁC PHẨM DIỄN
NÔM NHỊ ĐỘ MAI QUA VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN BẢN ................. 107
4.1. Hình thức nghệ thuật .............................................................................. 107
4.2. Giá trị nội dung tƣ tƣởng ........................................................................ 120
4.3. Giá trị của các bản diễn xƣớng Nhị độ mai ............................................ 131
KẾT LUẬN .................................................................................................. 137
DANH MỤC CƠNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ........................................... 140
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN.................................................................... 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 141
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 151



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
NĐM

:

Nhị độ mai

NĐMDC

:

Nhị độ mai diễn ca

NĐMTT

:

Nhị độ mai tinh tuyển

CDNĐMT

:

Cải dịch Nhị độ mai truyện

NĐMT

:


Nhị độ mai trò

NĐMDT

:

Nhị độ mai diễn truyện


DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Danh mục các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ............................... 32
Bảng 2.2: So sánh một số khác biệt về tự dạng khắc in giữa các bản Nhị
độ mai diễn ca (VNb.22, VNb.28, VNb.37, R.495) ........................... 38
Bảng 2.3: Một số chữ khắc in nhầm của Nhị độ mai diễn ca VNb.22
đƣợc lặp lại ở Nhị độ mai diễn ca R.464 ............................................ 42
Bảng 2.4: Một số câu thơ tƣơng đồng giữa Nhị độ mai diễn ca VNb.22
và Nhị độ mai tinh tuyển AB.350 ....................................................... 47
Bảng 2.5: Thống kê và phân loại hệ thống các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ... 58
Bảng 3.1: Một số chữ kỵ húy trong văn bản Nhị độ mai diễn ca VNb.22 ..... 71
Bảng 3.2: Thống kê từ Việt cổ trong Nhị độ mai diễn ca VNb.22 ................ 78
Bảng 3.3: So sánh số lƣợng từ Việt cổ qua một số văn bản .......................... 82
Bảng 3.4: Khảo dị những dị văn trong các văn bản truyện thơ Nôm Nhị
độ mai diễn ca (Lấy bản VNb.22 làm bản nền) .................................. 88
Bảng 3.5: Một số ví dụ chứng minh các văn bản nhóm VNb.28, VNb.37,
R.464 Nhị độ mai diễn ca khắc in lại.................................................. 94
Bảng 3.6: So sánh sự khác biệt về cấu trúc chữ Nôm ở các văn bản Nhị
độ mai diễn ca VNb.22, VNb.37, VNb.28, R.464 với R.495 ............. 96
Bảng 3.7: So sánh sự khác biệt ở các văn bản Nhị độ mai diễn ca VNB.22
với AB.419/bis và Yale 100044.028 ..................................................... 97

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ truyền bản các văn bản Nhị độ mai diễn ca ...................... 101
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ truyền bản các văn bản diễn nôm Nhị độ mai ở Việt Nam .... 105


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong kho tàng truyện thơ Nơm của dân tộc, có thể nói sau Truyện
Kiều và Lục Vân Tiên, Nhị độ mai 二度梅 là tác phẩm đƣợc quảng đại quần chúng
yêu thích và đƣợc phổ biến rộng rãi, và là một trong những truyện Nơm quen thuộc
trong đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời Việt Nam. Về nguồn gốc thì Truyện Nhị
độ mai (NĐM) đƣợc diễn ca, diễn dịch, cải dịch Nôm từ một tiểu thuyết của Trung
Quốc có tên là Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai. Về sau, các bản diễn Nôm NĐM đã
đƣợc in ấn, sao chép, diễn dịch nhiều hơn, đa dạng hơn với các loại hình văn học
nghệ thuật khác nhau. Lâu nay, chúng ta chỉ biết đến một tác phẩm NĐM đang đƣợc
lƣu hành là truyện thơ Nôm Nhị độ mai diễn ca. Truyện thơ NĐM mà chúng ta vẫn
biết đó là văn bản đƣợc phiên khảo từ bản Nơm cổ có tên Nhị độ mai diễn ca
二度梅演歌 gồm 2820 câu lục bát (kí hiệu AB.419 tại VNCHN).
Tuy nhiên, trên thực tế, NĐM vẫn còn những văn bản khác, đƣợc khắc in,
sao chép ở những giai đoạn khác nhau, và đƣợc diễn dịch thành các loại hình khác
nhau, đó là Nhị độ mai tinh tuyển 二度梅精選, Nhị độ mai trò 二度梅𠻀, Nhị độ
mai tân truyện 二度梅新傳, Nhị độ mai nhuận chính 二 度 梅 潤 正, Cải dịch Nhị
độ mai truyện 改譯二度梅傳,…Những văn bản này đa phần là sách khắc in hoặc
chép tay, hiện vẫn nằm trong kho thƣ tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm
(VNCHN) và một số thƣ viện khác mà chƣa đƣợc phiên chuyển ra Quốc ngữ để
công bố với bạn đọc.
Không những thế, vấn đề tác giả của các bản diễn Nôm này đến nay vẫn còn
nhiều quan điểm chƣa thống nhất. NĐM có phải là tác phẩm truyện thơ Nơm khuyết
danh hay khơng? Nếu có tác giả thì đó là ai, căn cứ vào đâu để kết luận về tác giả
của những tác phẩm diễn Nôm này? Những tác phẩm diễn Nôm NĐM chƣa đƣợc
cơng bố kia có giá trị thế nào, có ƣu nhƣợc điểm gì so với bản hiện đang lƣu hành?

Đâu sẽ là bản diễn Nôm tốt nhất phỏng theo cốt truyện của NĐM?… Nhìn chung tình
hình văn bản diễn Nơm NĐM khá phức tạp và cịn nhiều vấn đề hiện vẫn chƣa đƣợc
giải quyết thỏa đáng.
1


Nhận thấy giá trị, tầm quan trọng của những bản diễn Nôm NĐM, chúng tôi
lựa chọn đề tài Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai. Lựa chọn đề tài
này, chúng tôi mong muốn xác lập cái nhìn khái quát về hệ thống văn bản tác phẩm
diễn Nôm NĐM; đƣa ra những nhận định, đánh giá, và giải quyết các vấn đề liên
quan đến văn bản của hệ thống văn bản này cũng nhƣ bƣớc đầu tìm hiểu, đánh giá
về vị trí các tác phẩm diễn Nơm NĐM trong văn học chữ Nơm và trong nền văn
hóa, văn học dân tộc.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Luận án khảo cứu một cách toàn diện hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nơm
NĐM. Trên cơ sở đó, chúng tơi tiến hành xác lập quá trình truyền bản của hệ thống
văn bản diễn Nôm NĐM, xác định bản đáng tin cậy (thiện bản) và nghiên cứu giá trị
các tác phẩm diễn Nôm NĐM trên cơ sở các kết quả nghiên cứu văn bản học.
2.2. Nhiệm vụ
Luận án xác định những nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
- Khái quát hệ thống các văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, mô tả, phân loại
văn bản, khảo dị, so sánh để tìm ra bản nền, tiến tới xác lập hệ thống truyền bản các
bản diễn Nôm NĐM.
- Tìm hiểu một số vấn đề về tác giả, niên đại của các văn bản tác phẩm diễn
Nôm NĐM.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá giá trị các tác phẩm diễn Nôm NĐM về hai
phƣơng diện: nội dung và nghệ thuật trên cơ sở các kết quả nghiên cứu văn bản học.
- Phiên âm, chuyển dịch một số các tác phẩm diễn Nôm NĐM.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các văn bản của tác phẩm diễn Nơm NĐM hiện cịn lƣu giữ đƣợc gồm 13
văn bản hiện đang lƣu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thƣ viện Viện Văn học,
Thƣ viện Quốc gia Việt Nam và sƣu tập tƣ gia.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi phạm vi chủ yếu xoay quanh vấn đề khảo cứu hệ thống
các văn bản diễn dịch Nôm NĐM. Liên quan đến phạm vi đề tài này, chúng tôi xác
2


định phạm vi tƣ liệu chủ yếu là các dạng thức tồn tại của các văn bản diễn Nôm
NĐM hiện còn đƣợc lƣu giữ tại kho thƣ tịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và
trong các thƣ viện khác.
Bênh cạnh đó, chúng tơi cũng quan tâm đến các tƣ liệu thành văn từng khảo
cứu và diễn dịch liên quan đến truyện thơ Nôm NĐM cũng nhƣ các trƣớc tác liên
quan đến vấn đề này.
Ngồi ra, chúng tơi sẽ tiến hành tìm hiểu những thơng tin về các tác giả của
các văn bản, những tồn nghi từ trƣớc đến nay và những kiến giải mới của chúng tôi.
Những hiểu biết về tác giả các bản diễn Nôm này sẽ phục vụ cho quá trình khảo sát
và đánh giá các văn bản.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Trong q trình thực hiện luận án, chúng tơi sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu:
- Phƣơng pháp văn bản học Hán Nôm là phƣơng pháp chủ đạo đƣợc vận
dụng nhằm xác lập hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, giám định niên đại,
tác giả, quá trình truyền bản, từ đó xác định văn bản tốt nhất để giới thiệu và công
bố.
- Phƣơng pháp thống kê định lƣợng số lƣợng bài, số lƣợng các dị văn trong
các văn bản; từ đó đƣa ra những phân tích biện luận về các dị văn và đƣa ra những
nhận định tin cậy cho các dị văn.

- Phƣơng pháp thông diễn học (thuyên thích học), đƣợc sử dụng để giải mã,
biên dịch ... làm nổi bật các thông tin từ tác phẩm một cách tối đa và có chiều sâu. Theo
phƣơng pháp này, vấn đề minh giải văn bản đƣợc xem xét trong các mối quan hệ của
văn bản và liên văn bản, giúp ngƣời đọc hiểu đƣợc tác phẩm.
- Phƣơng pháp nghiên cứu văn học sử trong nghiên cứu văn học thời Trung
Đại qua các thời kỳ gắn liền với quá trình ra đời của các tác phẩm diễn Nôm NĐM.
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành đƣợc vận dụng để nghiên cứu hệ thống
văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM ở các khía cạnh văn học, ngơn ngữ,...
Luận án có sử dụng các thao tác phân tích tổng hợp, với mục tiêu tổng thuật
tình hình nghiên cứu về các văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM, đƣa ra những nhận
3


xét của ngƣời đi trƣớc đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài, từ đó định
hƣớng nghiên cứu của đề tài.
5. Đóng góp mới của Luận án
Lần đầu tiên tình hình các bản diễn Nơm NĐM đƣợc khảo sát một cách đầy đủ. Từ
việc khảo dị và so sánh văn bản, Luận án đƣa ra các văn bản nền, sơ đồ truyền bản
của các bản diễn Nôm NĐM.
Luận án đặt ra vấn đề tác giả của các bản diễn Nôm NĐM, đặc biệt là truyện
thơ Nôm NĐMDC, Luận án sẽ có những đóng góp thêm và minh chứng về tác giả
của truyện thơ Nơm này.
Luận án tìm hiểu, đánh giá giá trị của các tác phẩm diễn Nơm NĐM cả về nội
dung tƣ tƣởng cũng nhƣ hình thức nghệ thuật, so sánh các bản diễn Nôm này với
tiểu thuyết chữ Hán Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai của Trung Quốc, so sánh giữa
các bản diễn Nôm NĐM với nhau. Qua đó tìm hiểu giá trị đặc sắc của mỗi văn bản
tác phẩm và khẳng định vai trị, vị trí của các bản diễn Nơm này trong kho tàng văn
học chữ Nôm và trong nền văn học Việt Nam nói chung.
Luận án tiến hành phiên âm, khảo dị và chú giải trên bản gốc bằng chữ Nôm
một văn bản diễn Nôm NĐMDC qua khảo cứu đã đánh giá là gần với bản gốc nhất

và phù hợp nhất với thời điểm ra đời của văn bản, tránh đƣợc những sai sót và nhầm
lẫn của các bản phiên âm NĐM trƣớc đây. Luận án cũng phiên âm và giới thiệu
trích đoạn trong các tác phầm Nhị độ mai tinh tuyển, Cải dịch Nhị độ mai truyện,
Nhị độ mai trò, Nhị độ mai diễn truyện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Khảo cứu hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nôm NĐM làm giàu thêm kho
tàng truyện thơ Nơm dân tộc, điều đó có ý nghĩa thực tiễn đối với việc bổ sung thêm
những tác phẩm truyện thơ Nôm, tác phẩm diễn xƣớng sân khấu NĐM với đông đảo
bạn đọc.
- Nghiên cứu hệ thống văn bản tác phẩm diễn Nơm có ý nghĩa xã hội hóa tƣ
liệu Hán Nơm trong đời sống văn hóa hiện nay. Hơn nữa trong việc cung cấp tƣ liệu
và giảng dạy truyện thơ Nôm ở trƣờng phổ thông, hay bậc đại học và sau đại học
hiện nay.
4


7. Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Phụ lục, bố cục của Luận án gồm 4
chƣơng nhƣ sau:
+ Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
+ Chƣơng 2: Hệ thống các văn bản diễn Nôm Nhị độ mai ở Việt Nam - nguồn
gốc và đặc trưng
+ Chƣơng 3: Tình hình văn bản của các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai qua
khảo sát và so sánh đối chiếu
+ Chƣơng 4: Giá trị và vị thế của các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai qua
việc nghiên cứu văn bản
Tiếp theo Phần kết luận là Danh mục bài nghiên cứu đã công bố liên quan
đến đề tài luận án gồm 03 bài viết đã đƣợc đăng tải trên Tạp chí Hán Nơm, tạp chí
Nhân lực Khoa học Xã hội, Hợp tuyển cơng trình nghiên cứu Ngữ văn học - Trường
Đại học Sư Phạm Hà Nội.

Tài liệu tham khảo gồm 110 đơn vị.
Phần Phụ lục gồm 04 mục:
+ Phụ lục 01: Bảng khảo dị các văn bản truyện thơ Nôm Nhị độ mai diễn ca
+ Phụ lục 02: Văn bản nền Nhị độ mai diễn ca –1000 câu thơ đầu.
+ Phụ lục 03: Giới thiệu văn bản tuồng chữ nơm Nhị độ mai diễn truyện trích hồi 2
+ Phụ lục 04: Giới thiệu một vài đoạn trong các bản diễn Nôm Nhị độ mai
chƣa đƣợc công bố.

5


Chƣơng 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Bắt nguồn từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc, khi du nhập vào Việt Nam,
tác phẩm này đã có quá trình lƣu truyền rất phong phú và phức tạp. Với đề tài
Nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai, chúng tơi nhằm mục đích khảo
sát và hệ thống lại tất cả các văn bản diễn Nôm NĐM, thiết lập sơ đồ truyền bản,
đồng thời giới thiệu và công bố văn bản nền đáng tin cậy và gần với bản gốc hơn cả.
Liên quan đến đề tài Luận án, chúng tơi sẽ tìm hiểu về khái niệm “diễn Nôm” trong
văn học Trung Đại Việt Nam, các tác phẩm diễn Nôm NĐM trong tƣơng quan với
văn học dịch nhƣ thế nào? Đồng thời trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát các cơng
trình nghiên cứu liên quan đến NĐM, từ vấn đề văn bản cho tới những đánh giá về
giá trị. Thấy đƣợc những thiếu sót từ trƣớc đến nay khi nghiên cứu về NĐM, để từ
đó bổ sung làm rõ những vấn đề về mặt văn bản của hệ thống văn bản tác phẩm
diễn Nôm này.
1.1. Khái niệm “diễn Nôm” trong Văn học Trung đại Việt Nam
Chữ Hán của ngƣời Trung Quốc thời cổ theo dấu chân của những đoàn quân
xâm lƣợc, của những lƣu dân, thƣơng nhân đã du nhập vào Việt Nam từ trƣớc Công
Nguyên), trải qua một ngàn năm Bắc thuộc, chữ Hán đƣợc sử dụng làm văn tự
chính thống, duy nhất trên đất nƣớc Việt bị các đế chế Hán tộc thống trị. Đến kỷ

nguyên tự chủ, mở đầu từ thế kỷ thứ X, chữ Hán ở Việt Nam đƣợc chuyển đọc theo
quy luật âm Việt, gọi là cách đọc Hán Việt, đƣợc nhà nƣớc phong kiến sử dụng làm
văn tự chính thống. Từ vị thế ấy, chữ Hán đƣợc dùng chính thức trên tất cả các lĩnh
vực nhƣ hành chính, văn hóa, giáo dục,... đặc biệt trong sáng tác văn chƣơng, tạo
nên bộ phận văn học chữ Hán ở Việt Nam, “đồng văn, dị vực” với văn học một số
nƣớc vùng Đông Á. Tuy nhiên, chữ Hán không thể ghi chép và diễn tả hết đƣợc
những tâm tƣ, tình cảm, văn hóa, phong tục, đời sống của ngƣời dân Việt Nam, điều
đó đã góp phần thúc đẩy sự hình thành việc sáng tạo ra chữ Nôm. Chữ Nôm là văn
tự riêng của ngƣời Việt. Chữ Nôm cũng nhƣ chữ Hán, thuộc loại hình chữ vng,
do ngƣời Việt Nam sáng chế, dựa vào bộ nét, thành tố, phƣơng thức cấu tạo chữ
6


Hán và cách đọc Hán Việt để ghi âm tiếng Việt. Dẫu vậy, trong suốt chiều dài của
lịch sử dân tộc, chữ Nơm khơng có vị thế chính thống dù vẫn có những giai đoạn
ngắn ngủi (thời nhà Hồ, tây Sơn Sơn) đƣợc triều đình ƣu ái, đề cao) cho nên trong
những lĩnh vực có tính chất nhà nƣớc, hành chính, quan chế, điển chƣơng,... chữ
Nơm chỉ đƣợc dùng bổ sung cho chữ Hán. Nhƣng trên lĩnh vực sáng tác văn
chƣơng, với ƣu thế của thứ chữ ghi âm tiếng mẹ đẻ, chữ Nôm lại trở thành công cụ
đắc lực của dòng văn học kết tinh đƣợc tinh hoa, sáng tạo của các tác giả văn học
thời trung đại, điều mà văn học chữ Hán, dù sao cũng là viết bằng văn tự ngoại lai
bị hạn chế nhiều.
Trong hệ thống văn bản Nôm ta thƣờng thấy trong tiêu đề tên tác phẩm có
các cụm từ nhƣ diễn ca, diễn âm, ca, ca âm, quốc âm ca, diễn truyện, diễn nghĩa,
giải âm, quốc âm,... Về các cụm từ này đã có một số nhà nghiên cứu có ý kiến, nhƣ
Hồng Thị Ngọ, Nguyễn Quang Hồng, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Kim Sơn,...
Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong bài Tác phẩm chữ Nôm và các kiểu định
danh chúng [32, 207-218] đã khảo sát các tác phẩm chữ Nôm và tên tác phẩm qua 2
bộ thƣ mục Tìm hiểu kho sách Hán Nơm của Trần Văn Giáp [23] và Di sản Hán
Nôm Việt Nam - Th mc yu do Trn Ngha v Franỗois Gros chủ biên [59].

Trong bài viết này, tác giả đã thống kê số lƣợng cụ thể các loại tên tác phẩm Nôm
nhƣ: tên thuần Nôm, tên nửa Hán nửa Nôm, tên Hán văn và tên có các chứa các từ
ngữ nhƣ: Quốc ngữ, quốc âm, Nam âm, diễn âm, giải âm, tân truyện, diễn
truyện, diễn nghĩa... Tác giả đã chỉ ra quang cảnh chung của tác phẩm Nôm và tên
tác phẩm, đồng thời cho rằng: tên tác phẩm có các thuật ngữ quốc ngữ, quốc
âm, diễn âm, diễn ca và tân truyện là tên có nhiều khả năng chỉ báo đó là tác phẩm
Nơm nhất.
Theo tác giả Hồng Thị Ngọ trong bài viết Vài nét về thể tài diễn ca lịch sử
Nơm thì cụm từ diễn âm khi thì đƣợc dùng ở các bản diễn dịch nghĩa kinh Phật, sách
tôn giáo từ Hán sang Nơm, khi thì đƣợc dùng trong những văn bản có nội dung răn
dạy đạo đức và cả trong những văn bản có nội dung diễn ca lịch sử bằng văn vần theo
thể lục bát. Cụm từ diễn ca xuất hiện khá nhiều và ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ:
văn học, diễn ca lịch sử, y học, giáo dục, tôn giáo, diễn ca sách kinh điển... Những
7


văn bản này thƣờng đƣợc thể hiện bằng văn vần, chủ yếu là thơ lục bát và cả các văn
bản có nội dung mang tính chất trình diễn sân khấu nhƣ tuồng, chèo [66- 3].
Trong bài viết Hoạt động diễn dịch Hán Nôm kinh điển Nho gia của các nhà
Nho Việt Nam – phân tích từ góc độ mục tiêu và bản chất, tác giả Nguyễn Kim Sơn
lại cho rằng: “diễn Nôm tạo ra một con đƣờng để các lớp từ ngữ, khái niệm của Nho
giáo thâm nhập sâu vào tiếng Việt, rất nhiều trong số đó đƣợc Việt hóa sâu sắc”
[78]. Nhƣ vậy, “diễn Nôm” không phải chỉ để dễ nhớ dễ thuộc một khái niệm hay tƣ
tƣởng mà nó là con đƣờng làm cho tƣ tƣởng ấy phù hợp hơn với tƣ duy ngƣời Việt,
nhu cầu tƣ duy tƣ tƣởng, triết học bằng tiếng Việt. Đồng thời, việc diễn dịch bằng
thơ tạo ra một sự thúc ép ngƣời dịch bày tỏ thái độ, cảm xúc, chính kiến nhiều hơn
là việc chuyển dịch từ văn xuôi sang văn xuôi. Điều này do sức ép của chính đặc
trƣng thể loại. Nó nảy sinh từ sự chuyển dịch giữa hai loại văn bản có đặc trƣng
khác nhau: tự sự và trữ tình. Khi diễn dịch bằng thơ, ngƣời ta cũng thƣờng bộc lộ
ý khuyên nhủ, dẫn dắt và định hƣớng nhận thức. “Diễn ca” ngồi sự tác động vào tƣ

duy lí tính, nó cịn tác động vào tầng cảm tính, vào tình cảm và trực cảm.
Theo tác giả Lại Nguyên Ân trong tập tiểu luận Đọc lại người trước, đọc lại
người xưa, ông coi “diễn Nôm” cũng là một phƣơng thức để bảo quản và phát triển
vốn truyện: “Việc bảo quản cái vốn đã có (huyền thoại, thần tích, cổ tích, truyền
thuyết…) nếu đƣợc thực hiện bằng văn tự Hán lại phải chịu một sự Hán hóa (và
kèm theo là Nho giáo hóa) mà nay chƣa thể đo đƣợc mức độ méo lệch, biến dạng.
Vả chăng, ngay khi đã đƣợc ghi lại bằng văn tự, dƣới dạng các thần tích, thần phả,
văn bia, truyện ký, sử ký…, cái vốn truyện đã có cũng chỉ tạo cơ hội tiếp xúc cho số
ít cơng chúng có học. Đối với các vốn liếng trong văn hóa, u cầu bảo lƣu chủ yếu
khơng phải là gói lại, cất kín một chỗ. Sự bảo lƣu chỉ hữu hiệu khi đem cái vốn cần
giữ kia ra tiêu dùng trong đời sống văn hóa cộng đồng”[4, tr.41-42]. Từ khía cạnh
này có thể thấy “diễn Nơm” nhƣ một phƣơng thức có ý nghĩa lớn, cả trong việc lƣu
giữ các tích truyện xƣa, cả trong việc sản sinh các tích mới.
Lại Nguyên Ân coi “diễn Nôm” nhƣ một thuật ngữ chỉ thao tác. Thực chất của
thao tác đó là: Diễn đạt một nội dung nào đấy bằng tiếng bản địa, bản tộc, ở đây là
tiếng Việt đối với ngƣời Việt nhƣng không phải tiếng bản tộc trong một cấu trúc bất kỳ
8


mà phải là một cấu trúc xác định, đáp ứng yêu cầu thuận lợi trong phổ biến, truyền
thông, lại cũng đáp ứng một mỹ cảm về ngôn từ của ngƣời bản tộc đƣơng thời. Và theo
ông: “Diễn Nôm và lục bát nhƣ hai mặt của cùng một quá trình: một nhu cầu và một
phƣơng án khả thi, thậm chí tối ƣu”.
Nhƣ vậy, diễn Nôm là cụm từ để chỉ những văn bản, tác phẩm đƣợc chuyển dịch,
hoặc diễn Nôm từ một văn bản tác phẩm gốc bằng chữ Hán hoặc từ một nội dung sẵn có.
Các tác phẩm diễn dịch này có thể là văn xi Nơm hoặc thơ Nơm. Diễn Nơm và thể lục
bát có mối quan hệ mật thiết. Nhờ có sự uyển chuyển, linh hoạt của thể thơ lục bát, diễn
Nôm tỏa một độ rộng dƣờng nhƣ khơng biết đến giới hạn, cả trong lẫn ngồi văn học.
Diễn Nôm tuy không phải là khuynh hƣớng học thuật mang tính bác học nhƣng nó có ý
nghĩa và vai trò quan trọng đối với nền văn học dân tộc. Diễn Nôm không phải chỉ để dễ

nhớ, dễ thuộc nội dung của một văn bản chữ Hán mà còn thổi vào đó chính kiến, định
hƣớng tiếp nhận của ngƣời diễn dịch. Đặc biệt diễn dịch bằng thơ sẽ đem lại cho văn bản
mới màu sắc cảm tính, xúc động, tâm đắc của ngƣời diễn dịch so với bản gốc.
Theo tác giả Douglas Robinson trong cuốn “Routledge encyclopedia of
translaton studies”1 (cuốn bách khoa toàn thƣ nghiên cứu về các vấn đề phiên dịch
và chuyển ngữ) thì các phƣơng pháp dịch thuật tồn tại 3 loại:
-

Loại thứ nhất: Metaphrase nghĩa là dịch từng từ, từng nhóm từ, giữ nguyên
nghĩa và văn phong của bản gốc.

-

Loại thứ 2: Paraphrase là phƣơng pháp dịch có cải biên, khơng phải là dịch sát
từng từ một, hiểu và viết theo lối nói của ngơn ngữ mà ngƣời viết chuyển dịch
sang nhƣng vẫn phải giữ nguyên nghĩa. Ví dụ câu thành ngữ tiếng Anh “Love
me love my dog” đƣợc dịch sang tiếng Việt là “Yêu em yêu cả đƣờng đi lối về”.
Nhƣ vậy cách dịch này vẫn giữ nguyên về nghĩa nhƣng văn phong thay đổi và
sắc thái văn hóa cũng thay đổi.

-

Loại thứ 3: Imitation nghĩa là lấy cốt truyện rồi sáng tác lại. Thực chất đó là sự
phóng tác lại, chỉ cốt truyện cịn giữ lại, cịn ngơn từ, văn phong, sắc thái văn
hóa đều thay đổi. Ví dụ nhƣ “Truyện Kiều” đƣợc đại thi hào Nguyễn Du sáng
tác dựa trên cốt truyện tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc.

1

“Routledge encyclopedia of translation studies”, first published 1998 by Routledge, 11 New Fetter Lane,

London EC4P 4EE, 29 West 35th Street, New York, NY 10001.

9


Nhƣ vậy, các tác phẩm diễn Nôm trong văn học thông thƣờng sẽ tƣơng
đƣơng với phƣơng pháp dịch thứ 3 là Imitation. Tất cả các tác phẩm diễn Nôm
NĐM đều thuộc loại này. Các tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai dù đƣợc “hoán cốt
đoạt thai” từ tiểu thuyết chƣơng hồi của Trung Quốc, tác giả Việt Nam vẫn có
những cố gắng sáng tạo riêng. Tuy nhiên đó khơng phải là những giá trị độc - sáng
mà là những cố gắng cá nhân để vƣợt lên khỏi khởi điểm vay mƣợn hay để tạo ra
những nét đẹp riêng biệt cho tác phẩm của mình. Xuất phát từ tác phẩm của Trung
Quốc, các tác phẩm diễn Nơm NĐM khơng chỉ có một mà là cả một hệ thống các
văn bản tác phẩm khác nhau với màu sắc khác nhau, thể loại khác nhau rất cần đƣợc
quan tâm nghiên cứu.
1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm diễn Nôm Nhị độ mai
1.2.1 Vấn đề nguồn gốc truyện thơ Nôm Nhị độ mai
Giao lƣu văn hóa là một hoạt động quan trọng trong quá trình vận động và phát
triển của bất cứ một nền văn hóa nào, ở bất kỳ thời đại nào. Với tính cách là một
thành tố của văn hóa, nền văn học của một dân tộc bất kỳ luôn tồn tại và phát triển dù
muốn hay không trong mối liên hệ giao lƣu với văn học các dân tộc khác. Nhìn vào
quá trình lịch sử văn học Việt Nam, ta dễ dàng nhận thấy những ảnh hƣởng sâu đậm
của văn học Trung Hoa. Ngoài những vay mƣợn về cảm hứng và hình thức diễn đạt,
một số lớn truyện Nơm cịn mƣợn cả truyện tích của văn chƣơng Trung Hoa. Khởi
đầu có các truyện Vương Tường, Tơ Cơng Phụng sử viết theo thể thơ Đƣờng luật, tiếp
đến các truyện Hoa Tiên, Lâm tuyền kì ngộ, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai tân truyện,
Ngọc Kiều Lê tân truyện, Đoạn trường tân thanh, Quân trung đối, Phù Dung, Nữ tú
tài,... viết theo thể lục bát.
Đối với truyện thơ Nôm NĐM, căn cứ vào câu 17 trong phần mở đầu:
“Truyện ngoài xem Nhị độ mai”, tất cả các nhà nghiên cứu văn học sử từ trƣớc tới

giờ đều cho rằng nguồn gốc của NĐM Việt Nam chính là cuốn NĐM Trung Hoa.
Học giả Trần Ích Nguyên trong chuyên luận Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn
Trung Việt đã nói rõ sự lƣu truyền và diễn biến của NĐM ở Trung Quốc: “Tiểu thuyết
Nhị độ mai có tên đầy đủ là Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai toàn truyện, gồm 6
quyển 40 hồi. Sách ghi Tích Âm đƣờng chủ nhân biên tập, Tú Hổ Đƣờng chủ nhân
10


bình duyệt, hoặc đề Thiên Hoa chủ nhân biên thứ. Thân phận tác giả khơng rõ, về
năm thành sách thì trƣớc đây phần nhiều cho là tác phẩm đầu đời Thanh. Nay có học
giả chủ trƣơng thành sách vào khoảng niên hiệu Càn Long (1748) đến năm thứ 35
niên hiệu Càn Long” [68, tr.284] . Bởi giá trị đặc sắc về luân lí, đạo đức, đặc biệt nhấn
mạnh trung, hiếu, tiết, nghĩa nên NĐM đã đƣợc các nhà viết kịch Trung Quốc cải biên
thành truyền kỳ, hý khúc và tác phẩm thuyết xƣớng. Cũng theo Trần Ích Nguyên,
truyện NĐM sau khi phát triển phồn vinh ở Trung Quốc thì bắt đầu đƣợc truyền bá
rộng rãi đến các nƣớc xung quanh ngồi Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.
Nhƣ vậy, theo Trần Ích Ngun thì NĐM Việt Nam bắt nguồn từ tiểu thuyết
NĐM của Trung Quốc. Vậy ở Trung Quốc ngoài tiểu thuyết Nhị độ mai cịn có tác
phẩm Nhị độ mai nào viết bằng các thể loại khác nữa hay khơng? Và các tác phẩm diễn
Nơm NĐM khác trong đó có cả các tác phẩm diễn xƣớng có phải bắt nguồn từ tiểu
thuyết NĐM hay là từ sự lan tỏa của NĐMDC thì chƣa có tác giả nào nói đến. Những
vấn đề này chúng tơi sẽ khảo chứng và tìm ra lời giải đáp trong các phần sau.
1.2.2 Công việc phiên âm và chú giải Nhị độ mai ở Việt Nam
a) Các khảo cứu thƣ mục học về Nhị độ mai
Về các văn bản NĐM bằng chữ Nơm, đã có một số cơng trình nhắc đến nhƣng
chƣa thực sự đầy đủ.
- Theo Thƣ viện Viễn Đông Bác Cổ, nay là Thƣ viện Khoa học Xã hội tại Hà
Nội có 2 bản: Nhị độ mai二度梅, Nhị độ mai truyện 二度梅傳.
- Theo cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (Nxb. KHXH, H,
1993) thì hiện có 4 bản diễn Nơm NĐM:

Nhị độ mai diễn ca 二度梅演歌 (cịn có tên Nhị độ mai nhuận chính 二 度
梅 潤 正; Mai Lương Ngọc 梅良玉): đây là bản hiện hành, gồm 2820 câu lục bát,
lâu nay đƣợc phổ biến rộng rãi. Độc giả ngày nay hầu nhƣ chỉ biết tới bản này. Nhị
độ mai diễn ca đƣợc đoán định ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX, bản Nôm in sớm
nhất hiện biết là vào năm 1876, tác phẩm đƣợc xếp loại truyện Nôm khuyết danh.
Nhị độ mai tinh tuyển 二度梅精選do Song Đông Ngâm Tuyết Đƣờng
雙東吟雪堂 soạn năm Đồng Khánh thứ 2 (1887). Đây là một bản diễn Nôm khác
11


bản Nhị độ mai diễn ca , ra đời sau Nhị độ mai diễn ca , dài hơn Nhị độ mai diễn ca .
Nhị độ mai tinh tuyển khác với Nhị độ mai diễn ca ở cả lời văn và cách chia hồi.
Nhị độ mai truyện 二度梅傳 (cịn có tên Cải dịch Nhị độ mai
truyện 改譯二度梅傳). Bản này do Thiện Đình Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng biên dịch,
Đặng Ngọc Toản bình điểm. Ở bản này, tác giả cho rằng Đặng Xuân Bảng không
dịch từ đầu mà cải dịch cũng theo thể lục bát từ đoạn mẹ con Ngọc Thƣ buông chài
vớt đƣợc Xuân Sinh cho đến hết.
Nhuận chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện 潤正忠孝節義二度 梅
傳. Quan Văn Đƣờng in năm Thành Thái Đinh Mùi (1907). 1 bản in, 190 trang, có
tranh minh họa, có chữ Hán.
- Tác giả Lê Trí Viễn, Hồng Ngọc Phách trong cuốn Nhị độ mai [98] bên
cạnh việc giới thiệu, chú thích cho văn bản đã đƣa ra những kết quả khảo luận về
các bản diễn Nôm Nhị độ mai. Các tác giả cho rằng, hiện nay, các bản Nôm diễn ca,
diễn dịch, cải dịch truyện Nhị độ mai có thể thấy có 3 bản: Nhị độ mai diễn ca, Nhị
độ mai tinh tuyển, Nhị độ mai truyện.
- Trong bộ sách đồ sộ Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, các tác giả khi
nhắc đến truyện thơ Nôm Việt Nam cũng đã nhắc đến 4 văn bản truyện thơ Nơm
NĐM cùng có nguồn gốc từ tiểu thuyết NĐM của Trung Quốc, đó là: Nhị Độ Mai
diễn ca, Nhị Độ Mai truyện, Nhị Độ Mai tinh tuyển, Nhuận chính trung hiếu tiết
nghĩa Nhị độ mai truyện.

- Học giả Trần Ích Nguyên trong chuyên luận Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn
Trung Việt cho rằng: “Ở Việt Nam, ngồi các tác phẩm truyện thơ Nơm là Nhị độ
mai diễn ca (cịn có tên là Nhị độ mai nhuận chính, Mai Lương Ngọc), Nhị độ mai
tinh tuyển, Nhị độ mai truyện (cịn có tên là Cải dịch Nhị độ mai truyện), Nhuận
chính trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai truyện” [68, tr.293-294], Trần Ích Nguyên
cho rằng cịn có một kịch bản NĐM của Việt Nam trực tiếp cải biên từ tiểu thuyết
NĐM của Trung Quốc, nhƣng hiện chỉ cịn hồi thứ nhất và ơng cũng khơng nêu rõ
tên tác phẩm.
- Trong luận văn thạc sĩ “越南二度梅研究” (Study of Vietnam “Er - Tou Mei ” – Nghiên cứu truyện “Nhị độ mai” của Việt Nam) [122] của Trang Thu Quân
12


莊秋君 tại Trƣờng Đại học Thành Công năm 2010, tác giả đã trình bày tồn bộ q
trình lƣu truyền truyện NĐM ở Trung Quốc và đã có những khảo sát thống kê các
tác phẩm Nôm và quốc ngữ NĐM ở Việt Nam. Tuy nhiên sự khảo sát và thống kê
còn sơ lƣợc và chƣa đầy đủ, chƣa đi sâu để đánh giá giá trị của các bản diễn Nôm
NĐM, chƣa thấy đƣợc sự phức tạp trong quá trình truyền bản của NĐM, khơng đƣa
ra đƣợc q trình truyền bản, khơng nói đƣợc bản nào là khắc in, sao chép từ bản
nào. Về mặt văn học, tác giả Trang Thu Quân cũng có sự so sánh lời văn và nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Nôm NĐM. Tuy nhiên, khi nói về NĐM
của Việt Nam, tác giả vẫn gọi là Truyện Nhị độ mai nói chung chứ chƣa phân biệt
rõ tên Nôm của tác phẩm cô dùng so sánh là NĐMDC. Sự so sánh giữa NĐM Trung
Quốc với NĐM Việt Nam là so sánh với bản Truyện NĐM bằng quốc ngữ mà thôi.
Phần phụ lục dịch lại bằng tiếng Trung Quốc toàn bộ 2819 câu trong bản Nhị độ
mai diễn ca (bản Quan Văn Đƣờng 1909).
- Tác giả Võ Thị Ngọc Thúy trong đề tài Khoa học cấp trƣờng năm 2016
“Vấn đề văn bản truyện Nhị độ mai” mã số T.16-XH-04 của Trƣờng Đại học Sƣ
Phạm Huế [92] đã tiến hành thống kê và phân loại các văn bản diễn Nôm NĐM và
so sánh giữa chúng. Tuy nhiên sự thống kê vẫn chƣa phong phú và đầy đủ. Tác giả
Võ Thị Ngọc Thúy chƣa đƣa ra đƣợc sơ đồ truyền bản cho q trình diễn Nơm

NĐM, chƣa làm sáng tỏ bản nào bắt nguồn từ bản nào, chƣa khảo sát kĩ và phần
biện luận về các văn bản còn nhiều điều chƣa thỏa đáng. Cả Võ Thị Ngọc Thúy,
Trang Thu Quân và các tác giả nói trên chƣa tác giả nào nhắc đến bộ tuồng chữ
Nôm đồ sộ gồm 6 hồi đƣợc lƣu truyền trong dân gian. Do vậy về hệ thống các văn
bản diễn Nơm NĐM cịn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ và Luận án sẽ tiếp tục giải quyết.
b) Các công bố phiên âm và chú giải văn bản
Truyện thơ Nôm NĐM với nội dung đề cao trung hiếu tiết nghĩa rất phù hợp
với tính cách, nguyện vọng của ngƣời Việt, lại đƣợc viết bằng thể thơ lục bát quen
thuộc của dân tộc nên nó đƣợc đông đảo ngƣời dân yêu mến và phổ biến rộng rãi.
Khơng chỉ bằng chữ Nơm, từ khi có chữ quốc ngữ, NĐM cũng đã đƣợc phiên ra
quốc ngữ để đông đảo ngƣời đọc đƣợc tiếp cận. Điều đó cho thấy sức lan tỏa mạnh

13


mẽ của NĐMDC và thấy đƣợc đời sống của văn bản trong xã hội Việt Nam khi đã
có chữ quốc ngữ thay Nôm.
Theo khảo sát của chúng tôi, Các bản NĐM bằng quốc ngữ gồm có:
(1) Bản Nhị độ mai vãn
Sách khổ 10×11 cm. Bìa trƣớc và bìa sau đều bị mất. Sách dày 103 trang, với 2902
câu thơ kể cả các câu thơ dịch.
(2) Bản Phúc Chí
Sách khổ 18×12,5 cm, khơng ghi năm xuất bản, nhà in Phúc Chí, 95 Hàng Bồ, Hà
Nội, gồm 96 trang truyện với 2937 câu thơ kể cả các câu thơ dịch.
(3) Bản Tân Việt
Sách khổ 22 ×13 cm, khơng ghi năm xuất bản. Bìa ngồi trên cùng có hàng chữ: Vơ
danh thị. Bên dƣới ghi tên sách Nhị độ mai cùng tên ngƣời đính chính và chú thích:
Thi Nham Đinh Gia Thuyết. Cuối trang ghi tên Nhà xuất bản Tân Việt. Bên trong
gồm 2816 câu thơ không kể các câu thơ dịch.
(4) Bản Quốc Hoa

Sách khổ 19,5 ×12 cm, khơng ghi năm xuất bản. Tổng phát hành: Nhà sách Nguyễn
Bá Châu, 92b Lê Lai, Sài Gịn. Bìa ngồi trên cùng là hàng chữ : truyện thơ. Tiếp
đến là tên sách: Nhị độ mai và lời ghi chú: Thiên tình sử bi tráng qua nhiều thế hệ.
Dƣới cùng là hàng chữ Quốc Hoa xuất bản. Bên trong có bài giới thiệu, lƣợc truyện
rồi mới đến truyện có chia đoạn và chú thích. Sách gồm 147 trang, 2816 câu không
kể các bài thơ.
(5) Bản Sách Đẹp
Sách khổ 11×8 cm, xuất bản năm 1958, Nhà xuất bản Sách Đẹp 149/3A Ngơ Tùng
Châu, Sài Gịn. Bên trong là truyện thơ có chia đoạn gồm 2960 câu với 128 trang.
Ngoài ra theo các tài liệu của Nha Văn khố và Thƣ viện Đơng Dƣơng, cịn có những
bản Nhị độ mai sau:
(6) Bản Văn Minh
Nhị độ mai (Les pruniers refleuris, poème). Nhà in Văn Minh, 1922, khổ 15 × 10
cm, 116 trang.
(7) Bản Kim Khuê
14


Nhị độ mai truyện (Les pruniers refleuris). Hà Nội, nhà in Kim Khuê, 1927, khổ 16
× 12 cm, 108 trang.
(8) Bản Trung Bắc Tân Văn (gồm 2 bản)
- Truyện Nhị độ mai (Les pruniers refleuris) – Hà Nội, nhà in Trung Bắc Tân Văn,
1927, khổ 16× 12 cm, 118 trang.
- Truyện Nhị độ mai – Hà Nội, nhà in Trung Bắc Tân Văn, 1929, khổ 15,5 × 12 cm,
118 trang, với 12 tranh khắc, ấn hành lần II.
(9) Bản Ngô Tử Hạ
Truyện Nhị độ mai dịch ra quốc ngữ - Hà Nội, nhà in Ngô Tử Hạ, 1934, khổ 16 ×
12 cm, 120 trang. Ấn hành lần V.
Ngoài ra, theo sự khảo sát của chúng tôi, Nhị độ mai quốc ngữ cịn có các bản:
(10)


Bản của Nhà xuất bản Phổ thơng

Nhị độ mai: cổ văn do Hoa Bằng hiệu đính, chú thích do Nhà xuất bản Phổ thơng in
năm 1964, khổ 19 × 12 cm, 116 trang.
(11) Bản của Nhà xuất bản Văn học
Nhị độ mai do Lê Trí Viễn – Hồng Ngọc Phách khảo luận, hiệu đính và chú thích
do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1972, gồm 232 trang, khổ 19 × 12 cm.
(12) Bản của Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Truyện Nhị độ mai do Nguyễn Thạch Giang hiệu đính do Nhà xuất bản Đại học và
Giáo dục chuyên nghiệp ấn hành năm 1988, khổ 19 × 12 cm, 174 trang.
(13) Bản của nhà xuất bản Giáo dục ấn hành 1964
Nhị độ mai do Đặng Thanh Lê – Phạm Luận giới thiệu và chú thích đƣợc nhà xuất
bản Giáo dục ấn hành năm 1964, khổ 19 × 12 cm, 78 trang.
Hiện nay, bản NĐM quốc ngữ phổ biến nhất là cuốn NĐM do Lê Trí Viễn –
Hồng Ngọc Phách khảo đính và giới thiệu. Tuy nhiên cuốn sách này cịn có nhiều
điểm cần bàn tới. Tác giả Nguyễn Quảng Tuân có bài viết: “Mấy nhận xét về việc
phiên âm và khảo đính Nhị độ mai” [89]. Trong bài viết này tác giải đã chỉ ra những
thiếu sót của hai nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn và Hồng Ngọc Phách trong việc khảo
dị NĐM. Đồng thời tác giả khẳng định rằng: “Cho tới nay, hầu hết các bản quốc ngữ
đều khơng có phần khảo dị và có thể nói là các bản quốc ngữ in ra về sau đều cứ
15


bản nọ sao chép lại của bản kia chứ không có đối chiếu với các bản Nơm để hiệu
đính… Chính vì lẽ đó mà các sai lầm càng trở thành phổ biến”2. Bài viết của Nguyễn
Quảng Tuân đã cho thấy sự cần thiết phải khảo dị văn bản truyện NĐM một cách
nghiêm túc, khoa học, chính xác. Vấn đề này sẽ đƣợc Luận án giải quyết triệt để.
Nhƣ vậy có thể nói, đời sống của NĐM từ khi đƣợc phiên ra quốc ngữ cũng
hết sức phong phú, đƣợc đông đảo ngƣời đọc ƣa chuộng. Ta có thể thấy đƣợc nhu

cầu tiếp nhận các tác phẩm Nôm trong xã hội là rất lớn. Nhƣng tất cả các bản NĐM
quốc ngữ mà chúng tôi giới thiệu ở trên đều phiên chú từ một bản Nôm là bản
NĐMDC. Tại sao trong rất nhiều tác phẩm diễn Nôm NĐM nhƣ vậy ngƣời ta lại
chọn NĐMDC để phiên ra quốc ngữ? Các bản diễn Nôm NĐM có giá trị nhƣ thế
nào? Trong những phần sau của Luận án sẽ góp phần trả lời những câu hỏi ấy.
1.2.3. Vấn đề tác giả và niên đại truyện thơ Nôm Nhị độ mai
Vấn đề tác giả truyện thơ Nôm NĐM
Tác giả của Cải dịch Nhị độ mai truyện (CDNĐMT) là Thiện Đình Tiến sĩ
Đặng Xn Bảng, điều đó đã rõ ràng. Tác giả của Nhị độ mai tinh tuyển (NĐMTT) là
Song Đông Ngâm Tuyết Đƣờng, đây chỉ là một thất danh nên những thông tin về tác giả
vẫn cịn bỏ ngỏ. Riêng với truyện thơ Nơm NĐMDC, do đã đƣợc phiên ra quốc ngữ và
giới thiệu đến đông đảo độc giả nên vấn đề tác giả của NĐMDC cũng có một số quan
niệm khác nhau.
Phần đa từ trƣớc đến nay mọi ngƣời đều coi NĐMDC cũng nhƣ nhiều tác
phẩm truyện thơ Nôm khác là tác phẩm khuyết danh. Nhƣng bên cạnh đó cũng có
một số suy đốn về tác giả truyện thơ Nơm này.
Theo Lê Trí Viễn – Hồng Ngọc Phách trong phần giới thiệu về truyện thơ
Nơm Nhị độ mai [98] thì cho rằng có ngƣời trƣớc Cách mạng Tháng Tám có đƣợc
xem một bản NĐM chữ Nơm có đề tên tác giả là Lý Văn Phức. Nội dung tƣ tƣởng
lẫn phƣơng pháp tả thực trong truyện thơ Nôm này cũng rất gần gũi với tƣ tƣởng
của ông. Lý Văn Phức viết rất nhiều thơ lục bát, các câu thơ lục bát của ông trong
Bất phong lưu truyện, bút pháp chải truốt, giản dị của ông trong Nhị thập tứ hiếu
Nguyễn Quảng Tuân, Mấy nhận xét về việc phiên âm và khảo đính Nhị độ mai, Tạp chí Hán Nơm,
số 2 năm 1996.
2

16


đều có gì giống với NĐM. Có nhiều chứng cớ để đoán định rằng NĐM ra đời vào

đầu đời Nguyễn và có thể là của Lý văn Phức. Tiếc rằng các tác giả chƣa tìm thêm
đƣợc hành tích của Lý Văn Phức để xem thử chỗ nào ghi chép về điều đó .
Tác giả Nguyễn Thị Ngân khi tìm hiểu những thi văn tập của Lý Văn Phức
viết trong các chuyến đi sứ, đã nhận ra khá nhiều chi tiết tƣơng đồng trong những
ghi chép này với 16 câu thơ miêu tả cảnh thành Dƣơng Châu trong NĐM và khẳng
định: “Lý Văn Phức và những tác phẩm của ông viết trong các chuyến công du hải
ngoại Đông Tây nhƣ Tây hành kiến văn kỷ lược, Tam chi Việt tạp thảo, hoặc nhƣ
Tây hành thi kỷ, Đơng hành thi thuyết, Kính hải tục ngâm,... có thể xem là những
bằng chứng cụ thể, sống động của bức tranh tả cảnh thành phố cảng Dƣơng Châu
Trung Quốc nổi tiếng phồn hoa trong truyện Nôm Việt Nam NĐMDC. Tuy chƣa
xác định đƣợc niên đại cụ thể, nhƣng chúng tơi đốn rằng tác phẩm ra đời vào trong
hoặc sau những năm Lý Văn Phức đi công cán ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Trung
Quốc 1831-1836” (Nguyễn Thị Ngân – Phụ lục nghiên cứu Mân hành thi thoại tập)
Ngoài ra, tác giả Trần Hải Yến và Nguyễn Thị Ngân trong đề mục về Lý Văn
Phức3 cũng khẳng định truyện thơ Nôm NĐM là của tác giả Lý Văn Phức. Nhƣng
ngƣời viết khơng cho biết đây có phải là truyện thơ Nôm NĐM mà bấy lâu nay nhiều
ngƣời cho rằng của một tác giả khuyết danh hay không. Ngƣời viết cũng không đƣa ra
chứng cớ nào để chứng minh Lý Văn Phức là tác giả của truyện thơ Nơm NĐM mà chỉ
chú thích là dẫn theo Lê Trí Viễn, Hoàng Ngọc Phách trong cuốn NĐM (NXB Văn
học, H. 1972) mà thơi.
Ngƣợc dịng thời gian, trong bài giới thiệu truyện thơ Nôm NĐM, tác giả ngƣời
Pháp A. Landes viết: “Truyện Nhị độ mai do một văn sĩ Bắc kỳ, tƣớc Bình chuẩn, cịn
sống cách đây ít năm sáng tác. Ngƣời ta nói ơng rất có tài văn chƣơng và thi đậu cử
nhân đồng thời với cha. Sau cùng ông giữ chức Đại lý thƣơng mại cho Hoàng đế Việt
Nam và đã đi Hƣơng Cảng để bán các cống vật cùng mua các hàng ngoại quốc trong
triều khơng có. Có lẽ ngƣời ta có thể tìm thấy ở Bắc Kỳ những yếu tố đầy đủ hơn về
tiểu sử của nhân vật đã không muốn ghi tên vào tác phẩm này” [125].
Bài viết in trong Danh nhân Hà Nội, do Vũ Khiêu làm Chủ biên, NXB Hà Nội, 2004,
(tr.531-540)
3


17


Tác giả Hoàng Xuân Hãn trong lời ghi chú ở sách Đại Nam quốc sử diễn ca
cũng viết: “Có phần chắc rằng Đặng Huy Trứ là diễn giả truyện Nhị độ mai, vì
Landes trong bài tựa bản dịch Nhị độ mai ra tiếng Pháp có nói rằng tác giả hình nhƣ
là ơng Bình Chuẩn” [25].
Điều đáng tiếc là cả A. Landes và Hồng Xn Hãn đã khơng đƣa ra bằng
chứng cụ thể nào để chứng minh cho ý kiến của mình. Tuy vậy, nếu ơng Bình Chuẩn
đó chỉ mới mất trƣớc khi A. Landes viết những dòng nhận xét kể trên ít năm thì lời
chứng của một ngƣời sống gần nhƣ cùng thời đó, khơng phải là khơng có giá trị.
Vấn đề niên đại truyện thơ Nôm NĐM
CDNĐMT do Đặng Xuân Bảng (1828-1910) biên soạn. Theo đó, có thể thấy
tác phẩm này ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. NĐMTT do Song Đông
Ngâm Tuyết Đƣờng soạn năm Đồng Khánh thứ 2, tức năm 1887.
Nhƣ vậy, có thể thấy niên đại ra đời của NĐMTT và CDNĐMT đã khá rõ
ràng, chỉ riêng NĐMDC vì vốn bị cho là vô danh nên niên đại cũng chƣa rõ. Cho
đến nay các nhà văn học sử Việt Nam chƣa tìm đƣợc chứng cứ nào rõ rệt để xác
định niên đại của tác phẩm này.
Bài tựa bản NĐM của nhà in Quốc Hoa cho rằng: “Truyện Nhị độ mai do
một tác giả vô danh viết vào khoảng 1782 – 1786, giữa lúc nƣớc Việt đang ở vào
thời kỳ điêu đứng, nƣớc bị cắt đôi. Ở xứ Bắc, chúa Trịnh lấn át quyền vua Lê, xây
dựng hoan lạc trên máu xƣơng đồng bào. Loạn kiêu binh khiến triều cƣơng đã lung
lay lại muốn sụp đổ. Tiếp đến Nguyễn Hữu Chỉnh rồi Võ Văn Nhậm nối tay nhau
làm mƣa làm gió khiến nhân dân xứ Bắc cực kỳ đồ thán” [111].
Sách Khởi thảo văn học sử Việt Nam do Thanh Lãng chủ biên, phần văn
chƣơng chữ Nơm có viết: “Nhị độ mai phải viết sau năm 1782 hay 1786 hai niên lịch
trong đó quân Tam phủ rấy loạn Đình Bảo và Nguyễn Huệ lấy Thăng Long” [43].
Sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (Quốc Học

Tùng Thƣ, 1965) [64] xếp NĐM vào các tác phẩm dài triều Nguyễn nhƣng lại
phỏng đoán truyện đã đƣợc viết vào thời Lê – Trịnh.
Theo tác giả Nguyễn Thạch Giang trong phần giới thiệu truyện thơ Nôm
NĐM: “Nhị độ mai ra đời vào nửa đầu thế kỷ XIX sau Truyện Kiều và trƣớc truyện
18


×