ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỀ TÀI: SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA
VIỆT NAM VỚI HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA
SINGGAPORE VÀ NHẬT BẢN
(Bài tiểu luận kết thúc học phần)
k
Học phần
: Giáo dục học so sánh
Giảng viên phụ trách : TS. Nguyễn Hoàng Hải
Học viên
: Nguyễn Thị Dục
Mã học viên
: 3204121008
Mã phách
: …………………………
Đà Nẵng, tháng 02 năm 2022
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ DỤC
Ngày sinh: 15/02/1991;
Mã phách:…………….
Lớp/ngành: K43/Giáo dục học
Khoa: Giáo dục Tiểu học
Tên Tiểu luận: So sánh hệ thống giáo dục của Việt Nam với hệ thống giáo dục của
Singapore và Nhật Bản
Học phần: Giáo dục học so sánh
Giảng viên phụ trách: TS. Nguyễn Hoàng Hải
Học viên kí tên
Nguyễn Thị Dục
Trang 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................3
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................4
3. Phương pháp nghiên cứu................................................................................4
NỘI DUNG...........................................................................................................5
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA SINGAPORE VÀ HỆ
THỐNG GIÁO DỤC CỦA NHẬT BẢN...........................................................5
1.1. Hệ thống giáo dục.........................................................................................5
1.1.1. Khái niệm hệ thống giáo dục....................................................................5
1.1.2. Các tiêu chí so sánh hệ thống giáo dục của các nước.............................6
1.2. Hệ thống giáo dục của Singapore................................................................7
1.3. Hệ thống giáo dục của Nhật Bản.................................................................9
CHƯƠNG 2: SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM VỚI
HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA SINGAPORE VÀ NHẬT BẢN...................12
2.1. Hệ thống giáo dục của Việt Nam...............................................................12
2.2. So sánh Hệ thống giáo dục Việt Nam với Hệ thống Giáo dục Singapore..14
2.2.1. Những đặc điểm chung...........................................................................14
2.2.1.1. Về cấu trúc:........................................................................................15
2.2.1.2. Về loại hình trường:..........................................................................15
2.2.1.3. Về tiêu chí phân chia các bậc học, loại hình trường:......................16
2.2.1.4. Về hệ thống văn bằng- chứng chỉ:...................................................16
2.2.2. Những nét khác biệt................................................................................16
2.2.2.1. Về việc phân chia số năm học của các bậc học:..............................17
2.2.2.2. Về loại hình trường...........................................................................17
2.2.2.3. Về các văn bằng, chứng chỉ:.............................................................17
2.3. So sánh Hệ thống giáo dục Việt Nam với Hệ thống giáo dục Nhật Bản18
2.3.1. Những điểm chung..................................................................................18
Trang 2
2.3.1.1. Về cấu trúc:............................................................................................18
2.3.1.2. Về loại hình trường:..............................................................................18
2.3.1.3. Về tiêu chí phân chia các bậc học, loại hình trường:..........................18
2.3.1.4. Về hệ thống văn bằng- chứng chỉ:.......................................................18
2.3.2. Những nét khác biệt................................................................................19
2.3.2.1. Về việc phân chia số năm học của các bậc học:..................................19
2.3.2.2. Về loại hình trường...............................................................................21
2.4. Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc so sánh hệ thống giáo dục Việt Nam
với Singapore và Nhật Bản...............................................................................23
KẾT LUẬN........................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................26
Trang 3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của đời sống xã hội ở mỗi
quốc gia nói riêng và trên thế giới nói chung. Ngay từ thời sơ khai với sự hình
thành những người hay nhóm người và những cơ sở (nhà trường) chun làm
cơng tác giáo dục cho đến khi hình thành một hệ thống giáo dục đa dạng. Giáo
dục ở các quốc gia đều ln có mối quan hệ tác động qua lại với các điều kiện,
bối cảnh chung của các quốc gia nói riêng và trên tồn thế giới nói chung. Để
thích ứng với nhu cầu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
lịch sử cụ thể, hệ thống giáo dục ở các nước luôn vận động và phát triển cả về cơ
cấu hệ thống, loại hình trường, lớp, quy mơ đào tạo ở các bậc học, ngành đào
tạo. Từ đó hình thành những hệ thống giáo dục khác nhau ở các nước, có những
điểm tương đồng và khác biệt.
Hệ thống giáo dục các nước được hình thành và phát triển trước hết xuất
phát từ trình độ và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thông
qua quá trình tổ chức giáo dục - đào tạo bằng nhiều hình thức, nhiều loại hình
trường, hệ thống giáo dục góp phần mở mang dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài đáp ứng nhu cầu phát triển cùa xã hội. Mặt khác, trình độ và
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vừa tạo điều kiện, nguồn lực cho việc hình
thành và phát triển hệ thống giáo dục vừa là nhân tố thúc đẩy sự hình thành và
phát triển cùa các loại hình trường, lớp trong hệ thống giáo dục.
Trong quá trình phát triển của các nước, hệ thống giáo dục chịu sự tác
động qua lại của quá trình giao lưu hợp tác khoa học, văn hoá, giáo dục, kinh tế,
phát triển nhân lực giữa các quốc gia trong từng khu vực và toàn thế giới. Nhiềụ
mơ hình hệ thống giáo dục như mơ hình Anh, mơ hình Mỹ, mơ hình Liên xơ
(cũ)... cũng như nhiều loại hình, nhiều chuẩn mực trong giáo dục về trình độ, về
văn bằng chứng chỉ quốc tế đã chi phối và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống
giáo dục cùa các nước nói riêng và trong từng nhóm nước nói chung như nhóm
các nước ASEAN, NICs, Liên minh Châu Âu (EC), khu vực APEC v.v...
Trang 1
Hiện nay, Singpore là một trong những nước có trình độ phát triển KHCN cao trong khu vực ASIAN, còn Nhật Bản là một nước có trình độ KH-CN
có uy tín và mang tầm thế giới với chiến lược cơng nghiệp hóa hướng ra xuất
khẩu có hàm lượng chất xám cao. Ở Việt Nam, chưa lúc nào chất lượng giáo
dục lại được đặt ra như một nhu cầu bức thiết như hiện nay. Đổi mới là con
đường duy nhất để giáo dục phát triển và phát triển bền vững.
Vì vậy, việc so sánh thực trạng hệ thống giáo dục Việt Nam so với hệ
thống giáo dục của Singapore và Nhật Bản là các nước trong khu vực và Châu
Á, để từ đó đề xuất hướng phát triển hệ thống giáo dục Việt Nam cho phù hợp
với các quốc gia trong khu vực và thế giới là một việc làm rất cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu
So sánh hệ thống giáo dục của Việt Nam với hệ thống giáo dục của
Singapore và Nhật Bản giúp chúng ta có hiểu biết cụ thể hơn về hệ thống giáo
dục của mỗi nước, rút ra những điểm chung và khác biết giữa các hệ thống giáo
dục với nhau. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm phát triển, cải tiến
hoặc cải cách giáo dục trong nước đạt hiệu quả giáo dục cao.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp phân loại lí thuyết
Thu thập sách, báo, các tư liệu có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích,
tổng hợp, hệ thống hố, khái qt hóa các nguồn thơng tin có liên quan đến hệ
thống giáo dục của Việt Nam, Singapore và Nhật Bản để giải quyết những mục
đích trên.
Trang 2
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA SINGAPORE VÀ HỆ
THỐNG GIÁO DỤC CỦA NHẬT BẢN
1.1. Hệ thống giáo dục
1.1.1. Khái niệm hệ thống giáo dục
Như đã trình bày ở trên, giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của
đời sống xã hội ở mỗi quốc gia nói riêng và trên thế giới nói chung. Hệ thống
giáo dục các nước được hình thành và phát triển trước hết xuất phát từ trình độ
và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Thông qua quá trình tổ
chức giáo dục - đào tạo bằng nhiều hình thức, nhiều loại hình trường, hệ thống
giáo dục góp phần mở mang dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài đáp ứng nhu cầu phát triển cùa xã hội. Mặt khác, trình độ và nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội vừa tạo điều kiện, nguồn lực cho việc hình thành và phát
triển hệ thống giáo dục vừa là nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển cùa
các loại hình trường, lớp trong hệ thống giáo dục.
Trong quá trình phát triển của các nước, hệ thống giáo dục chịu sự tác
động qua lại của quá trình giao lưu hợp tác khoa học, văn hoá, giáo dục, kinh tế,
phát triển nhân lực giữa các quốc gia trong từng khu vực và toàn thế giới. Nhiềụ
mơ hình hệ thống giáo dục cũng như nhiều loại hình, nhiều chuẩn mực trong
giáo dục về trình độ, về văn bằng chứng chỉ quốc tế đã chi phối và có ảnh hưởng
sâu sắc đến hệ thống giáo dục cùa các nước nói riêng và trong từng nhóm nước
nói chung.
Trong quá trình phát triển của các nước, hệ thống giáo dục chịu sự tác
động qua lại của quá trình giao lưu hợp tác khoa học, văn hoá, giáo dục, kinh tế,
phát triển nhân lực giữa các quốc gia trong từng khu vực và toàn thế giới. Hoạt
động giáo dục mang tính phổ quát cao, đặc biệt là trong xu thế tồn cầu hố hiện
nay, nhưng đồng thời nền giáo dục và hệ thống giáo dục của các nước luôn luôn
mang dấu ấn đặc trưng về truyền thống lịch sử, văn hố, trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi nước. Chính vì vậy mơ hình cấu trúc hệ thống giáo dục các
Trang 3
nước rất đa dạng. Bên cạnh những nét chung, hệ thống giáo dục mỗi nước đều
có những nét đặc thù riêng.
Hệ thống giáo dục các nước trên thế giới vừa là sản phẩm của q trình
phát triển chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá của mỗi nước trong mối quan hệ,
giao lưu hợp tác quốc tế, vừa là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy và phát
triển đời sống xã hội và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
1.1.2. Các tiêu chí so sánh hệ thống giáo dục của các nước
Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội, truyền thống văn hố của mỗi
nước, trình độ phát triển mà hệ thống giáo dục của mỗi nước có cấu trúc và
nhiều loại hình khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống giáo dục các nước
đều có các đặc điểm chung về hệ thống giáo dục (cấu trúc, loại hình trường, văn
bằng,…).
Vì vậy, khi nghiên cứu vào hệ thống giáo dục ở các nước cần phân tích
làm rõ đặc trưng của mỗi nước về hệ thống giáo dục (cấu trúc, loại hình trường,
văn bằng,…). Trên cơ sở đó, đối chiếu để chỉ ra những điểm giống nhau, khác
nhau trong hệ thống giáo dục các nước.
Các tiêu chí cụ thể:
Tiêu chí 1: Về cấu trúc
Tiêu chí 2: Về loại hình trường
Tiêu chí 3: Về tiêu chí phân chia các bậc học, loại hình trường
Tiêu chí 4: Về hệ thống văn bằng – chứng chỉ
1.2. Hệ thống giáo dục của Singapore
Singapore: Cộng hòa Singapore nằm ở cực nam bán đảo Malắcca - điểm
trọng yếu chiến lược trên con đường giao lưu buôn bán bằng đường biển giữa
Đơng và Tây có diện tích 647,5 km2, dân số 4 triệu người (2000). Dân cư
Singapore chủ yếu là người Hoa (78%); người Malai 14%; Ấn Độ 7%. Ngôn
ngữ phổ thông là tiếng Malai, song tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng trong giao
tiếp xã hội, trong quản lý, thương mại.
Hệ thống giáo dục Singapore được phát triển từ lâu đời theo mơ hình các
nước phương Tây (chủ yếu là Anh). Ngay từ năm 1868 hệ thống giáo dục học
Trang 4
đường theo kiểu Anh đã được hình thành ở Singapore và sang đầu thế kỷ XX
các loại hình trường trung cấp, cao đẳng được phát triển tạo ra những thuận lợi
cho việc truyền bá kiến thức khoa học phương Tây tại Singapore. Singapore là
nước duy nhất trong ASEAN đã hoàn thành phổ cập trung học và có tỷ lệ sinh
viên ĐH/CĐ cao nhất khu vực.
Hệ thống giáo dục Singapore gồm có giáo dục tiểu học 6 năm bắt đầu từ
6 tuổi được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn cơ bản 4 năm (lớp 1-4) và giai đoạn
định hướng 2 năm (lớp 5-6). Sau tiểu học, học sinh được phân theo 2 luồng
chính. Luồng trung học phổ thơng bình thường (hướng hàn lâm hoặc kỹ thuật)
và luồng trung học đặc biệt, cấp tốc. Học sinh tốt nghiệp luồng phổ thông bình
thường chủ yếu vào các trường cao đẳng giáo dục kỹ thuật hoặc đi làm sau khi
có chứng chỉ bậc N (GCE). Học sinh tốt nghiệp luồng trung học đặc biệt hoặc
cấp tốc chủ yếu vào các trường cao đẳng, đại học, kỹ thuật tổng hợp sau khi có
các chứng chỉ bậc O, A và các khóa dự bị đại học. Các văn bằng chứng chỉ này
theo tiêu chuẩn Anh. Hệ thống giáo dục Singapore có tính phân luồng sớm (sau
tiểu học) và tính định hướng phân hóa mạnh ở các bậc trung học và đại học. Các
loại hình đào tạo công nghệ - kỹ thuật được phát triển mạnh hình thành một hệ
thống đào tạo sau trung học với nhiều loại hình trường đa dạng. Singapore chỉ
có 2 trường đại học là đại học quốc gia Singapore và Đại học Cơng nghệ
Nanyang. Đây là những trường đại học có trình độ đào tạo cao, có uy tín với hệ
thống văn bằng có thể so sánh tương đương với hệ thống vãn bằng của các
trường đại học Anh và Mỹ.
Trang 5
Đến cuối lớp 6, các em mới phải qua kỳ thi hoàn tất Tiểu học (Primary
School Leaving Examination – PSLE).
Các trường THCS tại Singapore được nhà nước tài trợ, trợ giúp hoặc có
thể hoạt động độc lập. Ở bậc học này các học sinh sẽ học từ 4 – 5 năm dưới các
hệ:
Hệ đặc biệt (Special) Cấp tốc (Express) Hoặc hệ bình thường (Normal).
- Hệ đặc biệt và cấp tốc học sinh sẽ trong 4 năm. Nhằm chuẩn bị cho các
em thi lấy bằng GCE ‘O’. (Singapore – Cambridge General Certificate of
Education ‘Ordinary’).
- Học sinh theo học hệ bình thường có thể học chương trình văn hóa hay
chun ngành kỹ thuật. Tùy theo năng lực của từng học sinh.
Trang 6
Sau khi học sinh hồn tất bậc học THCS có bằng O Level. Học sinh có
thể học tiếp lên để lấy bằng A Level Hoặc nộp hồ sơ vào các trường Cao đẳng
Công lập Hoặc học lấy bằng Diploma rồi lên đại học ở các trường Học viện tư.
Hệ thống bằng cấp của các trường đào tạo tại Singapore được đánh giá có
chất lượng cao và được thế giới cơng nhận.Có sự phân chia rõ ràng và quy định
nghiêm ngặt về cả hệ thống giáo dục công lập và tư thục.
1.3. Hệ thống giáo dục của Nhật Bản
Nhật Bản là một nước nằm ở khu vực Đông Bắc Á với diện tích 378.000
km2, dân số 126,9 triệu người (năm 2000). Nói đến Nhật Bản là nói đến sự phát
triển kinh tế thần kỳ trong suốt 4 thập kỷ vừa qua.
Ngay từ năm 1871 Nhật Bản đã thành lập Bộ giáo dục với khẩu hiệu
Fukoku Kyohei. "Đất nước phồn vinh, quân sự hùng cường" và thành lập hệ
thống giáo dục mới phá bỏ hệ thống giáo dục cũ bất bình đẳng giữa các tầng lớp
thường dân và tầng lớp trên "Samurai". Đối với trường tiểu học bắt buộc thì sự
"bình đẳng" là nguyên tắc tối cao nhưng đối với trường sơ trung và cao trung thì
nguyên tắc tài năng là cao nhất.
Hệ thống giáo dục của Nhật Bản có cấu trúc 6.3.3-4 gồm: bậc tiểu học (6
năm); bậc trung học cơ sở (3 năm); bậc trung học hoàn chỉnh (3 năm). Tuổi đến
trường tiểu học của trẻ em là 6 tuổi và tuổi học hết trung học hoàn chỉnh là 18
tuổi. Nhật Bản đã hoàn thành phổ cập THCS từ năm 1980 và hiện nay đang tiến
hành phổ cập giáo dục phổ thông 12 năm. Hệ thống giáo dục đại học Nhật bản
gồm: cao đẳng kỹ thuật - học 2 năm sau khi học xong phổ thông trung học (lớp
12); cao đẳng công nghệ 5 năm tuyển sinh học sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở.
Đào tạo trong 2 năm nếu tuyển sinh tốt nghiệp THPT; trường đại học 4 năm và
các loại hình đào tạo sau đại học: thạc sĩ, tiến sĩ; các khoá đào tạo cập nhật sau
cao đẳng và đại học chuẩn bị vào học các chương trình đào tạo đại học hoặc thạc
sĩ. Hệ thống trường cao đẳng công nghệ được thành lập từ năm 1962, học tập
trung 5 năm liền, cung cấp cho học sinh đã tốt nghiệp bậc THCS những kiến
thức và kỹ năng tối thiểu để có thể đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc
canh tân công nghệ hiện đại.
Trang 7
Tổ chức hệ thống giáo dục ở Nhật Bản
Hệ thống giáo dục của Nhật bản gồm 7 cấp:
1. Mẫu giáo (“yochien” = ấu trĩ viên, 3-6 tuổi)
2. Tiểu học (“shogaku” = tiểu học, 6-12 tuổi) : 6 năm
3. Trung học: Ðệ nhất cấp (“chugaku” = trung học, 12-15 tuổi): 3 năm
Ðệ nhị cấp (“koto” = cao đẳng, 15-18 tuổi): 3 năm
4. Hệ thống giáo dục sau trung học: trường các sự hay chuyên môn
(“senmon gakko”).
5. Ðại học (“daigaku” = đại học): 4 năm
6. Cao học (“shushi” = tu sĩ): 2 năm
7. Tiến sĩ (“hakase” = bác sĩ): 3 năm
Các loại hình trường học tại Nhật Bản
Trang 8
Loại trường
Thời gian học
Mẫu giáo
1 đến 3 năm
Tiểu học
6 năm
Trung học cơ sở
3 năm
Trung học phổ thông
3 năm
Cao đẳng
2 năm hoặc 3 năm
Cao đẳng kỹ thuật
từ 5 năm đến 5.5 năm
Đại học ngắn hạn
2 năm
Đại học chính quy
4 năm
Trường dạy nghề
1 năm trở lên
Trường trung cấp
1 năm trở lên
Trang 9
CHƯƠNG 2: SO SÁNH HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM VỚI
HỆ THỐNG GIÁO DỤC CỦA SINGAPORE VÀ NHẬT BẢN
2.1. Hệ thống giáo dục của Việt Nam
Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay được hình thành trên cơ sở Nghị
định 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ về “Qui định cơ cấu khung của hệ
thống giáo dục quốc dân, hệ thống vãn bằng, chứng chỉ về giáo dục đào tạo của
nước CHXHCN Việt Nam” và các điều khoản về hệ thống giáo dục của Luật
Giáo dục 1998. Theo qui định tại Chương II Luật Giáo dục 1998 hệ thống giáo
dục quốc dân Việt Nam bao gồm 4 loại hình giáo dục: Giáo dục mầm non thực
hiện việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi; Giáo dục
phổ thông: bao gồm các bậc, cấp học sau: Giáo dục tiểu học với 5 năm bắt buộc
từ 6-11 tuổi; Giáo dục THCS 4 năm từ 11-15 tuổi; Giáo dục THPT 3 năm từ 1518 tuổi; Giáo dục nghề nghiệp bao gồm 2 loại: Trung học chuyên nghiệp từ 2- 4
năm; Dạy nghề từ 1-3 nãm; Đào tạo nghề 1 năm; Giáo dục đại học và sau đại
học bao gồm: Cao đẳng 3 năm; Đại học 4-6 năm; Sau đại học gồm Đào tạo thạc
sĩ 2 năm; Đào tạo tiến sĩ 2-3 năm. Song song với hệ thống giáo dục chính qui là
loại giáo dục khơng chính qui bao gồm nhiều chương trinh đào tạo từ chương
trình xố mù chữ, bồi dưỡng cập nhật nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng
thường xuyên đến các chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo
dục quốc dân theo hình thức vừa học, vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn.
Về loại hình trường có các loại hình trường cơng lập và ngồi cơng lập như dân
lập, tư thục, bán công ở các bậc mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và
đại học. Trong hệ thống giáo dục Việt Nam cịn có các cơ sở đào tạo trẻ thiểu
năng, giáo dục chuyên biệt cho người tàn tật, các cơ sở giáo dưỡng cho nhiều
đối tượng khác nhau.
Trang 10
Tổ chức hệ thống giáo dục ở Việt Nam
Khung trình độ quốc gia được ban hành theo quyết định 1982/QĐ-TTg.
Văn bản quy định 8 bậc trình độ quốc gia: Sơ cấp I, Sơ cấp II, Sơ cấp III, Trung
cấp, Cao đẳng, Đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ. Chuẩn đầu ra và khối lượng học tập
tối thiểu được quy định cho từng bậc đào tạo. Người học hồn thành chương
trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của chuẩn đầu ra đối với từng bậc học thì được
cấp “chứng chỉ” đối với 3 bậc đầu tiên, và “bằng tốt nghiệp” đối với bậc 4, các
“bằng cao đẳng”, “bằng đại học”, “bằng thạc sĩ”, “bằng tiến sĩ” tương ứng đối
với 4 bậc cuối.
Trang 11
2.2. So sánh Hệ thống giáo dục Việt Nam với Hệ thống Giáo dục Singapore
Bảng so sánh hệ thống giáo dục của Việt Nam và Singapore
2.2.1. Những đặc điểm chung
Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội, truyền thống văn hố của mỗi
nước, trình độ phát triển mà hệ thống giáo dục của mỗi nước có cấu trúc và
Trang 12
nhiều loại hình khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống giáo dục của Việt
Nam, Singapore và Nhật Bản đều có các đặc điểm chung sau đây:
2.2.1.1. Về cấu trúc:
Nói chung hệ thống giáo dục của Việt Nam và Singapore đều có 4 bậc cơ
bản: (i) trước tuổi học hoặc mầm non/ Mẫu giáo (Kindergarten); (ii) tiểu học
(Primary level); (iii) trung học (Secondary level); (iv) đại học (Higher
Education). Đây là 4 bậc cơ bản được hình thành trên cơ sở phân chia về độ tuổi
và đặc trưng về mục tiêu và nội dung giáo dục ở các bậc. Nếu như bậc mầm non
đặc trưng cho lứa tuổi ấu thơ (0-5 tuổi) địi hỏi sự chăm sóc, ni dưỡng và giáo
dục đặc biệt của gia đình, nhà trường và xã hội thì bậc tiểu học đặc trưng cho
lứa tuổi thiếu niên cung cấp một trình độ học vấn tối thiểu, cơ bản cho mọi
người trong đời sống xã hội. Đây là bậc phổ cập đầu tiên về giáo dục ở tất cả các
nước. Bậc trung học tương ứng với giai đoạn lứa tuổi vị thành niên (12-18 tuổi)
và là bậc học đưa đến cho người học nền học vấn phổ thông hồn chỉnh (trung
học phổ thơng) hoặc học vấn phổ thơng cơ bản (trung học cơ sở). Đây là bậc bản
lề tạo cơ sở để người học có định hướng phân luồng vào bậc cao hơn (sau trung
học hoặc đại học) và tham gia thị trường lao động. Với đặc trưng này, bậc trung
học là bậc học có nhiều loại hình trường, nhiều loại hình đào tạo nhất trong hệ
thống giáo dục cả hai nước. Bậc đại học là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo
dục của Việt Nam và Singapore, tương ứng với lứa tuổi thanh niên (18-25). Đây
là bậc học trang bị cho người học nền học vấn cao theo nhiều lĩnh vực khoa học
và công nghệ với nhiều loại hình đào tạo chuyên gia cao cấp ở nhiều trình độ
cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ v.v...
Cả Việt Nam và Singapore đều bắt đầu bậc Tiểu học từ 6 tuổi và kết thúc
bậc Trung học phổ thơng ở 18 tuổi. Cả hai nước đều có bậc Trung học cơ sở kéo
dài 4 năm, Thạc sĩ 2 năm và Tiến sĩ 3 năm.
2.2.1.2. Về loại hình trường:
Trong hệ thống giáo dục của Việt Nam và Singapore đều có loại hình
trường chủ yếu sau: trường mẫu giáo; trường tiểu học; trường trung học; trường
cao đẳng hoặc đại học; các loại hình trường chuyên biệt (năng khiếu hoặc tàn
Trang 13
tật); các loại hình trường hỗn hợp.
Ngồi ra để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học sau bậc phổ cập tối
thiểu hay bắt buộc, hệ thống giáo dục của Việt Nam, Singapore đều có nhiều
loại hình trường đa dạng, đặc biệt là sau bậc trung học cơ sở và sau trung học
phổ thơng. Các loại hình trường sau THCS hoặc THPT đều có xu hướng phân
thành 2 luồng chính: luồng hàn lâm (ACADEMIC) phát triển theo hướng học
lên đại học khoa học công nghệ và luồng nghề (PROFESSICAN) phát triển theo
hướng đào tạo kỹ thuật - nghề nghiệp ở nhiều trình độ trung học hoặc cao đẳng,
đại học.
2.2.1.3. Về tiêu chí phân chia các bậc học, loại hình trường:
Phần lớn các nước trên thế giới phân chia các bậc học, loại hình trường
theo ba tiêu chí chủ yếu: độ tuổi, số năm học và đặc trưng về đào tạo (mục tiêu,
nội dung, hình thức chứng chỉ văn bằng...). Tổng số năm học liên tục từ tiểu học
lên đại học và sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) khoảng 23-25 năm với độ tuổi từ 6
đến 29 tuổi.
2.2.1.4. Về hệ thống văn bằng- chứng chỉ:
Các văn bằng-chứng chỉ được cấp cho người học tương ứng với loại hình
và trình độ được đào tạo. Các văn bằng (Diploma hoặc Degree) được cấp cho
các loại hình đào tạo cơ bản ở các bậc học tiểu học, trung học và đại học (bao
gồm cả sau đại học). Hệ thống chứng chỉ (Certificate) được cấp cho các khóa
đào tạo chuyên biệt, ngắn hạn hoặc theo những nội dung, mục tiêu hẹp, hạn chế.
Nếu như các văn bằng phản ánh thứ bậc chung của trình độ giáo dục - học vấn
thì hệ thống các chứng chỉ phản ánh trình độ và năng lực chuyên sâu hẹp hoặc
có mức độ theo một lĩnh vực nào đó.
2.2.2. Những nét khác biệt
Do chịu sự chi phối của các đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hoá truyền
thống, trình độ phát triển khoa học-cơng nghệ... mà hệ thống giáo dục của Việt
Nam và Singapore đều có những đặc điểm riêng, đặc thù ở nhiều khía cạnh về
cấu trúc và loại hình trường, loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục.
Trang 14
2.2.2.1. Về việc phân chia số năm học của các bậc học:
Mặc dù có sự thống nhất cơ bản về các bậc học trong hệ thống giáo dục
các nước theo 4 bậc chính là trước tuổi học, tiểu học, trung học và đại học song
sự phân chia các bậc học theo độ tuổi, số năm học và tên gọi lại rất khác nhau.
Singapore chia bậc tiểu học thành 2 giai đoạn cơ bản 4 năm và giai đoạn định
hướng 2 năm để đáp ứng yêu cầu phân luồng ngay sau bậc tiểu học còn Việt
Nam bậc Tiểu học kéo dài 5 năm; Bậc trung học phổ thông ở Việt Nam kéo dài
3 năm còn Singapore chỉ 2 năm; Bậc đại học ở Việt Nam kéo dài 4 năm còn
Sinapore chỉ 3 năm. Nhìn chung, lộ trình học của Sinapore khi học sinh học
xong Đại học – Thạc sĩ – Tiến sĩ hoàn thành trước 1 năm so với số năm học ở
Việt Nam.
2.2.2.2. Về loại hình trường
Hệ thống giáo dục của Singapore đã hình thành các loại hình trường sau
trung học được cấu thành như một phân hệ của bậc giáo dục đại học với nhiều
loại hình trường sau trung học (Post-Secondary Education) như trường cao
đẳng, các cơ sở giáo dục kỹ thuật, kỹ thuật tổng hợp v.v... Việc hình thành loại
hình sau trung học phản ánh trình độ phổ cập cao và nhu cầu đào tạo nhân lực
kỹ thuật có trình độ cao đẳng của Singapore - một nước có trình độ phát triển
kinh tế - xã hội và khoa học - công nghệ cao ở khu vực ASEAN.
2.2.2.3. Về các văn bằng, chứng chỉ:
Ngoài hệ thống giáo dục chính qui theo bậc học và loại hình đào tạo cơ
bản từ tiểu học đến đại học, trong hệ thống giáo dục của Singapore có sự khác
biệt ở bậc Trung học với hệ cấp tốc 4 năm và hệ bình thường xong 4 năm sẽ
tham gia kỳ thi GCE ‘N’ Level để học tiếp Secondary 5 trong 1 năm.
Hệ thống giáo dục Singapore đưa hệ thống văn bằng chứng chỉ tương ứng
với các bậc, cấp đào tạo trong hệ thống giáo dục cùng với các kì thi: Kỳ thi cuối
cấp 1 PSLE, Kì thi GCE’N’ Level, Kỳ thi GCE ‘O’ Level, Kỳ thi GCE ‘A’
Level. Còn ở Việt Nam, bậc Tiểu học xét hồn thành chương trình, khơng tổ
chức kỳ thi, Bậc Trung học cơ sở tổ chức thi và được cấp bằng Tốt nghiệp
Trung học cơ sở, Bậc Trung học phổ thơng thi kì thi Trung học phổ thơng quốc
Trang 15
gia để xét tốt nghiệp trung học phổ thông và tham gia dự tuyển vảo bậc Đại học,
bậc Cao đẳng và Trung cấp,…
2.3. So sánh Hệ thống giáo dục Việt Nam với Hệ thống giáo dục Nhật Bản
2.3.1. Những điểm chung
2.3.1.1. Về cấu trúc:
Nói chung hệ thống giáo dục của Việt Nam và Nhật Bản cũng giống
Singapore đều có 4 bậc cơ bản: (i) trước tuổi học hoặc mầm non/ Mẫu giáo
(Kindergarten); (ii) tiểu học (Primary level); (iii) trung học (Secondary level);
(iv) đại học (Higher Education). Đây là 4 bậc cơ bản được hình thành trên cơ sở
phân chia về độ tuổi và đặc trưng về mục tiêu và nội dung giáo dục ở các bậc.
Cả Việt Nam và Singapore đều bắt đầu bậc Tiểu học từ 6 tuổi và kết thúc
bậc Trung học phổ thông ở 18 tuổi.
2.3.1.2. Về loại hình trường:
Trong hệ thống giáo dục của Việt Nam và Nhật Bản đều có loại hình
trường chủ yếu sau: trường mẫu giáo; trường tiểu học; trường trung học; trường
cao đẳng hoặc đại học; các loại hình trường chuyên biệt (năng khiếu hoặc tàn
tật); các loại hình trường hỗn hợp.
2.3.1.3. Về tiêu chí phân chia các bậc học, loại hình trường:
Cả Việt Nam và Nhật Bản đều phân chia các bậc học, loại hình trường
theo ba tiêu chí chủ yếu: độ tuổi, số năm học và đặc trưng về đào tạo (mục tiêu,
nội dung, hình thức chứng chỉ văn bằng...). Tổng số năm học liên tục từ tiểu học
lên đại học và sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) khoảng 23-25 năm với độ tuổi từ 6
đến 29 tuổi. Cả hai nước đều có các cấp học là mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại
học và sau đại học.
2.3.1.4. Về hệ thống văn bằng- chứng chỉ:
Việt Nam và Nhật Bản có hệ thống văn bằng, chứng chỉ giống nhau. Kết
thúc mỗi cấp học, hoc sinh thi tốt nghiệp và được cấp bằng tốt nghiệp.
Trang 16