Tải bản đầy đủ (.docx) (35 trang)

Tiểu luận cao học: Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.02 MB, 35 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÀI TẬP CUỐI KÌ
HỌC PHẦN: GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH
QUỐC TẾ HỐ
Bài tập: Anh chị học được vấn đề gì khi học chuyên đề giáo dục
trong bối cảnh quốc tế hóa (Đổi mới; cải cách giáo dục; đổi mới
phương pháp, hình thức dạy học,…)? Liên hệ thực tiễn ở đơn vị anh,
chị đang công tác.

Giảng viên

: TS. Bùi Việt Phú

Học viên thực hiện

: Nguyễn Thị Dục

Lớp

: K43-Giáo dục học

Mã phách

: …………………………

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2022


Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Dục


Ngày sinh: 15/02/1991; Mã phách:…………….
Lớp/ngành: Cao học K43/ Giáo dục học

Khoa: Giáo dục Tiểu học

Học phần: Giáo dục trong bối cảnh quốc tế hố
Giảng viên phụ trách: TS Bùi Việt Phú
Học viên kí tên

Nguyễn Thị Dục

1


MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề
2. Bối cảnh quốc tế, Việt Nam và một số nội dung cơ bản về giáo
dục trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay
2.1. Bối cảnh quốc tế hiện nay
2.2. Bối cảnh Việt Nam hiện nay
2.3. Một số nội dung giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa
hiện nay
3. Tác động tích cực của quốc tế hóa (QTH) đối với giáo dục Việt
Nam
3.1. QTH kinh tế khiến cho tri thức sinh ra sự thay đổi mang tính bước
ngoặt.
3.2. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và giảng dạy
3.3. QTH kinh tế khiến giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội để cải
cách
3.4. Mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục trong QTH

4. Một số nội dung rút ra khi học chuyên đề giáo dục trong bối cảnh
quốc tế hóa
4.1. Những thách thức từ QTH đối với giáo dục Việt Nam
4.2. Về chính sách giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa
4.3. Q trình cải cách và phát triển giáo dục
4.4. Đổi mới một số nội dung trong giáo dục
4.5. Đổi mới một số phương pháp trong giáo dục
4.6. Một số nội dung tác động đến cải cách trong giáo dục
5. Liên hệ thực tiễn trong q trình cơng tác
6. Biện pháp cần thực hiện đối với giáo dục trong bối cảnh QTH
6.1. Thúc đẩy mạnh mẽ hội nhập hơn nữa
6.2. Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục của Việt Nam
6.3. Chuyển dịch mạnh mẽ ở các trường
6.4. Bản thân trên cương vị là giáo viên tiểu học đề
xuất một số nội dung sau:
7. Kết luận
Tài liệu tham khảo

2

2
2
2
3
4
6
7
8
8

9
10
10
12
13
14
16
17
19
24
24
25
26
27
32
33


1. Đặt vấn đề
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định “phát triển giáo dục đào tạo là quốc
sách hàng đầu”, “đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển”, theo đó, phải ưu tiên để
tạo dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Trong bối cảnh quốc tế hóa, sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự tác động sâu sắc của cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0, chủ trương này càng được quán triệt đầy đủ, để giáo dục và đào
tạo thực sự là địn bẩy của cơng cuộc cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước;
đồng thời là tiền đề quan trọng để tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, thúc
đẩy xã hội phát triển bền vững. Ở mỗi quốc gia, việc xác định, chỉ rõ quan điểm
giáo dục trong một giai đoạn cụ thể, thường thông qua hai phương thức sau:
tổng kết thực tiễn giáo dục và rút ra quan điểm giáo dục phù hợp với thực tiễn,

hoặc là trên cơ sở một nền giáo dục khoa học trên thế giới, rút ra quan điểm giáo
dục phù hợp với nước mình.
Thực tiễn cho thấy, cả hai phương thức này đều đã được lựa chọn, hoặc
có sự kết hợp bởi cả hai nhưng ở các mức độ khác nhau. Hội nghị lần thứ 8, Ban
chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế. Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình đổi mới tồn diện và hội nhập quốc
tế. Việc nghiên cứu các quan điểm, mơ hình giáo dục của các nước trên thế giới
để đưa ra những khuyến nghị cho giáo dục ở Việt Nam là cần thiết, góp phần
vào sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt
Nam.
2. Bối cảnh quốc tế, Việt Nam và một số nội dung cơ bản về giáo dục
trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay
2.1. Bối cảnh quốc tế hiện nay
Thế giới đã chuẩn bị đi hết thập niên thứ hai của thế kỉ XXI với những
diễn biến mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến sự phát triển KT-XH của Việt Nam
3


nói chung cũng như sự phát triển giáo dục đất nước nói riêng. Một số yếu tố
quan trọng có thể ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam có thể chỉ ra ở dưới đây:
- Trước hết, đó là q trình quốc tế hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra
rất mạnh mẽ. Sự tác động của quá trình quốc tế hóa địi hỏi các quốc gia phải
thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước mình. Bởi lẽ, muốn hội nhập quốc
tế sâu rộng, các quốc gia cần xây dựng nguồn nhân lực có tri thức, kĩ năng,
phẩm chất cần thiết. Do đó, quốc tế hóa trong giáo dục cũng là một thách thức
đối với mỗi quốc gia, địi hỏi cần có sự đổi mới căn bản và toàn diện.
- Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ
(Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) được dự báo sẽ làm thay đổi đến các mặt

của xã hội, trong đó có giáo dục. Do vậy, cuộc cách mạng này cũng sẽ thay đổi
cách thức lao động trong lĩnh vực giáo dục.
- Thứ ba, sự hình thành của nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức; trong đó,
tri thức có vai trị quyết định đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự hình
thành của nền kinh tế tri thức địi hỏi giáo dục phải vượt khỏi những khuôn khổ
truyền thống và khơng ngừng đổi mới, thích nghi.
2.2. Bối cảnh Việt Nam hiện nay
Nền giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, phát huy nhân tố con người nhằm thúc đẩy sự phát
triển của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, chất lượng,
hiệu quả GD-ĐT còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục; hệ
thống GD-ĐT thiếu liên thơng giữa các trình độ và giữa các phương thức GDĐT, cịn nặng lí thuyết, nhẹ thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu
khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú
trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng làm việc; phương
pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập cịn lạc hậu; quản lí
GD-ĐT cịn nhiều yếu kém; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập
về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới
và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp
[1].
4


Nghị quyết số 29-NQ/TW đã đưa ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp để định hướng phát triển giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa.
Một hệ thống giải pháp toàn diện và đồng bộ được đưa ra, gồm:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với đổi
mới GD-ĐT;
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD-ĐT
theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học;
- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi kiểm tra, đánh giá kết

quả GD-ĐT, đảm bảo trung thực, khách quan;
- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hệ thống giáo dục mở, học
tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập;
- Đổi mới căn bản cơng tác quản lí GD-ĐT, đảm bảo dân chủ, thống nhất,
tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD-ĐT; coi trọng quản lí
chất lượng;
- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, đáp ứng yêu cầu đổi mới
GD-ĐT;
- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp
của tồn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT;
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học công
nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lí;
- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GD-ĐT [1].
Đây là những định hướng lớn và đang được các cấp, các ngành triển khai
tích cực nhằm tạo nên những bước chuyển căn bản, toàn diện trong giáo dục
Việt Nam hiện nay.
2.3. Một số nội dung giáo dục trong bối ảnh quốc tế hóa hiện nay
Một là, định hướng chung về giáo dục và vị trí, vai trị của giáo dục hiện
nay
5


Trong quá trình đổi mới giáo dục cần thống nhất một số quan niệm, định
hướng về vị trí, vai trị của giáo dục:
- Giáo dục cần hướng tới phát triển tiềm năng của người học. Không chỉ
cung cấp tri thức, giáo dục cịn rèn luyện người học tồn diện cả về năng lực và
phẩm chất.
- Giáo dục cần có mơ hình định hướng nhân cách nhưng khơng giáo điều;
tơn trọng sự phát triển đa dạng của cá nhân, của từng nhân cách cụ thể.
- Phát huy tinh thần tự học, học gắn với hành, lí luận gắn với thực tiễn.

- Giáo dục cần thể hiện tinh thần tự do, dân chủ của xã hội, đặc biệt rèn
luyện và thực hành dân chủ trong giáo dục. Tinh thần tự do thể hiện trong sự
sáng tạo không ngừng của người dạy và người học trên cơ sở những tri thức
chung.
- Giáo dục là một q trình lâu dài, khơng chỉ giáo dục trong nhà trường
mà cịn ở xã hội, trong gia đình,… Do vậy, cần xây dựng xã hội tri thức, xã hội
học tập với phương châm học tập suốt đời.
- Cần kết hợp giữa dịch vụ và chính sách xã hội trong giáo dục, tránh tình
trạng thương mại hóa q mức giáo dục.
- Ở bậc đại học, cần kết hợp giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học để
nâng cao chất lượng đào tạo cũng như đảm bảo đúng chức năng của các trường
đại học, học viện.
- Tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục. Trong bối cảnh quốc tế hóa
đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc xây dựng nền giáo dục, hệ thống giáo
dục theo những tiêu chuẩn quốc tế sẽ góp phần tăng cường chất lượng nguồn
nhân lực, rút ngắn khoảng cách giữa nhân lực Việt Nam và nhân lực quốc tế.
Hai là, về mục tiêu giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa
- Tăng cường tiếp cận theo hướng xác định chuẩn đầu ra trong giáo dục,
nghĩa là hướng tới kết quả giáo dục tiệm cận với trình độ khu vực và thế giới.

6


Chú trọng thực học, chống bệnh thành tích trong giáo dục. Tăng cường khảo sát
nhu cầu thực tiễn đối với từng ngành học để xác định chuẩn đầu ra phù hợp.
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, cần căn cứ vào yêu cầu xã hội để xây
dựng mục tiêu đào tạo, từ đó xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp đào
tạo hợp lí. Điều này sẽ tạo ra sự gắn kết giữa giáo dục với thị trường, với yêu
cầu phát triển KT-XH của đất nước đáp ứng sự hội nhập giáo dục quốc tế.
Ba là, nội dung và phương pháp giáo dục, tổ chức và quản lí đào tạo

Trong quá trình giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng
tăng cường cả tri thức, kĩ năng và phẩm chất của người học đáp ứng sự hội nhập
quốc tế hiện nay.
Về nội dung, chương trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,
kết hợp giữa lí thuyết và ứng dụng, thực hành.
Về phương pháp, phương pháp giảng dạy tích cực, kết hợp với phương
tiện hiện đại nhằm nâng cao chất lượng bài giảng, tăng cường tính tích cực, chủ
động của người học. Dạy người học biết cách học, tự học, tự nghiên cứu. Tăng
cường tính sáng tạo, tinh thần say mê, hứng thú của người học.
Về quản lí q trình đào tạo, tiến hành chuyển đổi mạnh mẽ theo những
mơ hình quản lí đào tạo hiện đại trên thế giới.
Bốn là, về cơ chế quản lí giáo dục
Mỗi cơ sở giáo dục gắn với nhu cầu thị trường, tăng cường tính tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục. Cụ thể, tăng cường tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các cơ sở giáo dục. Tự chủ đại học là một hướng đi đúng và cần
đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới nhằm tạo cơ chế thúc đẩy sự phát triển và
hội nhập của giáo dục đại học. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục do các
có sở độc lập hoặc (kết hợp với) các cơ quan chuyên trách của nhà nước; Kết
hợp quản lí nhà nước song song với tăng cường tính tự chủ của các cơ sở giáo
dục, thể hiện ở trách nhiệm giải trình, ở kiểm định chất lượng, ở kết quả đào tạo
và khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội của giáo dục.
7


3. Tác động tích cực của quốc tế hóa (QTH) đối với giáo dục Việt
Nam
Kinh tế là một trong những lĩnh vực QTH sớm nhất. Trong lĩnh vực này,
chúng ta có thể nhìn thấy thành quả thực tế nhất của QTH, cũng có thể nhìn thấy
động lực trực tiếp nhất của QTH. Một trong những nhận thức quan trọng về
QTH là nhận thức mối quan hệ giữa QTH kinh tế và giáo dục. Dưới sự thúc đẩy

của QTH kinh tế, nền giáo dục của Việt Nam sẽ tiếp tục có những biến đổi sâu
sắc. Nó diễn ra trước hết trong sự biến đổi của thể chế giáo dục và sau là hệ
thống giáo dục. Đây là quá trình phủ định của phủ định trong sự phát triển, điều
này phù hợp với bản chất của giáo dục và tính logic bên trong nó.
3.1. QTH kinh tế khiến cho tri thức sinh ra sự thay đổi
mang tính bước ngoặt.
Tri thức được tạo ra đang từ quy mô nhỏ bước đến quy mô đa quốc gia, sự
di chuyển chất xám xuyên biên giới thơng qua sự hợp tác đa quốc gia. Chính
trong q trình này, hệ thống phân loại kiến thức và hệ thống khái niệm khoa
học sẽ phải hướng đến thống nhất với tồn cầu. Tài liệu học tập, giáo trình ở các
cấp học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam sẽ có xu hướng đạt đến sự thống
nhất với tồn cầu. Tiếng Anh cũng trở thành ngôn ngữ được sử dụng ngày càng
phổ biến trong các nhà trường ở Việt Nam, trở thành công cụ chung cho việc sản
sinh tri thức tồn cầu, các tạp chí học thuật xuất bản bằng tiếng Anh cũng chiếm
vị trí quan trọng trong đời sống khoa học ở Việt Nam.
Trong quá trình QTH, sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ở những
mức độ khác nhau thúc đẩy sự lan rộng của cuộc sống xã hội trong nguyên tắc
tự do thương mại. Giáo dục và tri thức của lồi người cũng khơng thể tránh khỏi
điều này. Chủ nghĩa tự do mới trong quá trình QTH (neo - liberelism) về bản
chất có mối quan hệ mật thiết với tư duy thị trường hóa. Nguyên tắc kinh tế, đặc
biệt là nguyên tắc của kinh tế thị trường đã trở thành nguyên tắc cơ bản diễn giải
các lĩnh vực khác nhau của xã hội con người. Khi đó, QTH kinh tế, thơng qua
QTH phân cơng lao động xã hội, QTH nguồn nhân lực, trở thành động lực mạnh
mẽ thúc đẩy giáo dục và tri thức phát triển, khiến cho giáo dục và tri thức cũng
8


được hòa nhập với quỹ đạo thị trường. Điều này sẽ tạo ra cơ hội cho sự hình
thành và phát triển thị trường giáo dục ở Việt Nam. Sự xuất hiện của các trường
học quốc tế (từ giáo dục phổ thông cho đến giáo dục đại học) sẽ tạo ra sự cạnh

tranh cần thiết, tạo cơ hội cho các trường học nội địa của Việt Nam thay đổi
mạnh mẽ. Mặt khác, sự xuất hiện của thị trường lao động chất lượng cao mang
tính quốc tế trong lĩnh vực giáo dục sẽ tạo nên những áp lực phải nâng cao năng
lực chuyên môn và ngoại ngữ đối với các nhà giáo nội địa, trong đó trước hết
diễn ra ở các thành phố lớn.

3.2. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Sự chuyển dần sang cung cấp tri thức theo nhu cầu của thị trường, công
việc và địa vị của người học cũng trở thành nhân tố quan trọng mà giáo dục
không thể không suy nghĩ đến.
Các trường đại học, cao đẳng, trong quá trình tìm kiếm người học, nguồn
quỹ nghiên cứu, sẽ dần dần trở thành một loại công ti giáo dục nhờ thông qua
việc cung cấp các dịch vụ tri thức và đào tạo kĩ năng. Điều này sẽ đưa đến quá
trình tái cấu trúc lại các trường đại học và định hướng giáo dục phổ thông ở Việt
Nam nhằm phục vụ nhu cầu của xã hội và nhu cầu đào tạo nhân lực cho sự phát
triển. Giống như ở Nhật Bản hiện nay, do kinh tế đòi hỏi sự phát triển nguồn
nhân lực để hỗ trợ sự cạnh tranh toàn cầu, đã tiếp sức cho các tranh luận về việc
đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa và những tranh cãi về việc suy giảm năng lực
khoa học. Điều này cũng đem lại các thay đổi trong việc chuyển các trường đại
học thành các Trung tâm chất lượng cao và chuyển các đại học quốc gia thành
các tập đồn quản trị độc lập. Cho nên khơng q khi nói rằng, thế kỉ XX trở
thành thế kỉ của vốn nhân lực (human capital) mà Mỹ là quốc gia dẫn đầu. Con
đường đi tới thành công cho quốc gia và cá nhân cuối cùng chính là sự đầu tư
vào vốn nhân lực. Trình độ giáo dục thấp sẽ ngăn cản một quốc gia tiếp cận
công nghệ và hưởng lợi đầy đủ từ nền kinh tế toàn cầu.
9


3.3. QTH kinh tế khiến giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội để cải cách
Khi kinh tế tri thức đã xuất hiện, tri thức trở thành “hàng hóa”. Điều này

cũng làm thay đổi thái độ của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục. Chính phủ có
thể sẽ cắt giảm được sự chi tiêu ngân sách cho giáo dục, để chuyển sang tìm
kiếm các nguồn vốn xã hội hóa để hỗ trợ việc mở rộng hệ thống giáo dục trong
tương lai.
Một mặt, do QTH thị trường lao động, sự đầu tư lớn của nhà nước cho
giáo dục sẽ phải đối mặt với nhiều bất ổn do cạnh tranh lao động toàn cầu. Mặt
khác, giáo dục trở thành một dịch vụ có thể mua bán và có thể mang lại một lợi
nhuận rất lớn, điều này khiến cho các nhà đầu tư có tiềm lực sẽ đầu tư vào dịch
vụ giáo dục, tạo thành động lực để đưa giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại
học được mở rộng ra thị trường quốc tế, nhất là ở các ngành học mang tính đặc
thù (giống như Mỹ, Anh, Úc.v.v.. đang làm). Vì vậy, chúng ta càng dễ ràng
nhận thấy, lĩnh vực giáo dục quốc dân của một quốc gia càng được xã hội hóa và
thị trường hóa mạnh mẽ sẽ càng tận dụng được các nguồn lực tài chính của xã
hội, đồng thời giảm chi tiêu ngân sách. Thậm chí hiện nay, một số nước phát
triển đã đưa ra chủ trương cải cách giáo dục từ việc cắt giảm vốn cho các lĩnh
vực giáo dục đại học và khuyến khích các trường cao đẳng và đại học khai thác
thị trường nước ngoài. Đối với một số quốc gia phương Tây, khi các trường đại
học thiếu đi năng lực khai thác thị trường trong nước, những trường này sẽ
hướng đến khai thác thị trường hải ngoại. Ông R. Levin, Chủ tịch Đại học Yale,
từng tự hào khi nói: Chúng tơi tự hào vì đã đào tạo khơng chỉ bốn trong sáu vị
Tổng thống vừa qua của Hoa Kì, mà cịn một vị Tổng thống Đức, hai Thủ tướng
Hàn Quốc và một Tổng thống Mexico. Chúng tôi muốn thấy con số này tăng
thêm
3.4. Mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục trong QTH
Bất luận là xem xét dưới góc độ nào, giống như việc QTH kinh tế trực
tiếp tác động đến chính trị các quốc gia.
Bản chất sự ra đời của hệ thống giáo dục quốc gia, ở một mức độ rất lớn, là
một sự kiện lịch sử mang tính chất chính trị. Giống như lời Andy Green, một học
10



giả người Anh từng nói: “Hệ thống giáo dục quốc gia ban đầu được sáng lập là
với tư cách một bộ phận của tiến trình hình thành quốc gia dân tộc hiện đại” [5;
131], “Nói một cách đơn giản, nó thiết lập hoặc cố gắng thiết lập bản sắc công
dân và ý thức quốc gia - hai điều này phối hợp lẫn nhau và liên hệ mật thiết với
quốc gia - Nó bồi dưỡng những con người sinh ra ở đó hoặc những người được
nhận ni theo quy định của pháp luật thành những công dân thực sự” [5; 134].
Trong quá trình QTH, đặc biệt là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, ý thức về một
trật tự thế giới trong phạm vi toàn cầu đang dần dần thấm sâu và ảnh hưởng đến
sự phát triển của giáo dục. Nó khiến cho ngày càng nhiều người đứng từ góc độ
của nhân loại chứ khơng phải đứng từ góc độ của quốc gia để xem xét vấn đề giáo
dục. Ảnh hưởng của UNESCO và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ
đến sự phát triển giáo dục thế giới càng ngày càng không thể xem nhẹ. Tất cả các
thay đổi này đều xuất phát từ những phương diện không giống nhau, ảnh hưởng
đến mối quan hệ giữa nhà nước và hệ thống giáo dục của các nước đó. Trong một
ý nghĩa nhất định, nó đã khiến giáo dục bắt buộc từ một loại nghĩa vụ của công
dân đối với quốc gia chuyển sang nghĩa vụ chung của xã hội đối với cá nhân, thúc
đẩy giáo dục quốc gia hướng đến các giá trị nhân loại. Những đề xuất về nhiệm
vụ của giáo dục mang tính chất tồn cầu như giáo dục hiểu biết quốc tế, giáo dục
môi trường và giáo dục hịa bình,. . . cũng u cầu giáo dục vừa phải phục vụ cho
quốc gia đồng thời cũng phải phục vụ cho sự phát triển của con người. Chức năng
chính trị truyền thống của hệ thống giáo dục quốc gia khơng hề mất đi, nhưng bên
cạnh đó là sự phát sinh thêm chức năng chính trị tồn cầu trên bình diện tồn
nhân loại.
4. Một số nội dung rút ra khi học chuyên đề giáo dục trong bối cảnh
quốc tế hóa
4.1. Những thách thức từ QTH đối với giáo dục Việt Nam
Trong bối cảnh QTH, giáo dục đặc biệt là giáo dục bậc cao đang có những
thay đổi sâu sắc. Các loại liên kết và giao lưu đa quốc gia đang ngày càng tác
động mạnh đến chức năng xã hội của văn hóa dân tộc trong lĩnh vực giáo dục.

Để đẩy mạnh hội nhập với thế giới, hiện nay ở nhiều quốc gia mà tiếng Anh
11


khơng phải ngơn ngữ chính trong đó có Việt Nam, tiếng Anh không chỉ được
dạy với tư cách là một mơn học, mà cịn là ngơn ngữ được sử dụng để truyền tải
kiến thức môn học cũng đang cạnh tranh gay gắt với ngôn ngữ dân tộc. Loại ý
thức thế giới này đang lặng lẽ đi vào các trường học và thách thức địa vị chủ đạo
của ý thức dân tộc. So với sự tương thích giữa văn hóa và tri thức, sự nghiệp
giáo dục đang đứng trước những thách thức rất lớn trong việc giải quyết mối
quan hệ giữa tính quốc tế và tính dân tộc.
Mặt khác, tính thị trường toàn cầu lại mang đến cho giáo dục và tri thức
tính đại chúng. Điều này đã khiến cho số lượng dễ khỏa lấp cho những hạn chế
về chất lượng, thậm chí có thể trở thành thước đo quan trọng nhất của giá trị sản
phẩm văn hóa, sự bán chạy dường như đã trở thành tiêu chuẩn cơ bản để đánh
giá sự thành bại của một tác phẩm. Việt Nam dường như cũng không ngoại lệ.
Sáng tạo kĩ thuật nhất định phải dựa vào thị trường để đưa ra giá trị của nó, nó
khơng giống như cơng cuộc sản xuất của loài người trong xã hội truyền thống
mà chuyển thành sự kết hợp đầu tư nguồn vốn, sau đó mới đi vào xã hội. Nghiên
cứu cơ bản phải nhằm mục đích đạt được sự kết hợp mật thiết giữa nguồn vốn
được tài trợ, tính giá trị và tính ứng dụng. Đối với Việt Nam, điều này tuy chưa
thể hiện một cách rõ rệt, nhưng tình hình như vậy đang tạo ra một thách thức
thực sự đối với nghiên cứu và truyền đạt tri thức ở đào tạo bậc cao.
Bên cạnh đó, chúng ta rất dễ để thấy rằng, trong quá trình QTH, tác dụng
của thị trường trong lĩnh vực giáo dục tại các quốc gia làm xuất hiện những mâu
thuẫn giữa quan điểm giáo dục vị kinh tế (chủ nghĩa kinh tế giáo dục) và quan
điểm giáo dục thuần túy. Khi giáo dục trở thành một loại hàng hóa dịch vụ có
thể mua bán được trên thị trường trong phạm vi tồn cầu, mục đích giáo dục đào
tạo con người sẽ bị thu hẹp lại, những người được giáo dục đào tạo cũng đang
trở thành một loại công cụ kinh tế (đặc biệt khi họ được các nhà sử dụng lao

động đặt hàng trực tiếp từ các cơ sở đào tạo). Cải cách giáo dục, ngoài mục tiêu
là sự phát triển con người, ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với hội nhập và
cạnh tranh quốc tế. Đây sẽ là một thách thức lớn đối với nền giáo dục của Việt
Nam vốn vẫn nặng tính bao cấp.
12


Cũng trong quá trình QTH, xung đột giữa chủ nghĩa tự do mới và chủ
nghĩa kinh tế giáo dục với sự đầu tư của nhà nước cho giáo dục cũng khiến cho
lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục bậc cao dẫn đến nhiều hệ lụy.
Một trong số những hệ lụy trực tiếp của nó là học phí của các trường đại học,
cao đẳng tăng lên theo từng năm. Đây là thách thức lớn cho thị trường giáo dục
Việt Nam, vì nhu cầu học tập thì lớn nhưng khả năng chi trả thì thấp. Những
năm gần đây, tại các nước phương Tây người ta bắt đầu thấy các sinh viên đại
học biểu tình để phản đối vấn đề tăng học phí và vấn nạn việc làm trong quá
trình QTH. Đây chỉ là một trong những mâu thuẫn xãhội được tạo ra do mâu
thuẫn nói trên trong QTH. Năm 2004 Liên hợp quốc đã đưa ra một nhận định về
thách thức của quốc tế hóa như sau: Nhà nước khơng cịn là phương diện duy
nhất cung cấp giáo dục bậc cao, giới học thuật cũng khơng cịn quyền quyết sách
lũng đoạn giáo dục. Những thách thức này không chỉ liên quan đến việc có được
cơ hội, sự bình đẳng, tài chính và vấn đề chất lượng của giáo dục bậc cao, mà
còn liên quan đến chủ quyền quốc gia, tính đa dạng văn hóa, đói nghèo và các
vấn đề phát triển bền vững [14; 5].
4.2. Về chính sách giáo dục trong bối cảnh quốc tế hóa
Trong thời đại của QTH, các chính sách giáo dục của các nước bên cạnh
việc phát huy nội lực, còn hướng tới kết hợp tiếp thu chính sách và kinh nghiệm
phát triển giáo dục của nước ngồi. Một mặt, chính sách giáo dục quốc gia
khơng chỉ nhằm mục đích phát triển trong nước và sự cạnh tranh giữa các quốc
gia mà còn phải đối diện với rất nhiều nhiệm vụ chung của toàn cầu. Một mặt
khác, chúng ta khơng thể khơng tính đến sự ảnh hưởng đến từ bối cảnh quốc tế

và các nước khác. Việt Nam cũng đang trong quá trình cải cách nền giáo dục,
những ảnh hưởng từ bên ngoài là không thể xem nhẹ, đặc biệt là những ảnh
hưởng từ UNESCO và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ xuyên
quốc gia .v.v.. Hoạt động của những tổ chức này trực tiếp ảnh hưởng đến các
hoạt động giáo dục mang tính chất tồn cầu, đặc biệt là một loạt các quan niệm
giáo dục mới của thời đại và ảnh hưởng của nó trong sự phát triển giáo dục ngày
càng lớn mạnh.
13


Những năm gần đây, một số hoạt động thực tế của UNESCO ở một mức
độ tương đối đã trở thành tổ chức đứng đầu trong việc phát triển giáo dục tồn
cầu. Những biến đổi này khơng chỉ làm tăng lên những thách thức của ý thức
công dân thế giới đối với ý thức công dân quốc gia trong lĩnh vực giáo dục, mà
trong một mức độ nhất định cũng hình thành nên thách thức đối với hệ thống
hành chính quốc gia. Năm 2004, một báo cáo về giáo dục của UNESCO cũng
cho rằng: Sự xuất hiện của giáo dục bậc cao thiết lập xuyên quốc gia và thương
mại giáo dục khiến cho giáo dục bắt đầu gắn với thị trường. Điều này có thể sẽ
ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực của nhà nước trong việc sử dụng chính
sách cơng để quản lí giáo dục bậc cao [14; 5]. Để đối mặt với những thách thức
này, những năm qua rất nhiều quốc gia đã đẩy mạnh cải cách giáo dục. Kinh
nghiệm của Mỹ cho thấy, từ những năm 90 của thế kỉ XX trở đi chính sách giáo
dục phân quyền đã khơng ngừng nâng cao vai trị chủ đạo của các bang trong
phát triển giáo dục. Nhà nước tăng cường quan tâm đến giáo dục nhưng khơng
có nghĩa là chống lại QTH, thúc đẩy q trình “quốc gia hóa”. Nhưng về tổng
thể mà nói, điều này chỉ là một phần trong tiến trình lịch sử QTH.
4.3. Quá trình cải cách và phát triển giáo dục
Trong quá trình này, trọng tâm của quan hệ chính trị quốc tế dần dần
chuyển hướng và mở rộng sang kinh tế và văn hóa, phá vỡ đi rào cản thương
mại và trở thành những chủ đề quan trọng trên các tọa đàm quốc tế.

Những xung đột về văn hóa trở thành một trong những tiêu điểm được
quan tâm bởi các chính trị gia và học giả quốc tế. Trong bối cảnh các công ti
xuyên quốc gia dựa vào các nguyên tắc tự do hóa thị trường không ngừng chinh
phục thế giới, các nước đang phát triển như Việt Nam, nếu không bắt kịp hoặc
không thúc đẩy việc phát triển của QTH giáo dục sẽ phải chịu những tổn thất về
kinh tế và văn hóa, mất cơ hội thu hẹp khoảng cách. Kinh nghiệm từ Nhật Bản,
Hàn Quốc và Singaore là những minh chứng đầy thuyết phục. Ví dụ như Nhật
Bản, quốc gia đang phải đối mặt với nhiều thách thức của QTH như: vấn đề già
hóa dân số và sự gia tăng số luợng cơng nhân tạm thời, làm việc bán thời gian
đến từ nước ngồi; sự phổ biến của chủ nghĩa ích kỉ và đa dạng cảm nhận về giá
14


trị Nhật Bản.v.v.. khiến cho các chính sách của Nhật Bản ngày càng coi trọng
vai trị của cơng chúng. Trong bối cảnh này, chính phủ Nhật Bản đặt ra yêu cầu
phát triển học sinh, sinh viên tài năng. Vòng quay kinh tế đòi hỏi sự phát triển
của nguồn nhân lực để hỗ trợ cho việc thích ứng và cạnh tranh toàn cầu. Và cuộc
cải cách giáo dục của Nhật Bản đã được xây dựng bắt đầu từ những thách thức
như vậy
Một thách thức nữa là QTH vẫn luôn tiềm ẩn một xu hướng nhất thể hóa
chính trị, trong đó giáo dục trở thành một trong những lực lượng cơ bản để thúc
đẩy q trình này. Sự nhất thể hóa này bước đầu có thể chỉ dừng lại ở những
nhận thức hoặc những cam kết chung về những giá trị quốc tế, giá trị toàn cầu
trong sự phát triển của các quốc gia để đảm bảo một sự phát triển bền vững.
Những năm gần đây, thông qua các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ,
những thành cơng của chủ đề môi trường khiến cho giáo dục môi trường trở
thành một bộ phận quan trọng tổ hợp nên chính trị chung tồn cầu. Trong bối
cảnh của chính trị thế giới sau chiến tranh lạnh, giáo dục hiểu biết quốc tế cũng
trở thành một trong những hành động chính trị chung toàn cầu của cộng đồng
quốc tế trong việc mưu cầu cho nền hịa bình nhân loại. Ngồi ra, tăng cường

chức năng giáo dục là một trong những giải pháp xóa đói giảm nghèo và cũng là
một biện pháp của chính trị chung toàn cầu. Cộng đồng quốc tế đã coi phổ cập
giáo dục và thực hiện phát triển giáo dục là một trong những con đường quan
trọng để xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, cùng với lí luận cơ bản về nhân
quyền của giáo dục, vấn đề phát triển giáo dục, xã hội hóa và quốc tế hóa giáo
dục cũng trở thành một vấn đề mang tính chất tồn cầu. Nó khiến cho giáo dục
tồn dân khơng chỉ là trách nhiệm của các chính phủ mà cịn trở thành lí luận
được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế. QTH chính trị cịn khiến cho chức năng
chính trị quốc tế và ý nghĩa sâu sắc của giáo dục xuyên quốc gia ngày càng được
thể hiện rõ ràng. Vì vậy, trong khi các tổ chức quốc tế coi tài trợ giáo dục xuyên
quốc gia là một bộ phận của chính trị chung tồn cầu và khơng ngừng đẩy mạnh,
và rất nhiều quốc gia xuất phát từ lợi ích chính trị quốc tế của bản thân cũng rất
nhiệt tình tham gia vào tài trợ giáo dục xuyên quốc gia. Ngược lại, cũng sẽ có
những quốc gia chống lại xu hướng này. Trong bối cảnh QTH như thế, đối với
15


Việt Nam, một quốc gia có thể chế chính trị đặc thù, những tác động này sẽ là
một thách thức không nhỏ cho mục tiêu giáo dục của quốc gia trên con đường
hội nhập. Nó địi hỏi giáo dục phải quan hệ mật thiết hơn với khơng chỉ chính trị
quốc gia (đường lối, chính sách) mà cịn với các mục tiêu tồn cầu (thơng qua
các thiết chế khu vực và toàn cầu).
4.4. Đổi mới một số nội dung trong giáo dục
4.4.1. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngành Giáo dục về thực hiện
chủ trương của Đảng đối với việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT.
Nâng cao chất lượng GD-ĐT là vai trò, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân, toàn xã hội là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị. Ưu tiên
đầu tư xây dựng trường lớp theo hướng đạt chuẩn quốc gia; giữ vững kết quả
phổ cập giáo dục đã đạt được. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu
trong việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch. Đồng thời, xác định rõ vai

trò, trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, của người học,
gia đình và xã hội trong thực hiện các nhiệm vụ và nội dung đổi mới GD-ĐT.
4.4.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục.
Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, đáp ứng yêu đổi mới GDĐT; thực hiện chuẩn hóa, đảm bảo đồng bộ về cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ
quản lí ở các trường học.
Đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quyết định sự thành công
của sự nghiệp đổi mới giáo dục. Vì vậy, cần chú trọng bồi dưỡng, tạo động lực
để giáo viên hăng say với nghề, có trí tuệ, tâm huyết; tạo điều kiện cho cán bộ
giáo viên được tham quan học tập mơ hình dạy học mới; tích cực xây dựng các
mơ hình dạy học điển hình tiên tiến, đổi mới phương pháp bồi dưỡng về năng
lực sư phạm cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, thay
sách giáo khoa mới. Đặc biệt, cần thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với
nhà giáo và cán bộ quản lí trên cả nước, đảm bảo quyền lợi cho cán bộ, công
chức viên chức,…
16


4.4.3. Đổi mới cơng tác quản lí
Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới quản lí giáo dục, bảo đảm tính dân
chủ, thống nhất, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, coi trọng quản lí chất
lượng, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục trong
quản lí, điều hành, thực hiện nhiệm vụ. Nâng cao năng lực quản lí ở cơ sở giáo
dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện về GD-ĐT.
4.4.5. Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng giáo dục “mở”, học tập
suốt đời và xây dựng xã hội học tập:
Tăng cường đầu tư, phát triển, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục để
xây dựng một hệ thống giáo dục mở, tạo điều kiện học tập cho mọi người. Đẩy
mạnh cơng tác xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để phát triển GDT: Tiếp tục huy động các nguồn lực, sự tham gia đóng góp của tồn xã hội để
đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở các trường đại học, học viện.
4.5. Đổi mới một số phương pháp trong giáo dục

Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo
các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công
nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ,
cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của
nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội.
Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo
hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực,
đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục và giáo
dục đại học.
Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục trên cơ sở
kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế
để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của
cơ sở đào tạo.
17


Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp sử
dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo. Đánh giá kết quả
đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi
mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học
và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với mơi trường
làm việc. Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học.
Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa
phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để
làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo.
Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Định kỳ kiểm định chất
lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả
kiểm định. Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo

đối với các cơ sở ngồi cơng lập, các cơ sở có yếu tố nước ngồi. Xây dựng
phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng.
Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú
trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng
cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Coi sự chấp nhận của
thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín,
chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng
phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo.
4.6. Một số nội dung tác động đến cải cách trong giáo dục
4.6.1. QTH là một cơ hội, mang tính tất yếu.
Trong bối cảnh đó, đặt vấn đề QTH và giáo dục cần phải tiếp cận dưới
góc độ biện chứng sâu sắc. QTH, kinh thế thị trường, công nghệ thông tin. . .
hay bất kì hiện tượng xã hội nào cũng đều mang tính hai mặt. Vấn đề nằm ở sự
khai thác và sử dụng của con người.
Trước hết, QTH mang lại cho giáo dục Việt Nam cơ hội để nhìn lại mình,
xem mình đang đứng ở đâu trong bức tranh giáo dục thế giới để từ đó cải cách
nền giáo dục cho phù hợp. Kinh nghiệm giáo dục của các nước tiên tiến sẽ giúp
18


chúng ta có thể phá vỡ những khn mẫu cũ, tìm kiếm triết lí giáo dục hiện đại –
cái mà giáo dục Việt Nam đang thiếu, các cách thức xây dựng chương trình, nội
dung sách giáo khoa, giáo trình và phương pháp dạy học. . . để góp phần hiện
đại hóa nền giáo dục Việt Nam.
4.6.2. QTH sẽ tạo ra một cơ hội cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư
giáo dục từ bên ngoài, tạo nên một sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo của các trường nội địa, công lập.
QTH sẽ đưa đến sự xuất hiện ngày một nhiều các trường đại học quốc tế,
nhất là việc mở các phân hiệu của những trường danh tiếng tại Việt Nam, bởi
Việt Nam với số lượng dân đang tiệm cận con một trăm triệu sẽ là một thị

trường rất hấp dẫn đối với các đại học nước ngoài đang muốn phát triển thị
trường hải ngoại. Tất cả sẽ góp phần tạo nên một thị trường giáo dục đầy hứa
hẹn cho Việt Nam, tạo nên một cú hích từ bên ngồi buộc hệ thống nhà trường
của Việt Nam phải chuyển mình mạnh mẽ.
4.6.3. QTH và chủ nghĩa tự do mới có thể sẽ có những tác động làm thay
đổi hệ thống giáo dục bậc cao của Việt Nam
Sự phát triển các trường đại học, cao đẳng. Việt Nam đang tìm cách hội
nhập tích cực vào nền kinh tế thế giới, nền kinh tế tri thức.
Việc tổ chức lại hệ thống giáo dục đại học được xem là phương tiện rất
quan trọng để đạt được sự hội nhập như thế. Tại Hội nghị giáo dục toàn cầu
2014, nhiều học giả đều có chung nhận định về tầm quan trọng của việc xây
dựng khung trình độ quốc gia đối với sự phát triển giáo dục hướng tới hội nhập
quốc tế. Cho đến nay đã có hơn 130 quốc gia xây dựng được khung trình độ
quốc gia. Vì vậy, đối với Việt Nam – nước đi sau trong việc xây dựng khung
trình độ quốc gia, sự hợp tác với các nước trong việc xây dựng khung trình độ
quốc gia là rất cần thiết, giúp cho giáo dục và đào tạo của Việt Nam hội nhập
với thế giới nhanh hơn, đáp ứng được yêu cầu mới của đất nước, của QTH thị
trường lao động trong việc đào tạo nguồn nhân lực. Bài học thành cơng của
Singapore chính là việc thực thi các chính sách giáo dục quốc gia theo tiêu
chuẩn toàn cầu.
19



×