MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………..
1.2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………
1.4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………..…
1.5. Những điểm mới của SKKN………………………………………………….
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.......................................................................................................
2.1.1. Những khái niệm liên quan đến hành vi lệch chuẩn….……………………
2.1.2. Các biểu hiện của hành vi lệch chuẩn trong trường học..………………….
2.1.3. Phân loại hành vi lệch chuẩn trong trường học..............................................
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lệch chuẩn của học sinh..........................
2.2. Thực trạng về hành vi lệch chuẩn của học sinh trường THPT Thường Xuân 2
2.2.1. Đặc điểm chung của trường THPT Thường Xuân 2....................................
2.2.2. Thực trạng về hành vi lệch chuẩn của học sinh trường THPT Thường Xuân 2
2.2.3. Kết quả nghiên cứu về thực trạng hành vi lệch chuẩn của học sinh trường
THPT Thường Xuân 2..............................................................................................
2.2.4. Nguyên nhân của thực trạng hành vi lệch chuẩn ở học sinh trường THPT
Thường Xuân 2.........................................................................................................
2.2.5. Hậu quả của hành vi lệch chuẩn đối với học sinh..........................................
2.3. Sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề đạt
hiệu quả hạn chế hành vi lệch chuẩn cho học sinh trường THPT Thường Xuân 2..
2.3.1. Làm tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về hành
vi chuẩn mực cho HS ………………..…………………………………………..
2.3.2. Phát huy vai trò của Hội đồng sư phạm trong việc hạn chế HVLC của HS...
2.3.3. Nâng cao hiệu quả công tác tư vấn tâm lí trong việc hạn chế HVLC cho HS....
2.3.4. Chú trọng công tác xây dựng trường học hạnh phúc ………………..……
2.3.5. Tổ chức tốt các sân chơi lành mạnh, bổ ích cho HS ………………..………
2.3.6. Phát huy vai trị của Đồn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn trong công tác định hướng hành vi chuẩn mực cho HS ………………..…
2.3.7. Tăng cường xây dựng mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh, thân thiện
2.3.8. Tổ chức tốt công tác phối kết hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội
trong công tác giáo dục HS ………………..………………………………………
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm, sau khi áp dụng các giải pháp ……….
3
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận……………………………………………………………………….
3.2. Kiến nghị…………………………………………………………………….
1
1
2
2
2
2
3
3
3
3
4
4
5
5
5
6
7
8
8
8
9
10
11
12
12
15
17
19
20
20
20
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nguồn lực con người, vì thế giáo dục và đào tạo
hết sức được chú trọng. Giáo dục tạo ra con người có đạo đức, tri thức, kỹ năng,..được
coi là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực, là yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã
khẳng định: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học,
hài hịa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục
theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề;
tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo
đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản
của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi,
nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (1). Chính vì vậy, giáo dục
đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh nói riêng là rất cần thiết. Để giúp học
sinh phát triển tồn diện hình thành nhân cách con người, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động
dạy học nhằm truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản, có hệ thống cịn
phải đẩy mạnh hoạt động giáo dục phát triển năng lực, phẩm chất, kỹ năng sống cho học
sinh, nhằm hình thành cho học sinh về ý thức và niềm tin, về thái độ ứng xử đúng đắn
trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi và các kỹ năng hoạt động, tạo cơ sở để
học sinh bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp. Tuy nhiên, thực tế qua q
trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta đã tạo cơ hội và điều
kiện cho sự phát triển nhiều mặt của đất nước. Song mặt trái của cơ chế thị trường, cùng
nhịp sống xã hội sơi động với nhiều áp lực thì việc phát sinh những lời nói, hành động
thể hiện những sai lệch về lối ứng xử của một bộ phận người dân Việt Nam nói chung,
trong đó có học sinh, sinh viên nói riêng đã xuất hiện và ngày một gia tăng. Bên cạnh đó,
các hình thức giao tiếp, kết nối trên phương tiện thông tin, mạng xã hội trong thời kỳ
công nghệ 4.0 hiện nay rất đa dạng, nhưng thiếu kiểm soát đã góp phần ảnh hưởng đến
việc giáo dục kỹ năng sống và làm lan tràn lối ứng xử lệch chuẩn, không đúng với thuần
phong, mỹ tục, đã gây xáo trộn khơng nhỏ đến các chuẩn mực văn hóa trong xã hội.
1()
Tham khảo tại TLTK số 5
2
Bên cạnh đó, trong thời gian qua các nhà trường nói chung và trường THPT Thường
Xuân 2 nói riêng, chỉ mới tập trung, chú trọng đến việc trang bị những kiến thức chuyên
môn mà chưa thực sự quan tâm đến công tác phát hiện, uốn nắn các hành vi lệch chuẩn,
cũng như giáo dục kỹ năng sống cho học sinh một cách kịp thời và khoa học; chưa quan
tâm đầu tư một cách thích đáng cả về nhân lực, tài lực, thời gian,…; vì thế số học sinh
(HS) có hành vi lệch chuẩn (HVLC) trong các nhà trường có su hướng ngày càng gia
tăng, số HVLC ngày càng nhiều. Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo, Nghị quyết TW
2 (khóa VIII) nhấn mạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, có những biểu
hiện suy thối về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hồi bão
lập thân lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” (2). Phần lớn HVLC của học
sinh được thể hiện qua việc sử dụng chất kích thích (hút thuốc, uống rượu…), bạo lực
học đường, vi phạm an tồn giao thơng, sản xuất và mua bán pháo nổ,…đặc biệt là có
những hành vi bạo lực với bạn bè, thầy giáo, cô giáo. Vấn đề đặt ra là nếu những người
làm công tác giáo dục không điều chỉnh và uốn nắn kịp thời hành vi lệch chuẩn của học
sinh thì học sinh có thể dẫn đến khủng hoảng và lệch lạc về hành vi và làm ảnh hưởng
tiêu cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách ở các em. Nhưng thế nào là hành vi
lệch chuẩn, nguyên nhân cũng như các giải pháp phịng ngừa và can thiệp như thế nào để
có hiệu quả thì khơng phải thầy cơ giáo, nhà quản lý giáo dục nào cũng hiểu rõ.
Qua thực tiễn nhiều năm làm cơng tác quản lí giáo dục và từ nhận thức sâu sắc về
hậu quả của các hành vi lệch chuẩn ở học sinh và từ những kinh nghiệm mà bản thân tích
lũy được trong những năm học vừa qua, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Một số kinh nghiệm
trong việc hạn chế hành vi lệch chuẩn cho học sinh trường THPT Thường Xuân 2”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hành vi lệch chuẩn của học sinh
trường THPT Thường Xuân 2. Đề tài đưa ra một số kinh nghiệm sát thực làm hạn chế
hành vi lệch chuẩn cho học sinh, góp phần vào việc nâng cao nhận thức, hành vi đúng
đắn, giúp học sinh phát triển một cách tồn diện, thích nghi và đà đáp ứng được các yêu
cầu của việc xây dựng mơi trường học tập an tồn, thân thiện, hạnh phúc.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo nghiệm thực tế, đưa ra thực trạng, nguyên nhân
dẫn đến hành vi lệch chuẩn của HS ở trường THPT Thường Xuân 2, từ đó đề xuất các
giải pháp hạn chế hành vi lệch chuẩn cho học sinh của nhà trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng hệ thống các phương pháp: phân tích, tổng
hợp, phỏng vấn, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học…
1.5. Những điểm mới của SKKN
- Đề tài đã làm sáng tỏ thêm nội hàm các khái niệm liên quan đến hành vi lệch
chuẩn, Các biểu hiện của hành vi lệch chuẩn trong trường học, Các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi lệch chuẩn của học sinh.
2()
Tham khảo tại TLTK số 6
3
- Thơng qua khảo sát và phân tích thực trạng, đề tài đã chỉ ra được những biểu
hiện và tác hại của HVLC ở học sinh trường THPT Thường Xuân 2, để từ đó tìm ra
ngun nhân của thực trạng này. Đó là: thiếu sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý;
nhận thức của học sinh về HVLC cịn mơ hồ, bên cạnh đó sự phối kết hợp giữa nhà
trường- gia đình- xã hội trong giáo dục cho học sinh còn nhiều bất cập…
- Trên cơ sở kinh nghiệm tích lũy được trong những năm học vừa qua, đưa ra một số
kinh nghiệm trong việc hạn chế hành vi lệch chuẩn cho học sinh trường THPT Thường
Xuân 2 một cách thiết thực, hiệu quả và thuận tiện cho các nhà trường vận dụng. Đặc biệt
là các trường THPT miền núi có điều kiện tương đồng.
4
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận(3).
2.1.1. Những khái niệm liên quan đến hành vi lệch chuẩn
2.1.1.1. Hành vi
Trong cuộc sống thường ngày thì mỗi chúng ta đều đã‚ đang và sẽ thực hiện rất
nhiều hành vi‚ có thể là những hành vi tốt đẹp‚ mang tính tích cực hoặc cũng có thể là
những hành vi xấu‚ chưa đúng chuẩn mực của xã hội‚ mang tính tiêu cực ở mức độ khác
nhau. Có nhiều định nghĩa về Hành vi, Theo từ điển Tâm lý học Mỹ: Hành vi là thuật
ngữ khái quát chỉ những hoạt động, phản ứng, phản hồi, di chuyển và tiến trình đó có thể
đo lường được của bất cứ cá nhân nào. Ở Việt Nam, theo góc độ ngơn ngữ học của từ
điển Tiếng Việt: Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra
bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Hành vi trong đề tài này được hiểu là: Hành vi là chỉ sự hoạt động có mục đích của
con người, tức hành vi là tên gọi chung cho tất cả mọi hành động biểu hiện ra trong cuộc
sống thường ngày của con người. Từ ý thức biểu hiện thành động tác tức là hình thành
hành vi của con người. Hành vi của con người, do bản thân, thời gian, sự việc, sự vật
thay đổi nên cũng thay đổi khác nhau. Song điều đó khơng có nghĩa hành vi là một cái gì
khơng thể nắm bắt, đánh giá được. (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
1.1.1.2. Hành vi lệch chuẩn
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi lệch chuẩn:
Lưu Song Hà định nghĩa “Hành vi lệch chuẩn là hành vi chệch khỏi các quy tắc,
chuẩn mực của nhóm hay của xã hội. Hành vi lệch chuẩn có tính chất tương đối về văn
hố và lịch sử”.
Trong Từ điển Tâm lý học có nêu: “Hành vi lệch chuẩn là hệ thống hành vi hoặc các
hành vi riêng lẻ đối lập với các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật đã được xã hội thừa
nhận. Những kiểu dạng hành vi lệch chuẩn chủ yếu là phạm pháp và những hành vi phi
đạo đức nhưng chưa phải chịu trách nhiệm hình sự (say rượu, ăn cắp vặt…). Những hành
vi lệch chuẩn thường là cơ sở hình thành các hành vi vi phạm pháp luật”.
Những học sinh có hành vi lệch chuẩn trong trường học, Nguyễn Văn Song đã cho
rằng: “Học sinh có hành vi lệch chuẩn là học sinh có những hành vi lệch ra khỏi những
chuẩn mực xã hội về đạo đức, truyền thống, thẩm mỹ, pháp luật, vi phạm nội quy trường
lớp làm ảnh hưởng xấu đến cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội”.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều đồng ý với quan điểm hành vi lệch chuẩn là
hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật, những quy định
chung và cần điều chỉnh.
2.1.2. Các biểu hiện của hành vi lệch chuẩn trong trường học
Trong trường học hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi lệch chuẩn. Từ
các nghiên cứu gần đây và từ thực tiễn cho thấy các biểu hiện hành vi lệch chuẩn sau:
Nét tính cách tăng đậm gây rối loạn/ bất thường về hành vi: tăng động, thiếu tính ổn
định, tự ti dễ tổn thương, dễ bị kích thích, cục tính, hung tính, hysteria, adua…
3()
Tham khảo tại TLTK số 7, có tham khảo thêm TLTK số 3, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
5
Nghiện internet: hành động phản cảm, tung tin thất thiệt, cảm xúc cực đoan thái quá,
tạo scandal, thời gian tham gia mạng xã hội, tham gia mọi lúc, mọi nơi,…
Hành vi hung tính, cực đoan (đe dọa, bắt nạt,uy hiếp, khởi xướng đánh nhau, dùng
vũ khí, cướp, phá hoại tài sản, bỏ học, bỏ nhà…
Nghiện chất kích thích; ngại giao tiếp, khơng quan tâm đến diện mạo, trầm nhược,
hung tính, ngại vận động, biểu cảm thất thường, học sút kém, trộm cắp, kém tập trung,
chán ăn…
Tự xâm hại: tự làm tổn thương bản thân
Rối loạn cư xử và thách thức chống đối: thờ ơ, xung động, cảm xúc thất thường, gây
hấn, khơng tn thủ, nói dối, nổi giận, cãi cọ, đổ lỗi, cố tình trái ý người khác…
2.1.3. Phân loại các hành vi lệch chuẩn trong trường học
Các hành vi lệch chuẩn thường được phân loại theo hai tiêu chí:
Thứ nhất, căn cứ vào nội dung, tính chất của các chuẩn mực xã hội bi x̣ âm hại:
Hành vi lệch chuẩn tích cực là những hành vi (có thể là cố ý hoặc vô ý) vi phạm,
phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực xã hội đã lạc hậu, lỗi thời, khơng cịn phù hợp với
thực tế xã hội.
Hành vi lệch chuẩn tiêu cực là những hành vi (cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ
hiệu lực, sự tác động của các chuẩn mực xã hội phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh
hành và được thừa nhận rộng rãi trong xã hội.
Thứ hai, căn cứ vào thái đô,̣ tâm líchủ quan của người thực hiện hành vi lệch
chuẩn gồm có hành vi sai lệch chủ động và hành vi sai lệch thụ động:̣
Hành vi lệch chuẩn chủ động làhành vi cóýthức, có tính tốn, cố ý (trực tiếp hay
gián tiếp) vi phạm, phávỡ hiệu lực của các chuẩn mực xã hội, dùchuẩn mực đóđã lạc hậu,
lỗi thời hay cịn đang tiến bộ. Họ có thể nhận thức được yêu cầu của cộng đồng nhưng họ
cứ hành động theo ý họ mặc dù biết khơng phù hợp. Ví du,̣ HS biết đánh bạn là xấu,
không được phép nhưng vẫn cứ đánh.
Hành vi lệch chuẩn thụ động là hành vi vơ tình khơng mong muốn vi phạm, phá
vỡ tinh́ ổn định các chuẩn mực xã hội. Đặc trưng của loại hành vi sai lệch này là người
sai lệch không biết hành vi của mình là sai lệch, nguyên nhân là do họ không nắm vững
chuẩn mực hoặc do hiểu sai các chuẩn mực.
Trong đề tài này tôi nghiên cứu về các HVLC tiêu cực, bao gồm cả hành vi lệch
chuẩn chủ động và thụ động trong mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường, xã hội và với
chính bản thân HS.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lệch chuẩn của học sinh
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến HVLC của HS. Trong đề tài này tôi nghiên cứu về
HVLC tiêu cực, vì vậy tơi xác định hai nhóm yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến HVLC của
HS như sau:
Nhóm yếu tố chủ quan gồm: ý thức tự trang bị kiến thức, các trải nghiệm của bản
thân, tâm lí lứa tuổi, đặc điểm tính cách cá nhân...
Nhóm yếu tố khách quan: bạn bè, gia đình, nhà trường, mơi trường xã hội, chương
trình giáo dục, các loại sách báo, tài liệu, mạng intenet, mạng xã hội...
6
2.2. Thực trạng về HVLC của học sinh ở trường THPT Thường Xuân 2.
2.2.1. Đặc điểm chung của trường THPT Thường Xuân 2.
Trường THPT Thường Xuân 2 được thành lập tháng 7 năm 2003, trường đóng
trên địa bàn xã Luận Thành, phía Nam của huyện Thường Xuân là huyện miền núi phía
tây của tỉnh Thanh Hóa, trường nằm cách trung tâm huyện gần 25 km. Tuy thời gian
thành lập chưa nhiều nhưng đến nay trường đã có một cơ ngơi tương đối khang trang. HS
nhà trường chiếm hơn 70% là người dân tộc thiểu số, nhiều em đi học phải ở trọ. Nhìn
chung, các em đều chăm ngoan và có tinh thần vượt khó để vươn lên trong học tập, rèn luyện
và tu dưỡng(4).
Qui mô nhà trường những năm gần đây(5):
Tổng
Tổng số
Số HS
HS dân tộc Số HS nữ
số lớp
học sinh
ở trọ
2020 -2021
21
794
596
409
211
2021-2022
21
791
561
412
192
2022-2023
21
779
558
398
104
Trong những năm qua chất lượng giáo dục của nhà trường đã có những bước tiến
rõ dệt. Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT duy trì ở mức trên 97%; tỉ lệ học sinh đậu
Đại học, Cao đẳng bình quân đạt 62,3%. Chất lượng mũi nhọn từng bước được nâng lên,
số học sinh giỏi cấp tỉnh các năm học duy trì từ 13 – 16 giải; tỷ lệ học sinh khá giỏi hàng
năm đạt 56,1%. Chất lượng giáo dục đạo đức hàng năm có chuyển biến tích cực, tuy
nhiên vẫn còn HS chưa nghiêm túc trong việc thực hiện nền nếp, nội quy nhà trường, bỏ
học, chốn tiết, chưa tích cực tham gia các phong chào thi đua, các hoạt động tập thể, cịn
tình trạng HS vi phạm các quy định của pháp luật như cờ bạc, lô đề dẫn đến vay tín dụng
đen; chưa thực hiện đảm bảo trật tự an tồn khi tham gia giao thơng (6).
2.2.2.Thực trạng về hành vi lệch chuẩn của học sinh trường THPT Thường Xuân 2(7)
Trong thời gian qua tôi đã thực hiện tiến hành khảo sát ngẫu nhiên với 336 HS từ
lớp 10 đến lớp 12 của nhà trường, trong đó khối 10 có 125 HS, khối 11 có 115 HS, khối
12 có 96 HS; số học sinh nam và nữ ở mỗi khối lớp tham gia khảo sát là tương đương
nhau; Thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 01 đến tháng 4 năm 2022. Cụ thể:
2.2.2.1. Thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Thường Xuân 2 về hành
vi lệch chuẩn.
Để thực hiện khảo sát thực trạng nhận thức về HVLC của các em HS, chúng tôi đã
sử dụng Phiếu điều tra nhận thức, với câu hỏi 1, ở phụ lục 1. Sau khi tiến hành điều tra,
phân tích, xử lý số liệu, kết quả thu được như sau: Có 17,2% số HS được điều tra cho
rằng hành vi lệch chuẩn là hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức; có 28,7% số
HS được điều tra cho rằng hành vi lệch chuẩn là hành vi khơng phù hợp với chuẩn mực
văn hóa; có 54,1% số HS được điều tra cho rằng hành vi lệch chuẩn là hành vi không
Năm học
Tham khảo tại TLTK số 12
Tham khảo tại TLTK số 11
6()Tham khảotại TLTK số 11.
7()Mục 2.2.2. Phần thực trạng, Tác giả thực hiện việc khảo sát qua phiếu .
4()
5()
7
phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, pháp luật, những quy định chung và cần
điều chỉnh.
Từ kết quả khảo sát cho thấy, các em nhận thức về khái niệm HVLC đầy đủ vẫn ở
mức trung bình (54,1%), vẫn còn nhiều em chưa nhận thức đúng, đầy đủ thế nào là
HVLC (45,9%). Điều đó cho thấy việc tìm hiểu thực trạng nhận thức của các em về vấn
đề rất quan trọng vì nguyên nhân của HVLC trước hết xuất phát từ nhận thức. Nhận thức
sai dẫn đến hành vi không đúng.
2.2.2.2. Thực trạng nhận thức về chuẩn mực hành vi cần có của bản thân đối với
gia đình, nhà trường và xã hội.
Để tìm hiểu nhận thức về chuẩn mực hành vi cần có của HS đối bạn bè, thầy cô;
Nội quy, quy chế của trường, lớp; Yêu cầu về lối sống sinh hoạt hàng ngày và đối xử với
các thành viên trong gia đình, quan hệ với người thân; tôi sử dụng câu hỏi 2, ở Phụ lục 1.
Kết quả thu được như sau:
- Hành vi của học sinh cần có ở gia đình; có 58,9% HS đồng ý, 30,3% HS lưỡng
lự và có 10,8% HS khơng đồng ý.
- Hành vi của học sinh cần có trong nhà trường; có 58,3% HS đồng ý, 29,1% HS
lưỡng lự và có 12,6% HS khơng đồng ý.
- Hành vi của học sinh cần có ngồi xã hội; có 59,2% HS đồng ý, 31,2% HS lưỡng
lự và có 9,6% HS khơng đồng ý.
Từ kết quả trên cho thấy học sinh Trường THPT THường Xuân 2 đã có nhận thức
về chuẩn mực hành vi cần có của bản thân đối với gia đình, nhà trường, xã hội. Tuy
nhiên trình độ nhận thức của các em vẫn chưa cao chỉ mới đạt ở mức trung bình với tỷ lệ
trả lời đúng chuẩn mực trong gia đình là 58,9%, trong nhà trường là 58,3%, đối với xã
hội là 59,2%. Số lượng các em lưỡng lự và khơng đồng ý cịn nhiều. Điều đó cho thấy
các em chưa nhận thức hết tầm quan trọng của chuẩn mực hành vi của bản thân.
2.2.3. Kết quả nghiên cứu về thực trạng hành vi lệch chuẩn của học sinh trường
THPT Thường Xuân 2(8).
2.2.3.1. Kết quả tự đánh giá của HS về mức độ hành vi lệch chuẩn của bản thân.
Thực trạng HVLC của học sinh dựa trên các biểu hiện như: sự tự đánh giá của học
sinh về các HVLC của bản thân, đánh giá của giáo viên (GV) về hành vi của học sinh,
biểu hiện ban đầu về các HVLC thông qua thái độ của học sinh, biểu hiện cụ thể các
HVLC xã hội của học sinh. Tôi sử dụng câu hỏi số 3, ở Phụ lục 1 để khảo sát và kết quả
thu được như sau:
- Hành vi không đúng với chuẩn mực đạo đức chung ở gia đình; có 20,2% HS cho
rằng ở mức thường xun, 26,4% ở mức thỉnh thoảng và 53,4% ở mức không xảy ra.
- Hành vi không đúng với quy định chung ở nhà trường; có 16,6% HS cho rằng ở
mức thường xuyên, 29,7% ở mức thỉnh thoảng và 53,7% ở mức không xảy ra.
- Hành vi không đúng với pháp luật, quy tắc ở xã hội; có 13,9% HS cho ở mức
thường xuyên, 36,3% ở mức thỉnh thoảng và 49,8% ở mức không xảy ra.
8()
Mục 2.2.3. Tác giả thực hiện điều tra qua phiếu và phỏng vấn GV-NV .
8
- Tự nhận bản thân chưa ngoan; có 21,4% HS cho ở mức thường xuyên, 26,1% ở
mức thỉnh thoảng và 52,5% ở mức không xảy ra.
Qua kết quả trên nhận thấy, có 21,4% tự nhận mình là học sinh chưa ngoan chiếm
số lượng nhiều nhất, tiếp theo là hành vi khơng đúng với chuẩn mực gia đình (20,2%),
hành vi khơng đúng với qui định chung của nhà trường (16,6%), không đúng với pháp
luật, qui tắc xã hội (13,9 %). Đây là một thực trạng đầy thách thức đối với gia đình, nhà
trường, xã hội và chính bản thân học sinh, cần có các giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế
các hành vi lệch chuẩn.
2.2.3.2. Kết quả khảo sát các biểu hiện cụ thể của hành vi lệch chuẩn của học sinh
trường THPT Thường Xuân 2
Kết hợp khảo sát bằng phiếu ở phụ lục 2 và phỏng vấn một số GV, tôi thống kê,
tổng hợp được các biểu hiện hành vi lệch chuẩn ở HS của nhà trường, cụ thể như sau:
Ở nhà: Khơng nghe lời cha mẹ, nói dối cha mẹ, thiếu sự quan tâm chia sẻ với
người thân, không làm việc nhà
Đến trường: Không nghe lời thầy cô, không học bài, làm bài tập, gian lận khi
kiểm tra thi cử, bỏ học, trốn tiết, gây gỗ đánh nhau, phá hoại tài sản nhà trường, nói tục,
vơ lễ với thầy cơ, …
Ngồi xã hội: Khơng chấp hành luật giao thông, không tuân theo qui định chung,
phá hoại tải sản chung, khơng có ý thức bảo vệ mơi trường, khơng giúp đỡ người khác.
Đối với bản thân: tự làm tổn thương bản thân, bỏ ăn, khơng quan tâm ngoại hình,
ngại vận động, yêu đương thái quá, ghen tuông, hút thuốc lá, thích thể hiện mình,…
Nghiện internet, mạng xã hội: hành động phản cảm, tung tin thất thiệt, cảm xúc
cực đoan thái quá, tạo scandal, thời gian tham gia mạng xã hội nhiều, tham gia mọi lúc,
mọi nơi, cổ súy cho những hiện tượng tiêu cực…
2.2.4. Nguyên nhân của thực trạng HVLC ở học sinh trường THPT Thường Xuân 2
Tiến hành khảo sát bằng phiếu với câu hỏi ở phụ lục 3, tổng hợp và xử lí số liệu,
tơi thu được kết quả như sau:
- Do mơi trường học đường; có 41,9% HS đồng ý, có 33,6% HS cịn phân vân, có
24,5% HS khơng đồng ý
- Do mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái, cách giáo dục con; có 47,3% HS đồng ý,
có 32,4% HS cịn phân vân, có 20,3% HS không đồng ý
- Do nghiện internet, mạng và mạng xã hội; có 46,4% HS đồng ý, có 43,1% HS
cịn phân vân, có 10,5% HS khơng đồng ý
- Bản thân chưa nhận thức được tác hại của hành vi lệch chuẩn; có 49,7% HS đồng
ý, có 43,1% HS cịn phân vân, có 7,2% HS khơng đồng ý.
- Do tâm lí lứa tuổi; có 46,1% HS đồng ý, có 47,3% HS cịn phân vân, có 6,6% HS
khơng đồng ý
Với kết quả khảo sát ở trên, có rất nhiều nguyên nhân gây nên hành vi lệch chuẩn,
ta có thể rút ra một số nguyên nhân cơ bản sau đây:
9
Thứ nhất, do các em HS chưa nhận thức được mục đích, ý nghĩa, vai trị, tầm
quan trọng của việc thực hiện văn hóa ứng xử học đường, chưa nhận thức được tác hại vô
cùng lớn của các hành vi lệch chuẩn đối với gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân.
Thứ hai, do mơi trường gia đình là yếu tố chủ yếu gây ra rối loạn tâm lí dẫn đến
hành vi lệch chuẩn, bố mẹ không nhất quán trong giáo dục con, bố mẹ lo kiếm tiền bỏ
mặc con cái cho nhà trường quản lí thời gian ở lớp, cịn thời gian ở nhà cũng khơng quan
tâm, bố mẹ là tấm gương xấu như nghiện ngập, cờ bạc, bố mẹ hay đánh đập, chửi mắng.
Thứ ba, do ảnh hưởng của Internet, mạng xã hội.Một số em dành quá nhiều thời
gian cho chúng. Những thông tin trên mạng xã hội và Internet có thể dẫn tới hành vi tập
nhiễm, bắt chước.Việc tiếp xúc một cách thường xuyên với các hình ảnh bạo lực sẽ làm
tăng các hành vi chống đối xã hội và gây rối ở học sinh. Thực trạng “sống ảo” đã và đang
làm “teo tóp” cả về tâm lý, tinh thần của một bộ phận không nhỏ HS.
Thứ tư, Tâm sinh lí lứa tuổi cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến HVLC của
các em HS. Sư ̣khơng hiểu biết, hiểu biết khơng đúng, khơng chính xác các quy tắc, yêu
cầu của chuẩn mưc ̣ xã hôị. Các em HS thiếu kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng ứng phó
với căng thẳng, chưa kiềm chế được bản thân, bị rối loạn về nhận thức, cảm xúc.
Thứ năm, Nhà trường và các tổ chức đoàn thể, xã hội chưa tạo nhiều các sân chơi
bổ ích cho các em. Nhà trường không nên “nhồi nhét” kiến thức quá nhiều mà không
quan tâm đến giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh. Các tổ chức đoàn, hội chỉ hơ
hào, kêu gọi bằng những câu khẩu hiệu “có cánh” mà thiếu chăm lo giáo dục, bồi đắp
nhân cách cho các em bằng những hoạt động thực tiễn cụ thể, sinh động, phong phú, điều
đó đã tạo ra “khoảng trống” về đời sống văn hóa, tinh thần ở các em.
Thứ sáu, hiệu quả của công tác tư vấn tâm lí học đường cịn hạn chế trong việc
ngăn ngừa và hạn chế các hành vi lệch chuẩn.
Thứ bảy, sự phối kết hợp giữa Nhà trường - Gia đình và Xã hội chưa được quan
tâm đúng tầm trong việc giáo dục đạo đức cho HS.
2.2.5. Hậu quả của hành vi lệch chuẩn đối với học sinh.
Hậu quả của hành vi lệch chuẩn tiêu cực có ảnh hưởng xấu đến bản thân các em
HS, gia đình, nhà trường, làm suy thối nhân cách con người, có thể nguy hiểm cho xã
hội nếu như nó vi phạm, phá vỡ tính ổn định, sự tác động của những chuẩn mực xã hội
phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh hành. Trong trường hợp này, hành vi lệch chuẩn
đó sẽ bị dư luận xã hội phê phán, lên án hoặc đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp trừng
phạt theo nguyên tắc, quy định của pháp luật.
Từ thực trạng và nguyên nhân nêu trên về hành vi lệch chuẩn của học sinh trường
THPT Thường Xuân 2 và qua thực tế công tác, tôi đã đúc rút kinh nghiệm và tìm ra các
giải pháp nhằm ngăn ngừa và hạn HVLC cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
2.3. Sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề đạt
hiệu quả hạn chế HVLC cho học sinh ở trường THPT Thường Xuân 2.
2.3.1. Làm tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về hành vi
chuẩn mực cho HS.
10
Cơng tác tun truyền có vai trị, vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Tuyên
truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lí, sự hiểu biết pháp
luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho HS, nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và
thái độ đúng đắn đối với pháp luật và hình thành thói quen xử sự theo pháp luật với động
cơ tích cực, từ đó góp phần hạn chế hành vi lệch chuẩn.
Tại trường THPT Thường Xuân 2, ngay từ ngày đầu tiên nhập học, ngoài việc
được giới thiệu về lịch sử nhà trường, HS còn được tuyên truyền, học tập bộ quy tắc ứng
xử; quyền hạn, nhiệm vụ của HS, những điều học sinh không được làm được quy định tại
Điều lệ trường THPT, nội quy trường, lớp; học tập các nội dung về thực hiện văn hóa
học đường… Trong tuần sinh hoạt tập thể đầu năm và trong suốt năm học, Đoàn Thanh
niên phối kết hợp với GVCN, Ban nền nếp và Ban Hoạt động ngoài giờ lên lớp, thường
xuyên tổ chức các hoạt động tìm hiểu về luật an tồn giao thơng, luật an ninh mạng, Luật
thanh niên …, giúp học sinh có những hiểu biết, nhận thức cơ bản về pháp luật; nhận biết
hành vi tích cực được làm, được khích lệ, động viên; các hành vi tiêu cực, bị pháp luật
nghiêm cấm, các hành vi vi phạm pháp luật bị xã hội lên án; hậu quả pháp lý bất lợi từ
việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (cả hậu quả, tác hại đối với xã hội, với bản
thân, với gia đình và những người xung quanh); cách phịng ngừa để khơng bị vi phạm.
Từ đó nâng cao ý thức tự giác, xác định được trách nhiệm của bản thân và của những
người xung quanh; phát hiện, thông tin kịp thời cho người có thẩm quyền để xử lí đối với
các hành vi vi phạm.
Tổ chức tuyên truyền sâu rộng các nội dung về văn hóa ứng xử, văn hóa học
đường, bộ quy tắc ứng xử, các nội dung xây dựng văn hóa học đường, xây dựng trường
học hạnh phúc đến học sinh bằng nhiều hình thức, như thơng qua các buổi chào cờ đầu
tuần, buổi sinh hoạt lớp; qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua mạng xã hội, qua hệ thống
loa phóng thanh của nhà trường, các biển hiệu tuyên truyền được niêm yết tại các vị trí
dễ quan sát trong khn viên trường học.
2.3.2. Phát huy vai trị của Hội đồng sư phạm trong việc hạn chế HVLC của HS
Xác định nội dung giáo dục hạn chế HVLC cho học sinh là nội dung rất quan
trọng. Mỗi thành viên trong tập thể sư phạm phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tầm
quan trọng của việc giáo dục hạn chế HVLC cho học sinh để các em hoàn thiện nhân
cách, đó khơng phải là nhiệm vụ của riêng ai. Từ đó, với cương vị của mình cùng tham
gia giúp đỡ HS ở mọi lúc, mọi nơi một cách hiệu quả, tránh hình thức, chiếu lệ, như:
- Thể hiện sự quan tâm tường tận đến từng HS: tìm hiểu và nắm rõ hồn cảnh, tâm
tư, nguyện vọng… Ln là người đồng hành cùng HS trong vai trò nhà giáo.
+ Tạo cơ hội để HS chuyện trò với GV: Qua trao đổi tạo cho HS tự tin, bình tĩnh,
mạnh dạn hơn trong giao tiếp và sẽ học hỏi được rất nhiều điều từ giáo viên.
+ Giúp HS xua tan đi những chuyện buồn do tác động của hoàn cảnh, tâm lý lứa
tuổi,...để HS nhanh lấy lại sự cân bằng sau những lần vấp ngã.
+ Khuyến khích, cổ vũ hoạt động học tập, lao động, tu dưỡng rèn luyện của HS,
tạo cho HS lịng can đảm, tính kiên trì đồng thời khích lệ HS khi đạt kết quả trong cơng
việc (dù nhỏ nhất), tạo ra bầu khơng khí hào hứng trong HS.
11
- Thông qua đặc thù môn học để giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, nhân
sinh quan cách mạng, truyền thống u nước, tính cách cho HS,…
- Thơng qua mỗi tiết dạy trên lớp: GV cần thực hiện đúng trách nhiệm của mình; tổ
chức, quản lý, hướng dẫn học sinh hồn thành mục tiêu bài dạy. Khơng ngừng đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức làm việc theo nhóm, áp dụng các kỹ thuật dạy học, lồng
ghép các nội dung phù hợp. Từ đó, rèn luyện cho HS tính kỷ luật, tính sáng tạo, tinh thần
đồn kết, ý chí vươn lên, ...Việc lồng ghép giáo dục hạn chế HVLC cho học sinh vào tiết
dạy ở các môn học, đặc biệt là các môn Ngữ văn và môn giáo dục công dân, xem như là
trách nhiệm của mỗi CBGV.
2.3.3. Nâng cao hiệu quả cơng tác vấn tâm lí học đường trong việc hạn chế hành vi
lệch chuẩn cho học sinh.
Mục đích của tư vấn học đường là chăm sóc sức khỏe tâm lý cho học sinh, giáo
viên, cán bộ nhà trường và các bậc phụ huynh, giúp phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (khi
cần thiết) đối với HS đang gặp phải khó khăn về tâm lý trong học tập và cuộc sống để
tìm hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu hành vi lệch chuẩn; góp phần xây dựng mơi
trường giáo dục an tồn, thân thiện và phịng, chống bạo lực học đường. Đồng thời hỗ trợ
học sinh rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù
hợp trong các mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường và xã hội; rèn luyện
sức khỏe thể chất và tinh thần, để xây dựng và hoàn thiện nhân cách.
Các hoạt động tư vấn tâm lí học đường, cần quan tâm đến:
Một là, Hướng dẫn học đường bao gồm: Hỗ trợ kỹ năng học tập; Giáo dục nâng
cao hiểu biết về bản thân và người khác; Dạy các kỹ năng xã hội, ứng xử, giao tiếp hiệu
quả và cách xử lý một số tình huống thường gặp; giáo dục về lạm dụng game/chất gây
nghiện,… Truyền thông, giải quyết vấn đề, ra quyết định và giải quyết vấn đề xung đột.
Hai là, Tham vấn tâm lý cá nhân, nhóm trong các trường hợp như: Kết quả học tập
sa sút, không chú ý đến học tập; Sợ đi học, sợ đến trường, trốn học, bỏ học; Không làm
theo yêu cầu của giáo viên, phàn nàn về giáo viên; Từ chối tham gia hoạt động ở lớp, ở
trường; Xác định những rào cản, nguy cơ cản trở học tập và cung cấp các phương thức
ứng phó; Hình thành thói quen tích cực trong học tập.
Ba là, Tư vấn phụ huynh, giáo viên và những người khác có liên quan về: Vấn đề
học tập của học sinh và các yếu tố ảnh hưởng; Cung cấp thông tin và giới thiệu dịch vụ
hỗ trợ học sinh; Làm việc về những vấn đề liên quan tới bắt nạt/bị bắt nạt và bạo lực học
đường; Hợp tác cùng gia đình trong việc giúp đỡ học sinh; Thảo luận về các tình huống
có nguy cơ cao và thực hiện các biện pháp can thiệp; Nói chuyện và hỗ trợ cán bộ, giáo
viên, nhân viên nhà trường phụ huynh trong việc dạy và ứng xử với học sinh.
Tại trường THPT Thường Xuân 2, vào đầu mỗi năm học, nhà trường tổ chức thành
lập tổ tư vấn. Công tác tư vấn tại trường luôn được chú trọng thực hiện nghiêm túc và có
hiệu quả. Xuyên suốt thời gian trong các năm học, tổ tư vấn tâm lí nhà trường tổ chức
các chương trình phịng ngừa can thiệp tồn trường bằng cách phối kết hợp với bộ phận
phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp, ban nền nếp tổ chức các chuyên đề giáo dục giới
tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, tổ chức phổ biến các quy tắc ứng xử, văn hóa học
12
đường, phổ biến pháp luật về an tồn giao thơng, luật an ninh mạng, tư vấn các biện pháp
phòng chống dịch covid-19...
Hình thức tư vấn tâm lí đã từng thực hiện hiệu quả tại trường THPT Thường Xuân
2 trong thời gian qua gồm:
Thứ nhất, xây dựng các chuyên đề, bố trí thành bài giảng hoặc lồng ghép trong các
tiết sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Thứ hai, nói chuyện chuyên đề, hoạt động ngoại khóa, diễn đàn liên quan đến nội
dung cần tư vấn tâm lí cho HS.
Thứ ba, thiết lập kênh thơng tin, mạng internet cung cấp tài liệu, trao đổi với cha
mẹ HS về diễn biến tâm lí và các vấn đề tư vấn cho HS.
Thứ tư, tổ chức tư vấn, tham vấn: Trực tiếp riêng từng HS hoặc theo nhóm qua
mạng zalo, qua Email, điện thoại, phương tiện khác (loa phát thanh…).
Với các nội dung và hình thức tư vấn phong phú, đa dạng và chú trọng tập trung
nhiều vào việc tư vấn cho đối tượng HS gặp khó khăn về tâm lí đã góp phần giúp HS
nhận thức được các hành vi chuẩn mực cần phải hướng đến thực hiện, qua đó ngăn ngừa
và hạn chế được các hành vi tiêu cực, lệch chuẩn.
2.3.4. Chú trọng công tác xây dựng trường học hạnh phúc
Trường học hạnh phúc là ngôi trường mà ở nơi đó mọi người đều được sống hạnh
phúc, học sinh được phát triển tồn diện, trở thành chính mình và các em được che chở
bởi mơi trường học tập an tồn, thân thiện và nhiều tình thương, qua đó góp phần hạn chế
hành vi lệch chuẩn ở các em học sinh.
Để xây dựng được trường học hạnh phúc, điều đầu tiên là phải có sự thống nhất
trong nhận thức và quyết tâm trong hành động của tập thể Đảng ủy, BGH, đặc biệt là
người đứng đầu nhà trường.
Đảng ủy nhà trường coi trọng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng;
thống nhất từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu (BGH) đến toàn thể CBGV-NV và HS trong nhà
trường. Đảng ủy, BGH nhà trường thực sự là trung tâm đồn kết, tạo nên bầu khơng khí
dân chủ và tinh thần hợp tác, cộng đồng trách nhiệm cao của cả tập thể sư phạm.
Trên cơ sở Chủ trương, Nghị quyết của Đảng ủy về xây dựng trường học hạnh
phúc, cấp ủy các Chi bộ đưa nội dung xây dựng trường học hạnh phúc vào Chương trình
cơng tác hàng tháng, năm của chi bộ để lãnh đạo các tổ chuyên môn, tổ chức đoàn thể
triển khai thực hiện. Hàng tháng sinh hoạt chi bộ tăng cường công tác tuyên truyền, giáo
dục chính trị tư tưởng cho đảng viên, có đánh giá, rút kinh nghiệm trong việc lãnh đạo
triển khai thực hiện Chương trình, kế hoạch xây dựng trường học hạnh phúc của đơn vị.
Đầu mỗi năm học, việc xây dựng trường học hạnh phúc được tập thể BGH nhà
trường xác định là nhiệm vụ then chốt giúp hạn chế các hành vi lệch chuẩn ở học sinh và
quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện, do vậy việc ban hành hệ thống văn bản chỉ
đạo triển khai thực hiện xây dựng trường học hạnh phúc được BGH chú trọng. BGH Chủ
động phối kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để triển khai thực hiện các
nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chun mơn, các chủ trương, nghị quyết của Đảng ủy trong
việc xây dựng trường học hạnh phúc. Thường xuyên quan tâm đến đời sống tinh thần, vật
13
chất của CBGV-NV và HS, kịp thời có các giải pháp để hỗ trợ, động viên khích lệ tinh
thần cho CBGV-NV và HS, đặc biệt là CBGV-NV và HS có hồn cảnh khó khăn để
khơng ai bị bỏ lại phía sau.
Ban giám hiệu chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ, kỹ
năng công tác, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở giáo viên về nhận thức, năng lực nghề
nghiệp, tình cảm, sự quan tâm, yêu thương, chia sẻ, tôn trọng và sự thân thiện đối với học
sinh. Chú trọng việc xây dựng tập thể nhà giáo chuẩn mực, tạo mơi trường giáo dục an
tồn, lành mạnh, thân thiện mà ở đó giáo viên muốn đến, học sinh muốn đi học và mỗi
ngày đến trường là một ngày vui. Qua đó giúp ngăn ngừa, hạn chế được các hành vi lệch
chuẩn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
2.3.5. Tổ chức tốt các sân chơi lành mạnh, bổ ích cho HS
Vui chơi giải trí là nhu cầu khơng thể thiếu đối với HS trong giai đoạn hiện nay,
ngoài nhu cầu được học tập trong một mơi trường tốt thì nhu cầu được học các bộ môn
năng khiếu và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh là điều rất cần thiết,
qua đó giúp các em phát triển tồn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ.
Tổ chức các sân chơi lành mạnh, bổ ích để các em HS thể hiện tài năng, trí tuệ, sự
sáng tạo; rèn luyện cho học sinh kỹ năng sinh hoạt tập thể, tinh thần tự học, tự bồi dưỡng
kiến thức cho bản thân, kỹ năng sống, phát triển phẩm chất, năng lực cho các em HS.
Qua việc tham gia các sân chơi lành mạnh, bổ ích giúp học sinh tránh xa các tệ nạn
và hạn chế các hành vi lệch chuẩn.
Tại trường THPT Thường Xuân 2, việc tổ chức các sân chơi lành mạnh, bổ ích cho
HS được thực hiện thơng qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp như:
- Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Đây là hoạt động khơng thể thiếu được trong sinh
hoạt tập thể của các em, như : Hát - múa theo chủ đề, chủ điểm. Tổ chức các cuộc thi kể
chuyện về Bác Hồ, đóng kịch, độc tấu đàn bầu, đánh đàn; cuộc thi cán bộ đoàn giỏi, học
sinh thanh lịch,…Các hoạt động này rèn luyện cho các em sự mạnh dạn, tự tin trước
đám đông, đây là một trong những kỹ năng cần chủ học sinh trong xu thế hiện nay.
- Hoạt động văn nghệ - TDTT tại trường, gồm các trò chơi dân gian, thi hát dân ca,
thi“Khi tôi 18”, thi“áo dài và trang phục dân tộc ”... được đông đảo học sinh tham gia.
Qua đó giáo dục tinh thần đồn kết, lịng u nước, tính kỷ luật, ý thức giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc,...
- Hoạt động xã hội: Họat động này giúp các em nâng cao hiểu biết về con người,
đất nước thông qua các hoạt động quyên góp ủng hộ bão lụt, ủng hộ nạn nhân chất độc da
cam, ủng hộ bạn nghèo, thăm hỏi gia đình thương binh, liệt sĩ; tham gia cơng tác tình
nguyện, tiếp sức mùa thi....
- Hoạt động lao động : Thông qua hoạt động lao động giúp các em gắn bó với đời
sống xã hội, hiểu biết thêm giá trị của lao động, biết cách giữ gìn trường lớp, gia đình,
bản làng hay thơn xóm ln sạch đẹp.
- Hoạt động tiếp cận khoa học - kĩ thuật: Đây là hoạt động giúp các em tiếp cận
những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến tạo cho các em niềm say mê khoa học, yêu
14
thích sự tìm tịi, kích thích hoạt động sáng tạo, tạo điều kiện cho các em làm quen với
nghiên cứu khoa học và tự khẳng định mình.
Việc tổ chức các sân chơi lành mạnh, bổ ích đã lơi cuốn được đông đảo các em HS
tham gia, giúp các em tránh xa các tệ nạn xã hội, ngăn ngừa, hạn chế được các hành vi
lệch chuẩn và qua đó hình thành và rèn luyện được kỹ năng sống cho bản thân.
2.3.6. Phát huy vai trị của Đồn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn
trong công tác định hướng hành vi chuẩn mực cho HS
Công tác định hướng các hành vi chuẩn mực cho HS có vai trị đặc biệt quan trọng.
Các tổ chức và cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục, định hướng các hành vi
chuẩn mực cho HS lại chính là lực lượng Đồn thanh niên, GVCN, giáo viên bộ mơn. Do
đó, cần phải phát huy hết vai trị của tổ chức Đồn, GVCN, giáo viên bộ môn trong việc
giáo dục đạo đức cho học sinh, nhằm ngăn ngừa và hạn chế các HVLC ở các em.
(1). Đối với tổ chức Đoàn thanh niên nhà trường
Tại đơn vị trường chúng tôi, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống
cho đoàn viên, thanh niên được phát huy bởi vai trò của Đoàn trường. Đoàn đã chú trọng
đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa học đường trong đồn viên thanh
niên. Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đoàn, việc giáo dục đạo đức, lý tưởng của ĐVTN
được bàn bạc kỹ và đưa vào nghị quyết của Đại hội.
Để nghị quyết Đại hội đi vào thực tiễn. Đoàn trường xây dựng và triển khai kế
hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên tổ chức các sân chơi lành mạnh,
bổ ích để tập hợp đơng đảo Đồn viên thanh niên (ĐVTN) tham gia và tránh xa các tệ
nạn xã hội. Các hoạt động mà đoàn trường tổ chức đều thiết thực mang ý nghĩa giáo dục,
phù hợp với xã hội hiện đại nhằm hình thành nhân cách cho ĐVTN, giúp ĐVTN thường
xuyên thực hành các hành vi chuẩn mực.
Trong những năm học gần đây Đoàn trường đều tổ chức các hoạt đông như:
Hội diễn văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm trong năm, tổ chức Hội thi Thanh
niên thanh lịch, cuộc thi an tồn giao thơng cho nụ cười ngày mai, các chủ đề ngoài giờ
lên lớp được tổ chức dưới hình thức sân khấu hóa; tổ chức hội thi cắm hoa vào dịp 8/3…
tổ chức diễn đàn “Xây dựng tình bạn đẹp, nói khơng với bạo lực học đường”; tích cực
vận động HS tham gia cuộc thi tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh... Tất cả các cuộc thi đều được đánh giá, xếp giải và trao thưởng để
động viên khích lệ tạo động lực cho các em tham gia một cách nhiệt tình và tự giác.
Đồn trường đã thành lập các câu lạc bộ như câu lạc bộ như: câu lạc bộ Thiện
nguyện, Câu lạc bộ võ thuật, câu lạc bộ văn nghệ, câu lạc bộ tiếng Anh, câu lạc bộ Toán
học..., Đồng thời phối kết hợp với tổ khoa học xã hội tổ chức tham quan các khu di tích
lịch sử cách mạng theo chủ đề. Đồn cũng đã xây dựng được mục đích trọng tâm của các
hoạt động để tìm kiếm hình thức giáo dục cho phù hợp với từng nhóm đối tượng ĐVTN.
Trong năm học Đồn trường chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua giữa các tập
thể chi đoàn - lớp, các cá nhân ĐVTN nhằm tạo sự chuyển biến sâu rộng cả về nhận thức
và hành động, góp phần hạn chế và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực của ĐVTN.
15
Tăng cường công tác kiểm tra của Đội cờ đỏ để phát hiện và xử lý kịp thời các vụ
việc xảy ra trong học sinh. Làm tốt công tác xếp loại và đánh giá thi đua giữa các chi
đoàn - lớp trong tuần, tháng, kỳ và cả năm. Công tác thi đua chính xác, cơng tâm đã kích
thích được phong trào.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động Đoàn, tổ chức Đồn đã phối hợp với nhà trường,
đồn cấp trên có chương trình huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cơng tác cho các cán bộ
phụ trách Đoàn trường và các chi đồn học sinh. Nhìn chung, đa số các em có lịng say
mê với cơng việc nhưng năng lực hoạt động chưa cao nên trong hoạt động cịn lúng túng.
Chính vì thế các hoạt động phải cụ thể rõ ràng, làm cho mọi người hiểu được kế hoạch,
mục đích hành động, tránh được những điều bất lợi xảy ra dẫn đến kết quả phản tác dụng
giáo dục đạo đức. Từ thực tế hoạt động, sẽ có ý nghĩa thiết thực với việc bồi dưỡng lí
tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh cho học sinh giúp các em tránh được những tệ nạn xã
hội, đem lại niềm tin, niềm vui vào tổ chức Đoàn.
Đoàn trường triển khai phương thức tận dụng ưu thế của Internet, mạng xã hội để
thông tin, tuyên truyền cho đoàn viên, thanh niên. Qua các bài đăng, trang thơng tin,
trang cá nhân, đồn định hướng giáo dục, định hướng thơng tin dư luận, bình luận, tâm
sự của các bạn trẻ để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của thanh niên. Đây cũng là một cách
để giáo dục về đạo đức, lối sống cho ĐVTN học sinh mà đoàn trường THPT Thường
Xuân 2 đã thực hiện.
Đoàn trường phối kết hợp với bộ phận phụ trách hoạt động ngoài giờ lên lớp tổ
chức phổ biến, giáo dục pháp luật. Khuyến khích, truyền cảm hứng cho thanh niên, học
sinh tìm hiểu pháp luật qua sân chơi tập thể; giúp các em học sinh chủ động tìm hiểu, từ
đó sẽ hình thành ý thức tự giác, thói quen học tập nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật,
sống học tập và làm việc theo pháp luật. Đồng thời, Đoàn trường tăng cường tổ chức hoạt
động thực tế. Trong đó chú trọng những buổi nói chuyện, thảo luận chuyên đề, cuộc thi
văn hóa giao tiếp học đường (cho học sinh sắm vai, trải nghiệm tình huống - tìm giải
pháp ứng xử - giao tiếp).
Ngồi ra Đồn trường cịn phối hợp với Bộ phận cơ sở vật chất nhà trường tổ chức
lại khuôn viên phịng đọc thư viện để lơi kéo tập hợp đơng đảo HS tham gia đọc sách, thư
viện trường tổ chức cuộc thi văn hóa đọc giữa các lớp. Những hành lệch chuẩn của học
sinh một phần xuất phát từ việc các em khơng đọc sách, bởi đã bị văn hóa mạng lơi cuốn.
Vì thế, nhà trường cần có các biện pháp truyền niềm đam mê, hứng khởi đọc sách cho
học sinh. Nếu khơng có thói quen đọc thì đời sống tinh thần của mỗi em học sinh sẽ
chẳng thể phong phú, tâm hồn cằn cỗi dễ dẫn đến những hành vi lệch chuẩn.
Qua việc tham gia các hoạt động do đồn trường tổ chức đã góp phần vào việc
giúp các em tự tin, biết phân biệt được hành vi xấu, biết sẻ chia và biết chịu tránh nhiệm
với những việc mình làm từ đó hạn chế được hành vi lệch chuẩn của các em.
(2). Đối với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn
Giáo viên chủ nhiệm là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi quyết định quản lý
của hiệu trưởng đối với lớp và các thành viên trong lớp. GVCN lớp là người vạch kế
hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các nội dung theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá
16
việc thực hiện của các học sinh. GVCN lớp phải biết phối hợp với các GV bộ môn, chỉ
huy quản lý học sinh trong lớp học tập, lao động, rèn luyện. Giáo viên chủ nhiệm cũng là
người phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trong trường, như Đoàn thanh niên, chi đồn
GV, hội CMHS, để làm tốt cơng tác dạy- học, giáo dục đạo đức HS trong lớp phụ trách.
Giáo viên cần phải làm gương sáng trong việc xây dựng và thực hiện nét đẹp văn
hóa học đường trong trường học, trong việc thực hiện bộ quy tắc ứng xử, phải xây dựng
mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò một cách đúng mực, nghiêm túc, thân mật, giản dị,
thương yêu HS và chân thành, phải xác định đúng vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm đối
với việc dạy chữ và dạy người.
GV cần trang bị kiến thức về tư vấn tâm lí, qua tư vấn tâm lý giúp giáo viên có thể
gần gũi với học sinh hơn, dễ dàng giao tiếp và hiểu học sinh của mình. Từ đó sẽ có
những biện pháp can thiệp kịp thời, phù hợp với từng đối tượng học sinh, ngăn chặn
trước các hành vi tiêu cực có thể xảy ra ở các em học sinh.
Giáo viên cần thường xuyên động viên, nhắc nhở, hỗ trợ, giúp đỡ và khuyến khích
các em HS tự giác và tích cực xây dựng lớp học hạnh phúc, thực hiện quy tắc ứng xử, nội
quy trường lớp. Lồng ghép công tác giáo dục việc thực hiện vănhóa học đường cho HS
vào bài giảng, các tiết sinh hoạt lớp một cách hợp lý, sinh động, hấp dẫn.Giáo dục cho
HS nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện các chuẩn mực hành vi đạo
đức bởi chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng thì mới giúp các em có những hành động đúng
trong việc đề ra kế hoạch hành động có hiệu quả nhất góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục tồn diện.
Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, GVCN cần thường xuyên tự
học, tự nghiên cứu để không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, năng lực, chuyên
môn nghiệp vụ; cần tăng cường tổ chức các tiết sinh hoạt lớp theo các chủ đề giáo dục
phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Nội dung, hình thức và không gian tổ chức các
tiết sinh hoạt cần quan tâm đổi mới để thu hút HS chủ động, tích cực, nhiệt tình tham gia,
có thể tổ chức dưới hình thức trị chơi, cuộc thi, thực hiện ngồi sân trường … qua đó
giúp các em rèn luyện các kỹ năng sống: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình,
kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng kiềm chế cảm xúc… góp phần giáo dục đạo
đức và hạn chế các hành vi lệch chuẩn cho các em học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục văn
hóa học đường cho HS, tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn
minh, truyền thống nhà trường, văn hóa dân tộc, tri thức pháp luật, bộ quy tắc ứng xử,
nội quy trường – lớp… để khơi dậy và phát huy tinh thần dân tộc, yêu nước, yêu quê
hương, yêu bạn, yêu lớp, yêu trường học, nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật
trong mỗi HS, từ đó góp phần tăng sức đề kháng cho HS trước những biểu hiện tiêu cực,
mặt trái của xã hội, góp phần ngăn ngừa và hạn chế các hành vi lệch chuẩn.
Ngoài ra, Giáo viên chủ nhiệm phải xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh hàng
tuần, hàng tháng; đánh giá nhận xét từng mặt, khen - chê kịp thời, đúng cách, đúng thời
điểm sẽ góp phần giúp học sinh tiến bộ hàng ngày, đồng thời GVCN phải tổ chức được
các tiết sinh hoạt lớp theo chủ đề để tuyên truyền và tăng cường kĩ năng sống cho các em
17
học sinh, như chủ đề: “Rèn luyện kỹ năng ứng phó với căng thẳng và kiềm chế cảm xúc”,
chủ đề “Xây dựng lớp học hạnh phúc”, chủ đề “Văn hóa ứng xử học đường”, chủ đề
“Tình bạn, tình u, hơn nhân gia đình”... qua đó góp phần ngăn ngừa, hạn chế hành vi
lệch chuẩn ở học sinh.
2.3.7. Tăng cường xây dựng mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh, thân thiện
Xây dựng mơi trường giáo dục an tồn, lành mạnh, thân thiện, phịng chống bạo
lực học đường là vơ cùng cần thiết và đặc biệt quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn
chế các hành vi lệch chuẩn cho HS, góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân
thiện, tự tin giữa giáo viên với HS và giữa HS với nhau. Hơn thế nữa, nhằm thỏa mãn
nhu cầu vui chơi lành mạnh và hoạt động của HS, qua đó nhân cách của HS được hình
thành và phát triển toàn diện.
Hằng năm, khi bước vào năm học mới, nhà trường tiến hành kiện toàn, thành lập
Ban chỉ đạo xây dựng trường học an tồn, lành mạnh, thân thiện, phịng, chống bạo lực
học đường, trong đó đồng chí Hiệu trưởng làm trưởng ban, 01 Phó hiệu trưởng làm Phó
trưởng ban thường trực, mỗi tổ chức Đảng uỷ, Cơng đồn, Đồn thanh niên, tổ chun
mơn nhà trường có 1 đại diện tham gia Ban chỉ đạo; Ban chỉ đạo họp bàn thống nhất xây
dựng kế hoạch hoạt động. Phân công nhiệm vụ củ thể cho từng thành viên và triển khai
thực hiện kế hoạch.
Ban chỉ đạo thường xuyên tuyên truyền, quán triệt, triển khai đầy đủ các văn bản
liên quan đến cơng tác xây dựng mơi trường giáo dục đến tồn thể CBGV-NV và HS.
Vận dụng nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, tài liệu cho
cán bộ giáo viên, HS đảm bảo theo quy định; thường xuyên kiểm tra, rà soát, sửa chữa
kịp thời cơ sở vật chất bị hư hỏng, loại bỏ các yếu tố gây mất an toàn cho CBGV- NV và
HS. Thường xuyên động viên đội ngũ giáo viên gương mẫu, nhiệt huyết, tận tuỵ trong
công tác giảng dạy và giáo dục HS, ân cần, gần gũi, yêu thương, giúp đỡ HS tận tình, chu
đáo, thân thiện để các em tự tin, yêu trường, yêu lớp; tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến
thể chất và tâm lý HS. Tổ chức cho giáo viên ký cam kết đảm bảo an toàn cho HS, nói
khơng với bạo lực học đường.
Việc mua sắm, sửa chữa, bổ sung cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học,
các câu khẩu hiệu, pano tuyên truyền, cảnh quan, bồn hoa, cây cảnh … phải khoa học,
phù hợp với thẩm mĩ của hầu hết cán bộ, giáo viên, nhân viên và HS, phù hợp khuôn
viên, đặc thù của nhà trường.
Chú trọng công tác giáo dục đạo đức lối sống, kỹ năng sống, kiến thức về sức khoẻ
sinh sản vị thành niên và kỹ năng tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị bạo lực, xâm hại;
thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, phòng chống bạo lực, xâm hại; chủ động phát hiện
các trường hợp HS có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại, để kịp thời xử lý, bảo vệ HS.
Xây dựng môi trường văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp văn minh trong nhà
trường trên tinh thần tôn sư trọng đạo, tiên học lễ, hậu học văn làm cho học sinh ngoan
ngoãn, lễ phép, nề nếp, kính trên, nhường dưới; yêu thầy và mến bạn…
Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh, tham gia các
hoạt động Đồn; lao động giúp đỡ gia đình và tham gia các hoạt động cộng đồng, các
18
hoạt động tình nguyện, hoạt động ngoại khóa, văn hố, văn nghệ, thể thao và các hoạt
động tập thể tạo khơng khí vui vẻ, thân thiện giữa các thành viên nhà trường; tuyên
truyền cho HS không truy cập các website thiếu lành mạnh trên internet; không tham gia
các tệ nạn xã hội.
Tổ chức tốt công tác tư vấn tâm lý cho GV, HS có nguy cơ bị bạo lực và gây ra
bạo lực nhằm ngăn chặn, loại bỏ nguy cơ xảy ra bạo lực học đường.
Ban giám hiệu phải gương mẫu thực hiện và thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở
CBGV-NV, học sinh thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức, nền nếp, kỷ cương
trường học: có biện pháp ngăn ngừa, can thiệp hỗ trợ kịp thời không để xảy ra tình trạng
giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo; yêu cầu giáo viên phải nêu cao tinh thần tự học, tự
bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chun mơn
nghiệp vụ và xử lý tốt các tình huống sư phạm trong quá trình giáo dục.
Nêu cao trách nhiệm của các thành viên của Tổ tư vấn tâm lý trong việc phát hiện
và tư vấn, giải quyết những mâu thuẫn của học sinh nhằm ngăn chặn ngay từ đầu các
hành vi bạo lực học đường.
Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng để tạo động lực cho CBGV- NV, HS
thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ.
Nhà trường, CBGV-NV luôn phải đảm bảo các quy tắc ứng xử công bằng đối với
tất cả các em học sinh, luôn yêu thương, tôn trọng các em.
2.3.8. Tổ chức tốt công tác phối kết hợp giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội trong
cơng tác giáo dục HS
Thực hiện tốt công tác phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội ngồi
mục đích tạo sức mạnh tổng hợp của các môi trường giáo dục Nhà trường - Gia đình - Xã
hội để thực hiện có hiệu quả việc hạn chế các hành vi lệch chuẩn cho học sinh, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Bước vào mỗi năm học, Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch, quy chế phối hợp giữa
Nhà trường - Gia đình - Xã hội, mà cụ thể:
- Phối hợp với chính quyền địa phương trong cơng tác tuyên truyền về chủ trương
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức, ý thức
trách nhiệm của người dân trong việc chấp hành pháp luật, quản lý tốt các sản phẩm dịch
vụ văn hóa, công nghệ thông tin. Hàng năm, nhà trường đều phân công đại diện BGH
tham gia Hội nghị giáo dục của huyện, của xã để nắm bắt tình hình, đồng thời có sự
thống nhất trong phối hợp giáo dục học sinh để tránh xảy ra mâu thuẫn khơng đáng có.
- Phối hợp với Phịng tư pháp, Cơng an huyện Thường Xn, cán bộ tư pháp xã
Luận Thành, Điện lực Thường Xuân tổ chức các buổi tuyên truyền Luật ATGT; Luật bảo
vệ mơi trường, Cách phịng chống bạo lực học đường, nạn vay tín dụng đen; Bảo quản và
an tồn lưới điện…. Đồng thời tổ chức các cuộc thi tìm hiểu Luật ATGT đường bộ, cách
phòng chống tai tệ nạn xã hội theo hình thức trực tuyến và bằng hình thức thi “Rung
chng vàng”, vẽ tranh, sân khấu hóa các tiểu phẩm dự thi...
- Phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ Thường Xuân tổ chức cho HS tham gia
cuộc thi "Tìm hiểu và bảo vệ rừng xanh quê hương". Phối hợp với phịng văn hóa huyện,
19