lOMoARcPSD|12114775
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 46.1
BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI:
GIAO DỊCH DÂN SỰ
Mơn học:
GVHD:
Nhóm:
Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế
ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải
03
Thành viên thực hiện:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Họ và tên
Đỗ Tuấn Anh
Phạm Huy Bảo
Trần Văn Bình
Lê Anh Minh Chi
Nguyễn Tường An Chi
Nguyễn Thúy Hiền
Lý Gia Khanh
Trần Vũ Minh Khuê
Huỳnh Quang Ngọc
Nguyễn Ý Quyết
MSSV
2153801090002
2153801090005
2153801090006
2153801090010
2153801090011
2153801090033
2153801090051
2153801090057
1751101030087
1953801012223
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 3 năm 2022
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
BLDS
BLDS 2005
BLDS 2015
TÊN ĐẦY ĐỦ
Bộ luật dân sự
Bộ luật Dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2015
lOMoARcPSD|12114775
TAND
TANDTC
TP.HCM
GDDS
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Thành phố Hồ Chí Minh
Giao dịch dân sự
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ
TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH
1
Câu 1.1. So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu
lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
1
Câu 1.2. Đoạn nào của bản án trên cho thấy ơng T và bà H khơng có quyền sở
hữu nhà ở tại Việt Nam?
1
lOMoARcPSD|12114775
Câu 1.3. Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với
bà Đ đã bị Tịa án tun bố vơ hiệu?
1
Câu 1.4. Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của
chủ thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
1
VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHƠNG CĨ KHẢ
NĂNG NHẬN THỨC
2
Câu 2.1. Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không cịn khả năng nhận thức
và từ thời điểm nào ơng Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?2
Câu 2.2. Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay
sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
2
Câu 2.3. Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ơng Hội có vơ
hiệu khơng? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
2
Câu 2.4. Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hồn cảnh của ông Hội
không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà
anh/chị biết.
2
Câu 2.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối
cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở
pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.
2
Câu 2.6. Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao
dịch đó có bị vơ hiệu khơng? Vì sao?
2
VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CĨ LỪA DỐI
3
Câu 3.1. Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo
BLDS 2005 và BLDS 2015.
3
Câu 3.2. Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng
đã bị tuyên vơ hiệu do có lừa dối?
3
Câu 3.3. Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt
tiền lệ anh/chị biết.
3
Câu 3.4. Hướng giải quyết trên có cịn phù hợp với BLDS năm 2015 khơng?
Vì sao?
3
Câu 3.5. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được u cầu và ai khơng
được u cầu Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp vơ hiệu?
3
Câu 3.6. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu u cầu Tịa án
tun bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối có cịn khơng? Vì sao?
3
lOMoARcPSD|12114775
Câu 3.7. Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ
hiệu do lừa dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng khơng? Vì sao?
3
Câu 3.8. Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy
định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 3
VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VƠ HIỆU
4
Câu 4.1. Giao dịch dân sự vơ hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa
các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
4
Câu 4.2. Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vơ hiệu thì Cơng ty
Phú Mỹ có phải thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với
khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khơng? Vì sao?
4
Câu 4.3. Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công
việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?
4
Câu 4.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm
phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi
xác định hợp đồng vô hiệu.
4
Câu 4.5. Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc
mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ
không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch
vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 4
Câu 4.6. Trong Quyết định số 75, vì sao Tịa dân sự Tịa án nhân dân tối cao
xác định hợp đồng vô hiệu?
4
Câu 4.7. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác
định hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên.
5
Câu 4.8. Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông
Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời.
5
Câu 4.9. Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận giấy
chứng nhận cấp cho anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ
với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vơ hiệu khơng? Vì sao?
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
lOMoARcPSD|12114775
1
VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ
TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH
TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ 32/2018/DS-ST NGÀY 20/12/2018 CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Nguyên đơn là ông J.Ph.T và bà A Th Ph (L.Th.H) khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà
L.K.Đ hoàn trả cho vợ chồng nguyên đơn số tài sản mà bà L.K.Đ đã nh ận. Bà
L.K.Đ đã 5 lần nhận tiền của vợ chồng nguyên đơn và đồng ý bán cho v ợ ch ồng
nguyên đơn I căn nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất có diện tích 1.251,8m2, bao gi ờ
nguyên đơn về Việt Nam thi bà sẽ trả lại. Khi nguyên đơn yêu cầu bị đơn trao trả lại
căn nhà và mảnh đất thì bà L.K.Đ từ chối trao trả và đề nghị sẽ hoàn lại tổng số tiền
mà nguyên đơn đã đưa cho bà là 13.950 USD tương đương với s ố tiền 329.220.000
Việt Nam đồng và phía bị đơn tình nguyện hồn trả 350.000.000 Việt Nam đồng
chứ không phải 550.000.000 Việt Nam đồng như nguyên đơn yêu cầu và xin đề
nghị miễn án phí cho bị đơn vì đã cao tuổi, khó khăn về kinh tế. Tịa án xác định bà
L.K.Đ có nhận tiền của ngun đơn để mua nhà và đất. Tòa án chấp nhận một phần
yêu cầu của nguyên đơn là ông J.Ph.T và bà A.Th.Ph (L.Th.H).
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 1.1. So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
Sự khác nhau thứ nhất, đó là tại điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 ghi nhận đ ối
tượng của các giao dịch dân sự là “chủ thể”, nhưng tại điểm a khoản 1 Đi ều 122
BLDS 2005 ghi nhận đối tượng của giao dịch dân sự là “người”.
Chúng ta thấy rằng, tại Điều 1 BLDS 2005 [1] đã ghi nhận đối tượng điều chỉnh của
luật dân sự là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, nh ưng khi quy đ ịnh đ ối
tượng của các giao dịch dân sự thì chỉ ghi nhận một trong các ch ủ thể là “ng ười”.
Việc ghi nhận như vậy theo quan điểm của nhóm là chưa thật sự hợp lý vì đối tượng
là pháp nhân hay các chủ thể khác được ghi nhận tại BLDS 2005 vẫn phải th ực hi ện
các giao dịch dân sự (hợp đồng, hành vi pháp lý đơn ph ương,…). Đến BLDS 2015
thì đã ghi nhận đối tượng của các giao dịch dân s ự là cá nhân, pháp nhân. Vi ệc ghi
nhận một chủ thể “pháp nhân”, góp phần làm cho BLDS bao quát và đi ều ch ỉnh
toàn bộ các đối tượng như đã quy định.
Sự khác nhau thứ hai, cũng tại quy định này BLDS 2015 đã bổ sung theo hướng
chủ thể phải có năng lực pháp luật dân sự và năng l ực hành vi dân s ự nh ưng ph ải
lOMoARcPSD|12114775
2
phù hợp với từng loại giao dịch dân sự mà chủ thể đó muốn xác lập, thay vì ch ỉ quy
định phải có năng lực hành vi dân sự như BLDS 2005. Việc quy định này hoàn toàn
hợp lý, bởi lẽ, một cá nhân, một pháp nhân muốn th ực hiện đ ược các giao d ịch dân
sự thì chủ thể đó phải có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ mà Nhà n ước đã trao cho ch ủ
thể đó từ lúc sinh ra (đối với chủ thể là người) hoặc từ lúc đáp ứng được các điều
kiện của BLDS và được thành lập (đối với chủ thể là pháp nhân).
Chúng ta cũng biết rằng tùy vào độ tuổi hoặc đối tượng nào mà một người có thể tự
mình thực hiện các giao dịch dân sự hoặc chỉ được thực hiện một s ố giao d ịch dân
sự hoặc chỉ được thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo pháp
luật. Bởi vì khơng phải ai cũng có năng lực hành vi dân s ự gi ống nhau nh ư ng ười
mất năng lực hành vi dân sự sẽ khác với người hạn chế năng l ực hành vi dân s ự,
hoặc người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) sẽ có năng lực hành vi dân s ự
khác với người chưa thành niên (người chưa đủ sáu tuổi, người từ đủ sáu tuổi đến
chưa đủ mười lăm tuổi,…). Có quan điểm cho rằng “Quy định này có sự tiến bộ
nhưng sẽ kéo theo những khó khăn trong q trình áp dụng BLDS 2015 ”[2], quan
điểm khác lại cho rằng “ Như vậy, tổng kết lại có thể thấy rằng chỉ có người có đ ầy
đủ năng lực hành vi dân sự mới có thể tự xác lập, thực hiện mọi hợp đồng theo nhu
cầu của mình mà khơng cần phải có sự đồng ý của bất c ứ cá nhân, t ổ ch ức nào.
Tức là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự không bị giới hạn về phạm vi các
loại hợp đồng được tự xác lập, thực hiện. Còn lại các cá nhân khác khi xác lập h ợp
đồng trong một số trường hợp cần phải có sự đồng ý hoặc phải do người đại diện
xác lập thực hiện. Quy định này không chỉ hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người trực tiếp xác lập, thực hiện hợp đồng mà còn h ướng t ới vi ệc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan…”[3]
Sự khác nhau thứ ba, tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 và điểm b khoản 1
Điều 122 BLDS 2005. Cụ thể là, BLDS 2015 quy định m ục đích và n ội dung c ủa
giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, cịn BLDS 2005 quy định khơng
vi phạm điều cấm của pháp luật. Theo nhóm, với quy định của BLDS 2015 h ợp lý
hơn, bởi lẽ, pháp luật tức là chúng ta hiểu theo hướng mục đích và n ội dung ph ải
không vi phạm Luật (Quốc hội ban hành), Nghị định (Chính phủ ban hành), Thơng
tư (Bộ, các cơ quan ngang Bộ ban hành),… Nhưng như vậy là khơng khách quan,
và có thể dẫn đến việc lạm quyền các cơ quan có thẩm quyền, khơng đảm bảo được
quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào các giao d ịch dân s ự. Đ ến BLDS
lOMoARcPSD|12114775
3
2015 đã điều chỉnh về sự bất cập trên bằng cách quy định “… không vi ph ạm đi ều
cấm của Luật”, việc quy định này hoàn toàn hợp lý.
Quan điểm đã cho rằng “Với quy định vừa nêu, điều cấm là quy định trong “pháp
luật” mà khái niệm pháp luật được hiểu rất rộng. Việc sử dụng khái niệm điều cấm
có nội hàm rộng như trên là khơng thuyết phục vì sẽ gi ới h ạn s ự t ự do c ủa các ch ủ
thể dân sự hoặc có thể dẫn đến sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước trong vi ệc
can thiệp vào các quan hệ tư. Do vậy,…”[7]
Sự khác nhau thứ tư, BLDS 2015 quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 117 và BLDS
2005 quy định tại khoản 2 Điều 122 là điều kiện về hình thức, điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự khi được luật quy định còn một bên là đ ược pháp lu ật quy
định.
Như ở trên đã phân tích, quy định của BLDS 2015 hợp lý hơn, bởi l ẽ, pháp lu ật t ức
là chúng ta hiểu theo hướng điều kiện về hình thức phải khơng vi phạm Luật (Quốc
hội ban hành), Nghị định (Chính phủ ban hành), Thông tư ( B ộ, các c ơ quan ngang
bộ ban hành),… Nhưng như vậy là không khách quan, và có th ể dẫn đ ến vi ệc l ạm
quyền cơ các cơ quan có thẩm quyền, khơng đảm bảo được quyền và lợi ích c ủa các
chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự. Đến BLDS 2015 đã điều chỉnh v ề s ự
bất cập trên.
Có quan điểm cũng đã theo hướng của nhóm “ Theo đó, BLDS năm 2005 dùng từ
“pháp luật” có phạm vi rất rộng, bao gồm cả văn luật và văn b ản d ưới lu ật; còn
BLDS năm 2015 sử dụng từ “luật" có phạm vi hẹp hơn, tức chỉ có văn bản luật mới
có thể chi phối, áp đặt hình thức như là một điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự. Hướng sửa đổi như trong BLDS năm 2015 đã tạo ra sự tự do cho các chủ thể
dân sự trong việc lựa chọn hình thức xác lập giao dịch, đồng thời việc giới h ạn
quyền tự do lựa chọn về hình thức giao dịch của các chủ thể phải do luật quy
định.”[8]
Sự khác nhau thứ năm, Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân s ự tại điều 117
BLDS 2015 và điều 122 BLDS 2005 có sự điều chỉnh về thứ tự các điểm, cụ thể là:
-Ở điều 117 BLDS 2015, “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện”
được ghi nhận ở điểm b cịn “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” được ghi nhận ở điểm c;
lOMoARcPSD|12114775
4
-Ở điều 122 BLDS 2005, “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều
cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” được ghi nhận ở điểm b còn “Chủ thể
tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” được ghi nhận ở điểm c;
Theo nhóm, sự điều chỉnh của BLDS 2015 đưa điều kiện về sự tự nguyện của chủ
thể tham gia xác lập giao dịch dân sự vào điểm b là hợp lý. Vì khi tham gia giao
dịch dân sự, các chủ thể được quyền tự do thể hiện ý chí và bày tỏ ý chí phù hợp với
nguyện vọng của mình. Ý chí của các bên lại là nguyện vọng phản ánh mục đích
của các chủ thể khi tham gia giao dịch.[10] Để xuất hiện mục đích và nội dung của
giao dịch dân sự thì trước hết phải có ý chí tự nguyện của chủ thể tham gia giao
dịch dân sự. Nói cách khác, bằng sự thể hiện và bày tỏ ý chí của mình, các chủ thể
đạt được những lợi ích vật chất, tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu của mình khi
tham gia các giao dịch dân sự.[11] Thế nên xác định giao dịch dân sự có hiệu lực bằng
cách kiểm tra ý chí của chủ thể có tự nguyện hay khơng rồi mới kiểm tra mục đích
và nội dung là một quy trình hợp lý.
Ngồi ra, những giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo; nhầm lẫn; lừa dối, đe
dọa, cưỡng ép; xác lập bởi người chưa đủ năng lực hành vi nhân sự, mất năng lực
hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì đã vi phạm điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể tham gia xác
lập giao dịch vừa nêu có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là giao dịch dân sự bị vô hiệu.
Các trường hợp trên cũng có vi phạm điều cấm của luật và trái với đạo đức xã hội
nhưng đã nằm trong điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể tham gia xác lập giao
dịch dân sự nên không cần phải xét thêm nữa. Vì vậy đưa điều kiện về sự tự nguyện
của chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự lên điểm b trong BLDS 2015 là hợp
lý hơn BLDS 2005 để ở điểm c.
Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản l ần 1, có s ửa
đổi, bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 316.
[10][11]
Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có sửa đổi,
bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 320 – 321.
[8]
Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có s ửa đ ổi,
bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.318.
[7]
lOMoARcPSD|12114775
5
Trường đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự (tái bản lần 1, có s ửa đ ổi,
bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.300.
[3]
Lê Thị Hương (2019), Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015 – Thực ti ễn áp d ụng
tại tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, tr.39.
[2]
Câu 1.2. Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H khơng có quyền sở
hữu nhà ở tại Việt Nam?
Theo như phần trích của nhận định từ Tịa án: “Hơn nữa, ông Ph J T và bà L Th H là
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Lu ật
Đất đai năm 2003 và Điều 121 Luật Nhà ở Việt Nam 2005… do đó ơng T và bà H
khơng được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt
Nam …” cho thấy ông T và bà H khơng có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Câu 1.3. Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà
Đ đã bị Tịa án tun bố vơ hiệu?
Trích từ mục 2 phần Nhận định của Tồ án: “ … vì vậy giao d ịch gi ấy cho n ền th ổ
cư ngày 31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004, giấy cam kết ngày
16/3/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do khơng tn th ủ quy
định về hình thức theo Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn c ứ theo Đi ều
131 của Bộ luật dân sự thì các đương sự phải khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn
trả cho nhau những gì đã nhận.” cho thấy giao dịch c ủa ông T và bà H v ới bà Đ đã
bị Tịa án tun bố vơ hiệu.
Câu 1.4. Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của
chủ thể) về căn cứ để Tịa án tun bố giao dịch trên vơ hiệu?
Theo quan điểm của nhóm, nhận thấy hướng giải quyết về vấn đề tranh chấp được
nêu trên của Tòa án là hợp lý vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, xem xét đến năng lực pháp luật của chủ thể mà cụ thể là năng lu ật pháp
luật dân sự của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 1 BLDS 2015, ch ủ th ể c ủa các quan
hệ pháp luật dân sự được quy định là cá nhân và pháp nhân, t ức là chúng ta hi ểu
theo hướng, cá nhân và pháp nhân trong nước có những quyền và nghĩa v ụ đ ược
Nhà nước thừa nhận và pháp luật ghi nhận. Tiếp đến Điều 16 BLDS 2015 quy đ ịnh
theo hướng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền
dân sự và nghĩa vụ dân sự. Nghĩa là mọi cá nhân đều có các quy ền và nghĩa v ụ dân
sự. Để được xem là có tư cách chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp lu ật dân s ự
thì phải đáp ứng đủ tư cách về chủ thể (cá nhân là công dân Vi ệt Nam, pháp nhân).
lOMoARcPSD|12114775
6
Tại Điều 18 BLDS 2015 đã quy định rõ, năng lực pháp luật dân s ự c ủa các cá nhân
có thể bị hạn chế nếu luật, bộ luật khác có quy định.
Liên hệ vào vụ việc cụ thể trong bản án nêu trên, xét về năng lực pháp lu ật dân s ự
của nguyên đơn, như đã đề cập, nguyên đơn là người Việt Nam đ ịnh c ư ở n ước
ngoài, căn cứ vào Điều 7 Luật Nhà ở 2014 , nguyên đơn có quy ền s ở h ữu nhà ở t ại
Việt Nam, khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 cũng đã quy đ ịnh: “Ng ười
Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo
quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở g ắn li ền với quy ền s ử
dụng đất ở tại Việt Nam”. Tiếp đến điểm b, Khoản 2, Điều 119 Luật Nhà ở quy
định điều kiện của các bên tham gia giao d ịch v ề nhà ở nh ư sau: “N ếu là cá nhân
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngồi thì phải có đủ năng lực hành vi
dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định c ủa pháp lu ật Vi ệt Nam, ph ải
thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của Luật này và
không bắt buộc phải có đăng ký tạm trú hoặc đăng ký th ường trú t ại n ơi có nhà ở
được giao dịch”.
Từ những căn cứ pháp lý vừa được đưa ra ở trên, nguyên đơn có th ể có quy ền dân
sự - đó là sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên BLDS 2015 quy định cụ thể điều
khoản chuyển tiếp tức là “Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày B ộ lu ật
này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp d ụng quy đ ịnh c ủa B ộ lu ật dân s ự s ố
33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi ti ết B ộ luật dân s ự
số 33/2005/QH11 để giải quyết;”, vì thế việc Tịa án áp dụng quy định tại Luật Nhà
ở năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003 là hợp lý.
Thứ hai, xét về việc có hay khơng quyền lợi của ngun đơn có đ ược đảm bảo khi
áp dụng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân s ự theo BLDS 2005 khi BLDS
2005 chỉ quy định “Người tham gia giao dịch phải có năng l ực hành vi dân s ự”
(điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005). Có thể thấy rằng, trong b ản án không đ ề
cập đến nội dung nào thể hiện năng lực hành vi dân s ự c ủa bên nguyên đ ơn có b ị
mất hay bị hạn chế theo BLDS 2005. Pháp luật dân s ự tại th ời đi ểm này không ghi
nhận tới năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân như thế nào mới đ ược tham gia
vào giao dịch dân sự.
Thứ ba, xem xét đến hình thức của hợp đồng t ức là các gi ấy chuy ển nh ượng, b ản
cam kết giữa nguyên đơn và bị đơn của Tòa án. Căn c ứ vào Điều 127 BLDS 2005
dẫn chiếu đến Điều 122 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự vơ hiệu khi khơng đáp ứng
được các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân s ự. Nh ư ch ứng minh ở trên có th ể
lOMoARcPSD|12114775
7
thấy rằng giao dịch trên đã không đáp ứng được điều kiện về nội dung và m ục đích
tức là đã vi phạm điều cấm của pháp luật có liên quan cụ thể là Luật Nhà ở 2005 và
Luật Đất đai 2003. Từ đó việc lập luận về các loại giấy tờ, như Tịa án đã nhận định,
thực sự khơng cần thiết.
VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI
KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 329/2013/DS-GĐT NGÀY 25/7/2013 CỦA TÒA
DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ông Hội và bà Hương cùng với 5 người con là chị Ánh, anh Bình, ch ị Th ủy, ch ị
Minh và anh Toàn sở hữu một căn nhà và đất tại Tỉnh Phú Yên. Năm 2007, ông H ội
bị tai biến đến ngày 07/05/2010 Tịa mới chính thức tun bố ông m ất năng l ực
hành vi dân sự; ngày 8/2/2010 bà Hương tự ý bán căn nhà cho v ợ ch ồng ông Hùng
mà không hỏi ý kiến ông Hội mà chỉ hỏi một người con là anh Bình; chị em bà Ánh
khơng đồng ý và có gửi đơn yêu cầu UBND ph ường xem xét nên ch ị Ánh làm đ ơn
yêu cầu hủy hợp mua bán của bà Hương, buộc vợ chồng ông Hùng phải giao l ại
giấy chứng nhận QSDĐ, bà Hương trả lại tiền cho ơng Hùng. T ại tịa án c ấp s ơ
thẩm thì chấp nhận yêu cầu của bà Ánh. Tuy nhiên t ại tòa án c ấp phúc th ẩm l ại
khơng nhận tồn bộ hợp đồng chuyển nhượng đất.
PHẦN TRẢ LỜI
lOMoARcPSD|12114775
8
Câu 2.1. Từ thời điểm nào ông Hội thực chất khơng cịn khả năng nhận thức và
từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
Từ thời điểm năm 2007 ông Hội đã bị tai biến nằm một chỗ và khơng cịn khả năng
nhận thức, đến ngày 07/05/2010 Tịa đã chính thức tun bố ơng mất NLHVDS.
Theo đó, ở phần Nhận thấy (Trích Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày
25/7/2013 của Tịa Dân sự TAND tối cao, phần Nhận th ấy, tr.55) có đo ạn: “Năm
2007 ông Hội bị tai biến nằm một chỗ không nhận thức được, từ cuối năm 2008
hàng tháng gia đình phải góp tiền lo thuốc men cho cha”.
Cịn về Tịa chính thức tun bố ơng Hội mất năng lực hành vi dân s ự, đ ược th ể
hiện ở phần Xét thấy, cụ thể tại đoạn: “…đến ngày 7/5/2010, ông Hội mới bị Tòa án
tuyên mất năng lực hành vi dân sự, nên hợp đồng chuyển nh ượng quy ền s ử d ụng
đất giữa bà và ông Hùng là đúng pháp luật”.
Câu 2.2. Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau
khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) (8/2/2010) được xác lập trước khi ông
Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự (7/5/2010).
Theo đó, ở phần Xét thấy (Trích Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013
của Tòa Dân sự TAND tối cao, phần Xét thấy, tr.59) có đoạn: “Ngày 8/2/2010 ơng
Hội, bà Hương lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Hùng và vợ là bà Trinh quyền
sử dụng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ơng Hội, bà
Hương, diện tích 120m2…Bà Hương và anh Hùng cho rằng lúc bà ký hợp đồng ơng
Hội cịn nhận thức được, khơng mất năng lực hành vi dân sự, đ ến ngày 7/5/2010,
ông Hội mới bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân s ự, nên h ợp đ ồng chuy ển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ông Hùng là đúng pháp luật”.
Câu 2.3. Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ơng Hội có vơ hiệu
khơng? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội là có vơ hiệu. Vì:
Theo Tịa án nhân dân tối cao, căn cứ vào khoản 2, Đi ều 291, kho ản 3 Đi ều 297,
299 BLTTDS 2004, hủy toàn bộ 2 bản án s ơ thẩm (h ủy toàn b ộ h ợp đ ồng chuy ển
nhượng đất) và phúc thẩm (cơng nhận tồn bộ hợp đồng chuyển nhượng đ ất). B ởi
lẽ, các lời khai của nhân chứng bên nguyên đơn và bị đơn về thời điểm ông H ội m ất
năng lực hành vi dân sự có sự mâu thuẫn với nhau. Điều này dẫn đ ến không xác
định được trong lúc xác lập giao dịch ơng Hội có hồn tồn tự nguyện hay khơng.
Vậy nên, khơng thỏa mãn về điều kiện tự nguyện ở điểm c, kho ản 1, Đi ều 122
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
9
BLDS 2005 (điểm b, khoản 1, Điều 117, BLDS 2015). Mà theo Đi ều 127, BLDS
2005 “Giao dịch dân sự khơng có một trong các điều kiện đ ược quy đ ịnh t ại Đi ều
122 của bộ luật này thì vơ hiệu”. Mà bản án phúc thẩm lại cơng nhận tồn bộ hợp
đồng là khơng phù hợp đối với quy định này. Lẽ ra, Tòa án sơ thẩm nên xác minh
đầy đủ các chứng cứ về lời khai của nhân chứng về th ời đi ểm ông H ội b ị m ất năng
lực hành vi dân sự. Sau đấy, nếu ông Hội thật s ự b ị m ất năng l ực hành vi dân s ự
trước khi xác lập giao dịch, hoặc không tự nguyện trong lúc lăn tay ký kết hợp đồng
thì phần giao dịch của ông Hội vô hiệu.
Câu 2.4. Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hồn cảnh của ơng Hội
khơng và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà
anh/chị biết.
Trong thực tiễn có vụ việc của ông Diện tại Quyết định số 102/2015/DS-GĐT ngày
10/04/2015 của Tòa dân sự TANDTC (Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và
Bình luận bản án (sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ bảy) giống hồn cảnh của ơng Hội.
Cụ thể Quyết định trên được tóm tắt như sau: Ngày 16/01/1993 ơng Diện viết “Giấy
nhượng tài sản” để chuyển nhượng cho ông Sơn ba gian nhà tranh. Tại Quy ết đ ịnh
số 07/2009/QĐST-DS ngày 15/2/2009 TAND huyện Từ Liêm tuyên bố ông Diệm
mất NLHVDS. Tuy nhiên, tại Giấy chứng nhận số 744/KHTH ngày 07/08/2007,
bệnh viện tâm thần Hà Nội chứng nhận ông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt đã được
điều trị 07 lần từ ngày 14/03/1983 đến ngày 24/10/2003. Tại biên bản pháp đ ịnh
giám y tâm thần số 41/PYTT ngày 25/11/2009, Trung tâm giám định pháp y tâm
thần Sở y tế Hà Nội ông Diện bị bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid t ừng giai
đoạn với thiếu sót ổn định, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi b ị hạn ch ế, c ần
có người giám hộ. Như vậy, ơng Diện xác lập GDDS ở th ời đi ểm tuyên b ố ch ưa b ị
mất NLHVDS nhưng thực tế ở thời điểm này là ông đã bị bệnh tâm thần phân liệt.
Hướng giải quyết của Tòa án trong trường hợp trên là: Tòa án giám đ ốc thẩm đã
theo hướng có cơ sở xác định tại thời điểm chuyển nhượng tài sản ông Di ện đã m ất
NLHVDS. Lẽ ra, trong q trình giải quyết vụ án Tịa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm phải làm rõ có hay khơng sự gian dối khi hai bên ký k ết h ợp đ ồng
chuyển nhượng sử dụng đất tại thời điểm giao kết hợp đồng ông Diện đã bị tâm
thần.
Câu 2.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao
trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp
lý khi đưa ra hướng xử lý.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
10
Theo tơi, hướng giải quyết của Tịa án Nhân dân tối cao trong v ụ vi ệc trên (liên
quan đến giao dịch do ông Hội xác lập) là đúng đắn vì hai lý do sau:
Một là có sự mâu thuẫn giữa lời khai của nguyên đơn là chị Ánh: “Năm 2007 ông
Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được, t ừ cu ối năm 2008 hàng
tháng gia đình phải góp tiền lo thuốc men cho cha” và b ị đ ơn là bà H ương: “ …lúc
bà ký hợp đồng ơng Hội cịn nhận thức được không mất năng lực hành vi dân s ự.”
Thêm vào đó trên Quyết định trên có 1 tình tiết là “vào tháng 12/2009, ông Hội
nằm một chỗ và người vợ dùng ngón tay của ơng Hội để điểm chỉ vào hợp đ ồng
mua bán” mà “năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức
được”, như vậy trường hợp này đã vi phạm yếu tố tự nguyện tại điểm b kho ản 1
Điều 117 BLDS 2015. Theo quan điểm của một tác giả: “Việc tham gia vào các
giao dịch dân sư đòi hỏi chủ thể phải có sự tự nguyện, Một giao dịch dân s ự n ếu
được xác lập mà khơng có sự tự nguyện của các bên chủ thể thì giao dịch đó có thể
bị vơ hiệu. Do đó, yếu tố tự nguyện của các chủ thể khi tham gia giao d ịch dân s ự
là hết sức quan trọng” (Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Giáo trình những
quy định chung về Luật Dân sự, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2018,
chương VI, tr.280.) Do đó, việc người vợ - ở đây là bà H ương đã t ự ý quy ết đ ịnh
bằng việc tự ý lấy tay ông Hội điểm chỉ vào hợp đồng nhằm bán căn nhà cho v ợ
chồng ông Hùng, bà Trinh mà điều này khơng hề phụ thuộc vào ý chí ch ủ quan c ủa
ơng Hội nên có thể xem xét vào sự vi phạm tính t ự nguy ện mà căn c ứ t ại Đi ều 122
BLDS 2015 thì giao dịch dân sự trên sẽ bị vô hiệu.
Hai là ở Tòa sơ thẩm, Tòa thụ lý hồ sơ với nguyên đơn là chị Ánh là khơng đúng vì
chị khơng liên quan đến hợp đồng mua bán nhà vì căn nhà này thu ộc quy ền s ở h ữu
của bà Hương và ơng Hội. Ở Tồ phúc thẩm, với cương vị là người đại diện cho ơng
Hội, chị chỉ có quyền u cầu tồ án vơ hiệu một phần giao d ịch đúng v ới ph ần s ở
hữu của ông Hội theo tinh thần Điều 130 BLDS.
Câu 2.6. Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao dịch
đó có bị vơ hiệu khơng? Vì sao?
Có thể chia thành 2 trường hợp sau:
a) Trường hợp 1: Giao dịch được xác lập lúc ông Hội chưa mất năng lực hành vi dân sự.
-Nếu ông Hội đồng ý chấp nhận giao dịch tặng cho: giao dịch có hiệu lực.
-Nếu ơng Hội khơng chấp nhận giao dịch tặng cho: giao dịch vô hiệu.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
11
b) Trường hợp 2: Giao dịch được xác lập lúc ông Hội đã mất năng lực hành vi dân sự.
- Nếu giao dịch có lợi cho ơng Hội, khơng làm phát sinh nghĩa vụ liên quan cho ông Hội:
Theo Điểm b Khoản 2 Điều 125: “ Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân
sự không bị vô hiệu trong trường hợp giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền ho ặc ch ỉ
miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng l ực hành vi dân
sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ”.
Vì vậy, giao dịch khơng bị vô hiệu
- Nếu giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ cho ông Hội: giao dịch dân sự vô hiệu.
VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 521/2010/DS-GĐT NGÀY 19/8/2010 CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Vợ chồng bà Phạm Thị Thu và ông Nguyễn Danh Đô đã kiện mẹ con bà Trần Th ị
Phố và anh Nguyễn Thế Vinh là người ký hợp đồng mua bán căn nhà số 115/7E
đường Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gị Vấp, TP.HCM do vợ chồng ơng bà s ở
hữu. Anh Vinh và vợ chồng bà Thu đã ký văn bản “Thỏa thuận hoán nhượng” 100
lượng vàng SJC (là một khoản trong tổng số tiền phải giao cho v ợ ch ồng bà Thu)
bằng quyền sử dụng ½ căn nhà và 899 m2 đất tại phường An Lợi Đơng, quận 2,
TP.HCM. Nhưng khi ký văn bản đó anh Vinh đã cố ý giấu quyết định cưỡng chế đối
với căn nhà này. Sau khi phát hiện vợ chồng bà Thu và ông Đô đã yêu c ầu bà Ph ố
và anh Vinh phải trả lại 100 lượng vàng ban đầu và lãi suất cho số tiền đó, đồng thời
vợ chồng bà đồng ý trả lại số tiền 178.327.510 đồng đã nhận từ việc bồi thường, hỗ
trợ tái định cư cho diện tích đất bị thu hồi và tiền lãi của số ti ền này. T ại b ản án s ơ
thẩm, Tòa án đã buộc bà Trần Thị Phố có trách nhiệm trả cho ơng Đơ, bà Thu 82
lượng 06 phân vàng SJC. Ơng Đơ, bà Thu kháng cáo yêu cầu bà Phố, anh Đô tr ả s ố
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
12
tiền 262.200.000 đồng và sẽ trả số tiền 178.327.510 đồng và tiền lãi 35.159.967
đồng cho anh Đô và bà Phố. Tịa án phúc thẩm khơng chấp nh ận u c ầu trên. Ơng
Đơ và bà Thu có đơn khiếu nại bản án phúc thẩm nêu trên. Tòa án nhân dân t ối cao
xét xử giám đốc thẩm, hủy bản án phúc thẩm, sơ thẩm để giao Tòa án c ấp s ơ th ẩm
xét xử lại.
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 210/2013/DS-GĐT NGÀY 21/5/2013 CỦA
TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có sở hữu 5 lô đất, trong th ời gian ch ờ
giấy chứng nhận QSDĐ thì nguyên đơn đi làm ăn xa (tháng 10/2001), tháng 4/2003
nguyên đơn về nước, tháng 8/2007 hai vợ chồng ly hơn thì mới biết được ở nhà bị
đơn giả mạo chữ kí của nguyên đơn mà khơng có sự uỷ quyền của ngun đơn để
lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Tài quyền sử dụng diện tích đất nêu trên.
Ngun đơn khởi kiện u cầu Tồ án tuyên bố hợp đồng chuy ển nh ượng quy ền s ử
dụng đất (QSDĐ) giữa bị đơn do nguyên đơn đứng tên với ông Tài bị vô hiệu. Theo
BLDS 1995 và BLDS 2005 nguyên đơn không phải là một bên tham gia giao d ịch
với ông Tài nên không có quyền khởi kiện u cầu Tồ án tun b ố hợp đ ồng vô
hiệu do bị lừa dối. Trường hợp này chỉ có ơng Tài mới có quyền kh ởi ki ện yêu c ầu
Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nếu ông Tài không biết việc bị đơn
giả mạo chữ ký của nguyên đơn khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nh ượng
QSDĐ. Theo Tồ án, nếu xác định ngun đơn có quyền khởi kiện yêu c ầu Toà án
tuyên bố hợp đồng vơ hiệu do bị lừa dối thì căn cứ khoản 1 Điều 136 BLDS 2005
thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện.
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 3.1. Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo
BLDS 2005 và BLDS 2015.
Điều kiện để tuyên bố một GDDS vơ hiệu do có lừa dối
Cơ sở pháp lý
Nội dung
BLDS 2005
BLDS 2015
Điều 132 BLDS 2005
Điều 127 BLDS 2015
Khi một bên tham gia GDDS Khi một bên tham gia
do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì GDDS do bị lừa dối hoặc
có quyền u cầu Tịa án tun bị đe dọa, cưỡng ép thì có
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
13
bố GDDS đó là vơ hiệu.
quyền u cầu Tịa án
tun bố GDDS đó là vơ
hiệu.
=> So với BLDS 2005 thì BLDS 2015 có thêm hành vi cưỡng ép là điều kiện
để chủ thể có thể u cầu Tịa án tun bố giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.
Câu 3.2. Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hốn nhượng đã
bị tun vơ hiệu do có lừa dối?
Đoạn của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hốn nhượng đã bị tun vơ
hiệu do có lừa dối:
“Việc anh Vinh và người liên quan (ơng Trần Bá Tồn, bà Trần Thị Phú
Vân- họ hàng của anh Vinh) không thơng báo cho ơng Đơ, bà Thu biết tình
trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có Quy ết đ ịnh thu h ồi,
giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây nhà trái phép năm
1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì
khơng đủ điều kiện để được mua nhà tái định cư theo Quy ết đ ịnh 135/QĐUB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối. Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hốn
nhượng” khơng có chữ ký ơng Đơ (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu
bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp cho bà Ph ố (m ẹ
của anh Vinh). Do vậy giao dịch “Thỏa thuận hốn nhượng” giữa anh Vinh
và bà Thu vơ hiệu nên phải áp dụng Điều 132 BLDS để giải quyết.”
Câu 3.3. Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt
tiền lệ anh/chị biết.
Theo nhóm, hướng giải quyết trên chưa từng có tiền lệ.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử:
“Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Tịa án có ch ứa
đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án l ệ và tính
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
14
chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải
được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định c ủa Tịa án;
trường hợp khơng áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận nêu rõ lí do
trong bản án, quyết định của Tòa án.”
Và trong quyết định 521, Tòa án chỉ căn cứ vào luật để giải quyết chứ khơng
có bất cứ một viện dẫn hay phân tích nào liên quan đến việc áp dụng án lệ.
Câu 3.4. Hướng giải quyết trên có cịn phù hợp với BLDS năm 2015 khơng? Vì
sao?
Theo nhóm, hướng giải quyết trên vẫn cịn phù hợp với BLDS 2015.
Căn cứ Điều 127 BLDS 2015 quy định về GDDS vô hiệu do b ị l ừa d ối, đe
dọa, cưỡng ép:
“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng
ép thì có quyền u cầu Tịa án tun bố giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên ho ặc c ủa ng ười
thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính ch ất của đ ối
tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
…”.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 quy định v ề thời
hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vơ hiệu:
“1. Thời hiệu u cầu Tịa án tun bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại
các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:
b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập
do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;”.
Ta thấy anh Vinh đã cố ý giấu ông Đô, bà Thu về quyết định c ưỡng ch ế nhà
và không cho vợ chồng ông bà biết nhà và đất đã bị giải tỏa khi ký “Th ỏa thu ận
hoán nhượng” ngày 19/5/2004 nên dẫn đến việc bà Thu đã ký th ỏa thu ận trên. Vì
vậy, dựa theo các điều khoản trên thì giao dịch “Thỏa thuận hốn nhượng” là vơ
hiệu.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
15
=> Quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm số 810/2008/DS-PT ngày
29/7/2008 của TAND TP.HCM và bản án dân sự sơ thẩm số 15/2008/DSST ngày 10-14/01/2008 của TAND quận Gị Vấp là hồn tồn phù hợp
với BLDS 2015.
Câu 3.5. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được u cầu và ai khơng
được u cầu Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp vơ hiệu?
Trong Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 của Tòa Dân sự TAND tối
cao, theo Tịa án:
Bà Nhất khơng có quyền khởi kiện u cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ
hiệu vì theo BLDS 1995 và BLDS 2005 bà Nhất không ph ải là m ột bên tham gia
giao dịch với ông Tài. Ơng Võ Minh Tài là người có quy ền kh ởi kiện yêu c ầu Tòa
án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối. Sự việc diễn biến như sau: Năm 2003
ông Nguyễn Văn Dưỡng chuyển nhượng 2 lơ đất (06 ha) với giá 32.500.000đ/lơ,
trong đó có 01 lô đứng tên bà Châu Thị Nhất, ông giả mạo ch ữ ký c ủa bà Nh ất (lúc
này bà Nhất đang đi làm ăn ở Đài Loan) để sang tên gi ấy ch ứng nh ận quy ền s ử
dụng đất cho ông Tài và nhận đủ tiền chuyển nhượng từ ơng Võ Minh Tiến. Vì ơng
Dưỡng đã giả mạo chữ ký của bà Nhất để chuyển nhượng QSDĐ cho ông Tài nên
ông Tài là người bị lừa dối. Chính vì vậy ơng Tài là bên tham gia giao d ịch dân s ự
bị lừa dối nên có quyền u cầu Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp.
Câu 3.6. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối có cịn khơng? Vì sao?
Trong Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 c ủa Tòa Dân s ự
TAND tối cao, theo Tòa án bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông
Dương giả chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010
bà Nhất mới khởi kiện. Nên trong vụ án này bà Nhất đã hết thời hiệu u cầu Tịa
án tun bố hợp đồng vơ hiệu do lừa dối. Vì theo khoản 1 Điều 142 BLDS 1995
quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là 1 năm. Khoản 1 Đi ều 136 BLDS 2005 qui đ ịnh
thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu 2 năm kể từ ngày giao
dịch được xác lập, còn Điều 159 Bộ luật tố tụng dân s ự quy định trong tr ường h ợp
pháp luật khơng có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân s ự là 2 năm, k ể t ừ
ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm.
[1]
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
16
Trích phần xét thấy của Quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 c ủa
Tòa Dân sự TAND tối cao về vụ việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, tr.4
[1]
Câu 3.7. Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ
hiệu do lừa dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng khơng? Vì sao?
Ở quyết định số 210 Tịa án đã cơng nhận hợp đồng, việc cơng nh ận h ợp
đồng của Tồn án được thể hiện ở đoạn: “Bà Nhất khai năm 2007 vợ ch ồng ly hôn
bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài,
nhưng đến 10/12/2013 bà Nhất mới khởi kiện. Nên nếu xác đ ịnh bà Nh ất có quy ền
khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu
trên bị vô hiệu do lừa dối, thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện. Tòa án c ấp s ơ th ẩm
vẫn thụ lý giải quyết sự việc là không đúng.”
BLDS 2015 không quy định đề cập đến số phận pháp lý của giao dịch cũng
như quy định có cơng nhận hợp đồng hay khơng, “BLDS 2005 ch ỉ đề cập đến vi ệc
cịn hay mất quyền khởi kiện mà không quy định rõ số phận pháp lý của giao d ịch
khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án hay
Trọng tài tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn thì Tịa án
nhân dân tối cao đã có hướng dẫn theo hướng giao dịch dân sự có hiệu lực” t ại đây
có thể hiểu BLDS 2005 đã bỏ ngỏ, không đề cập đến số phận pháp lý c ủa các giao
dịch tuy nhiên thực tiễn xét xử thì Tồ án vẫn cơng nhận hợp đồng. Đồng thời, căn
cứ vào Nghị quyết số 02/2014/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán
Tịa án nhân dân tối cao thì trong trường hợp hết thời hiệu yêu c ầu Tòa án tuyên b ố
hợp đồng vơ hiệu do lừa dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng.
Về vấn đề cơng nhận giá trị hợp đồng ở BLDS 2005 đã bỏ ngỏ, không có câu
trả lời chính xác về việc cơng nhận hợp đồng. Tuy nhiên BLDS 2015 đã sửa đổi quy
định này của BLDS 2005 và quy định cụ thể về số việc công nhận h ợp đ ồng ở
khoản 2 Điều 132 BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Đi ều này mà
khơng có u cầu tun bố giao dịch dân sự vơ hiệu thì giao d ịch dân s ự có hi ệu
lực”. Như vậy, khi áp dụng BLDS 2015 thì Tịa án có cơng nhận hợp đồng.
Việc sửa đổi về việc công nhận hợp đồng ở khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 đã
đưa ra hướng giải quyết cụ thể cũng như việc xác định giá trị pháp lý của hợp đ ồng
trong trường hợp hết thời hiệu u cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ hi ệu do l ừa
dối. Quy định này đã khắc phục được sự bỏ ngõ ở BLDS 2005, giúp giải quyết được
câu hỏi: Khi hết thời hiệu khởi kiện thì giao dịch này có giá trị pháp lý khơng? Việc
sửa đổi khiến các quy định của BLDS 2015 sẽ trở nên thuyết phục hơn trong việc áp
dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn.
Downloaded by Vu Vu ()