Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Buổi thảo luận thứ 3 môn luật dân sự, tài sản và thừa kế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.43 KB, 18 trang )

lOMoARcPSD|12114775

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ

MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ
THỪA KẾ
BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA
(TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN)
GIẢNG VIÊN: Lê Thanh Hà
LỚP: 131-QTL46A

DANH SÁCH NHÓM

STT
1
2
3
4
5
6
7

HỌ TÊN
Trương Thị Xuân Lan
Cao Trúc Linh
Lâm Vũ Gia Mẫn
Lê Thị Ngọc Mến
Trương Hoàng Quang Minh
Trương Thanh Ngọc Minh
Trương Gia Mỹ



1

Downloaded by Vu Vu ()

MSSV
2153401020123
2153401020125
2153401020151
2153401020153
2153401020156
2153401020157
2153401020163


lOMoARcPSD|12114775

BÀI TẬP 1:ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Nghiên cứu:
- Điều 1 BLDS 2005 và Điều 1 BLDS 2015
- Và tình huống sau: A đe dọa để ép B xác lập một giao dịch dân sự.
Đọc: Đỗ Văn Đại, Giáo trình những quy định chung về Luật dân sự của ĐH Luật
TP.Hồ Chí Minh, Nxb.Hồng Đức 2018, Chương I.
Và cho biết:
-

Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?
Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và
BLDS 2015 khơng? Vì sao?


Trả lời
- Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?
Đối tượng điều chỉnh của Bộ Luật dân sự là quan hệ nhân thân và quan hệ tài
sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình
đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm.
+ Quan hệ tài sản: Là quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực dân sự (bình
đẳng, tự nguyện), có nội dung liên quan đến tài sản. Quan hệ tài sản do luật
Dân sự điều chỉnh : Quan hệ giữa người với người; Về mặt tài sản, hay vì lý do
tài sản (tài sản được hiểu theo nghĩa pháp lý) (Điều 105 BLDS 2015); Dựa trên
quy luật giá trị.
+ Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về giá trị tinh thần-phi
kinh tế, gắn liền với chủ thể trong lĩnh vực dân sự.
- Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và
BLDS 2015 khơng? Vì sao?
Quan hệ giữa A và B trên không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và
BLDS 2015. Vì trong tình huống trên anh A đã ép anh B để xác lập giao dịch
dân sự chứ không phải là anh B tự nguyện đồng ý giao dịch và khơng thấy
được sự bình đẳng giữa hai bên chủ thể. Và theo Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
của Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn
mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân
thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành
trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau
đây gọi chung là quan hệ dân sự).” Cho nên quan hệ giữa A và B không thuộc
phạm vi điều chỉ của BLDS.
BÀI 2 :TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT
Nghiên cứu
- Điều 71 đến 73 BLDS 2015.
- Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tịa án nhân dân
- Quận 9 TP. Hồ Chí Minh; Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018
2


Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

-

của Tịa án nhân dân huyện Đơng Sơn tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số
94/2019/QĐST-VDS ngày 15/11/2019 của Tồ án nhân dân TP. Hà Nội;
Quyết định số 02/2020/QĐST-DS ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân
huyện C, tỉnh A (huyện Cần Đước, tỉnh Long An).

Đọc:
Nguyễn Xuân Quang, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự của
ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức 2018, Chương III;
- Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng
- Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2019 (xuất bản lần thứ tư), Bản án số 1-3.
Và cho biết:
- Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố
một người là đã chết;
- Một người biệt tích và khơng có tin tức xác thực là cịn sống trong thời hạn bao
lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết?
- Trong các vụ việc trên (quyết định năm 2018 và 2019), cá nhân bị tuyên bố
chết, biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao?
- Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nêu cơ
sở pháp lý và ví dụ minh hoạ.
- Tịa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn
nào của các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) cho câu trả lời?
- Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018 và

2019), pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào ?
- Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định
trên (quyết định năm 2018 và 2019).
- Cho biết căn cứ để hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết và Tòa án
tuyên hủy quyết định tuyên bố ông H đã chết trong quyết định năm 2020 có
phù hợp với quy định khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Đối với vụ việc được giải quyết trong quyết định năm 2020, bà T và ơng H có
cịn được coi là vợ chồng nữa không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Nếu ông H có tài sản, quan hệ về tài sản trước đây của ông H được xử lý như
thế nào sau khi có quyết định năm 2020? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
TÓM TẮT: Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/04/2018 của Tòa án nhân
dân Quận 9 TP.HCM:
Bà Bùi Thị T u cầu Tịa án tun bố ơng Trần Văn C (chồng bà T) là đã chết, Ông C
đã bỏ đi biệt tích vào cuối năm 1985 nhưng Cơng an phường Phước Bình, Quận 9
khơng xác định được ngày, tháng ông C vắng mặt tại địa phương chỉ xác nhận ơng C
có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Phước Định, Quận 9, TP.Hồ Chí Minh từ
năm 1976 đến năm 1985.Tịa án quyết định tun bố ơng Nguyễn Văn C đã chết, ngày
chết là 01/01/1986, nơi cư trú cuối cùng là phường Phước Định, Quận 9, TP.Hồ Chí
Minh.
TĨM TẮT: Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân
huyện Đơng Sơn, tỉnh Thanh Hóa v/v u cầu tuyên bố một người là đã chết:
-

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Quản Bá Đ – SN: 1973. Địa chỉ: Thôn C,
xã V, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị
3

Downloaded by Vu Vu ()



lOMoARcPSD|12114775

Quản Thị K – SN: 1969. Nơi cư trú cuối cùng: Thơn C, xã V, huyện Đơng Sơn, tỉnh
Thanh Hóa. Chị Quản Thị K là chị gái của anh Quản Bá Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa
phương từ năm 1992 đến nay khơng có tin tức gì. Gia đình anh Đ đã tìm kiếm và
thơng báo trên phương tiện thơng tin đại chúng nhiều lần, nhưng cũng khơng có kết
quả. Nay anh Đ làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Quản Thị K đã chết.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Đơng Sơn đã ra quyết định thơng báo
tìm kiếm chị Quản Thị K trên Cổng thơng tin điện tử Tịa án nhân dân Tối cao; Báo
nhân dân và Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên tiếp. Thời hạn thơng báo 04 tháng kể từ
ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (06/07/2018). Đến nay đã hết thời hạn thông
báo theo quy định của pháp luật, nhưng chị K vẫn khơng về và cũng khơng có tin tức
gì về chị K. Do đó đủ cơ sở khẳng định chị Quản Thị K đã biệt tích 05 năm liền trở
lên và khơng có tin tức xác thực là chị K cịn sống. Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 27,
Điều 361, Điều 393, Điều 371, Khoản 1 Điều 372 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Điểm d
khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Quản
Bá Đ. Tuyên bố chị Quản Thị K – Sinh năm 1969 đã chết ngày 19/11/2018. Ngày
19/11/2018 là ngày làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ về thân
nhân, về tài sản, về hơn nhân gia đình, về thừa kế của chị Quản Thị K.
TÓM TẮT: Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS ngày 15/11/2019 của Toà án nhân
dân TP.Hà Nội:
Người giải quyết yêu cầu dân sự: Bà Phạm Thị K.
Nội dung: Cụ Phạm Văn C (bố đẻ của bà K) đã bỏ nhà đi từ ngày 01/1997 từ đó đến
nay khơng trở về nhà, gia đình bà có đăng tin tìm kiếm nhưng khơng có tin tức gì. Nay
bà K u cầu Tồ án tun bố cụ C là đã chết. Trong quá trình giải quyết đơn u cầu,
Tồ án có ra Quyết định thơng báo u cầu tìm kiếm nhưng vẫn khơng có thơng tin
xác thực về ông C. Căn cứ vào việc chi trả lương hưu cho cụ C (chỉ được thực hiện
đến hết tháng 4/1997) của Cơ quan Bảo hiểm xã hội, Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu
của bà K và xác định cụ C đã chết kể từ 01/05/1997.
TÓM TẮT: Quyết định số 02/2020/QĐST-DS ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân

huyện C,tỉnh A(huyện Cần Đước, tỉnh Long An)
Ông Đ, H sinh năm 1968 (nguyên đơn) là người “Yêu cầu hủy quyết định tuyên bố
một người là đã chết”. Được biết là trong 2018 vì xảy ra mâu thuẫn với vợ mà ông bỏ
nhà đi đến tỉnh Lâm Đồng sinh sống mà khơng liên lạc với gia đình mà Tịa án nhân
dân huyện C đã tun bố ơng mất tích. Tại quyết định số: 01/2015/QĐVDS-ST ngày
20/05/2015 Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên bố Đ H đã chết và tại bản án số
28/2011/HNST ngày 14/6/2011 Tòa án nhân dân huyện C đã cho ly hôn giữa Bà N T
và ông Đ H. Thế nhưng, bà N T (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) đã thừa
nhận là ông Đ H còn sống và đồng ý yêu cầu chấp nhận hủy quyết định tuyên bố một
người là đã chết.Vì thế, tại phiên họp, Viện kiểm sát nhân dân huyện C qua đối chiếu
4

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

kết quả tra cứu hồ sơ hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân đã đủ căn cứ để xác định
Ơng Đ H vẫn cịn sống và đề nghị Tịa án nhân dân huyện C chấp nhận đơn yêu cầu
tuyên bố của ông Đ H về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã
chết theo Điều 395 Bộ luật tố tụng dân sự.
-

Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố
một người đã chết.
Tuyên bố mất tích

Tuyên bố chết

Cơ sở pháp lý


Điều 68, 69, 70 BLDS
2015

Điều 71, 72, 73 BLDS
2015

Khái niệm

Tun bố mất tích là
tình trạng biệt tích của
một cá nhân được Tòa
án thừa nhận dựa trên
cơ sở có đơn u cầu
của người có quyền và
lợi ích liên quan.

Tuyên bố chết là sự thừa
nhân của Tòa án về cái
chết của một cá nhân
khi cá nhân đó đã biệt
tích trong thời hạn theo
luật định trên cơ sở có
đơn yêu cầu của người
có quyền và lợi ích liên
quan.

Điều kiện tun bố

Theo điều 68 BLDS

2015, điều kiện tuyên
bố mất tích:

Theo điều 71 BLDS
2015, điều kiện tuyên
bố chết theo yêu cầu
của người có quyền, lợi
ích liên quan:

-Khi một người biệt
tích 02 năm liền trở lên;

- Sau 03 năm, kể từ
-Đã áp dụng đầy đủ các ngày quyết định tuyên
bố mất tích của Tịa án
biện pháp thơng báo,
tìm kiếm theo quy định có hiệu lực pháp luật mà
của pháp luật về tố tụng vẫn khơng có tin tức xác
dân sự kể từ khi người thực là cịn sống;
đó biệt tích 02 năm
-Biệt tích trong chiến
nhưng vẫn khơng có tin tranh sau 05 năm, kể từ
tức xác thực về việc
ngày chiến tranh kết
người đó cịn sống hay thúc mà vẫn khơng có
đã chết.
tin tức xác thực là còn
sống;
-Bị tai nạn hoặc thảm
5


Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

họa, thiên tai mà sau 02
năm, kể từ ngày tai nạn
hoặc thảm hoạ, thiên tai
đó chấm dứt vẫn khơng
có tin tức xác thực là
cịn sống, trừ trường
hợp pháp luật có quy
định khác;
-Biệt tích 05 năm liền
trở lên và khơng có tin
tức xác thực là cịn
sống; thời hạn này được
tính theo quy định tại
khoản 1 Điều 68 của Bộ
luật này.
Hậu quả pháp lý

-Về tư cách chủ thể:
tạm thời đình chỉ và khi
người đó trở về thì tư
cách chủ thể của người
đó tại có hiệu lực pháp
lý.
-Về quan hệ nhân thân:


-Về tư cách chủ thể:
chấm dứt hoàn toàn.
-Về quan hệ nhân thân:
Quan hệ hơn nhân, gia
đình và quan hệ nhân
thân khác của người đó
được giải quyết như đối
với người đã chết.
các quan hệ nhân thân
(khoản 1 Điều 72)
của người bị tuyên bố
-Về quan hệ tài sản:
Quan hệ tài sản của
mất tích cũng tạm
người bị Tòa án tuyên
dừng. Trong trường hợp bố là đã chết được giải
quyết như đối với người
vợ hoặc chồng của
đã chết; tài sản của
người bị tuyên bố mất
người đó được giải
quyết theo quy định của
tích xin ly hơn thì tòa
pháp luật về thừa kế.
án giải quyết cho ly
(Khoản 2 Điều 72)
hôn.
-Về quan hệ tài sản:
Người đang quản lý tài

6

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

sản của người vắng mặt
tại nơi cư trú quy định
tại Điều 65 của Bộ luật
này tiếp tục quản lý tài
sản của người đó khi
người đó bị Tịa án
tun bố mất tích và có
các quyền, nghĩa vụ
quy định tại Điều 66 và
Điều 67 của Bộ luật
này.(Điều 69 BLDS
2015)
Hủy bỏ quyết định

-

- Khi người bị tun bố
mất tích trở về hoặc có
tin tức xác thực là
người đó cịn sống thì
theo u cầu của người
đó hoặc của người có
quyền, lợi ích liên quan,

Tịa án ra quyết định
hủy bỏ quyết định tuyên
bố mất tích đối với
người đó ( Điều 70
BLDS 2015).

- Khi một người bị
tuyên bố là đã chết trở
về hoặc có tin tức xác
thực là người đó cịn
sống thì theo u cầu
của người đó hoặc của
người có quyền, lợi ích
liên quan, Tịa án ra
quyết định hủy bỏ quyết
định tuyên bố người đó
là đã chết. (Điều 73
BLDS 2015)

Một người biệt tích và khơng có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao
lâu thì có thể bị Tịa án tun bố là đã chết?
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 71 Tuyên bố chết BLDS 2015: “Biệt tích 05 năm liền trở
lên và khơng có tin tức xác thực là cịn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại
khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.”
Căn cứ khoản 1 Điều 68 BLDS 2015: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên,
mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thơng báo, tìm kiếm theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn khơng có tin tức xác thực về việc người đó cịn sống
hay đã chết thì theo u cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tịa án có thể
tun bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu

khơng xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu
tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu khơng xác định được ngày,
7

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp
theo năm có tin tức cuối cùng.”
Thời hạn một người biệt tích và khơng có tin tức xác thực là cịn sống thì có thể bị Tịa
án tun bố là đã chết là 05 năm liền trở lên.
-

Trong các vụ việc trên (quyết định năm 2018 và 2019), cá nhân bị tuyên bố chết,
biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao?
Trong các vụ việc trên, cá nhân bị tuyên bố chết, biệt tích:
+ Quyết định năm 2018: Sau q trình tìm kiếm và thông báo trên phương tiện đại
chúng nhiều lần, nhưng cũng khơng có kết quả. Cùng với việc Tịa án nhân dân huyện
Đông Sơn đã ra quyết định thông báo timg kiếm chị Quản Thị K trên Cổng thông tin
điện tử Tòa án nhân dân Tối cao, Báo nhân dân và Đài tiếng nói Việt Nam 03 kỳ liên
tiếp. Thời hạn thông báo 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên. Đến
19/11/2018, khi đã hết thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật, nhưng chị K
vẫn khơng về và cũng khơng có tin tức gì về chị K. Do có đủ cơ sở khẳng định chị
Quản Thị K đã biệt tích 05 năm liền trở lên và khơng có tin tức xác thực là cịn sống.
Tòa đã tuyên bố chị K đã chết ngày 19/11/2018.
+ Trong quyết định năm 2019: tuyên bố cụ Phạm Văn C, sinh năm 1927 đã chết từ
ngày 01/05/1997. Căn cứ Công văn số 4888/BHXH-KHTC của Bảo hiểm xã hội thành
phố Hà Nội có nội dung thể hiện: ” Từ tháng 5/1997 đến tháng 1/1999, ông Phạm Văn

C không lĩnh lương hưu tại nơi cư trú (phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng)”, “Từ
tháng 1/1999, Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng đã tạm dừng in danh sách chi trả
lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đối với ông Phạm Văn C”. Như vậy
việc chi trả lương hưu cho cụ C chỉ được thực hiện đến hết tháng 4/1997. Tại phiên
tịa bà K trình bày, việc nhận lương hưu của cụ C do cụ C và cụ S1 (vợ cụ C) trực tiếp
nhận, anh chị em bà K khơng có ai nhận thay. Căn cứ vào tài liệu và chứng cứ trên
thấy phù hợp với trình bày của bà K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
do vậy có cơ sở xác định, cụ C đã biệt tích từ năm 1997 đến nay khơng có tin tức xác
thực cụ C cịn sống hay đã chết. Căn cứ vào văn bản trả lời của cơ quan Bảo hiểm xã
hội thành phố Hà Nội nêu trên, có cơ sở xác định tin tức cuối cùng về cụ C là tháng
4/1997.
Theo quy định tại điểm d, Khoản 1, Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 thì Tòa án ra quyết
định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp “ Biệt tích 5 năm liền trở lên và
khơng có tin tức xác thực là cịn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản
1 Điều 68 của Bộ luật này”. Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “…nếu
không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu
tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu khơng xác định được ngày,
tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo
năm có tin tức cuối cùng”. Căn cứ vào quy định nêu trên, có cơ sở xác định tuyên bố
8

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

chị Quản Thị K đã chết từ ngày 19/11/2018 và cụ Phạm Văn C đã chết kể từ ngày
01/05/1997.
-


Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nêu cơ sở
pháp lý và ví dụ minh hoạ.
“Việc Tòa án tuyên bố một người là đã chết là cơ sở, tiền đề làm thay đổi, phát sinh,
chấm dứt các quan hệ pháp luật khác về nhân thân, tài sản như: hôn nhân, thừa kế,
thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại...”. “Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một
người là đã chết thì việc xác định ngày chết chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý, là thời
điểm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật khác có liên quan đến
người bị tuyên bố là đã chết theo quy định của pháp luật.”
“Tại khoản 2 Điều 71 BLDS năm 2015 quy định: Căn cứ vào các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết. Như
vậy, tùy từng trường hợp, Tòa án cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể được
quy định tại khoản 1 Điều 71 để xác định ngày chết của người bị Tòa án tuyên bố là
đã chết theo. Quy định này đã phủ định việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố
là đã chết là ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật theo quy định của
BLDS năm 1995. Và theo quy định này, chúng tôi cho rằng quan điểm xác định là
ngày tiếp theo của ngày kết thúc các thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 71 BLDS như
quan điểm thứ hai là phù hợp.
Bởi lẽ, nếu Tòa án xác định ngày chết là ngày ngay sau ngày người bị biệt tích gặp tai
nạn, thiên tai hoặc ngay sau ngày kết thúc chiến tranh... thì về nguyên tắc được hiểu
từ thời điểm này quan hệ hơn nhân (nếu có) của họ đương nhiên chấm dứt từ thời
điểm kết thúc chiến tranh; hoặc từ ngày tai nạn, thảm họa, thiên tai đó chấm dứt hoặc
từ ngày khơng cịn tin tức xác thực là cịn sống. Những tài sản do người vợ, hoặc
chồng còn sống tạo ra sau thời điểm trên là tài sản riêng của người còn sống. Như
vậy sẽ xảy ra mâu thuẫn với trường hợp nếu sau thời điểm nêu trên, đương sự (người
có quyền, lợi ích liên quan) đề nghị Tịa án tun bố mất tích và sau đó giải quyết việc
ly hơn. Vì sau khi Tịa án tun bố một người đã mất tích thì vợ, hoặc chồng họ mới
thực hiện được thủ tục ly hơn và được Tịa án giải quyết cho ly hôn theo khoản 2 Điều
68 BLDS. Kể từ thời điểm Tịa án cho ly hơn, thì người vợ hoặc chồng còn sống mới
được sở hữu riêng tài sản do mình làm ra. Những tài sản mà người vợ hoặc chồng
cịn sống có được trong thời kỳ hơn nhân được coi là tài sản chung vợ chồng với

người được coi là tuyên bố mất tích.”
(Nguồn: />Cụ thể theo quy định tại Điều 72 của bộ luật dân sự 2015: Quan hệ nhân thân và quan
hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết
9

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

1. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì
quan hệ về hơn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải
quyết như đối với người đã chết.
2. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với
người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về
thừa kế.
-

Toà án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn
nào của các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) cho câu trả lời?
Tại Quyết định số 252/2018/QĐST - DS ngày 27/4/2018 của Toà án Nhân dân quận 9:
“Về việc xác định ngày chết của ông C; Bà T và ông T xác định ông C bỏ đi cuối năm
1985, Cơng an phường Phước Bình, quận 9 khơng xác định được ngày, tháng ông C
vắng mặt tại địa phương. Đây thuộc trường hợp khơng xác định được ngày, tháng có
tin tức cuối cùng của ơng C. Do đó, ngày chết của ơng C được tính là ngày đầu tiên
của năm tiếp theo năm đó có tin tức cuối cùng. Như vậy, ngày chết của ông C là ngày
01/01/1986.”
-Tại Quyết định số 01/2018/QĐST - DS ngày 19/11/2018 của Toà án nhân dân huyện
Đơng Sơn tỉnh Thanh Hố:
“Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 27; Điều 361; Điều 393; 371; Khoản 1 Điều 372 của Bộ

luật Tố tụng dân sự; Điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật dân sự; Điều 37
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tịa án.
Chấp nhận đơn u cầu của anh Quản Bá Đ;
Tuyên bố chị Quản Thị K – sinh 1969 đã chết ngày 19/11/2018.
Ngày 19/11/2018 là ngày Ngày 19/11/2018 là ngày làm căn làm căn cứ phát cứ phát
sinh, thay đổi, sinh, thay đổi, chấm dứt chấm dứt các quan các quan hệ về nhân thân,
về tài sản, về hôn nhân gia đình, về thừa kế của chị Quản Thị K”.
-Quyết định số 94/2019/QĐST -VDS:
“Căn cứ Khoản 4 Điều 27, Điều 367, Điều 370, 371, 372, 391, 393 Bộ luật tố tụng dân
sự 2015
Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự
2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tịa án và Danh mục án phí,
lệ phí Tịa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên bố:
1.Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị K, về việc yêu cầu Toà án tuyên bố một
người là đã chết đối với cụ Phạm Thị C.
2.Tuyên bố cụ Phạm Văn c, sinh năm 1927; Hộ khẩu thường trú: phường Bạch Mai,
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, đã chết kể từ ngày 01/5/1997.”

10

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

-


Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019),
pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào?
Đối với hoàn cảnh như hai quyết định trên, pháp luật của nước ngoài xác định ngày
chết cũng gần như giống với pháp luật Việt Nam.
Như ở Pháp:
Trường hợp khơng xác định được chính xác ngày, tháng có tin tức cuối cùng và hồn
cảnh xảy ra vụ việc đó của người mất tích:
Người mất tích được cho là còn sống nếu nhận được tin tức sau bảy năm mất tích.
Trong thời gian bảy năm này, một người giám hộ có thể vắng mặt tại văn phòng để
giám sát các vấn đề và tài sản của anh ta. Vào cuối giai đoạn bảy năm, nếu không
nhận bảy năm, nếu khơng nhận được bất kì tin được bất kì tin tức nào về tức nào về
người đó thì việc tun bố cái chết có thể được thực hiện.
+Việc xác định ngày chết của một cá nhân tính từ thời điểm sau bảy năm kể từ ngày
không nhận được tin tức của người đó.
Trường hợp khơng thể chính thức xác định được địa điểm, ngày và giờ chết nhưng
biết được hoàn cảnh xảy ra vụ việc:
Việc tuyên bố cá nhân chết có thể thực hiện trước thời điểm cho phép tuyên bố theo
quy định nếu xác định được chắc chắn hồn cảnh của người mất tích (ví dụ, Cơ quan
đăng ký hộ tịch có thể hộ tịch có thể cấp giấy chứng tử cho người mất tích cấp giấy
chứng tử cho người mất tích
khi tịa án đã phát hiện một người phạm tội gây ra cái chết của người mất
tích, hoặc tác động khác...)
+Việc tuyên bố ngày chết của một cá nhân tính từ thời điểm quyết định tun bố đã
chết của Tịa án có hiệu lực.

-

Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định
trên (quyết định năm 2018 và 2019)
Tại Quyết định số 252/2018/QĐST - DS ngày 27/4/2018 của Toà án Nhân dân quận 9:

Vì khơng xác định được của ông C. Do đó, ngày chết của ông C được tính là ngày đầu
tiên của năm tiếp theo năm đó có tin tức cuối cùng. Như vậy, ngày chết của ông C là
ngày 01/01/1986.”
-Tại Quyết định số 01/2018/QĐST - DS ngày 19/11/2018 của Tồ án nhân dân huyện
Đơng Sơn tỉnh Thanh Hoá:Tuyên bố chị Quản Thị K – sinh 1969 đã chết ngày
19/11/2018.
Ngày 19/11/2018 là ngày Ngày 19/11/2018 là ngày làm căn làm căn cứ phát cứ phát
sinh, thay đổi, sinh, thay đổi, chấm dứt chấm dứt các quan các quan hệ về nhân thân,
về tài sản, về hôn nhân gia đình, về thừa kế của chị Quản Thị K.

11

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

Thông qua hai bản án trên tôi thấy việc tuyên bố chết của Tịa án chưa hợp lý. Vì theo
Điều 71 Tuyên bố chết của Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
"1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó
cịn sống thì theo u cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan,
Tịa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tịa án cho ly hơn theo
quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hơn vẫn có hiệu
lực pháp luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hơn với người khác thì việc
kết hơn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Người bị tun bố là đã chết mà cịn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận

tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.
Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này cịn sống
mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hồn trả toàn bộ tài sản
đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật này,
Luật hôn nhân và gia đình.
5. Quyết định của Tịa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được
gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi
chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.".
-

Cho biết căn cứ để hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết và Tòa án
tuyên hủy quyết định tuyên bố ông H đã chết trong quyết định năm 2020 có phù
hợp với quy định khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Cho biết căn cứ để hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết và Tịa án tun
hủy quyết định tun bố ơng H đã chết trong quyết định năm 2020 có phù hợp với
quy định không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Căn cứ vào Điều 73 Hủy bỏ quyết định tuyên bố chết của Bộ luật dân sự 2015 có quy
định
“ 1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó
cịn sống thì theo u cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan,
Tịa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
12

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khơi phục khi Tịa án ra

quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tịa án cho ly hơn theo
quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hơn vẫn có hiệu
lực pháp luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hơn với người khác thì việc
kết hơn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Người bị tuyên bố là đã chết mà cịn sống có quyền u cầu những người đã nhận
tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.
Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này cịn sống
mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hồn trả tồn bộ tài sản
đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật này,
Luật hơn nhân và gia đình.

-

5. Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được
gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi
chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”
- Tòa án tuyên hủy quyết định tuyên bố ông H đã chết trong quyết định năm 2020 phù
hợp và hợp lý với quy định theo Điều 73 như trên. Xét thấy sau khi Tòa án nhân dân
huyện C tuyên bố Đ H đã chết tại quyết định số 01/2011/QĐ-MPH ngày
02/2/2011,nhưng đến ngày 20/11/2019 ông Đ H đã trở về sinh sống và làm đơn “yêu
cầu hủy việc quyết định tuyên bố một người đã chết” cùng với đó Bà N T có xác nhận
ơng Đ H vẫn còn sống và đồng ý yêu cầu hủy việc quyết định tuyên bố một người đã
chết. Vì thế, mà tại phiên họp sơ thẩm sau khi đối chiếu kết quả tra cứu hồ sơ hộ khẩu
và chứng minh nhân dân thì Tịa án nhân dân huyện C đã có đủ căn cứ và ra Quyết
định chấp nhận đơn yêu cầu hủy việc quyết định tuyên bố một người đã chết của ông
Đ H.
Đối với vụ việc được giải quyết trong quyết định năm 2020, bà T và ông H có cịn

được coi là vợ chồng nữa khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
+ Cơ sở pháp lý => Khoản 1 Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Khi Tịa án
ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó
chưa kết hơn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết
hơn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hơn của Tịa án theo quy định tại khoản 2
Điều 56 của Luật này (Ly hôn theo yêu cầu của một bên) thì quyết định cho ly hơn
vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hơn với
người khác thì quan hệ hơn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.”

13

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

Tương tự Khoản 2 Điều 73 Luật Dân sự 2015: “Quan hệ nhân thân của người bị tuyên
bố là đã chết được khơi phục khi Tịa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo
quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này (Trường hợp vợ hoặc chồng của người
bị tun bố mất tích xin ly hơn thì Tịa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của
pháp luật về hơn nhân và gia đình) thì quyết định cho ly hơn vẫn có hiệu lực pháp
luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hơn với người khác thì việc
kết hơn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.”

-

+ Trả lời => Xét thấy tại Quyết định 02/2020/QĐST-DS, ngày 13/01/2020, không đề

cập đến việc Bà N T có kết hơn với người khác sau khi có bản án số: 28/2011/HNST
ngày 14/06/2011, Tịa án nhân dân huyện C cho ly hôn giữa Bà N T và Ơng Đ H; cũng
như bà N T khơng u cầu ly hơn đơn phương sau khi biết Ơng Đ H đã trở về; thêm
vào đó Bà N T trình bày: Thừa nhận Ơng Đ H vẫn cịn sống và đồng ý yêu cầu hủy
quyết định tuyên bố một người là đã chết.
Vậy, đối với vụ việc được giải quyết trong quyết định năm 2020, bà T và ông H vẫn
cịn được coi là vợ chồng.
Nếu ơng H có tài sản, quan hệ về tài sản trước đây của ông H được xử lý như thế
nào sau khi có quyết định năm 2020? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
+ Cơ sở pháp lý => Khoản 3 Điều 73 Luật Dân sự 2015: “Người bị tuyên bố là đã chết
mà cịn sống có quyền u cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá
trị tài sản hiện cịn.” => Trả lời: Sau khi có quyết định năm 2020, ơng H có quyền u
cầu những người đã nhận tài sản thừa kế (đã chia lúc ông được tuyên bố đã chết tại
quyết định số 01/2015/QĐDS-ST ngày 20/5/2015 bởi Tòa án nhân dân huyện C) trả
lại tài sản hiện còn.
BÀI 3: TỔ HỢP TÁC
Nghiên cứu:
- Điều 111 đến 120 BLDS 2005; Điều 101 và tiếp theo BLDS 2015;
- Bản án số 02/2021/DS-PT ngày 11/1/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đọc:
- Lê Minh Hùng, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, ĐH Luật TP.
Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, 2018, tr.232 đến tr.236.
Và cho biết:
-

Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy nghĩ
của anh/chị về những điểm mới này.

14


Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

-

-

Trong Quyết định năm 2021, đoạn nào cho thấy giao dịch (hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất) được xác lập giữa ông Th và bà H với Tổ hợp tác?
Theo Tịa án, ai phía Tổ hợp tác là bên trong giao dịch (với ông Th và bà H)?
Hướng xác định như vậy của Tịa án có phù hợp với quy định khơng? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Theo Tịa án, ai là Bị đơn và hướng xác định như vậy của Tịa án có thuyết
phục khơng ? Vì sao.

TĨM TẮT: Bản án số 02/2021/DS-PT ngày 11/1/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Nông:

-

Nguyên đơn là ông Nguyễn Thế Th, bị đơn là tổ trưởng Tổ hợp tác X, xã N - Ông
Nguyễn Thăng L. Ngày 13/9/2018, Tổ hợp tác X xã N ký hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Thế Th, bà Bùi Thị H để thuê 500m 2 đất. Ngày 09/01/2019,
Tổ hợp tác ban hành Thông báo số: 01/TB-THT về việc chấm dứt hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất giữa Tổ hợp tác với ông Nguyễn Thế Th với các lý do quy định tại
Điều 420 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngày 14/01/2019, ông Th làm văn bản thông
báo cho Tổ hợp tác biết gia đình ơng khơng đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất ký ngày 13/9/2018. Tuy nhiên, bị đơn nên là ông Bùi Vĩnh H, chứ không

phải là Tổ hợp tác, bởi vì ơng H là người trực tiếp ký kết hợp đồng là bị đơn trong vụ
án, còn các thành viên trong tổ hợp tác tại thời điểm ký hợp đồng là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan. Tổ hợp tác khơng có tư cách pháp nhân nên ông Bùi Vĩnh H
không phải là người đại diện cho Tổ hợp tác để ký kết hợp đồng. Nên tòa phúc thẩm
đã quyết định hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2020/DS-ST ngày 27/7/2020 của Tòa
án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân
dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy nghĩ của
anh/chị về những điểm mới này.
Cơ sở pháp lý: Điều 101, điều 506 BLDS 2015; Điều 114 BLDS 2005.
BLDS 2005 quy định tổ hợp tác là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật dân sự. Còn
BLDS 2015 đã bãi bỏ quy định này, nên tổ hợp tác không còn được xem là chủ thể
của quan hệ pháp luật dân sự. Trong đó, BLDS 2015 có quy định thêm về một thực
thể xã hội là tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. Căn cứ vào khoản 1 điều 101
BLDS 2015 ,việc tham gia vào các quan hệ dân sự của tổ hợp tác có thể thực được
trong hai trường hợp sau:
+ Tất cả các thành viên tự mình tham gia hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia.
+ Thành viên không được các thành viên khác ủy quyền khi tham gia quan hệ dân sự
thì thành viên đó chính là chủ thể quan hệ dân sự do chính mình xác lập, thực hiện.
Sự thay đổi trên là hồn tồn phù hợp vì thực tế có rất nhiều tổ hợp tác khơng đăng ký
chứng thực và khó khăn cho việc xác định tư các pháp lý của tổ hợp tác, trách nhiệm
15

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

dân sự của tổ hợp tác và trách nhiệm dân sự của từng thành viên tổ hợp tác. Và việc
chỉ quy định chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân phù hợp với

thông lệ quốc tế.

-

-

So với khoản 1 điều 114 BLDS 2005, khoản 1 điều 506 BLDS 2015 thì nguồn hình
thành tài sản của tổ hợp tác là tương đối giống nhau. Nhưng BLDS 2015 có bổ sung
thêm về trường hợp có thỏa thuận về góp tiền mà thành viên hợp tác chậm thực hiện
thì họ phải trả lãi đối với phần tiền chậm trả và phải bồi thường thiệt hại theo quy định
tại điều 357 BLDS 2015. Sự bổ sung này là hồn tồn hợp lý, giúp đảm bảo lợi ích
hợp pháp của các thành viên hợp tác còn lại. Tuy nhiên khơng phải lúc nào sự chậm
trễ trong việc góp tiền cũng có thể gây nên thiệt hại. Nên để hồn thiện hơn em nghĩ
nên thêm điều kiện nếu có tổn thất thì mới cần bồi thường thiệt hại.
Tại khoản 2 điều 506 BLDS 2015 có sự thay đổi về chủ thể quyết định về các tài sản
khác “việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác”. Trong khi đó BLDS 2005 quy định tại khoản 3 điều 114
“Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên
đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý”. Sự thay đổi này
cho phép đại diện của các thành viên tổ hợp tác có nhiều quyền quyết định hơn đối với
các loại tài sản ít quan trọng hơn, tạo sự linh hoạt trong quá trình tham gia vào các
quan hệ dân sự vì khơng phải thông qua nhiều chủ thể.
Khoản 3 điều 506 BLDS 2015 là quy định hồn tồn mới “Khơng được phân chia tài
sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ trường hợp tất cả các thành viên
hợp tác có thỏa thuận.”
Trong Quyết định năm 2021, đoạn nào cho thấy giao dịch (hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất) được xác lập giữa ông Th và bà H với Tổ hợp tác?
Trong phần nhận định của tòa phần [2.3] “Tại Điều 2 của Hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất thể hiện thời hạn thuê quyền sử dụng đất là 20 năm kể từ ngày 13/9/2018.
Ngày 09/01/2019, Tổ hợp tác ban hành Thông báo số: 01/TB-THT về việc chấm dứt

hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa Tổ hợp tác với ông Nguyễn Thế Th với các lý
do quy định tại Điều 420 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (BL 06, 07). Ngày 11/01/2019,
ông Th nhận được Thông báo số : 01/TB-THT củ a Tổ hợp tác về việc chấm dứt hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất với ông Th, bà H. Ngày 14/01/2019, ông Th làm văn bản
thông báo cho Tổ hợp tác biết gia đình ơng khơng đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất ký ngày 13/9/2018 (BL 92). Như vậy, hợp đồng thuê quyền sử
dụng đất giữa ông Th, bà H với Tổ hợp tác vẫn cịn tồn tại trên thực tế.”
(Trích từ Bản án số 02/2021/DS-PT ngày 11/1/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Nơng)
Theo Tịa án, ai phía Tổ hợp tác là bên trong giao dịch (với ông Th và bà H)?
Hướng xác định như vậy của Tịa án có phù hợp với quy định không? Nêu cơ sở
pháp lý khi trả lời.
16

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

Theo tịa án xác định, ơng Bùi Vĩnh H là người bên phía Tổ hợp tác thực hiện giao
dịch với ông Th và bà H.
Căn cứ khoản 1 điều 101 BLDS 2015 quy định:
“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách pháp nhân
tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
khơng có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc
ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự
thay đổi người đại diện thì phải thơng báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm

người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực
hiện.
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng
đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.”
Như vậy Tịa án đã có hướng xác định phù hợp với quy định. Trong trường hợp này
Tổ hợp tác X xã N khơng có tư cách pháp nhân, do đó cần có thành viên của Tổ hợp
tác là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, ở đây là ông Bùi Vĩnh H
qua việc ông H đứng ra, trực tiếp ký kết hợp đồng và có sự đồng ý của tồn bộ Tổ hợp
tác X.
-

Theo Tòa án, ai là Bị đơn và hướng xác định như vậy của Tịa án có thuyết phục
khơng ? Vì sao.
Theo Tịa án, bị đơn trong vụ án là ơng Bùi Vĩnh H. Vì ơng H là người trực tiếp ký kết
hợp đồng, còn các thành viên trong Tổ hợp tác trong thời điểm ký kết hợp đồng là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân nên
ơng H khơng là người đại diện cho Tổ hợp tác ký kết hợp đồng.
Căn cứ khoản 1 điều 101 BLDS 2015 quy định:
“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách pháp nhân
tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác
khơng có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc
ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự
thay đổi người đại diện thì phải thơng báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác khơng có tư cách
pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm
người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực
hiện.
2. Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng
đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.”


17

Downloaded by Vu Vu ()


lOMoARcPSD|12114775

18

Downloaded by Vu Vu ()



×