Tải bản đầy đủ (.docx) (23 trang)

Tiểu luận cao học GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU DỰA VÀO CÁC QUAN ĐIỂM CỦA TỨ THỤ TAM PHI BẤT – TỨ TÔN – NGŨ QUY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (385.52 KB, 23 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------

BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU
DỰA VÀO CÁC QUAN ĐIỂM CỦA
TỨ THỤ - TAM PHI BẤT – TỨ TÔN – NGŨ QUY

GVHD

: PGS.TS Đặng Quốc Bảo

SVTH

: Nguyễn Thị Dục

Lớp

: K43-GDH

Đà Nẵng, tháng 2/2022
Vấn đề 1: Các thông điệp trong Tứ Thụ - Tam Phi Bất – Tứ Tôn – Ngũ Quy


Trả lời:
Giảo dục được hiểu theo phân nghĩa: “giáo” có nghĩa là dạy, “dục” có
nghĩa là ni. Dạy mà khơng ni thì uổng phí - Ni mà khơng dạy là điều
nguy hiểm. Vì vậy, giáo dục có vai trị rất quan trọng trong quá trình trưởng
thành của một người và cả trong xây dựng và phát triển đất nước.
Nói đến giáo dục, không thể không nhắc đến các vị thầy đã mang đến cho


đất nước ta và cả nhân loại những nhận thức mới, những triết lí giáo dục có giá
trị đến tận ngày này. Trong đó phải kể đến các tên tuổi lớn để lại những minh
triết như: Quản Trọng với Tứ Thụ, Khổng Tử với Tam Phi Bất, Hồng giáp
Nguyễn Khắc Niêm với Tứ Tơn, Nguyễn Thị Ngọc Diễm & Bảng nhãn Lê Quý
Đôn với Ngũ Quy.
1. Quản Trọng và luận điểm Tứ Thụ
Quản Trọng (725 TCN - 645 TCN), họ Cơ, tộc Quản, tên thực Di Ngô, tự
là Trọng, thụy hiệu là Kính, đương thời hay gọi Quản Tử. Ơng là một chính trị
gia, nhà qn sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu. chính trị gia nổi
tiếng thời Xuân Thu, phụ tá Tề Hoàn Cơng thay đổi chế độ thuế khố, phân khu
vực hành chính nước Tề thành 25 hương, làm cho tổ chức quân sự và tổ chức
hương dân kết hợp nhất trí, lại thực thi một số biện pháp làm cho nước giàu binh
mạnh, kết quả nước Tề mạnh lên, thành chư hầu xưng Bá đầu tiên. Về sau, xuất
hiện bộ sách Quản Tử, tương truyền do Quản Trọng làm ra. Trong đó có Tứ
Thụ:
“Nhất niên thụ cốc
Thập niên thụ mộc
Bách niên thụ nhân
Thiên niên thụ đức”
Có nghĩa là:
Tính kế một năm trồng lúa,
Tính kế mười năm trồng cây,
Tính kế trăm năm trồng người,
Tính kế nghìn năm trồng phúc đức.


Câu nói này đã được chủ tịch Hồ Chí Minh viết gọn vào ngày 13 tháng 9
năm 1958 tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III tồn miền Bắc.
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người.”

Sau khi nêu ra lời dạy trên, Bác cịn có lời dạy thiết tha sau:
"Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước
nhà mong mọi người phải cố gắng làm trịn nhiệm vụ" (Tồn tập, tập 9, tr 222).
2. Khổng Tử và luận điểm Tam phi bất
Khổng Tử Khổng Tử (Khổng Phu Tử) được hậu thế tơn kính gọi là Khổng
Khâu hay Khổng Khưu. Tự là Trọng Ni, Ông sinh ngày 28/9 năm 551 TCN mất
vào khoảng ngày 11/4 năm 479 TCN. Những thụy hiệu được truy phong là: Bao
thành tuyên Ni công, Văn Tuyên vương, Đại thánh Văn Tuyên vương, Chí thánh
tiên sư, Đại thành chí thánh Văn Tuyên vương Thánh sư. Khổng Tử sống ở thời
nhà Chu, một thời kỳ của những cuộc xung đột chính trị - xã hội, cịn được gọi
là thời chiến quốc. Ông được coi là vạn thế sư biểu – người thầy của muôn đời
với nhiều bài học vơ giá. Trong đó có luận đề Tam phi bất.
Nhân hữu tam ân tình
Khả sự như nhất:
“Phi phụ bất sinh
Phi sư bất thành
Phi quân bất vinh”
Có nghĩa là:
Con người ta có ba ân tình, phải coi trọng như nhau:
Khơng có cha làm sao sinh ra được,
Khơng có Thày làm sao thành đạt được,
Khơng có một vi vua sáng/ Người thủ trưởng tốt làm sao hiển vinh được
Được thể hiện qua câu chuyện người Trò cứu người gần nhất khi đắm
thuyền, được Thần nhân khen là thông minh và nhân văn cho nên cứu cả VuaThầy-Cha và người học Trò.


3. Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm và luận điểm Tứ Tơn
Hồng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) là một đại thần triều
Nguyễn, ngun Tham tri Bộ Hình, Phủ dỗn Thừa Thiên, Quyền Tổng
đốc Thanh Hóa. Ơng sinh năm 1889 tại làng Gơi Vị, nay là xã Sơn Hịa, huyện

Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1906, ông thi đậu cử nhân, trường thi Nghệ An.
Năm 1907, ông thi đậu đệ nhị giáp tiến sĩ (Hồng giáp), khoa thi đình Đinh Mùi,
tại Huế, lúc đó ơng 18 tuổi. Khi thi đỗ đại khoa, ông được cùng các vị tiến sĩ
đồng khoa triều kiến vua Thành Thái. Nhà vua đề nghị mỗi vị hãy góp kế sách
để phục hưng quốc gia, Nguyễn Khắc Niêm đã hiến kế qua 16 chữ gọi là Tứ
Tôn:
“Tôn tộc đại quy
Tơn lộc đại nguy
Tơn nịnh đại suy”
Có nghĩa là:
Tơn trọng dân tộc mình, dịng tộc mình đem lại sự đồn kết,
Tơn trọng bổng lộc thì đó là mầm mống của nguy cơ
Tôn trọng bậc hiền tài, đất nước sẽ hưng thịnh
Tơn trọng bọn xiểm nịnh thì đất nước sẽ suy vong
4. Nguyễn Thị Ngọc Diễm (Vương Phi của Chúa Trịnh) & Bảng nhãn
Lê Quý Đôn và luận điểm Ngũ Quy
Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm có tên húy là Nguyễn Thị Khương, q ở làng
Linh Đường, huyện Thanh Trì, phía Nam kinh thành Thăng Long. Ngôi làng
xưa thuộc xã Linh Đàm, sau đổi thành xã Hồng Liệt, huyện Thanh Trì, trong
gia đình co cha là Nguyễn Luân (1686 – 1739), tên tự là Đình Anh hay Đình Tư.
Nguyễn Đình Tư sinh được 6 người con, 3 trai 3 gái thì con trai đều được phong
làm Quận công, con gái đều làm phu nhân đại thần. Cha bà thấy Trịnh Doanh
thông minh, chăm học, trầm tĩnh và có chí khí, rất nhiều triển vọng lên ngôi
chúa thay cho người anh trai hoang dâm tửu sắc Trịnh Giang, nên đã tiến cung
con gái mình. Từ đó bà trở thành Thứ phi của chúa Trịnh Doanh và được ban
mỹ hiệu là Hoa Dung.


Lê Quý Đôn (1726 - 1784) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn
Nam, nay là thôn Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ơng là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến
sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721) và làm quan trải đến chức Hình
bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Thuở nhỏ, Lê Q Đơn là người ham học,
thơng minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5
tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học "khắp
kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử". Năm Kỷ Mùi, ông theo cha
lên học ở kinh đô Thăng Long. Năm 1743 (Quý Hợi, đời vua Lê Hiển Tông),
ông dự thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) lúc 18 tuổi. Sau khi đỗ Giải ngun
năm 1743, vì khơng muốn trùng tên với Nguyễn Danh Phương (1690 - 1751),
một thủ lĩnh nơng dân đang nổi lên chống triều đình, nên ông đã đổi tên là Lê
Quý Đôn.
Ở thế kỷ XVIII, bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm và Bảng nhãn Lê Quý Đôn là
đồng tác giả dâng Khải lên chúa Trịnh Sâm nêu chính sách phát triển đất nước,
gồm năm điều (luận điểm Ngũ Quy):
“Quy nông tất ổn
Quy công tất phú
Quy thương tất hoạt
Quy trí tất hưng
Quy pháp tất bình”
Có nghĩa là:
Lo lắng cho nông nghiệp/Quy, đất nước ổn định
Lo lắng cho cơng nghiệp, đất nước giàu có
Lo lắng cho thương nghiệp, đất nước năng động
Lo lắng cho Văn hóa giáo dục, đất nước hưng thịnh
Hoàn hiện được luật pháp, đất nước thanh bình.


Vấn đề 2: Những thông điệp liên quan nhiều đến phát triển giáo dục
Trả lời:
Tất cả 16 tư duy từ Tứ Thụ, Tam phi bất, Tứ tôn và Ngũ Quy đều thể hiện

những triết lí giáo dục quý giá. Trong đó có 4 thơng điệp liên quan nhiều nhất
đến phát triển giáo dục là:
Tứ Thụ có: “Bách niên thụ nhân”
Tam Phi Bất có: “Phi sư bất thành”
Tứ Tơn có: “Tơn tài đại thịnh”
Ngũ Quy có: “Quy trí tất hưng”
Bốn mệnh đề trên là bốn trụ cột cho sự phát triển bền vững quốc gia.
Chúng tạo nên tứ giác đều ABCD. Giáo dục nằm ở tâm tứ giác đều ABCD, nó
vừa là nhân tố mục tiêu để thực hiện các mệnh đề A, B, C, D; vừa thụ hưởng
thành quả hoạt động của các lĩnh vực trên.
Bố trí trên một mặt phẳng ta có hình sau:
A

Bách niên thụ nhân (A)
Phi sư bất thành

(B)

P
B
Tơn tài đại thịnh
(C)
h
Quy trí tất hưng
(D)
át
trD
(A) Bách niên
i thụ nhân: “Bách niên” có nghĩa là trăm năm, “Thụ” là
ể “Nhân” là người. Cả câu “Bách niên thụ nhân” có nghĩa là

trồng, là ni dưỡng;
n
C

tính kế trăm năm trồng người, phát triển con người. Vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người. Tức là vì lợi ích lâu dài của đất nước, cần phải chú trọng đầu tư
giáo dục con người cả về tài và đức. Với mỗi quốc gia, con người, vốn con
người chính là nhân tố quan trọng nhất. Vốn con người tạo ra phần lớn các
nguồn lực khác. Trong khi hầu hết các nguồn lực khác đang cạn kiệt thì nguồn
lực con người càng khai thác thì càng có khả năng tái sinh. Khi nguồn lực con
người được phát huy thì nó sẽ biết khai thác, sử dụng và quản lý một cách hiệu
quả nhất các nguồn lực khác. Từ đó đặt ra yêu cầu chúng ta phải đáp ứng tốt


mục tiêu trồng người – phát triển con người. Muốn “Trồng người” thì phải có
giáo dục mới làm được, giáo dục chính là then chốt.
(B) Phi sư bất thành: “Phi” là không; “Sư” là thầy, là người dạy dỗ, chỉ
bảo; “Bất” là khơng có, khơng thể; “Thành” là đạt được, trọn vẹn, hồn chỉnh,
đạt được. Cả câu có nghĩa là khơng có thầy làm sao thành đạt được. Tức là
muốn “trồng” được người thì phải có người thầy, có nhân tố giáo viên. Người
giáo viên đủ tâm và tầm để đào tạo con người. “Phi sư bất thành” ngày nay
không chỉ có ý nghĩa cho mỗi cá nhân, nó cịn có ý nghĩa cho số phận cộng đồng
và dân tộc.
Theo thơng điệp thì con người ta phải nhớ đến ân tình của ba ngơi "Qn
- Sư - Phụ " (Vua - Thầy - Cha ). Dựa vào ý tưởng này và đặt trong bối cảnh
mới, Hồ Chí Minh truyền cảm hứng cho ngành giáo dục :
"Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia
đình và ngồi xã hội thì kết quả cũng khơng hồn tồn" (Tồn tập, tập 8 tr 394).
Hồ Chí Minh cịn xây dựng các phạm trù "Gia đình học hiệu", "tiểu giáo
viên", Người dạy: ngày nay xã hội ta mọi gia đình là trường học, mỗi người

công dân là một thầy giáo cho thế hệ trẻ (Toàn tập, tập 5, tr 67).
(C) Tôn tài đại thịnh: Tôn trọng bậc hiền tài, đất nước sẽ hưng thịnh.
Tức là trong việc dạy học, luôn tìm được nhân tài cho đất nước. Đó chính là
nhân tố giúp đất nước sẽ ngày càng hưng thịnh. Câu “Tôn tài đại thịnh” trước
hết khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia, là việc đem lại
hưng thịnh cho đất nước vì “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Ngun khí mạnh
thì thế nước cường. Ngun khí suy thì thế nước yếu”. Đó là một chân lý vĩnh
hằng. Thủ tướng Phạm Minh chính cũng có lời dạy về “Học thật – thi thật –
nhân tài thật”
(D) Quy trí tất hưng: Lo lắng cho Văn hóa giáo dục, đất nước hưng
thịnh.
Trên đây chính là 4 luận đề then chốt mà đất nước ta đang áp dụng với
định hướng Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trong đời sống xã hội, giáo dục và
đào tạo là lĩnh vực có vai trị quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi


thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục - đào tạo được xem
là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên
thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ.


Vấn đề 3: Bình luận về chủ đề: Giáo dục là Quốc sách hàng đầu dựa vào
các quan điểm của Tứ Thụ - Tam Phi Bất – Tứ Tôn – Ngũ Quy
Trả lời:
1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu
Trong bất kì thời đại nào, giáo dục ln giữ vai trò tối quan trọng. Tri
thức đã trở thành thước đo sự phát triển và dự báo tương lai cho mỗi quốc gia.
Đối với một dân tộc có truyền thống hiếu học như Việt Nam thì đây vừa là cơ
hội giúp chúng ta nâng cao vị thế quốc gia, lại vừa là thách thức lớn đối với vận
mệnh toàn dân tộc. Với tầm nhìn chiến lược sắc bén, ngay từ Hội nghị Trung

ương Đảng lần thứ hai khóa VIII (tháng 12 năm 1996), Đảng ta đã khẳng định:
“Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo
dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng
kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển.
Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt là
chính sách đầu tư và chính sách tiền lương. Có các giải pháp mạnh mẽ để phát
triển giáo dục”. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, giáo dục là sự nghiệp
của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, mục tiêu của giáo dục là nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển giáo dục gắn với nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh.
Luật Giáo dục (Dự thảo 27/09/2018) cũng đã xác định “Phát triển giáo dục
là quốc sách hàng đầu” nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”. Từ định vị này có thể nhận thức trong tổng lộ tuyến của đổi
mới: Phạm trù giáo dục đồng nghĩa với phạm trù phát triển; Chính sách giáo dục
là chính sách quốc gia bao quát ba lĩnh vực Dân trí – Nhân lực – Nhân tài; Phát
triển giáo dục gắn với phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, cơng nghệ, an
ninh chính trị,…, là tâm điểm của Kinh tế, Xã hội, Văn hố, Chính trị.
2. Giáo dục là Quốc sách hàng đầu dựa vào quan điểm Tứ Thụ
Trong quan điểm Tứ Thụ, Quản Trọng đã nhấn mạnh: “Bách niên thụ
nhân” có nghĩa là Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Thật vậy, Giáo
dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi


nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Việt Nam là một đất nước
luôn coi trọng việc học, giáo dục con người. Điều đó thể hiện trong chiều dài
lịch sử dân tộc. Từ các quan điểm giáo dục của chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nối
cho đến nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện việc coi trọng giáo dục - “Giáo dục là
Quốc sách hàng đầu” với nhiều quan điểm, chỉ đạo, nổi bật như:
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành cơng, Hồ Chí Minh quan

niệm: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” (ngày 03/9/1945), “Dốt thì dại, dại
thì hèn. Vì khơng chịu dại, chịu hèn cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong
những việc cấp bách và quan trọng” (1955), “Ra sức chống giặc dốt cho dân tộc
Việt Nam trở thành dân tộc thông thái”, VN chống nạn thất học (1946), NXB
Giáo dục HN 1980, tr 55), “Dân cường thì quốc thịnh” (1946), “Dân mạnh nước
giàu” (1946), "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì
phải trồng người" (câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân Hội nghị cán bộ giáo
dục toàn quốc ngày 13.09.1958).
Trong "Thư gửi cho học sinh", ngày 5-9-1945, Bác viết: "Sau 80 năm giời
nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ
đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước
khác trên hồn cầu. Trong cơng cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ
đợi ở các em rất nhiều. Non sơng Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay khơng,
dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường
quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở cơng học tập
của các em". Đoạn trích này cũng đã và đang được treo ở các lớp học để nhắc
nhở mỗi học sinh cố gắng học tập, rèn luyện.
Cho đến bức thư cuối cùng Bác gửi cho ngành giáo dục, ngày 15-101968, Bác lại nhấn mạnh yêu cầu của nền GD và ÐT nước ta là phải gắng sức
phấn đấu theo kịp với trình độ và chất lượng của các nước văn minh, tiên tiến.
Kế tục và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của
Người, Đảng và Nhà nước ta trải qua các thời kì vẫn luôn khẳng định “Giáo dục
là quốc sách hàng đầu”, coi trọng giáo dục và đào tạo con người Việt Nam theo


quan điểm “Vì lợi ích trăm năm thì trồng người”. Điều đó thể hiện rõ ở trong
lịch sử ngành giáo dục và các chính sách của Đàng và nhà nước ta.
Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, phát triển giáo dục và đào
tạo cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư
cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Luật giáo dục 2005 của nước ta đã khẳng
định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào

tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (điều 9). Tại điều 13 nhấn mạnh: “Đầu tư
giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục. Khuyến
khích bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong và
ngồi nước đầu tư cho giáo dục, trong đó ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ
yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục”.
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khoá VIII đã xác định
nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam như lời căn dặn của Bác
Hồ.
Và mới đây, tại Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng
đinh: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững".
Cũng tại Hội nghị Trung ương 6 Khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng đã nêu ra một loạt câu hỏi cần được thảo luận và làm rõ những vấn đề liên
quan đến giải quyết các hạn chế của Giáo dục nước nhà và đưa ra các định
hướng để phát triển giáo dục quốc gia phù hợp với thời đại mới.
Đảng và Nhà nước ta không ngừng nghiên cứu, vận dụng sáng tạo triết lý
giáo dục vào việc đổi mới căn bản, toàn diện, phát triển giáo dục và đào tạo, đặc
biệt là trong việc xây dựng và phát triển giáo dục đại học, để giáo dục thực sự
trở thành nền tảng và động lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI, Đại hội XII và XIII cũng thể hiện điều đó.


Qua đó có thể thấy, chính sách “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu” của
của Đảng và Nhà nước ta thực hiện, đã phần nào thể hiện rõ kim chỉ nam
“Bách niên thụ nhân” từ quan điểm Tứ Thụ của Quản Trọng.
3. Giáo dục là Quốc sách hàng đầu dựa vào quan điểm Tam Phi Bất
Trong quan điểm Tam Phi Bất, Khổng Tử đã nhấn mạnh: “Phi sư bất

thành”: không có thầy làm sao thành đạt được. Tức là muốn “trồng” được
người thì phải có người thầy, có nhân tố giáo viên. Người giáo viên đủ tâm và
tầm để đào tạo con người. Đó cũng là quan điểm được thể hiện rất rõ trong triết
lí giáo dục của Việt Nam thể hiện Giáo dục là Quốc sách hàng đầu.
Đi học là quyền lợi và là nhu cầu cơ bản của con người. Trường học là
môi trường học tập tốt nhất để phát triển con người. Để đạt được mục tiêu giáo
dục đã đề ra, đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải được chú trọng đào tạo.
Người thầy giáo từ xưa tới nay luôn được nhân dân ta tôn trọng và đó là
nghề cao quý trong tất cả các nghề cao quý. Tôn sư trọng đạo đã trở thành
truyến thống tốt đẹp của dân tộc ta, người xưa có câu “Khơng thầy đố mày làm
nên” câu tục ngữ đó đã nói lên phần nào vai trị, vị trí và ý nghĩa của người thầy.
Để đáp lại cơng lao dạy dỗ đó, ơng bà ta cũng nói rằng “Muốn sang thì bắc cầu
kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Mọi người đều vẫn rất coi trọng và
đề cao nghề gáo viên nói riêng và ngành giáo dục nói chung vì đó là nơi ươm
mầm cho thế hệ trẻ hướng đến một tương lai tương sáng.
Nghề giáo là nghề khó khăn vất vả nhưng cũng hết sức vẻ vang như lời
Bác Hồ đã căn dặn: “Anh chị em là những người “vơ danh anh hùng”. Tuy vơ
danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự
cố gắng của anh chị em...”
Trong thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Thầy cô giáo
là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”- là người có trách nhiệm truyền bá
cho thế hệ trẻ lý tưởng, đạo đức chân chính, hệ thống giá trị và tinh hoa văn hóa
dân tộc - nhân loại, bồi dưỡng cho học sinh những phẩm cao quí và năng lực
sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Qua đó, bồi đắp nên
tâm hồn Việt Nam qua các thời đại, làm cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương


lai của dân tộc. Đó chính là sứ mệnh thiêng liêng và cao cả mà xã hội đã tin
tưởng trao gửi cho người thầy trong việc “trồng người”.
Cùng với sự phát triển của đất nước và thế giới, chất lượng đội ngũ giáo

viên ngày càng được Đảng và Nhà nước chú trọng nâng cao. Các yêu cầu đặt ra
đối với người giáo viên cũng ngày càng đáp ứng với trình độ phát triển chung.
Hiện nay, sau mỗi năm học, viên chức ngành giáo dục cần tự đánh giá lại
quá trình làm việc, học tập của bản thân như là một yêu cầu bắt buộc hằng năm.
Bên cạnh đó, chuẩn nghề nghiệp giáo viên được Bộ giáo dục ban hành qua
thông tư 20/2018/TT-BGDĐT cũng là căn cứ để giáo viên tự đánh giá phẩm
chất, năng lực; xây dựng và thực hiện kế hoạch rèn luyện phẩm chất, bồi dưỡng
nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục,
cũng là căn cứ để các cơ sở giáo dục đánh giá giáo viên và có kế hoạch bối
dưỡng, phát triển năng lực nghề nghiệp đáp ứng mục tiêu giáo dục.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đã phát biểu ngày 14/11/2021: “Nhà
nước đã dành nhiều nguồn lực ưu tiên đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục.
Các chính sách tập trung đổi mới tồn diện giáo dục, trong đó chú trọng quan
tâm chăm lo phát triển đội ngũ nhà giáo, nhất là các thầy cô giáo ở vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo. Mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, ngành giáo
dục và đào tạo đã đóng góp to lớn trong việc bồi dưỡng nhân cách đạo đức cho
thế hệ trẻ, giúp phát triển con người, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực,
đóng góp chung vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để đất nước ta có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. . Trong những năm gần đây,
giáo dục Việt Nam ngày càng đạt nhiều kết quả tích cực, khẳng định vị thế quan
trọng dẫu rằng phía trước cịn rất nhiều việc phải làm, phải đổi mới. Chất
lượng giáo dục ngày càng được nâng lên ở tất cả các cấp học. Một số trường
đại học đã cải thiện vị trí xếp hạng trong các bảng xếp hạng khu vực và quốc
tế…”
Vì vậy, chính sách của của Đảng và Nhà nước ta thực hiện về đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ Nhà giáo vừa “hồng” vừa “chuyên” trong suốt lịch sử


ngành giáo dục, đã phần nào thể hiện rõ thông điệp “Phi sư bất thành” từ
quan điểm Tam Phi Bất của Khổng Tử.


4. Giáo dục là Quốc sách hàng đầu dựa vào quan điểm Tứ Tôn
Trong quan điểm Tứ Tôn, Hồng giáp Nguyễn Khắc Niêm đã nhấn mạnh
“Tơn tài đại thịnh”: Tôn trọng bậc hiền tài, đất nước sẽ hưng thịnh. Tức là
trong việc dạy học, ln tìm được nhân tài cho đất nước. Đó chính là nhân tố
giúp đất nước sẽ ngày càng hưng thịnh. Thật vậy, quan điểm giáo dục của Việt
Nam cũng thể hiện rõ điều đó.
“Hiền tài là ngun khí quốc gia, ngun khí thịnh thì thế nước mạnh, đi
lên; ngun khí suy thì thế nước yếu, đi xuống”. Hiền tài là người có trí thức, có
sự thơng minh và niềm khát vọng, đam mê mãnh liệt. Đó là những con người có
hiểu biết rất sâu rộng về một lĩnh vực nào đó. Trí thơng minh thể hiện ở khả
năng đặc biệt làm một việc nào đó, mang lại kết quả cao. Trí thơng minh đó cịn
thể hiện ở sự nhạy bén, nhìn nhận chính xác vấn đề cần giải quyết. Họ cũng rất
có khả năng nắm bắt diễn biến của thời cuộc, dự đoán trước được xu thế phát
triển. Người hiền tài thường biểu hiện sự đam mê đến cháy bỏng trong công
việc, không sợ thất bại, biết cách chấp nhận sự rủi ro, tìm mọi phương cách làm
cho công việc mang lại hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, họ cịn là những con
người có khát vọng mãnh liệt được vươn lên khẳng định bản thân mình, khát
vọng được cống hiến cho cơng việc, cho nhân dân, cho tổ quốc.
Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của ta đã chứng minh, cứ
thời nào có nhiều nhân tài xuất hiện và được trọng dụng thì đất nước phồn vinh,
dân tộc phát triển. Ngược lại, khi nhân tài xa lánh chốn quan trường, quay lưng
lại với thời cuộc, hoặc bị vùi dập, hay những kẻ bất tài lộng hành thì vương
triều ấy sớm muộn sẽ suy vong. Có thể lấy rất nhiều ví dụ trong lịch sử nước ta
để chứng minh cho điều đó như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giang Văn
Minh, Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huệ... ở những thế kỉ
trước. Tài năng quân sự lỗi lạc của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã góp


phần to lớn vào chiến công lừng lẫy của quân dân nhà Trần ba lần đánh thắng

quân xâm lược Mông - Nguyên. Tài năng quân sự, ngoại giao xuất sắc của
Nguyễn Trãi khiến ông trở thành vị quân sư số một của Lê Lợi, có vai trị quyết
định chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quét sạch mười vạn giặc Minh
ra khỏi bờ cõi nước ta. Một gương sáng "hiền tài" đã trở thành thần tượng không
chỉ trong phạm vi đất nước mà mở rộng ra phạm vi toàn cầu là Đại tướng Võ
Nguyên Giáp. Tên tuổi của ông gắn liền với hai cuộc kháng chiến đau thương
và oanh liệt của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm
lược. Ông đã làm vẻ vang cho lịch sử và truyền thống bất khuất, hào hùng của
đất nước. Đó là gương sáng của những bậc "hiền tài" một lịng một dạ vì quyền
lợi chung của nhân dân và Tổ quốc mà dân tộc ta đã có và luôn được tôn vinh
tới muôn đời sau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm: Mục tiêu nền giáo dục Việt Nam
trong kỷ nguyên mới: “... Nền giáo dục của một nước độc lập,... nền giáo dục...
đào tạo các em nên những người hữu ích cho nước Việt Nam, nền giáo dục làm
phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em... Non sơng Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay khơng, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay khơng, chính là nhờ một phần
lớn ở cơng học tập của các em” (9/1945), “Nói đến cán bộ trước hết vì cán bộ là
tiền vốn của Đồn thể có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách cơng tác gì, nếu
có cán bộ tốt thì thành cơng, tức là có lãi, khơng có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức
là lỗ vốn” (1950), “Học suốt đời” khi Bác nói với đồng chí Nguyễn Thị Định:
“Cơ ở ngoài này học tập một thời gian rồi lại về tiếp tục kháng chiến với bà
con. Người cách mạng phải học suốt đời, học lý luận, học quần chúng, học thực
tế. Người khơng học thì như đi ban đêm khơng có đèn, khơng có gậy dễ vấp té
có phải thế không?”. (1946, Biên niên tiểu sử, tập III, tr 199), Bác luôn chú
trọng tuyển chọn nhân tài, bồi dưỡng sử dụng nhân tài (lời dạy những ngày đầu
xây dựng chính quyền cách mạng):
“Kiến thiết ngoại giao
Kiến thiết kinh tế



Kiến thiết quân sự
Kiến thiết giáo dục
Kiến thiết cần có nhân tài
Khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát
triển càng thêm nhiều” (1946)
Tiếp nối các triết lí giáo dục từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam luôn chú
trọng đến đào tạo và phát triển nhân tài. Điều đó được thể hiện trong suốt chiều
dài lịch sử của dân tộc và các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Theo Hiến pháp mới năm 1992, vai trò của giáo dục được xác định như
sau: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo
dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu của
giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có
niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu
nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
“Nhiều năm trước đây đầu tư cho giáo dục chủ yếu được coi là đầu tư cho
phúc lợi xã hội. Ngày nay đầu tư cho giáo dục là đầu tư để phát triển con
người, phát triển xã hội”. (Phát biểu của đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa VII, 04/01/1993).
“Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trị quyết định, đặc biệt đối
với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất cịn hạn hẹp. Nguồn
lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất
tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn
liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại. Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ
đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học công
nghệ”. (Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 8).
“Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng
nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết
để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng

trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. (Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt


Nam lần thứ 9).
Ngày nay, trên thế giới tài nguyên ngày càng cạn kiệt, còn tri thức, tài
năng và sức sáng tạo của con người là vô hạn. Tri thức là vốn quý nhất, tri thức
là sản phẩm trí tuệ của con người. Chính vì vậy, hiền tài, nhân tài và lao động tri
thức đã trở thành một lực lượng sản xuất mới, giữ vai trò quyết định hơn cả
vốn và tài nguyên. Hiền tài đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thành bại của
đất nước ta trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trong khu vực
và thế giới mà thực chất đó là sự đọ sức về trí tuệ như Long Tử Dân – một học
giả Trung Quốc, đã có câu nói hết sức chí lý cho thời đại hiện nay: “Sự lãng
phí lớn nhất là lãng phí nhân tài, sự cạnh tranh căn bản nhất là cạnh tranh
nhân tài, năng lực chủ yếu của người lãnh đạo là phát hiện, bồi dưỡng nhân
tài và sử dụng nhân tài”.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đã có lời dạy: Hiện nay, chúng ta đang
thực hiện quyết liệt các giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học. Phương châm là: “Lấy
học sinh làm trung tâm”, chú trọng phát triển nhân cách đạo đức, tính sáng tạo
của học sinh. Muốn vậy, chúng ta cần tiếp tục lấy “nhà trường làm nền
tảng”,“lấy thầy cô giáo làm động lực” để thực hiện thành công phương châm
“lấy học sinh làm trung tâm”. Trong q trình đó, u cầu là phải “học thật, thi
thật, nhân tài thật”.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy, Việt Nam ln chú
trọng đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài cho đất nước. Điều đó đã phần
nào thể hiện rõ thông điệp “Tôn tài đại thịnh” từ quan điểm Tứ Tơn của
Hồng giáp Nguyễn Khắc Niêm.
5. Giáo dục là Quốc sách hàng đầu dựa vào quan điểm Ngũ Quy
Trong quan điểm Ngũ Quy, bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm và Bảng nhãn Lê
Quý Đôn đã nhấn mạnh “Quy trí tất hưng”: Lo lắng cho Văn hóa giáo dục,

đất nước hưng thịnh. Đó chính là nhân tố giúp đất nước sẽ ngày càng hưng
thịnh. Điều đó được thể hiên trong các quan điểm, chính sách giáo dục của Việt
Nam.


Năm 1919, nhà cách mạng Phan Chu Trinh (1872 - 1926) nêu ra chủ
trương, trong một cuộc bàn luận với các đồng chí hoạt động ở Pháp: “Nhờ giáo
dục cùng với tự do báo chí… bộ phận trong nước sẽ có thể khai hóa cho dân
chúng và từng bước làm cho dân chúng biết quyền lợi và nghĩa vụ của mình”.
Trong phiên họp bàn “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa”: Ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu” (HCM TT 2011, Tập 4 trang 6)
Ngày 04/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn thất học.
Người viết “Một trong những công việc phải thực hiện gấp lúc này là nâng cao
Dân trí” (TT tập 4, tr 40)
Sử liệu cho biết: “Ngày 30/5/1946, Bác Hồ đi Pháp. Tháng 10/1946, Bác
kết thúc chuyến công tác. Rời nước Pháp, Người về đến Hải phòng ngày
20/10/1946. Ở Hải Phịng trong buổi tiếp các cơ quan đồn thể và tầng lớp nhân
dân đến chào mừng, Người đã viết vào cuốn sổ vàng của Bình dân Học Vụ Hải
phòng: “Ra sức chống giặc dốt cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông
thái” (Ngô Văn Cát “Việt Nam chống nạn thất học” Nxb giáo dục H 1980, tr
85). “Dân tộc thơng thái” ngày nay đang là đích đến của quốc sách: “Nâng cao
dân trí - Đào tạo nhân lực - Bồi dưỡng nhân tài” đã được ghi trong Hiến pháp.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng và Nhà nước ta quan niệm:
“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản
lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện
nay sang mơ hình giáo dục mở - mơ hình xã hội học tập với hệ thống học tập
suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và
phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực

hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ
hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan


trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát
triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học là quốc sách hàng đầu;
đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”. Điều đó thể hiện nguồn
ngân sách chi cho giáo dục đào tạo luôn được ưu tiên đi trước một bước trong
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội… Nhà nước ta đã chi một
ngân khoản khơng nhỏ cho giáo dục, bình qn khoảng 10% đến 20% ngân
sách, thuộc diện lớn nhất thế giới. Và con số này không ngừng tăng qua các
năm. Chẳng hạn: Năm 2000, chúng ta chi 61823 tỉ cho sự phát triển kinh tế xã
hội, trong đó chi cho giáo dục là 12677 tỉ, chiếm 11,63%. Năm 2001 chúng ta
chi 129773 tỉ cho sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó chi cho giáo dục là 15432
tỉ, chiếm 11,89%. Năm 2002 chúng ta chi 148208 tỉ cho sự phát triển kinh tế xã
hội, trong đó chi cho giáo dục là 17844 tỉ, chiếm 12,03%. Năm 2003 chúng ta
chi 6181183 tỉ cho sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó chi cho giáo dục là
22881 tỉ, chiếm 12,62%. Đến năm 2008, cả thế giới gặp khó khăn về kinh tế,
Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhưng số tiền chi cho giáo dục vẫn
tăng, chúng ta chi 494600 tỉ cho sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó chi cho
giáo dục là 63547 tỉ, chiếm 12,85%3. Tuy nhiên, do ngân sách còn hạn hẹp nên
mặc dù phần trăm (%) đầu tư cho giáo dục rất cao, nhưng số tiền chi cho giáo
dục thực chất còn rất ít, mức chi bình quân cho một học sinh, sinh viên còn rất
thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Mặc dù vậy, cũng đã thấy được
sự nỗ lực, cố gắng của Đảng và Nhà nước ta trong việc đầu tư cho giáo dục,
minh chứng cụ thể cho quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
của Đảng ta.

Hệ thống giáo dục của Việt Nam đang có năm ngành học lớn là: Mầm
non – Phổ thông – Kỹ thuật nghề nghiệp – Đại học – Giáo dục thường xuyên,
tương đương với năm nhiệm vụ của giáo dục: Hình thành nhân cách, hình thành
dân trí, hình thành nhân lực, hình thành nhân tài và xây dựng xã hội học tập.
- Phi Mầm non bất thành Nhân cách
- Phi Phổ thơng bất thành Dân trí
- Phi Kỹ thuật Nghề nghiệp bất thành nhân lực


- Phi Đại học bất thành nhân tài
- Phi Giáo dục Thường xuyên bất thành Xã hội học tập

Khung mẫu: Giáo dục là Quốc sách hàng đầu
Nhân cách là hòn đá tảng, hình thành nên ba ngọn cờ: dân trí, nhân lực,
nhân tài bay phấp phơi trong bầu trời xanh là “xã hội học tập”.
Năm học này là một minh chứng cụ thể nhất. Cả nước đứng trước thách
thức của đại dịch Covid 19 nhưng Đảng và Nhà nước vẫn luôn chú trọng đến
giáo dục bằng cách sử dụng các biện pháp thay thế như học tập trực tuyến, thay
đổi kịp thời nội dung chương trình một cách linh hoạt để học sinh dù dịch bệnh
không thể đến trường vẫn khơng ngừng việc học. Lộ trình học
Từ những phân tích trên đây, dựa vào quan điểm của Tứ Thụ - Tam
Phi Bất – Tứ Tôn – Ngũ Quy, chúng ta có thể thấy rõ Việt Nam ln chú
trọng thực hiện “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” để đạt được mục tiêu cuối
cùng là phát triển con người, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho đất
nước, cho sự nghiệp trồng người, phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc và tạo lập xã hội học tập.
6. Một số đề xuất cho Giáo dục Việt Nam hiện nay
Trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu”. Nhà nước đã dành nhiều nguồn lực ưu tiên đầu tư cho phát triển
sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, giáo dục của Việt Nam vẫn còn tồn tại những

hạn chế cần khắc phục.
Thứ nhất, về vấn đề xoá mù chữ chức năng. Hiện nay, Việt Nam đã xoá
được nạn mù chữ nhưng vẫn còn những nguời lớn mù chữ chức năng. Tức là
trong thời đại công nghệ số, vẫn còn nhiều người lớn (trong độ tuổi từ 16 đến
56) bị tụt hậu, không sử dụng được các sản phẩm điện tử, công nghệ cao vào



×