lOMoARcPSD|12114775
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 46.1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ NĂM:
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ
Mơn học:
GVHD:
Nhóm:
Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế
ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải
03
Thành viên thực hiện:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Họ và tên
Đỗ Tuấn Anh
Phạm Huy Bảo
Trần Văn Bình
Lê Anh Minh Chi
Nguyễn Tường An Chi
Nguyễn Thúy Hiền
Lý Gia Khanh
Trần Vũ Minh Khuê
Huỳnh Quang Ngọc
Nguyễn Ý Quyết
MSSV
2153801090002
2153801090005
2153801090006
2153801090010
2153801090011
2153801090033
2153801090051
2153801090057
1751101030087
1953801012223
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 4 năm 2022
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
BLDS
BLDS 2005
BLDS 2015
TÊN ĐẦY ĐỦ
Bộ luật dân sự
Bộ luật Dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2015
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
TAND
TANDTC
TP.HCM
GDDS
HĐTP
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Thành phố Hồ Chí Minh
Giao dịch dân sự
Hội đồng thẩm phán
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ
1
Câu 1.1. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
1
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Câu 1.2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế
bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản khơng? Vì sao?
1
Câu 1.3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của
người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
1
2
Câu 1.4. Trong Bản án số 08, Tồ án có coi diện tích đất tăng 85,5m chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản khơng? Đoạn nào của bán án
có câu trả lời?
1
Câu 1.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án
số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1
Câu 1.6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của
Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
2
Câu 1.7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng
Văn K có được coi là di sản để chia khơng? Vì sao?
2
Câu 1.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến
phần diện tích đã chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K.
2
Câu 1.9. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con
mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di
sản để chia khơng? Vì sao?
2
Câu 1.10. Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong
diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
2
Câu 1.11. Việc Tịa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là
43,5m2 có thuyết phục khơng? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16
khơng? Vì sao?
2
2
Câu 1.12. Việc Tịa án quyết định “cịn lại là 43,5m được chia cho 5 kỷ phần
còn lại” có thuyết phục khơng? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16
khơng? Vì sao?
2
VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN
3
Câu 2.1. Trong Bản án số 11, Tịa án xác định ai là người có quyền quản lý di
sản của ông Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục khơng, vì sao?
3
Câu 2.2. Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người
quản lý di sản khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Câu 2.3. Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền
quản lý di sản có thuyết phục khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
Câu 2.4. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tơn tạo, tu
sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
Câu 2.5. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho
người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con
trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ
5
Câu 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam.
5
Câu 3.2. Pháp luật nước ngồi có áp đặt thời hiệu đối với u cầu chia di sản
không?
6
Câu 3.3. Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào
của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?
7
Câu 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho
di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào khơng? Có thuyết phục khơng? Vì sao? 7
Câu 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho
di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990
được cơng bố có cơ sở văn bản nào khơng? Có thuyết phục khơng? Vì sao?
8
Câu 3.6. Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL nêu trên.
9
VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM TÀI LIỆU
10
Yêu cầu 1. Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật về tài sản và pháp luật
về thừa kế được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2018
đến nay.
10
Yêu cầu 2. Cho biết làm thế nào để tìm được những bài viết trên.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
1
VẤN ĐỀ 1: DI SẢN THỪA KẾ
TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ 08/2020/DS-ST NGÀY 28/8/2020 CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
Nguyên đơn là ông Trần Văn Hồ khởi kiện u cầu Tịa án giải quyết tranh chấp về
chia di sản thừa kế của bà Cao Thị Mai (vợ ông) với bị đơn là anh Tr ần Hồi Nam
và chị Trần Thanh Hương. Tài sản ơng Hồ và bà Mai (vợ ơng Hồ) g ồm 01 ngơi
nhà 3 tầng, sân tường bao quanh và một lán bán hàng xây d ựng năm 2006 trên di ện
tích đất 169.5 m2 (trong đó 84 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
còn 85.5 m2 còn lại thì chưa). Anh Nam, chị Hương yêu cầu xác định diện tích đất
85.5 m2 là tài sản chung của gia đình nhưng Hội đồng xét xử khơng chấp thuận.
Hội đồng xét thấy đây vẫn là tài sản của ơng Hồ, bà Mai, nh ưng đ ương s ự ph ải
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Diện tích đất 38.4 m 2 và 47.1 m2 chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ơng Hồ và anh Nam sau khi đã
thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước sẽ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận.
TĨM TẮT ÁN LỆ SỐ 16/2017/AL CỦA
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K diện tích 131m 2
trong tổng diện tích 398m2. Việc này các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng khơng
ai có ý kiến phản đối gì. Năm 1999 bà Phùng Thị G cùng vợ ch ồng anh Phùng Văn
T vẫn quản lý sử dụng số đất còn lại sau chuyển nhượng. Tòa án cấp s ơ thẩm xác
định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông Phùng
Văn K) để chia là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm khơng đưa diện tích đất bà
Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là đúng, vì ơng
Phùng Văn K đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 1.1. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Điều 612 BLDS 2015 và Điều 634 BLDS 2005 thì “Di sản bao gồm tài sản riêng
của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
2
Theo nhóm, di sản khơng bao gồm nghĩa vụ tài sản của người quá c ố vì theo Đi ều 658 đ ến
Điều 662 BLDS 2015 quy định trước khi chia di sản, những người thừa k ế ph ải thanh toán
các nghĩa vụ của người chết để lại xong còn lại mới phân chia. Việc thực hiện nghĩa v ụ
không phải với tư cách là chủ thể của nghĩa vụ do họ xác lập mà thực hiện các nghĩa v ụ
của người chết để lại bằng chính tài sản của người chết.[1]
Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và th ừa kế
(tái bản có sửa đổi bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật quốc gia Việt Nam, tr. 415.
[1]
Câu 1.2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế
bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản khơng? Vì sao?
BLDS 2015 chưa có quy định về di sản khi tài sản do người quá cố để lại ở th ời điểm m ở
thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó. Nhưng theo nhóm th ảo lu ận, trong tr ường
hợp này thì tài sản mới cũng được coi là di sản vì v ề b ản ch ất, nó cũng là tài s ản c ủa ng ười
quá cố.
Theo Thông tư số 81[2], “các quyền về tài sản mà người để thừa kế được hưởng do được
bồi thường thiệt hại” là “di sản”. Trên thực tế, đã có trường hợp Tịa án chấp nhận người
thừa kế yêu cầu người phải bồi thường bồi thường những khoản thiệt hại, tổn thất mà
người quá cố chưa được bồi thường như bồi thường tổn thất về tinh thần, mất, giảm thu
nhập. Như vậy, khoản bồi thường này có thể được coi là tài sản của người quá cố và là di
sản thừa kế ở thời điểm mở thừa kế. Tương tự như trên, trong trường hợp Nhà nước thu hồi
đất ở thời điểm mở thừa kế và sau đó thay thế bằng một mảnh đất khác thì mảnh đ ất thay
thế đó có thể được coi là tài sản của người quá cố và là di s ản th ừa k ế ở th ời đi ểm m ở th ừa
kế. Như vậy, ta mới có thể đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế.
Thông tư số 81/TANDTC ngày 24-7-1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa
kế do TANDTC ban hành.
[2]
Câu 1.3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của
người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố không
cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Nghị quyết 02/2004/NQHĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, cụ thể Mục II Phần 1 Đoạn 1.1 quy định: “Đối
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
3
với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay khơng có tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất
đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền s ử dụng đất đó là
di sản.”
Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ mà quyền sử dụng đất được công nhận là di
sản ngay cả khi khơng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các lo ại gi ấy quy đ ịnh
tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003. ( tiểu mục 1.2 mục 1 phần II)
[1];
Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó khơng có một trong các
loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nh ưng có di s ản là
nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu c ầu chia di s ản th ừa
kế (tiểu mục 1.3 mục 1 phần II):
+
Trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử
dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.[2]
Trường hợp đương sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quy ền xác nh ận vi ệc s ử
dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có th ẩm quy ền cho bi ết rõ là
việc sử dụng đất đó khơng vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử
dụng đất.[3]
[1] 1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy
quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì k ể t ừ ngày
01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa
kế.
[2] a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quy ền xác nh ận vi ệc
sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền s ử d ụng đ ất, thì
Tồ án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài s ản g ắn li ền v ới quy ền s ử d ụng đ ất và quy ền s ử
dụng đất đó.
[3] b) Trong trường hợp đương sự khơng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác
nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền
cho biết rõ là việc sử dụng đất đó khơng vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để
giao quyền sử dụng đất, thì Tồ án giải quyết u cầu chia di sản là tài s ản g ắn li ền v ới
quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho
đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp lu ật v ề đ ất
đai.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
4
Câu 1.4. Trong Bản án số 08, Tồ án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án
có câu trả lời?
Trong Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020, Tịa án có coi diện tích đất tăng
85,5 m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản.
Mặc dù tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng phần đất
trên không được coi là di sản thừa kế, cần tiếp tục giao cho ơng Hồ có trách nhi ệm
thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền s ử
dụng đất.
Phần đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đ ồng xét x ử ch ấp
nhận. Hội đồng xét xử kết luận là: "Do đó, đây vẫn là tài s ản c ủa ơng Hịa, bà Mai,
chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà n ước, n ếu không
xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích h ợp
pháp của các bên đương sự".
Câu 1.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án
số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo nhóm em, hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp lý.
Thứ nhất, theo điểm b tiểu mục 1.3 phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ - HĐTP thì
trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó khơng có một trong các
loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di
sản là nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với quyền s ử d ụng đất đó thì n ếu có văn
bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc s ử d ụng đ ất đó
khơng vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quy ền s ử d ụng đ ất, thì
Tồ án giải quyết u cầu chia di sản là tài sản gắn li ền v ới quy ền s ử d ụng đ ất. Tuy
Ủy ban nhân dân phường Đống Đa chưa có văn bản cho bi ết rõ là vi ệc s ử d ụng đ ất
đó có vi phạm quy hoạch hay khơng, nhưng theo ông Nguy ễn Ng ọc Thu đ ại di ện
theo pháp luật của UBND phường Đống Đa trình bày: "Hộ ơng Hịa đang s ử d ụng
diện tích đất tăng ổn định, không thuộc diện quy hoạch di dời, không tranh ch ấp",
nên có xem xét để giao quyền sử dụng đất do không vi phạm quy hoạch.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
5
Thứ hai, như ơng Thu đã đề cập thì ơng Hịa đã sử dụng diện tích đ ất tăng ổn đ ịnh,
các hộ liền kề cũng khơng có tranh chấp về việc hộ ơng Hịa s ử dụng diện tích đ ất
tăng này nên có thể ngầm hiểu họ cũng cơng nhận quyền sử dụng đất của ơng. Có ý
kiến cho rằng: “ Về bản chất “cái” được coi là di sản có giá trị tài s ản là quy ền s ử
dụng đất hợp pháp, chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thực ra chỉ là một hình thức pháp lý, Nhà nước cơng
nhận một ai đó có quyền sử dụng đất hợp pháp, chứ nó khơng phải là căn c ứ xác l ập
quyền sử dụng đất. Do đó, nếu có chứng cứ chứng minh người quá cố là người s ử
dụng hợp pháp đích thực quyền sử dụng đất thì nên coi đó là di sản”.[1]
Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), tr.70.
[1]
Vì đã có chứng cứ chứng minh ơng Hịa là người sử dụng đất h ợp pháp, do đó, Tịa
án đã coi diện tích đất tăng 85,5 m 2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là di sản nếu các đương sự thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Câu 1.6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của
Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?
1/2 diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản
của ông Phùng Văn N. Sở dĩ, Tòa án xem xét phần di sản của ông Phùng Văn N
trong phần tài sản chung của vợ chồng ơng Phùng Văn N có diện tích 398 m2 ch ỉ là
133,5 m2 vì Tịa án cho rằng việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông
Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng khơng ai có ý ki ến ph ản đ ối
gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà Phùng Thị G bán đất để lo cu ộc s ống
của bà và các con. Từ đó xác định vì mục đích chăm lo đời s ống cho gia đình nên
phần tài sản bà Phùng Thị G bán cho ơng K được tính vào phần tài s ản chung c ủa
vợ chồng mặc dù thực tế thời điểm bà G định đoạt phần tài sản chung này thì ơng
Phùng Văn N đã chết. Và việc quyết định của Tịa án như vậy là hợp tình và hợp lý.
Câu 1.7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ơng Phùng
Văn K có được coi là di sản để chia khơng? Vì sao?
Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K
không được coi là di sản để chia.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
6
Vì trong đoạn [2] phần Nhận định của Tồ án: “Việc bà Phùng Thị G chuyển
nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà Phùng Thị G đều biết, nhưng
khơng ai có ý kiến phản đối gì, các con của bà Phùng Thị G có lời khai bà
Phùng Thị G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con. Nay ông Phùng Văn
K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy, có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng ý để bà Phùng
Thị G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ơng Phùng Văn K. Tịa
án cấp phúc thẩm khơng đưa diện tích đất bà Phùng Thị G đã bán cho ơng
Phùng Văn K vào khối tài sản để chia là có căn cứ.”
Nên từ đó, ta có cơ sở các con của bà G đồng ý việc chuyển nh ượng 131m 2
cho ơng K nên Tịa án cấp phúc thẩm khơng đưa diện tích đất đã đ ược
chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K làm di sản để chia thừa kế.
Câu 1.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan
đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.
Theo em, hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã
chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K là hợp tình, hợp lý.
Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuy ển
nhượng. Các đồng thừa kế biết và không phản đối việc chuyển nh ượng đó.
Số tiền chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế
(“Đến năm 1991 mẹ chị đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K diện tích
131m2, khi chuyển nhượng các chị đều biết việc này, nhưng số tiền bao nhiêu
chị không biết, chỉ biết mẹ chị đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và
nuôi các con”). Bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, Tịa án phải cơng nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất chuyển
nhượng khơng cịn trong khối tài sản để chia thừa kế mà thuộc quyền s ử
dụng của bên nhận chuyển nhượng.
Câu 1.9. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con
mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di
sản để chia khơng? Vì sao?
Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà
dùng tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó sẽ đ ược coi là di s ản đ ể
chia, căn cứ theo Điều 612 Bộ luật Dân s ự năm 2015 thì “Di sản bao gồm tài
sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài s ản chung v ới
người khác”. Theo đó, ta hiểu rằng di sản chính là tài sản thuộc sở hữu c ủa
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
7
người để lại thừa kế lúc họ cịn sống, đó có thể là tiền, vật, giấy tờ có giá và
quyền tài sản.
Cho nên số tiền mà bà G bán và để lại cho cá nhân của bà được xem là di s ản
để chia sau khi bà chết đi.
Câu 1.10. Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong
diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?
Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên
là 133.5 m2.
Diện tích 398 m2 đất ban đầu có nguồn gốc là tài sản chung vợ ch ồng ông Phùng
Văn N và bà Phùng Thị G. Sau khi chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K di ện tích
131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất cịn lại của
thửa đất là 267m2. Tuy diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được
hình thành trong thời gian hơn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của v ợ
chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia.
Do đó, bà Phùng Thị G chỉ có quyền định đoạt 1/2 diện tích đất trong tổng diện tích
267m2 đất chung của vợ chồng bà (tức 133.5m2).
Câu 1.11. Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là
43,5m2 có thuyết phục khơng? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16
khơng? Vì sao?
Việc Tịa án xác định phần cịn lại của di sản c ủa bà Phùng Th ị G là 43,5m 2 chưa
thuyết phục.
Điều 651 BLDS 2015 quy định về chia thừa kế quy định:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo
thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,
cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết […].
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản
bằng nhau.
Theo đó, di sản mà ông N để lại sẽ chia đều cho 7 người bao gồm: bà G và 6 ng ười
con. Phần di sản của ơng N là ½ của diện tích 267m 2 đất còn lại (sau khi trừ bỏ
131m2 mà bà đã bán cho ơng K) tức cịn là 133,5m2 đất, khi chia thừa kế mỗi người
sẽ được hưởng 19.07m2 đất. Do đó tổng diện tích đất mà bà G s ở hữu sau khi nh ận
thừa kế là 152,57m2, theo di chúc bà G để cho chị H1 là 90m 2 đất thì phần đất cịn
lại của di sản phải là 62,57m2 đất.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
8
Đây không là nội dung của Án lệ số 16. Nội dung Án lệ số 16/2017/AL là công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong
các đồng thừa kế chuyển nhượng. Hay nói cách khác, Án lệ thừa nhận h ợp đ ồng
chuyển nhượng diện tích 131m2 đất mà bà G đã bán cho ơng K là hợp pháp và
khơng cịn thuộc phần di sản thừa kế còn lại phải chia.
Câu 1.12. Việc Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần cịn
lại” có thuyết phục khơng? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 khơng?
Vì sao?
Việc Tịa án quyết định “cịn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là khơng
thuyết phục và khơng có cơ sở pháp lý.
Bởi trên nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế, Điều 610 BLDS 2015 quy đ ịnh: “Mọi cá
nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho ng ười khác và quy ền h ưởng di
sản theo di chúc và theo pháp luật.” Quy định này ra đời nhằm đảm bảo mọi người đều
được hưởng một phần di sản thừa kế theo pháp luật.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật: “1.
Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo th ứ tự sau đây: a) Hàng th ừa k ế
thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con ni của người
chết” thì chị Phùng Thị H1 và “5 kỷ phần còn lại” (Phùng Thị N1, Phùng Th ị H2, Phùng
Thị P, Phùng Thị N2, Phùng Văn T) là đồng thừa kế, tức quy ền l ợi c ủa nh ững ng ười này là
ngang bằng nhau nên phần di sản còn lại của bà G (43,5m 2 đất còn lại trong tổng 133,5m2
di sản của bà G) phải được chia đều cho 6 người.
Tòa án đang đi theo hướng vì chị Phùng Thị H1 đã được bà G để lại 90m 2 trong di chúc
nên không được chia phần di sản còn lại. Trong pháp luật hiện nay, chưa có quy đ ịnh nào
về việc một người đã được hưởng tài sản trong di chúc thì khơng được chia sản. Vì v ậy
hướng giải quyết của Tịa án là chưa thuyết phục, theo nhóm thảo luận thì phần di sản còn
lại của bà G phải được chia cho 6 kỷ phần, có thế mới bảo vệ quyền l ợi của ch ị Phùng Th ị
H1.
Đây không là nội dung của Án lệ số 16 vì Án lệ này không xoay quanh nội dung công nhận
quyền chia di sản thừa kế, thay vào đó là cơng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất là di sản thừa kế.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
9
VẤN ĐỀ 2: QUẢN LÝ DI SẢN
TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ 11/2020/DS-PT NGÀY 10/6/2020 CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Anh Phạm Tiến H (nguyên đơn) khởi kiện anh Phạm Tiến N (bị đơn) về việc “tranh
chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đ ất” bao g ồm m ột ngôi nhà g ỗ
04 gian lợp ngói nằm trên diện tích đất 311m2 do bố mẹ anh là ơng Phạm Tiến Đ và
bà Đồn Thị T để lại. Sau khi anh Hiệu đã chấp hành án xong tr ở về, d ựa trên
nguyện vọng của các anh chị em trong nhà là giao cho anh Hi ệu tu s ửa ngôi nhà và
quản lý đất đai, tuy nhiên khi anh có ý định sửa thì cháu Nghĩa cản trở không cho
với lý do anh Thiện (đang chấp hành án) đã ủy quyền cho cháu Nghĩa trong coi ngồi
nhà đến khi anh Thiện chấp hành án trở về. Tại bản án dân s ự s ơ th ẩm Tòa án x ử
tạm giao cho anh Phạm Tiến H quản lý tài sản do bố mẹ anh để lại và bu ộc anh
Phạm Tiến N có trách nhiệm bàn giao toàn bộ nhà và đất cho anh Phạm Tiến H. Tại
phiên xét xử phúc thẩm, Tòa án chấp nhận một phần kháng cáo của b ị đ ơn v ề xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp đồng thời chấp nhận yêu cầu khởi kiện c ủa anh
Phạm Tiến H.
QUYẾT ĐỊNH SỐ 147/2020/DS-GĐT NGÀY 09/7/2020 CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Ơng bà Đ T chết không để lại di chúc nhưng những người ở hàng th ừa k ế th ứ nhất
đều nhất trí giao cho anh H quản lý khối di sản của ông bà Đ T, tr ừ ông T. Nay
ngun đơn đề nghị cháu N khơng cản trở mình trong việc tu sửa di s ản của ông bà
Đ T. Tòa án xét thấy: Tại tòa sơ thẩm, Tòa án xử tạm giao cho anh Ph ạm Ti ến H
quản lý tài sản do bố mẹ anh để lại và buộc anh Phạm Tiến N có trách nhi ệm bàn
giao toàn bộ nhà và đất cho anh Phạm Tiến H. Tại tịa phúc thẩm, Tịa án phân tích
có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn (anh N); xác đ ịnh tranh ch ấp
giữa nguyên đơn và bị đơn là “Tranh chấp quyền quản lý di s ản th ừa k ế” và ch ấp
nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, đồng thời giao quyền quản lý di sản th ừa k ế c ủa
ông bà Đ T cho anh H.
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 2.1. Trong Bản án số 11, Tòa án xác định ai là người có quyền quản lý di
sản của ơng Đ và bà T; việc xác định như vậy có thuyết phục khơng, vì sao?
Trong Bản án số 11, Tịa án xác định anh Phạm Tiến H là người có quyền
quản lý di sản của ơng Đ và bà T. Theo nhóm, việc Tòa án xác đ ịnh nh ư v ậy là h ợp
lý và thuyết phục bởi căn cứ theo khoản 1 điều 616 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
10
:“ Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc ho ặc do nh ững ng ười
thừa kế thỏa thuận cử ra”. Trong vụ việc trên thì mặc dù ơng Hi ếu khơng thu ộc
trường hợp người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc bởi sau khi c ả b ố và
mẹ chết thì đều khơng để lại di chúc cũng như khơng giao quyền quản lý di sản thừa
kế cho ai tuy nhiên thì sau khi ơng Hiếu chấp hành án trở về thì những người cịn lại
ở hàng thừa kế thứ nhất đều nhất trí giao cho ơng Hiếu qu ản lý kh ối di s ản c ủa ông
Đ, bà T và các ơng, bà Hiệu, Liền, Nhi, Nhường, Hồi, Hài đ ều có đ ủ năng l ực hành
vi dân sự; quyết định dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện; không b ị l ừa d ối, ép
buộc; không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
Câu 2.2. Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án có là người
quản lý di sản khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong Bản án số 11, ông Thiện trước khi đi chấp hành án là người quản lý di
sản bởi căn cứ theo khoản 2 điều 616 của Bộ luật dân s ự năm 2015 thì: “Tr ường
hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa c ử
được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di s ản ti ếp
tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa k ế c ử đ ược ng ười qu ản lý di
sản”. Trong vụ việc trên sau khi cả bố và mẹ chết thì đều khơng để lại di chúc cũng
như không giao quyền quản lý di sản thừa kế cho ai và những người thừa kế cũng
chưa cử được người quản lý di sản thì trong khoảng thời gian này ông Thi ện là
người đang trực tiếp sinh sống tại nhà và đất, tiếp tục quản lý di sản của ông bà Đ T.
Trước khi ông Thiện đi chấp hành án, có giao lại cho anh Nghĩa trơng coi di sản của
ơng bà. Như vậy, có thể thấy ơng Thiện là người đang chiếm h ữu, s ử d ụng, qu ản lý
di sản hợp pháp và chỉ khi những người thừa kế có đ ược ng ười quản lý di s ản thì
quyền và nghĩa vụ của ơng Thiện mới chấm dứt.
Câu 2.3. Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền
quản lý di sản có thuyết phục khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trong Bản án số 11, việc Tòa án giao cho anh Hiếu (Tiến H) quyền quản lý di sản là
thuyết phục. Vì cả anh H và anh N đều khơng có u c ầu chia di s ản th ừa k ế c ủa
ông bà Đ, T; mà chỉ tranh chấp về quyền quản lý khối di sản c ủa ông bà; tuy nhiên
các bà Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài đều xác nhận, đã giao di s ản th ừa k ế cho anh
H trông coi, quản lý. Anh Phạm Tiến H thuộc hàng th ừa kế th ứ nh ất của ông Đ, bà
T; ông Đ chết năm 1994, bà T chết năm 2012 không đ ể l ại di chúc; do đó anh H có
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
11
các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định tại Điều 614 và các
Điều 616, 618 BLDS năm 2015.
Câu 2.4. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền tơn tạo, tu
sửa lại di sản như trong Bản án số 11 không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo nhóm, người quản lý di sản có quyền tơn tạo, tu s ửa l ại di s ản. Theo Kho ản b
Điều 617 BLDS 2015, người quản lý di sản quy định có nghĩa vụ sau đây: “Bảo
quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài
sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn
bản”. Việc tôn tạo, tu sửa di sản được xem như một hình thức b ảo quản di s ản vì
vậy nên hoàn toàn hợp pháp.
Câu 2.5. Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản có quyền giao lại cho
người khác quản lý di sản (như trong Bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con
trai) không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Khi là người quản lý di sản, người quản lý di sản khơng có quyền giao lại cho người
khác quản lý di sản (như trong bản án số 11 là ông Thiện giao lại cho con trai). Vì
việc ơng Thiện giao lại cho anh Nghĩa trông coi di sản của ông Đ bà T là không
đúng theo luật định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 616 của B ộ luật Dân s ự 2015
thì “Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người
thừa kế thỏa thuận cử ra”. Ông Đ bà T chết, không để lại di chúc; việc qu ản lý di
sản của ơng Thiện khơng có sự nhất trí bằng văn bản của các đồng thừa kế. Tuy
nhiên, các bà Liền, Nhi, Nhường, Hoài, Hài - những người thừa kế ở hàng thứ nhất đều xác nhận đã nhất trí với việc giao di sản thừa kế cho anh Hiệu trơng coi, qu ản
lý. Do đó, ơng Thiện khơng có quyền giao lại cho con trai là Phạm Tiến N trông coi,
sử dụng di sản của ông Đ bà T. Giấy ủy quyền cho con trai Ph ạm Ti ến N đ ề ngày
15/8/2013 của ông Phạm Tiến T không có giá trị pháp lý; khơng phải là cơ s ở đ ể
phát sinh quyền quản lý di sản của anh Phạm Tiến N đối với di sản c ủa ông bà Đ T.
Cho nên, trong trường hợp này, việc ông Thiện tự ý ủy quyền cho con trai là Nghĩa
để quản lý di sản là khơng phù hợp vì những người thừa kế ở hàng thứ nhất đều
không thỏa thuận giao di sản cho Nghĩa.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
12
Câu 2.6. Trong Quyết định số 147, Tòa án xác định người quản ly khơng có
quyền tự thỏa thuận mở lối đi cho người khác qua di sản có thuyết phục không?
Nêu cơ sở pháp ly khi trả lời.
Trong quyết định số 147, Tòa án xác định người quản lý khơng có quyền t ự th ỏa
thuận mở lối đi cho người khác qua di sản là thuyết phục. Theo điểm b khoản 1 điều
617 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của người quản lý di sản: “B ảo qu ản di
sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài s ản
bằng hình thức khác, nếu khơng được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản”.
Như vậy, người quản lý khơng có quyền tự thỏa thuận với người khác để bán, trao
đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác vì người
quản lý là “Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ người thứ ba liên quan
đến di sản” (điểm a khoản 1 điều 618 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, trong tr ường
hợp những người đồng thừa kế đồng ý bằng văn bản thì người quản lý mới có
quyền thực hiện những điều đã nêu trên, khơng có quyền “tự th ỏa thu ận” v ới ng ười
khác qua di sản.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
13
VẤN ĐỀ 3: THỜI HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỪA KẾ
TÓM TẮT ÁN LỆ SỐ 26/2018/AL VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM
BẮT ĐẦU TÍNH THỜI HIỆU VÀ THỜI HIỆU YÊU CẦU
CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ BẤT ĐỘNG SẢN
− Cụ Hoàng Thị T và cụ Cấn Văn K có 8 người con: Cấn Xuân V, Cấn Thị N1,
Cấn Thị N2, Cấn Thị M1, Cấn Thị T1, Cấn Thị H, Cấn Xuân T, Cấn Văn S (chết
2008) có vợ là bà Nguyễn Thị M và hai con là Cấn Thùy L và Cấn Hoàng K.
− Năm 1972, cụ bà T chết.
− Năm 1973, cụ ông Cấn Văn K kết hôn với cụ bà Nguyễn Thị L sinh được 4
người con: Cấn Thị C, Cấn Thị M2, Cấn Anh C và Cấn Thị T2.
− Sinh thời cụ K và cụ T tạo lập được 612m 2 đất, trên đất có 2 căn nhà 3 gian, tọa
lạc tại thôn T, xã P, huyện Th, TP Hà Nội.
− Năm 2002, diện tích đất trên được cấp GCNQSD đất đứng tên hộ cụ Cấn Văn K.
Thời điểm này, hộ có 6 người gồm: cụ Cấn Văn K, cụ Nguyễn Thị L, ông Cấn
Xuân T, bà Cấn Thị M2, bà Cấn Thị T2 và ông Cấn Anh C.
− Cuối năm 2002 cụ Cấn Văn K chết, toàn bộ nhà đất trên do cụ Nguyễn Thị L và
ông Cấn Anh C quản lý.
− Cụ K và cụ T chết không để lại di chúc.
− Ngày 02/11/2010, Các đồng nguyên đơn là 8 người con của cụ Hoàng Thị T
khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của cụ T và chia di sản thừa kế của cụ K
theo quy định của pháp luật. Đề nghị kỷ phần được hưởng của mỗi ông bà đều
giao lại cho ông Cấn Xuân V làm nơi thờ cùng cha mẹ, tổ tiên.
− Bị đơn là cụ Nguyễn Thị L và ông Cấn Anh C đề nghị giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
14
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế ở Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 623 BLDS 2015, có 03 loại thời hiệu trong lĩnh v ực
thừa kế:
− Thứ nhất, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với
bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện
chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định t ại Điều 36
Pháp lệnh thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
− Thứ hai, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của
mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm
mở thừa kế;
− Thứ ba, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của
người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Câu 3.2. Pháp luật nước ngồi có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di sản
không?
Việc áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia di s ản tùy thu ộc vào pháp lu ật c ủa
từng quốc gia.
Một vài ví dụ trên thế giới:
− Pháp luật Campuchia quy định về thời gian chấp nhận hoặc từ bỏ quyền thừa
kế, cụ thể tại Điều 1248 BLDS Campuchia:
“1. Người thừa kế phải có sự chấp nhận đơn giản hoặc chấp nhận có giới
hạn hoặc từ bỏ quyền thừa kế trong vòng 3 tháng kể từ ngày biết được việc
thừa kế của mình phát sinh. Tuy nhiên, thời gian này có thể được Tòa án kéo
dài thêm theo yêu cầu của người thừa kế.”.
2. Người thừa kế có thể điều tra tài sản trước khi chấp nhận hay từ bỏ.”
− Đối với pháp luật của Pháp thì khơng quy định rõ về thời hiệu đối với yêu
cầu chia di sản. Tại Điều 815 BLDS Pháp chỉ quy định:
“Khơng ai có thể bị buộc phải chấp nhận trong tình trạng di sản chưa chia
vào bất cứ lúc nào cũng có thể yêu cầu chia di sản trừ trường hợp việc này
được tạm hoãn theo bản án hoặc pháp luật”.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
15
Câu 3.3. Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào
của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?
❖ Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T:
Theo khoản 1 Điều 611 BLDS 2015:
“1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa
án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác
định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”
⇨ Năm 1972, cụ T chết nên theo khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 thì thời điểm
mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm 1972.
❖ Đoạn của Quyết định tạo lập thành Án lệ 26/2018/AL cho câu trả lời trên:
“[7] Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án
áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác đ ịnh th ời hi ệu
đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 01-01-2017. Căn cứ quy định tại
khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ lu ật Dân s ự năm
2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các
đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật.”
Câu 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho
di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào khơng? Có thuyết phục khơng? Vì sao?
Theo nhóm, việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm c ủa BLDS
2015 cho di sản của cụ T là khơng có cơ sở văn bản pháp luật, đồng thời hướng giải
quyết trên là chưa thuyết phục.
Vì mặc dù áp dụng thời hiệu 30 năm cho di sản của cụ T sẽ bảo đ ảm quyền
lợi cho những người được chia thừa kế, tạo điều kiện cho Tòa án x ử lý m ột cách
triệt để trong trường hợp hết thời hiệu thì Tịa án sẽ không thụ lý và gây ra những
hậu quả về sau (hết thời hiệu nhưng vẫn còn tranh chấp về thừa kế). Nh ưng theo
điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 (Thời hiệu được áp dụng theo quy định của
Bộ luật này) có quy định đối với giao dịch dân sự được xác lập tr ước ngày B ộ luật
này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định ở điểm a, b, c của khoản 1
của Điều này. Và phải lưu ý rằng, khoản 1 Điều 688 nêu trên áp dụng đối với “Giao
dịch dân sự”.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
16
Điều 116 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành
vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự.”
Vụ việc trong Án lệ 26/2018/AL khơng có giao dịch dân sự vì khơng có h ợp
đồng nào được xem xét, đồng thời đây cũng là tranh ch ấp v ề th ừa k ế khơng có di
chúc nên cũng khơng có hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đ ổi ho ặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (di chúc). Vậy nên không th ể áp d ụng th ời hi ệu
theo quy định của BLDS 2015 như lập luận của HĐTP.
Câu 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho
di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990
được cơng bố có cơ sở văn bản nào khơng? Có thuyết phục khơng? Vì sao?
Theo nhóm, việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm c ủa BLDS
2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm
1990 được cơng bố là khơng có cơ sở văn bản và hướng giải quyết trên là ch ưa
thuyết phục. Vì:
Thứ nhất, khoản 1, khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế s ố 44-LCT/HĐNN8
ngày 10/9/1990 quy định:
“Điều 36: Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
1. Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có
quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa k ế c ủa mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.
4. Đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp l ệnh này thì
thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được tính từ ngày cơng b ố
Pháp lệnh này.”
Thứ hai, khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 quy định:
“Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động
sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa k ế. Hết th ời h ạn này
thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp khơng
có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định t ại
Điều 236 của Bộ luật này;
Downloaded by Vu Vu ()