Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

(Skkn 2023) một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24 36 tháng thông qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (886.58 KB, 21 trang )

UBND HUYỆN BA VÌ
TRƯỜNG MẦM NON YÊN BÀI A

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 2436 tháng thông qua hoạt động nhận biết ở trường
mầm non ”
Lĩnh vực: Giáo dục nhà trẻ
Tên tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Yên Bài A

NĂM HỌC 2022 - 2023


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng xét sáng kiến kinh nghiệm trường MN Yên Bài A
- Hội đồng xét sáng kiến kinh nghiệm Phịng GD&ĐT huyện Ba Vì ,
Thành phố Hà Nội

Họ và tên

Ngày
tháng
năm sinh

Trình độ
Nơi cơng
Chức danh chun
tác


mơn

Tên sáng kiến

Nguyễn Thị 23/02/1991 Trường V.07.02.05 Cao đẳng “Một số kinh
nghiệm
phát
Huyền
Mầm non
triển vốn từ cho
Yên Bài A
trẻ 24-36 tháng
thông qua hoạt
động nhận biết ở
trường mầm non


Là tác giả xét công nhận sáng kiến kinh nghiệm :” “Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ

cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non ”
* Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
* Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Từ tháng 9/2022
* Mô tả bản chất của sáng kiến :
- Khảo sát thực trạng về phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt dộng
nhận biết. Để có biện pháp cụ thể hướng dẫn trẻ nâng cao vốn từ.
- Nghiên cứu các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt
dộng nhận biết, để tìm ra một số phương pháp, biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng phát
triển vốn từ.
- Sau khi thực hiện đề tài sáng kiến, đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm.
* Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Được sự quan tâm giúp đỡ của BGH đã tạo mọi điều kiện cho cán bộ giáo viên
được tiếp thu chuyên đề một cách đầy đủ, kịp thời. Ngồi ra cịn tạo mọi điều kiện
giúp tôi những nguyên vật liệu, trang thiết bị để thiết kế bài học cho trẻ.


- Giáo viên được tiếp cận nhiều chuyên đề cấp huyện cũng như tại trường về việc sử
dụng các phần mềm dạy học nên có thêm cơng cụ thiết kế các bài dạy hấp dẫn nhằm
nâng cao chất lượng dạy học cho trẻ.
- Trường có CSVC phục vụ tốt cho các HĐ của trẻ.
- Phụ huynh học sinh quan tâm, kết hợp cùng tôi trong việc CSGD trẻ tại nhà.
- Các cháu đều khỏe mạnh nhanh nhẹn, ngoan ngỗn, thích hoạt động vui chơi.
- Đa số phụ huynh đều có điện thoại thơng minh, có mạng internet, tích cực tương
tác với giáo viên vể tình hình của trẻ trên nhóm Zalo của lớp.
- Có đủ hai giáo viên/ lớp.
- Giáo viên có trình đạt chuẩn và trên chuẩn
* Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến:
Đối với bản thân.
- Giáo viên đã hiểu rõ hơn và nhận thức được tầm quan trọng của ngơn ngữ với
việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
- Đã tìm ra được một số biện pháp phát triển vối từ cho trẻ 24-36 tháng thông
qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Đối với trẻ.
- Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp
- Trẻ có thể nói rõ ràng, mạch lạc hơn nhiều
- Trẻ khơng cịn nói ngọng, nói lắp nhiều như trước
- Đa số trẻ đã nói được câu dài có vốn từ mở rộng
- Trẻ đã nói được câu có đủ chủ ngữ, vị ngữ khi giao tiếp với người lớn.
Đối với phụ huynh.
- 100% Phụ huynh đã hiểu rõ hơn và nhận thức được tầm quan trọng của
ngôn ngữ với việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ..

- Phụ huynh đã tích cực phối hợp với giáo viên .
- Phụ huynh nhiệt tình ung hộ đồ dùng để dạy trẻ.
- Phụ huynh có được niềm tin vào cơ giáo và nhà trường.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Yên Bài , ngày … tháng 4 năm 2023
Người nộp đơn

Nguyễn Thị Huyền


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.Tên đề tài.:
“Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động
nhận biết ở trường mầm non ”
2. Lý do chọn đề tài:
Trẻ mầm non: “ học mà chơi, chơi mà học” trong khi chơi trẻ thực sự học để
lĩnh hội các khái niệm ban đầu hoặc tri thức tiền khoa học. Biết được tầm quan
trọng đó, là giáo viên chúng ta cần phải coi trọng việc tạo ra môi trường giáo dục trẻ
bằng những hoạt động thiết thực nhằm phát triển một cách toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực: Trí tuệ- Đạo đức- Thẩm mỹ- Thể lực.Từ đó giúp trẻ hồn thiện nhân cách,
ngơn ngữ, tư duy, phát triển các kỹ năng thực hành, giao tiếp, ứng xử.
Trẻ mầm non là lứa tuổi học ăn, học nói. Đặc biệt giai đoạn 24-36 tháng tốc độ
phát triển vốn từ của trẻ diễn ra rất nhanh. Đối với lứa tuổi nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi
thì ngồi những hoạt động học như: văn học, âm nhạc, tạo hình, vận động, hoạt
động với đồ vật... thì hoạt động nhận biết có một vai trị rất quan trọng. Trong tất cả
các hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non thì hoạt động nhận biết giúp trẻ phát
triển vốn từ hơn cả. Qua hoạt động này trẻ được nói nhiều,nói rõ ràng,mạch lạc,
được diễn đạt suy nghĩ, yêu cầu của mình và khả năng phát âm chuẩn, khả năng này
không phải ngẫu nhiên tự có được mà phải tập, rèn luyện ngay từ 0- 6 tuổi vì đây là

“giai đoạn vàng” để phát triển toàn diện nhất
Việc Phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng có ý nghĩa vơ cùng quan trọng,
nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ, đảm bảo cho trẻ có kỹ năng cơ
bản trong việc sử dụng tiếng Việt. Tuy nhiên trẻ 24 - 36 tháng tuổi có đặc điểm là tư
duy trực quan hình tượng: trẻ dễ nhớ nhưng lại nhanh quên, trẻ học hôm nay đấy
nhưng ngày mai đã quên rồi. Nếu giáo viên chỉ đơn thuần dạy đúng phương pháp,
đầy đủ các bước mà khơng khai thác nhiều hình thức tổ chức ơn luyện thì sẽ khơng
thu hút được sự tập trung chú ý của trẻ. Hơn nữa trẻ 24-36 tháng còn nhỏ trẻ chưa
nhận biết được các sự vật con vật thế giới xung quanh một cách rõ ràng, chính xác.
Vì vậy trách nhiệm của giáo viên mầm non, nhất là giáo viên nhà trẻ trong giai
đoạn phát triển hiện nay tất cả các hoạt động giáo dục đều đảm bảo: “Lấy trẻ làm
trung tâm”. Nhận thức được tầm quan trọng trên tôi đã quyết tâm lựa chọn đi sâu
vào nghiên cứu đề tài:“Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng
thông qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non ” để áp dụng cho trẻ lớp tôi tại
trường nơi tôi đang công tác.
2.1. Cơ sở lý luận


Ngơn ngữ là một hệ thống kí hiệu, là phương tiện để giao tiếp, là công cụ để phát
triển tư duy, là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mĩ cho trẻ. Phát triển vốn từ
cho trẻ 24-36 tháng là rèn luyện khả năng diễn đạt mạch lạc, biểu cảm qua việc dạy
trẻ là rất cần thiết và quan trọng. Vốn từ phát triển thì trẻ mới thấy hết được vẻ đẹp
đa dạng của cuộc sống và thế giới xung quanh, hơn thế nữa, nó góp phần hồn thiện
ngơn ngữ cho trẻ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động nhận thức sau này.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong sự phát triển vốn từ của trẻ, do đặc
điểm phát triển và nhu cầu giao tiếp mà vào giai đoạn này vốn từ của trẻ phát triển
với một tốc độ mạnh mẽ nhất.
Nhiệm vụ phát triển vốn từ bao gồm nhiều mặt, cần dạy trẻ hiểu lời nói của
người lớn, mở rộng vốn từ tích cực,dạy trẻ các mẫu câu, phát triển giao tiếp ngôn
ngữ của trẻ với người lớn và với trẻ khác. Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ

là giai đoạn quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm
nhất.
Do vậy, muốn trẻ phát triển được vốn từ phong phú, chính xác nhất thì người
lớn, đặc biệt là giáo viên mầm non phải có kỹ năng phương pháp giáo dục trẻ phù
hợp, có kiến thức, kỹ năng tổ chức các hoạt động nhận biết thật linh hoạt, sáng tạo.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, tôi đang giảng dạy tại lớp D1 với 20 cháu đã ra lớp với 2 giáo viên
trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn .
Do cơng việc nên sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh tới trẻ cịn ít mà đặc
biệt là phó mặc cho cơ giáo chăm sóc trẻ.
Bố mẹ trẻ nhiều khi ở nhà thường cho trẻ xem điện thoại, ít có thời gian trò
chuyện với trẻ dẫn đến vốn từ của trẻ cũng bị hạn chế.
3. Mục đích nghiên cứu của sáng kiến
Nhằm tìm ra một số biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi
thông qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non
Đưa ra những biện pháp thích hợp trong q trình cho trẻ tiếp thu kiến thức về
vốn từ một cách tự nhiên khơng gị bó phù hợp với sự nhận thức và đặc điểm tâm
sinh lý của trẻ giúp trẻ hứng thú hơn, phát huy được tính tích cực hơn để giờ học đạt
hiệu quả cao nhất.
4. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động
nhận biết ở trường mầm non
5. Đối tượng khảo sát thực nghiệm


- Tại lớp D1 trường mầm non nơi tôi công tác.
- Khảo sát cơ sở vật chất: Đồ dùng đồ chơi, trang thiết bị dạy học.
- Khảo sát phụ huynh học sinh
- Khảo sát về giáo viên
- Khảo sát học sinh thực trạng phát triển vốn từ của trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường

Mầm non nơi tôi công tác. Từ đó nghiên cứu để tìm ra nhiều biện pháp hình thức
khác nhau phù hợp với trẻ, khích thích giúp trẻ phát triển vốn từ.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
* Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tham khảo, thu thập những thông tin lý luận về vấn đề giáo dục, các biện pháp
phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các giáo trình, các tập san, các bài viết trên
mạng Internet, các bài báo liên quan.....trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Sử dụng các hình thức quan sát thực tế và ghi chép đàm thoại với trẻ, nghiên
cứu các kết quả trên trẻ.
* Phương pháp thực hành, trải nghiệm:
Sau khi truyền đạt kiến thức để phát triển vốn từ cho trẻ, tôi đưa ra các bài tập
thực hành, các nhiệm vụ giao cho trẻ, yêu cầu trẻ thực hiện, trải nghiệm và đưa ra
kết luận.
* Phương pháp quan sát:
Quan sát các hoạt động của trẻ trên lớp, sự hứng thú, khả năng phát huy tính
tích cực của trẻ, các kỹ năng, thao tác khi trẻ thực hiện các trò chơi, bài tập.
* Phương pháp dùng lời:
Trò chuyện, trao đổi với trẻ, đưa ra các câu hỏi đàm thoại giúp trẻ nhận biết và
gọi được tên của đối tượng, hướng dẫn, phân tích để thực hiện các bài tập theo yêu
cầu của cô
* Phương pháp điều tra:
- Điều tra thực trạng quá trình cho trẻ tiếp thu kiến thức về các đối tượng và
nhận thức của trẻ trong lớp ngay từ đầu năm học để có phương pháp giáo dục cụ thể
- Điều tra kết quả trên trẻ sau khi thực hiện các biện pháp qua một học kỳ
để rút ra bài học kinh nghiệm cho học kỳ sau.
* Phương pháp thống kê toán học:
Thu thập kết quả bằng số liệu cụ thể, sử dụng các cơng thức tốn học, đối

chiếu, so sánh với số liệu của kết quả điều tra ban đầu để làm nổi bật tính khả thi
khi áp dụng sáng kiến.


7. Thời gian thực hiện
*Tháng 8/2022: tìm đọc tài liệu.
* Tháng 9/ 2022 : Khảo sát trước khi thực hiện đề tài.
* Tháng10/2022 đến tháng 3/2023 Thực hành trên trẻ, tổng hợp số liệu, viết
sáng kiến hoàn chỉnh.
PHẦN II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của đề tài:
Trẻ 24- 36 tháng, khả năng hiểu lời nói, vốn từ tăng nhanh khoảng 234 từ, cấu trúc
từ hoàn thiện, chúng dễ dàng bắt chước các kết hợp âm, các câu ngắn, vốn từ của trẻ
phần lớn là những danh từ và động từ, các từ khác tăng theo độ tuổi. Trẻ ở tuổi này
không chỉ hiểu nghĩa các từ biểu thị sự vật hành động cụ thể mà có thể hiểu nghĩa
các từ biểu thị tính chất màu sắc, thời gian và các mối quan hệ. Tuy nhiên mức độ
hiểu nghĩa của các từ này ở trẻ con hạn chế và có nét đặc trưng riêng, trẻ mới đang
tập nói, có trẻ nói được câu 2-3 từ, có trẻ nói được câu 4- 6 từ, trẻ chưa diễn đạt ý
muốn của mình bằng những câu đơn giản,...Vì vậy mà phát triển vốn từ cho trẻ là
cần thiết.
Chính vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ 24- 36 tháng là hết sức quan trọng và
cần thiết. Khi ta làm tốt hoạt động này sẽ là “ Kiềng ba chân” vững chắc làm nền
tảng, làm hành trang mang theo suốt cuộc đời trẻ.
2. Thực trạng điều tra ban đầu.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, tơi thấy mình cần phải linh hoạt, sáng tạo
hơn nữa để phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở lớp tôi đạt được hiệu quả
cao nhất. Để thực hiện được điều này, ngay từ đầu năm học tôi đã bắt tay ngay vào
việc thực hiện nhiệm vụ của mình.Trong q trình thực hiện nhiệm vụ, bản thân tơi
đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
2.1. Thuận lợi:

Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho giáo
viên phát huy khả năng sáng tạo trong giảng dạy.
Lớp được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện và đồ dùng, đồ chơi
phục vụ cho việc phát triển vốn từ cho trẻ phong phú về mầu sắc và hình ảnh, hấp
dẫn thu hút trẻ.
Bản thân được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng chun mơn do
Phịng giáo dục và nhà trường tổ chức.
- Giáo viên nhiệt tình làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp
và phát triển vốn từ cho trẻ, 2 giáo viên trên lớp phát âm chuẩn
Trẻ trong lớp có độ tuổi đồng đều, tỷ lệ chuyên cần đạt 90 - 95%.


100% các cháu ăn bán trú tại lớp nên việc giáo dục các cháu trong các hoạt động
một ngày không bị gián đoạn.
2.2. Khó khăn:
Đầu năm, lớp học tiếp nhận 20 trẻ, 100% các cháu mới, năm đầu tiên ra lớp
nên trẻ chưa có nề nếp và thói quen trong các hoạt động ở trường, vì vậy việc sử
dụng vốn từ qua các hoạt động học tập và giao tiếp với cơ cịn rất nhiều hạn chế.
- Phụ huynh coi nhẹ tầm quan trọng của việc cung cấp các kiến thức cho trẻ. Vì
các bậc phụ huynh chỉ coi trọng việc chăm sóc trẻ là chính, cịn việc giáo dục nhiều
phụ huynh cịn phó mặc hoặc khơng quan tâm nhiều tới trẻ khi trẻ còn đang ở lứa
tuổi nhà trẻ.
- Vốn từ của trẻ phát triển chưa đồng đều, một số trẻ ở đầu độ tuổi cịn nói
ngọng, bập bẹ, nhút nhát, khả năng nhận thức chậm.
- Lứa tuổi của trẻ còn nhỏ, năm đầu tiên ra lớp nên việc sử dụng ngôn ngữ qua
các hoạt động học tập và giao tiếp với cơ cịn rất nhiều hạn chế
- Kinh phí hạn hẹp nên việc làm đồ dùng trực quan, đồ chơi phục vụ các giờ
học, các hoạt động vui chơi ơn luyện củng cố kiến thức gặp nhiều khó khăn.
- Trước những thuận lợi và khó khăn trên. Tơi đã tiến hành khảo sát chất lượng
trên trẻ đầu năm và thu được kết quả như sau:

Bảng khảo sát chất lượng sĩ số 20 trẻ đầu năm
SL
Đạt
Chưa đạt
trẻ
S Nội dung Khảo sát
Số
TL
Số
TL%
tt
lượng
%
lượng
1 Trẻ nói rõ ràng mạch lạc
20
7/20 35% 13/20 65%
2 Trẻ nói có chủ ngữ, vị ngữ
20
7/20 35% 13/20 65%
3 Trẻ nói được câu dài, có vốn từ mở
20
6/20 30% 14/20 70%
rộng
4 Trẻ khơng nói ngọng, nói lắp, nói
20
6/20 30% 14/20 70%
ngược câu
5 Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
20

5/20 25% 15/20 75%
Nhìn vào bảng trên, kết quả cụ thể cho thấy:
- 70% trẻ lớp tôi vốn từ cịn rất hạn chế trẻ nói chưa rõ ràng, mạch lạc, trẻ chưa
tập trung, hứng thú tham gia vào các hoạt động.
- Số trẻ khơng nói lắp, nói ngọng, ngược câu rất ít chỉ đạt 30% so với số trẻ
trong lớp.
- Khả năng trẻ nói có chủ ngữ, vị ngữ rất kém, chỉ đạt 30%. Khi trẻ nói hầu hết
tồn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu.


- Khi giao tiếp với trẻ tôi nhận thấy rằng vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế về
câu từ, về cách phát âm. Trẻ nói được câu dài, có vốn từ mở rộng chỉ đạt 30%
- Cũng có một số trẻ cịn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ
mình cần khi cơ hỏi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc vốn từ
của trẻ còn nghèo nàn.
- Đa số trẻ còn thiếu tự tin, chưa phát huy được tính tích cực trong khi giao tiếp
(75% )
Nguyên nhân của thực trạng trên là do:
- Giáo viên chưa chú trọng đến vai trò của việc phát triển vốn từ cho trẻ trong giai
đoạn này nên chưa có sự đầu tư vào tổ chức các hoạt động để dạy trẻ.
- Đồ dùng trực quan, đồ chơi, trò chơi phục vụ cho các hoạt động nhằm phát
triển vốn từ cho trẻ cịn sơ sài, chưa có sự sáng tạo, mới lạ để thu hút trẻ.
- Giáo viên cịn dập khn, máy móc chưa linh hoạt, sáng tạo trong hình thức
tổ chức để gây được sự tập trung chú ý, tạo hứng thú cho trẻ trong suốt q trình
hoạt động.
- Trẻ tiếp thu kiến thức cịn bị gị ép, khơng thoải mái.
Qua q trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này và tơi
nghĩ rằng mình phải tìm tịi, nghiên cứu tài liệu để tìm ra biện pháp phát triển vốn từ
cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thể giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi
người.

Chính vì điều này đã làm tơi suy nghĩ, làm thế nào để khắc phục tình trạng trên và
tơi đã tìm tịi, nghiên cứu, tìm ra được một số biện pháp sau đây.
3.Các biện pháp thực hiện:
- Biện pháp 1: Thay đổi hình thức tổ chức dạy học cho trẻ theo hướng trải nghiệm.
- Biện pháp 2: Sắp xếp các góc chơi linh hoạt, sử dụng nhiều đồ dùng đồ chơi có sức hút
với trẻ.
- Biện pháp 3.Phân loại câu hỏi riêng cho từng đối tượng trẻ và biện pháp giáo dục
trẻ cá biệt.
- Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh, quan tâm nhiều đến những trẻ nói
ngọng, ngại giao tiếp
4. Những biện pháp từng phần.
* Biện pháp 1: Thay đổi hình thức tổ chức dạy học cho trẻ theo hướng
trải nghiệm.
- Đặc điểm tâm lý của trẻ 24 – 36 tháng tuổi là trực quan hình tượng, trẻ cần
tri giác (nhìn) và hoạt động trực tiếp (cầm, nắm) để lĩnh hội tri thức và phát triển kỹ


năng của bản thân. Với trẻ 24 – 36 tháng tuổi kỹ năng của trẻ còn non nớt do vậy
việc tăng cường cho trẻ hoạt động là rất cần thiết.
- Trong q trình dạy trẻ tơi ln quan tâm đến việc dạy học lấy trẻ làm trung
tâm, dạy trẻ dựa trên nhu cầu mong muốn và khả năng của trẻ để đưa ra các hoạt
động cụ thể.
- Nhận biết trong giờ học là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển
nhận thức của trẻ. Đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi, thì nhu cầu nhận thức của trẻ là rất
lớn, vì vậy việc tổ chức thực hiện các hoạt động nhận biết thường xuyên là vô cùng
cần thiết. Mà hầu hết từ trước đến nay hoạt động nhận biết thường khơ cứng, trong
khi đó trẻ lứa tuổi 24 - 36 tháng thì trẻ thích tự do, thích vui vẻ chứ khơng thích
nghiêm túc, cứng nhắc của tiết học. Vì vậy làm thế nào để trẻ tích cực tham gia vào
các hoạt động học mà không nhàm chán.
- Tôi quan tâm đến việc lựa chọn và đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức

bằng hình thức trải nghiệm mọi lúc mọi nơi.Khi trẻ trải nghiệm trẻ sẽ được cầm,
nắm, sờ,mó, quan sát.Như vậy trẻ sẽ ghi nhớ được màu sắc, hình dạng, kích
thước.Từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kiến thức, kỹ năng mà trẻ vừa tự tìm hiểu
và vừa được giáo viên cung cấp.
- Quan tâm đến việc chuẩn bị đồ dùng sao cho hấp dẫn, là những đồ dùng
đảm bảo tính thẩm mỹ và có sự kích thích, tị mị với trẻ, phong phú về chủng loại
đồ dùng và đủ số lượng cho trẻ.
- Việc lựa chọn và đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức, nhất là phần gây hứng
thú và đưa nhiều hoạt động trải nghiệm cho trẻ ở mỗi giờ học. Khi thì gây hứng thú bằng
việc tổ chức chương trình ảo thuật, làm chú hề, đóng làm nhân vật hoạt hình trẻ u
thích... khi tổ chức thành chương trình biểu diễn thời trang, Hội chợ, Du lịch, tham quan
công viên, vườn bách thú... Khi trẻ được hoạt động trải nghiệm trong tiết học, tùy vào
từng đề tài và dựa vào kiến thức, kỹ năng của tiết học để lựa chọn sử dụng 1, hay 2 trò
chơi hay trải nghiệm cho phù hợp, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất.
- Đặc biệt, trong q trình hoạt động tơi ln lắng nghe và chấp nhận các ý
kiến của trẻ, cùng chia sẻ ý tưởng chơi với trẻ, không áp đặt ý kiến của mình. Nếu
trong quá trình học và chơi có các tình huống sảy ra, tơi ln bình tĩnh quan sát,
lắng nghe tuyệt đối không vội vàng can thiệp ngay khi không thật sự cần thiết, tạo
cơ hội để trẻ đưa ra các ý kiến và tự giải quyết tình huống theo cách của trẻ. Hoặc
chỉ gợi ý cho trẻ giải quyết các vấn đề bằng các câu hỏi mở.
* Ví dụ:
+ Trẻ tham gia hoạt đơng nhận biết bé trai bé gái: Trẻ được trải nghiệm soi
gương, bạn gái thì đeo bờm, cài cặp tóc, cịn bạn trai thì đeo kính…( Hình ảnh 1)


+ Hoạt động nhận biết to-nhỏ: Trẻ được trải nghiệm bóc trứng và thả trứng
vào bát ( trứng vịt to để vào bát to- trứng cút để vào bát nhỏ), hay trẻ được ra
HĐNT trẻ có thể cùng cơ nhận biết phân biệt cây to - cây nhỏ, đồ chơi to- đồ chơi
nhỏ. Ở hoạt động này tơi có thể cho trẻ vo giấy thành quả bóng to- bóng nhỏ: Trẻ sẽ
được dùng đơi tay vo giấy thành quả bóng to - nhỏ sau đó trẻ sẽ thả quả bóng to vào

lỗ to và quả bóng nhỏ vào lỗ nhỏ và từ quả bóng đó trẻ sẽ được sử dụng trong nhiều
các hoạt động khác nhau( đá bóng, tung bóng…) Ngồi ra ở hoạt động này tơi có
thể tổ chức cho trẻ chơi trị chơi trẻ được tự mình thả thuyển vào chậu nước, thuyền
to thả chậu nước to, thuyền nhỏ thẻ vào chậu nước nhỏ.Trẻ rất hứng thú và sôi nổi
trong giờ học
+ Hoạt động nhận biết con gà – con thỏ : trẻ được quan sát con thỏ, cho thỏ
ăn hay được trải nghiệm nhặt trứng gà . ( hình ảnh 2)
+ Hoạt động nhận biết các loại rau: Trẻ được sờ, bóc, cắt rau…( hình ảnh 3)
- Và trong q trình hoạt động tơi ln lắng nghe và chấp nhận các ý kiến của
trẻ, cùng chia sẻ ý tưởng chơi với trẻ. Nếu trong quá trình học và chơi có các tình
huống xảy ra, tơi ln bình tĩnh quan sát, lắng nghe tuyệt đối không vội vàng can
thiệp ngay khi không thật sự cần thiết, tạo cơ hội để trẻ đưa ra các ý kiến và tự giải
quyết tình huống theo cách của trẻ.
* Ví dụ: Trong giờ hoạt động nhận biết phân biệt to - nhỏ. Khi trẻ trải nghiệm
chơi với quả bóng và viên bi có trẻ sẽ nói quả bóng to - viên bi nhỏ, có trẻ sẽ nói
quả bóng to- viên bi bé. Ở tình huống này tơi sẽ lắng nghe và sau đó phải thật khéo
léo giải thích cho trẻ hiểu bé và nhỏ là giống nhau nhưng hôm nay cô sẽ dạy các
phân biệt to - nhỏ nhé!.Như vậy trẻ sẽ hiểu được nhỏ và bé là giống nhau.
Qua những câu hỏi tơi đặt ra sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn từ mới. Ngồi ra cịn
giúp trẻ phát triển ngơn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng hơn. Ở lứa tuổi này trẻ
thường hay nói trống khơng , hoặc nói những câu khơng có nghĩa. Vì vậy bản thân
tơi ln chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc
lại.
Khi sử dụng biện pháp này, tôi thấy đa số trẻ đều rất hứng thú tham gia hoạt
động, trẻ được tư duy, mạnh dạn tự tin hơn,vốn từ của trẻ tăng lên rất nhiều và rõ
rệt, kiến thức trên trẻ đạt tỉ lệ cao.
* Biện pháp 2: Sắp xếp các góc chơi linh hoạt, sử dụng nhiều đồ dùng đồ
chơi có sức hút với trẻ.
- Xây dựng môi trường thẩm mỹ, thân thiện, an toàn, lấy trẻ làm trung tâm
giúp cho trẻ chơi bằng học, học bằng chơi. Từ đấy trẻ sẽ hứng thú hơn vào các hoạt

động học. Tôi luôn tạo cho trẻ hứng thú khi đến lớp, chia sẻ cảm xúc với trẻ mỗi


ngày, giúp trẻ có được cảm giác an tồn, u thương, gần gũi ở lớp giống như ở
nhà.
- Trong lớp tơi đã sắp xếp khơng gian, các góc hoạt động trong lớp học hợp
lý, thẩm mỹ, thân thiện, gần gũi với trẻ. Đồ dùng, đồ chơi, các nguyên vật liệu được
lựa chọn và sử dụng đa dạng - phong phú và có tính thâm mỹ, kích thích sự tị mị
của trẻ. Tận dụng những nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có ở địa phương như: vỏ
ngao, vỏ hến, đá cuội, ống giấy, bìa catton, các loại hột hạt, lá cây, gỗ… tất cả
những nguyên vật liệu cần được đảm bảo an tồn về sức khỏe, thân thiện với mơi
trường, khơng gây độc hại, không sắc nhọn. Tôi sử dụng những nguyên vật liệu gần
gũi với trẻ làm đồ dùng để dạy trẻ học. Hay tôi cùng trẻ sẽ cùng nhau tạo ra các sản
phẩm, đồ dùng, đồ chơi để trẻ sẽ sử dụng sản phẩm đó làm đồ dùng học cho trẻ .
- Lựa chọn, xây dựng một số góc chơi theo nhu cầu chơi, học tập của trẻ.
Tạo sự đối lập trong cách bố trí, sắp xếp hoặc trang trí về kích thước, màu sắc, hình
dạng, đặc điểm... tại các góc chơi để trẻ trải nghiệm và dễ dàng nhận biết.
* Ví dụ:
+ Góc hoạt động với đồ vật: Các đồ dùng, đồ chơi trong lớp học tôi sẽ bố trí
các loại đồ dùng, đồ chơi cùng chủng loại có kích thước to, nhỏ khác nhau. Sau mỗi
giờ chơi tôi sẽ yêu cầu trẻ cất đồ dùng vào hộp to, nhỏ tương ứng. Bố trí các đồ
dùng, đồ chơi có hình dạng, kích thước, màu sắc khác nhau theo cặp để gần nhau
giúp trẻ dễ nhận diện và phân biệt hơn. ( hình ảnh 4)
+ Việc sắp xếp đồ dùng sẽ thay đổi theo ngày hoặc tuần, tùy theo kế hoạch và
kiến thức, kỹ năng giáo viên muốn cung cấp cho trẻ, hoặc đơn giản chỉ là tạo ra sự
khác biệt, bất ngờ, kích thích sự tị mị cho trẻ. Mỗi lần thay đổi môi trường lớp học
như vậy giúp trẻ trẻ cảm thấy mới mẻ hơn, thoải mái khi tham gia hoạt động.
Trong khi dạy trẻ tôi luôn chú ý để biết trẻ nào nói đúng, trẻ nào nói sai nhằm
kịp thời sửa sai uốn nắn giúp trẻ nói đúng, đủ câu, đủ ý, khi cho trẻ nhận biết sự vật,
hiện tượng tôi tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá bằng nhiều giác

quan, tôi ln coi trọng q trình trẻ hoạt động hơn là kết quả hoạt động.
Khi cho trẻ chơi trò chơi, hay truyền đạt kiến cho trẻ kết hợp trên các phần
mềm, trên máy vi tính, tivi....tơi thấy trẻ rất say sưa và hào hứng, trẻ tham gia rất
tích cực vào hoạt động mà không cảm thấy chán nản, mệt mỏi.
3.Biện pháp 3.Phân loại câu hỏi riêng cho từng đối tượng trẻ và biện pháp
giáo dục trẻ cá biệt.
Trẻ 24-36 tháng tuổi rất thích được tìm hiểu, khám phá các sự vật, hiện tượng
xung quanh và các mối quan hệ trong xã hội, trẻ thích được nghe, được nói, được
hiểu ngơn ngữ.


Trẻ ln có những câu hỏi: “Ai đây? cái gì đây? con gì?”...Để giúp trẻ nhận biết các
sự vật hiện tượng, từ đó làm tăng vốn từ cho trẻ thì người lớn phải trả lời đúng, đầy
đủ các câu hỏi mà trẻ đặt ra, ln tạo tình huống để trẻ tìm hiểu, khám phá. Những
câu hỏi đặt ra cho trẻ phải ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng trẻ, vì trong
một lớp khơng phải trẻ nào cũng đều nhận thức được như nhau.Tơi phải tìm hiểu
đặc điểm vốn từ của trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp.
Đối với những trẻ nhận thức trung bình tơi đặt câu hỏi ở mức phù hợp:
+ Con gì đây?
+ Cái gì đây?
+ Ai đây?
Đối với những trẻ nhận thức nhanh tơi đưa ra câu hỏi u cầu cao hơn, kích
thích sự phát triển tư duy của trẻ.
Ví dụ:
+ Cam có vị gì?
+Vỏ quả cam như thế nào?
+ Nhà con có những ai?
+ Nhà con ni những con gì?
+ Con thích con nào nhất?
+ vì sao con thích?

Đối với những trẻ nhận thức chậm, nhút nhát, tơi có thể cho trẻ nhắc lại những
câu nói của bạn hoặc dùng câu hỏi có tính chất gợi mở.
Ví dụ:
+Vỏ cam nhẵn hay sần sùi?
+Cam chín vỏ có màu gì?
+Con gà gáy ị...ó...o
Đối với những trẻ nói ngọng, tơi thường xun gọi trẻ trẻ lời nhiều hơn,sửa
cho trẻ nhiều lần.
Đối với những trẻ nói lắp, nói câu thiếu thành phần, tơi tập cho trẻ nhiều lần,
nói thong thả, bình tĩnh tạo khơng khí vui vẻ, thoải mái cho trẻ mạnh dạn tập nói.
Đối với những trẻ ít nói, ít hoạt động tơi ln động viên, khích lệ tạo cơ hội
dẫn dắt trẻ tham gia hoạt động. Tơi dùng những lời nói ân cần, âu yếm, cử chỉ nhẹ
nhàng thân thiện tạo cảm giác cho trẻ an tâm tập nói và tham gia vào các hoạt động.
Qua việc sử dụng câu hỏi phù hợp và biện pháp rèn trẻ cá biệt đã giúp
trẻ nhận biết sự vật, hiện tượng xung quanh và phát triển ngôn ngữ tốt, có điều kiện
học hỏi lẫn nhau.


4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh, quan tâm nhiều đến những
trẻ nói ngọng, ngại giao tiếp
Học nói cũng là bước đầu giúp trẻ phát triển tốt về trí tuệ. Vậy làm thế nào để
giúp trẻ phát triển vốn từ một cách hiệu quả? Làm sao để trẻ có thể nói tốt, câu từ
mạch lạc, và “chuẩn” về ngữ nghĩa? Vấn đề này cần có sự phối hợp đầu tư giữa nhà
trường và gia đình, khơng chỉ phụ thuộc vào những bài học những hoạt động trẻ
được học ở trường mà cha mẹ cũng cần đầu tư thời gian tương tác với trẻ phát huy
tốt nhất hiệu quả của việc phối hợp giữa trường lớp và môi trường trẻ sinh hoạt
hàng ngày.
Để vốn từ của trẻ phát triển tốt khơng thể thiếu được đó là sự đóng góp của gia
đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết. Vì đây là trẻ nhà trẻ, trẻ bắt đầu tập
nói tơi trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ

huynh phối kết hợp với cô giáo trong việc phát triển vốn từ cho trẻ.
- Ngoài các biện pháp trên, thì tơi ln làm tốt cơng tác phối hợp với phụ
huynh học sinh, tạo sự gắn kết giữa giáo viên và gia đình trẻ trong hoạt động chăm
sóc giáo dục. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh trong các giờ đón và trả trẻ,
qua zalo nhóm lớp hay qua các buổi họp phụ huynh hay tham quan dã ngoại nhà
trường tổ chức, qua các buổi hoạt động ngoại khố.Tơi ln như lắng nghe thơng tin
từ cha mẹ trẻ với thái độ thân thiện, chân thành để cùng tìm ra các phương pháp tốt
nhất giúp trẻ phát triển tốt nhất theo đặc điểm tâm lý của từng cá nhân trẻ
* Qua giờ đón - trả trẻ:
Trong thời gian đón - trả trẻ, tơi tranh thủ gặp gỡ trao đổi bàn bạc với phụ
huynh tìm ra những biện pháp giúp trẻ học nhận biết một cách tốt nhất khi ở nhà.
Tơi lên kế hoạch các nội dung chương trình học của trẻ. Để phụ huynh biết
trên lớp con học những gì?
Trao đổi với phụ huynh trong bài học đó con học cần những đồ dùng gì? Có
màu sắc gì? Để nếu phụ huynh có điều kiện thì phụ huynh có thể ủng hộ thêm đồ
dùng để các con có nhiều đồ dùng phong phú hơn trong hoạt động. Tận dụng đồ
dùng từ thiên nhiên, đồ dùng dễ kiếm, gần gũi, đồ dùng sẵn có ở nhà giúp con nhận
biết tốt khi ở nhà mà không tốn kém.
* Thông tin góc “ Cha mẹ cần biết”:
Thơng qua góc tun truyền Cha mẹ cần biết, tôi cung cấp cho phụ huynh kết
quả cân - đo, khám sức khỏe của trẻ, nội dung các bài thơ, bài hát câu chuyện trong
tuần, các bài tuyên truyền về kinh nghiệm nuôi dạy con......nội dung góc tuyên
truyền được cập nhật thường xuyên, kịp thời. ( Hình ảnh 5)
* Thơng qua cơng nghệ thơng tin


Ngày này xã hội phát triển kéo theo đó là cơng nghệ thơng tin phát triển. Các
bậc phụ huynh có thể dạy con học trực tuyến trên các website. Từ đó kích thích sự
tìm tịi, thích học, thích khám phá và tìm hiểu về mọi thứ xung quanh mình ở thế
giới bên ngồi.

* Thơng qua các buổi sinh hoạt, họp phụ huynh hay qua các buổi hoạt động
ngoại khoá, dã ngoại
Phối hợp với nhà trường tổ chức các buổi họp phụ huynh cô giáo sẽ nhận xét
và chia sẻ về từng cá nhân trẻ để phụ huynh biết rõ hơn về khả năng nhận biết phân
biệt của con em mình. Từ đó họ có kế hoạch tập luyện cho con, nhất là những bạn
còn yếu, chưa theo kịp các bạn.
- Đồng thời việc PHHS cùng tham gia vào các hoạt động giúp chất lượng các
hoạt động NBPB của trẻ được nâng lên do trẻ được hướng dẫn và rèn luyên các bài
học ở lớp cũng như ở nhà.
Sau khi áp dụng những biện pháp này tơi thấy trẻ lớp mình hứng thú hơn
trong giờ hoạt động nhận biết phân biệt. Quý hơn nữa là bản thân tôi nhận được rất
nhiền lời phản hồi tích cực từ phụ huynh qua zalo lớp và chia sẻ trực tiếp khi đón trả
trẻ, khiến giáo viên chúng tơi cảm thấy có thêm nhiều động lực và thiết nghĩ cần
sáng tạo đổi mới hơn để đem lại những điều tuyệt vời nhất cho trẻ.
* Ví dụ:
- Trao đổi với phụ huynh về các kiến thức trong 1 ngày của trẻ, hay trao đổi
về khả năng tiếp thu của trẻ những mặt mạnh và hạn chế của trẻ để cùng tìm ra các
phương pháp tốt nhất giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
- Ở lớp tổ chức sinh nhật cho các con giáo viên kết hợp cùng phụ huynh tổ
chức cho các con để từ đó sẽ tạo thêm được sự gắn kết giữa phụ huynh và giáo viên.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết quả sau khi thực hiện đề tài:
Sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi thu được kết quả như sau:
1.1 Đối với trẻ:
- Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp
- Trẻ có thể nói rõ ràng, mạch lạc hơn nhiều
- Trẻ khơng cịn nói ngọng, nói lắp nhiều như trước
- Đa số trẻ đã nói được câu dài có vốn từ mở rộng
- Trẻ đã nói được câu có đủ chủ ngữ, vị ngữ khi giao tiếp với người lớn.
Đối chứng với kết quả khảo sát đầu năm, tỷ lệ cuối học kỳ I thu được như sau:

Bảng so sánh, đối chứng kết quả giữa đầu năm với cuối học kỳ I


S
tt

1

Nội dung SL
tr
so sánh,
đối chứng ẻ

Kết quả
đầu năm
Đạt
Chưa đạt

SL
7/2
0

%
35
%

SL
13/2
0


%
65
%

Kết quả
So sánh,
cuối học kỳ I
đối chứng
Đạt
Chưa đạt
Tỷ lệ trẻ
đạt Tăng
SL
15/2
0

%
75
%

SL %
5
25%

%

Trẻ nói rõ 20
ràng mạch
40%
lạc

2 Trẻ nói có 20 7/2 35 13/2 65
15/2 75
5
25%
chủ ngữ,vị
40%
0
% 0
%
0
%
ngữ
3 Trẻ nói
20 6/2 30 14/2 70
11/2 55
9
45%
được câu
0
% 0
%
0
%
dài,có vốn
25%
từ mở
rộng
4 Trẻ khơng 20 6/2 30 14/2 70
14/2 70
6

30%
nói
0
% 0
%
0
%
ngọng,nói
30%
lắp,nói
ngược
câu.
5 Trẻ mạnh
5/2 25 15/2 75
12/2 60
8
40%
dạn,tự tin
0
% 0
%
0
%
35%
trong giao
tiếp
Nhìn vào bảng trên ta thấy, sau một học kỳ, khi áp dụng các biện pháp trên, trẻ lớp
tơi đã có những bước tiến bộ đáng kể so với hồi đầu năm. Mức độ đạt ở 5 nội dung
đánh giá tăng lên rõ rệt, trung bình tăng từ 25% đến 40% .
1.2. Đối với giáo viên:

- Bản thân đã hiểu rõ hơn và nhận thức được tầm quan trọng của ngơn ngữ với
việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ, không ngừng học tập để nâng cao
trình độ chun mơn, rèn luyện ngơn ngữ của mình để phát âm chuẩn.
- Đã tìm ra được một số biện pháp phát triển vối từ cho trẻ 24-36 tháng thông
qua hoạt động nhận biết ở trường mầm non nhằm đạt hiệu quả tốt nhất. Các giờ dạy
trở nên linh hoạt hơn khơng cịn nhàm chán như trước đây.
2. Kết luận:


Để việc phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động nhận
biết được nâng cao chất lượng và có hiệu quả địi hỏi người giáo viên khơng những
nắm vững nội dung, phương pháp dạy học mà phải ln tìm tịi, sáng tạo những
phương pháp, biện pháp mới phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, đặc biệt là
phương pháp trò chơi sẽ giúp cho việc học của trẻ trở nên thoải mái, nhẹ nhàng hơn.
Phát triển vốn từ cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi,
mọi hoạt động.
Trước hết cần phải cung cấp vốn từ cho trẻ, giúp cho trẻ hiểu được nghĩa của
từ, khuyết khích trẻ hoạt động lời một cách tích cực thơng qua hoạt động giao tiếp,
học tập, vui chơi...
Trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động giao tiếp cần tạo cho trẻ diễn đạt một
cách rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ nguyện vọng của mình, uốn nắn kịp thời ngôn ngữ
của trẻ.
+ Việc tổ chức cho trẻ nói chuyện, trao đổi với nhau là cần thiết để phát triển
vốn từ cho trẻ. Điều này tập cho trẻ diễn đạt ngơn ngữ một cách tích cực và vốn từ
của trẻ phát triển nhanh hơn.
Là một giáo viên mầm non, tôi nhận thấy được những ưu điểm của việc cho trẻ
phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ vơ cùng quan trọng.

3. Khuyến nghị:
Trong q trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi thấy để nâng cao việc phát

triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi được tốt hơn, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số
khuyến nghị, đề xuất như sau:
a. Đối với Phòng giáo dục và đào tạo:
- Đề nghị Phòng giáo dục mở thêm lớp học và nâng cao trình độ cơng nghệ
thơng tin để giáo viên được tiếp cận và nâng cao trình độ hơn nữa.
- Cần tổ chức cho giáo viên đi tham quan học tập ở các trường bạn, để học hỏi
kinh nghiệm với các đồng nghiệp về phương pháp cách tổ phát triển vốn từ thông
qua các hoạt động nhận biết.
-Tiếp tục tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia các buổi tập huấn về
chuyên đề “phát triển ngôn ngữ” lứa tuổi nhà trẻ đặc biệt là các buổi tập huấn về
hoạt động phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhân biết.
b. Đối với nhà trường:


- Ban giám hiệu cần có kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên về kiến thức chăm
sóc giáo dục trẻ trong q trình phát triển vốn từ và có những biện pháp hữu hiệu
hơn nữa để giáo viên thực hiện tốt hơn.
- Xây dựng nhiều tiết mẫu về chuyên đề phát triển ngôn ngữ tại các lớp điểm để
giáo viên được học tập và rút kinh nghiệm
Trên đây là bản sáng kiến kinh nghiệm của tơi. Trong q trình thực hiện đề
tài này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng
góp ý kiến của đồng nghiệp, BGH để trong năm học tới tôi thực hiện tốt hơn
Xin trân trọng cảm ơn!


CÁC HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CHO TỪNG BIỆN PHÁP

Hình ảnh 1: Trẻ được trải nghiệm soi gương, chải đầu minh chứng cho biện
pháp 1


Hình ảnh 2 : trẻ được trải nghiệm cho thỏ ăn và nhặt trứng gà minh chứng cho
biện pháp 1


Hình ảnh 3 : Trẻ được trải nghiệm trong giờ nhận biết các loại rau

Hình ảnh 4: Góc hoạt động với đồ vật minh chứng cho biện pháp 2



×