lOMoARcPSD|12114775
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÌNH SỰ - LỚP HS47A2
------------
BUỔI THẢO LUẬN SỐ 2
ST
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
HỌ VÀ TÊN
Phạm Gia Hân
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Phạm Mai Hoa
Phạm Thị Hoàng Hoa
Phú Ngọc Nữ Hoàng
Nguyễn Khánh Lam
Phan Tùng Lâm
Nguyễn Ngọc Diệu Linh
Trần Nhật Long
Phạm Thị Ngọc Mai
MSSV
2253801013057
2253801013067
2253801013068
2253801013069
2253801013070
2253801013092
2253801013093
2253801013102
2253801013108
2253801013109
GIẢNG VIÊN: TS. NGUYỄN TẤN HOÀNG HẢI
TP.HCM – Năm 2023
1
lOMoARcPSD|12114775
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC
LẬP GIAO DỊCH.............................................................................................................5
1.1 So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên?..................................................6
1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại
Việt Nam?....................................................................................................................... 7
1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tịa
án tun bố vơ hiệu?.......................................................................................................8
1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về căn
cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?................................................................8
VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHƠNG CĨ KHẢ NĂNG NHẬN
THỨC................................................................................................................................ 9
2.1 Từ thời điểm nào ơng Hội thực chất khơng cịn khả năng nhận thức và từ thời điểm
nào ơng Hội bị Tịa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?.....................................10
2.2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông
Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?...................................................................10
2.3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ơng Hội có vơ hiệu khơng? Vì
sao? Trên cơ sở quy định nào?......................................................................................10
2.4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hồn cảnh của ơng Hội khơng và Tịa
án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết?................10
2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc
trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng
xử lý?............................................................................................................................ 11
2.6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao dịch đó có bị vơ
hiệu khơng? Vì sao?......................................................................................................11
VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI.............................................12
3.1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo BLDS 2005
và BLDS 2015?............................................................................................................. 14
3.2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tun vơ
hiệu do có lừa dối?........................................................................................................14
3.3 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị
2
lOMoARcPSD|12114775
biết?.............................................................................................................................. 14
3.4 Hướng giải quyết trên có cịn phù hợp với BLDS năm 2015 khơng? Vì sao?.........15
3.5 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai khơng được u cầu
Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp vơ hiệu?........................................................15
3.6 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
vơ hiệu do lừa dối có cịn khơng? Vì sao?.....................................................................16
3.7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ hiệu do lừa
dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng khơng? Vì sao?.....................................................16
3.8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng
của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?.........................................16
VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU.................................16
4.1 Giao dịch dân sự vơ hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không?
Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?.......................................................................................21
4.2 Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vơ hiệu thì Cơng ty Phú Mỹ có
phải thanh tốn cho Cơng ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc
mà Cơng ty Orange đã thực hiện khơng? Vì sao?.........................................................21
4.3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện như thế nào?.................................................................................21
4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan
tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô
hiệu............................................................................................................................... 22
4.5 Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công ty
Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội
dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy
nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?................................................................22
4.6 Trong Quyết định số 75, vì sao Tịa dân sự Tịa án nhân dân tối cao xác định hợp
đồng vô hiệu?................................................................................................................23
4.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp
đồng vô hiệu trong Quyết định trên..............................................................................23
4.8 Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi
thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời................................23
4.9 Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận cấp
cho anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm
3
lOMoARcPSD|12114775
quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch
dân sự vơ hiệu khơng? Vì sao?.....................................................................................24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................25
4
lOMoARcPSD|12114775
VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ
TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH
*Tóm tắt bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
Bản án số 32/2018/DS-ST ngày 20/12/2018 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý
số: 19/2018/TLST-DS ngày 04/04/2018 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với nguyên đơn là ông J Ph T và bà A Ph, bị đơn là bà
L K Đ.
Năm 2004 vợ chồng nguyên đơn ở nước ngoài gửi tiền về nhờ mua đất nhờ bị đơn
đứng tên, đến nay về nước buộc bà L K Đ phải giao trả toàn bộ tài sản gồm căn
nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà thừa
nhận có nhận 5 lần tiền của nguyên đơn gửi về, nay đồng ý trả lại tiền và yêu cầu
được sử dụng nhà và đất này.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại điện ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu bà L K Đ
giao trả toàn bộ tài sản cho nguyên đơn mà phải trả lại giá trị nhà và đất là
550.000.000 đồng tương đương với số tiền mà phía nguyên đơn đưa cho bà Đ.
Phía bị đơn tự nguyện trả số tiền 350.000.000 đồng và xin đề nghị miễn án phí cho
bị đơn vì đã cao tuổi, khó khăn về kinh tế.
Căn cứ vào các điều khoản liên quan trong Luật đất đai 2013, Luật nhà ở 2014, Bộ
Luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự,… Tòa tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu
của bên nguyên đơn, miễn án phí sơ thẩm cho bà L K Đ.
5
lOMoARcPSD|12114775
1.1. So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên?
Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 122 (BLDS 2015); Điều 122, điều 127
(BLDS 2005)
- Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
- So với BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 có một vài sự khác biệt về điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự là:
+ Về chủ thể
Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 122 BLDS 2005: “Người tham gia giao dịch có năng lực
hành vi dân sự”: Chủ thể tham gia là cá nhân, phải có năng lực hành vi dân sự
Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 117, BLDS 2015: “Chủ thể có năng lực pháp luật hành vi
dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”: Chủ thể tham dự có thể là cá nhân
hoặc pháp nhân.
Ở BLDS 2015 đã thay thế từ “người” tham gia giao dịch thành “chủ thể”. 1
Tuy nhiên cả hai BLDS đều ghi nhận quy định của pháp luật về người khơng có
năng lực hành vi dân sự thì khơng được xác lập giao dịch dân sự tại Điều 21 BLDS
2005 và Khoản 2 Điều 21 BLDS 2015
+ Về giao dịch:
Nội dung
Hình thức
Bộ luật Dân sự 2005
- Quy định về đạo đức xã hội là
chuẩn mực chung trong xã hội
được thừa nhận.
- Quy định về điều cấm: Quy định
điều cấm là điều cấm của pháp luật
là những điều pháp luật không cho
phép thực hiện trong những hành vi
nhất định, tức là điều tồn tại trong
các văn bản luật hoặc văn bản dưới
luật.2
Bộ luật Dân sự 2015
- Quy định về đạo đức xã hội là
chuẩn mực chung trong xã hội được
thừa nhận.
- Quy định về điều cấm: Quy định
điều cấm là điều cấm của luật, là
những điều chỉ tồn tại trong luật, do
Quốc hội ban hành3
Giao dịch dân sự do luật quy định
phải được thể hiện bằng văn bản, có
cơng chứng chứng thực, đăng ký.5
1 Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Trương Tín, Giáo trình Những quy định chung về Luật dân sự, Trường Đại học
Luật TP.HCM, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam 2018, tr.299
2 Điều 128, Bộ luật Dân sự 2005
3 Điều 123, Bộ luật Dân sự 2015
6
lOMoARcPSD|12114775
Theo cá nhân nhóm em cảm thấy rằng sự thay đổi này là một sự thay đổi đúng đắn
và hợp lý, làm cho điều luật trở nên tồn diện vì nó mở rộng đối tượng tham gia
giao dịch dân sự.
- Nếu ở điều 122 BLDS 2005 chủ thể tham gia giao dịch dân sự chỉ là cá nhân thì ở điều
117 BLDS 2015 chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, điều
này cũng phù hợp với thực tiễn vì trong BLDS 2005 một số giao dịch pháp nhân có thể
tham gia nhưng chưa được điều chỉnh và điều này đã được khắc phục trong BLDS 2015.
- Sự giới hạn về chủ thể quy định điều kiện về hình thức đã thay đổi từ pháp luật sang
luật đã thu hẹp lại phạm vi quy định, tránh sự tuỳ tiện về quy định của các văn bản dưới
luật.
1.2. Đoạn nào của bản án trên cho thấy ơng T và bà H khơng có quyền sở hữu nhà ở
tại Việt Nam?
Theo Bản án số 32/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, tại phần
Nhận định của Tòa án, mục 2 cho biết “…xét về hình thức thì tờ cho đất thổ cư và tờ
nhường đất thổ cư không tuân thủ theo quy định của pháp luật, không được công chứng,
chứng thực theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003 và Điều 117 của Bộ
luật dân sự nên không phát sinh hiệu lực của hợp đồng”.
Hơn nữa ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngồi đã nhập quốc
tịch Mỹ thì theo quy định Luật Đất đai năm 2003 và Điều 121 của Luật Nhà ở năm 2005
thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa
mãn các điều kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt
Nam, người có cơng đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hố, nhà khoa học có
nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất
nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” và “Người Việt Nam định
cư ở nước ngồi khơng thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được
phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ”.
Do đó ơng T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất
trồng cây lâu năm tại Việt Nam vì vậy các giao dịch giấy cho nền thổ cư ngày
31/5/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004, giấy cam kết ngày 16/03/2011 bị vô
hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và do không tuân thủ quy định về hình thức theo
Điều 117, 123, 129 của Bộ luật dân sự và căn cứ theo Điều 131 của Bộ luật dân sự thì các
đương sự phải khơi phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho nhau những gì đã nhận.
4 Khoản 2 Điều 124, Bộ luật Dân sự 2005
5 Khoản 2 Điều 119, Bộ luật Dân sự 2015
7
lOMoARcPSD|12114775
1.3. Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị
Tịa án tun bố vơ hiệu?
Ở phần Quyết định của bản án, Toà án tuyên xử:“1.Chấp nhận một phần yêu cầu
khởi của nguyên đơn: - Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất
thổ cư ngày 02/06/2004 và giấy cam kết ngày 16/03/2011 mà các bên đã xác lập do vi
phạm đều cấm của pháp luật…”
1.4. Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể) về
căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự 6, vậy nên kết quả của việc xác lập giao
dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể
trong quan hệ pháp luật dân sự. Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể
mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó 7. Một giao dịch dân sự được xem là vô
hiệu khi nó khơng có các điều kiện được quy định trong điều 117 BLDS 2015 trừ trường
hợp Bộ luật này có quy định khác.
Theo Bản án số 32/2018/DS-ST của Tịa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, tại phần
Nhận định của Tịa án, mục 2 cho biết: “…ơng Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở
nước ngồi đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định Luật Đất đai năm 2003 và Điều 121
của Luật Nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu
nhà ở Việt Nam khi thõa mãn các điều kiện sau:
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có
cơng đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hố, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt
động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người
được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ
Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngồi khơng thuộc diện quy định này đã về
Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng
lẻ hoặc một căn hộ.
Do đó ơng T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất
trồng cây lâu năm tại Việt Nam…” Ta có thể nhận thấy được rằng trong trường hợp này
ông Ph J T và bà L Th H khơng có năng lực pháp luật dân sự trong giao dịch dân sự này,
và giao dịch này cũng khơng có các điều kiện được quy định trong điều 117 BLDS 2015.
Vậy nên tuyên bố của Toà là hoàn toàn hợp lý và đúng với pháp luật.
6 Điều 116, Bộ luật Dân sự 2015
7 Điềều 118, Bộ luật Dân sự 2015
8
lOMoARcPSD|12114775
VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CĨ
KHẢ NĂNG NHẬN THỨC
*Tóm tắt quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân
tối cao xét xử giám đốc thẩm. Cha mẹ chị Đặng Thị Kim Ánh tức bên nguyên đơn
là ông Đặng Hữu Hội và bà Phạm Thị Hương sinh được 5 người con gồm: Đặng
Thị Kinh Ánh, Đặng Văn Bình, Đặng Thị Hịa Minh, Đặng thị Thu Thủy và Đặng
Văn Tồn. Năm 2007 ơng Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được,
ngày 8/2/2010 bà Hương tự ý bán căn nhà và diện tích đất cho vợ chồng ơng Lưu
Hồng Phi Hùng trong lúc ơng Hội bị bệnh nặng nhưng không hỏi ý kiến xác con
chỉ hỏi một người con là anh Đặng Văn Bình. Khi biết mẹ bán nhà, chị Ánh đã
thông báo với anh Hùng (người mua nhà) là chị em chị không đồng ý cho bà
Hương bán nhà và có gửi đơn yêu cầu UBND phường giải quyết. Ngày 10/8/2010
Tòa tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự và ngày 29/10/2010 cha chị
Ánh chết, nay chị yêu cầu hủy hợp đồng mua bán giữa cha mẹ chị và vợ chồng
ông Hùng.
Bên bị đơn là bà Phạm Thị Hương cho rằng tháng 12/2009 vợ chồng bà bán căn
nhà cho vợ chồng ơng Hùng khơng có mặt ơng Hội, anh Bình yêu cầu ký thay cho
cha nhưng Chủ tịch phường không đồng ý mà cử một cán bộ phường đến nhà
chứng kiến ơng Hội điểm chỉ và u cầu Tịa án bác bỏ yêu cầu nguyên đơn và
công nhận hợp đồng mua bán giữa vợ chồng bà và vợ chồng ông Hùng.
Tại bản án sơ thẩm 98/2011/DSST ngày 22/12/2011 TAND thành phố Tuy Hòa
chấp nhận yêu cầu của chị Ánh, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vì vơ hiệu hình thức, buộc bà Hương phải trả lại tiền cho vợ chồng ông Hùng, bác
yêu cầu công nhận hợp đồng quyền sử dụng đất ngày 8/2/2010 vì khơng có cơ sở.
Bán án dân sự phúc thẩm số 35/2012/DSPT ngày 10/7/2012 TAND tỉnh Phú Yên
chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Hùng, công nhận hợp đồng mua bán nhà
gắn liền quyền sử dụng đất lập ngày 8/2/2010 giữa vợ chồng ông Hội và vợ chồng
ông Hùng là có căn cứ.
Quyết định của TAND tối cao: Hủy toàn bộ bán án dân sự phúc thẩm và sơ thầm
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất”
giữa nguyên đơn, bị đơn và người có nghĩa vụ liên quan khác.
9
lOMoARcPSD|12114775
2.1. Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không cịn khả năng nhận thức và từ thời
điểm nào ơng Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
- Từ năm 2007 ông Hội thực chất khơng cịn khả năng nhận thức (ơng bị tai biến nằm liệt
một chỗ, không nhận thức được), từ cuối năm 2008 hàng tháng gia đình phải góp tiền
thuốc men cho ông.
- Từ ngày 08/02/2010, ông Hội bị Tòa án nhân dân thành phố tuyên bố mất năng lực hành
vi dân sự.8
2.2. Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông
Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
- Ngày 08/02/2010 bà Hương tự ý bán căn nhà và đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất
cho ông Hùng và vợ là bà Trinh trong lúc ông Hội bị bệnh nặng, nhưng bà không bàn bạc
hỏi ý kiến các con mà chỉ hỏi một người con là anh Đặng Văn Bình.
- Giao dịch của ông Hội với vợ là bà Hương được xác lập trước khi ơng Hội bị Tồ tun
mất năng lực hành vi dân sự (giao dịch được xác lập vào ngày 08/02/2010 nhưng ơng Hội
bị Tồ tun mất năng lực hành vi dân sự vào ngày 10/08/2010).
2.3. Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vơ hiệu khơng? Vì
sao? Trên cơ sở quy định nào?
- Tòa án nhân dân tối cao chưa xác định phần giao dịch của ơng Hội có vơ hiệu. Vì theo
Quyết định giám đốc thẩm số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/07/2013, Tòa án nhân dân tối
cao cho rằng: Bản án sơ thẩm quyết định hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Đặng Hữu Hội, bà Phạm Thị Hương
với vợ chồng ông Lưu Hoàng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh; Bản án phúc thẩm quyết
định cơng nhận tồn bộ hợp đồng mua bán nhà gắn liền quyền sử dụng đất ở lập ngày
08/02/2010 giữa vợ chồng ông Đặng Hữu Hội (chết), bà Phạm Thị Hương và vợ chồng
ơng Lưu Hồng Phi Hùng, bà Bùi Thị Tú Trinh đều là không đúng. Nên Tòa án nhân dân
tối cao quyết định hủy cả 2 bản án này để sơ thẩm lại. Nhưng trên thực tế, phần giao dịch
của ông Hội bị vô hiệu. Vì lúc thực hiện giao dịch dân sự ơng Hội đã bị bệnh nằm liệt
giường 3 năm, khi điểm chỉ ông Hội không thể tự mình thực hiện nên ông Hội đã không
tự nguyện thực hiện giao dịch này. Như vậy theo Điểm b Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015,
điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là "chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn
toàn tự nguyện" và Điều 122 BLDS 2015: "Giao dịch dân sự khơng có một trong các
điều kiện được quy định tại Điều 117 như trên thì vơ hiệu" nên phần giao dịch của ông
Hội bị vô hiệu.
2.4. Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hồn cảnh của ơng Hội khơng và
Tịa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết?
Trong thực tiễn xét xử, Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006 của Tòa án
8 Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
11
lOMoARcPSD|12114775
nhân dân huyện Văn Chấn tỉnh n Bái có tình tiết tương tự hồn cảnh của ơng Hội.
- Tóm tắt vụ việc:
Nguồn gốc diện tích 288m2 ơng Cường và bà Bính đã chuyển nhượng cho anh
Thăng là một phần trong tổng diện tích đất do bà Lợi - mẹ đẻ ông Cường để lại di
sản sau khi chết. Tại thời điểm tháng 01/2004 do việc giải quyết chia thừa kết chưa
được đặt ra nên ông Cường chỉ là người chiếm hữu sử dụng di sản thừa kế nên
việc ông Cường và bà Bính tự ý bán một phần di sản khi chưa được sự đồng ý của
những người cùng hàng thừa kế là vi phạm
Tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 của Tổ
chức giám định pháp y Tỉnh đã kết luận: Ông Cương bị mắc bệnh “loạn thần do sử
dụng rượu”. Trên cơ sở kết luận giám định như trên, ông Cường được coi là người
mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước
ngày 01/01/2004.
Khi đó bà Bính là vợ ơng Cường nên phải tham gia với tư cách là người giám hộ
để đại diện cho ông Cường, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ơng
Cường. Nhưng trên thực tế trong quá trình giao kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, bà Bính đã khơng tham gia giao kết với tư cách là người giám
hộ ông Cường, mà tham gia ký kết hợp đồng như một chủ thể sở hữu tài sản với
chính con riêng của bà Bính là anh Thăng. Đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con
trai ông Cường và bà Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho
ông Cường tại UBND xã
- Cuối cùng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định hủy bỏ hợp đồng giao
dịch đã xác lập giữa các bên; yêu cầu anh Hưng (người đại diện cho ơng Cường) và bà
Bình phải cùng chịu trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền từ anh Thăng và chi phí khi
anh Thăng đầu tư xây dựng cơng trình trên đất. Về yếu tố lỗi, BLDS khơng có quy định
cụ thể nên việc đánh giá lỗi là cơng việc của Tịa án. Trong thực tế, lỗi có thể là của một
bên giao kết hợp đồng. Chẳng hạn, “một bên bị coi là có lỗi nếu bên đó có hành vi làm
cho bên kia nhầm tưởng là có đầy đủ điều kiện để mua nhà ở hoặc bán nhà ở là hợp
pháp”9
2.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ
việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra
hướng xử lý?
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là thuyết phục khi đã hủy bản án sơ
9 Đỗ Văn Đại (2007), Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người bị mất năng lực hành vi dân sự qua một
vụ án, Tạp chí KHPL số 4(41)/2007
12
lOMoARcPSD|12114775
thẩm và phúc thẩm.
+ Vì ơng Hội đã bị tun bố là mất năng lực hành vi dân sự từ ngày 08/02/2010 và chị
Ánh được sự đồng thuận của những người có liên quan trở thành người đại diện theo
pháp luật cho ông Hội và chị là người quản lý tài sản của người được giám hộ. Tịa đã
cơng nhận quyền khởi kiện của chị Ánh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông Hội, bà Hương và 2 vợ chồng ơng Hùng, bà Trinh.
+ Phần đất có diện tích 43,7m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
khơng có trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/02/2010 cần phải
được làm rõ là đã đăng ký kê khai và có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất không. Vì theo biên bản định giá ngày 30/06/2011 của Tịa án nhân dân thành
phố Tuy Hịa, thì ngồi diện tích 120m² đất mà ông Hội, bà Hương đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì cịn có 43,7m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và trên mảnh đất có ngơi nhà với diện tích 56,7m² và vài kiến trúc
khác nhưng khơng có trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
08/02/2010.
+ Tòa án đã thấy được thiếu sót của các bản án sơ thẩm và phúc thẩm bởi việc xác lập
giao dịch diễn ra lúc ơng Hội cịn nhận thức được hay khơng thì chưa xác định rõ ràng,
cịn nhiều ý kiến trái chiều và đã tuyên bố hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và sơ
thẩm sau đó giao lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét
xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
2.6. Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao dịch đó có bị
vơ hiệu khơng? Vì sao?
Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ơng Hội thì giao dịch vẫn có
hiệu lực khi giao dịch đó được chị Ánh đồng ý xác lập. Vì theo khoản 2 Điều 125 BLDS
2015, việc xác lập giao dịch không làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của ông mà
chỉ làm phát sinh thêm quyền và lợi ích cho ông.
13
lOMoARcPSD|12114775
VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI
*Tóm tắt quyết định số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tịa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao
Hợp đồng mua bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp, thành phố Hồ
Chí Minh giữa bên bán là ơng Nguyễn Danh Đô, bà Phạm Thị Thu với bên mua là
bà Trần Thị Phố ngày 25/03/2004 đã được công chứng chứng thực và hoàn thành
thủ tục sang tên bà Phố. Con trai bà Phố là anh Nguyễn Thế Vinh lại thỏa thuận
với vợ chồng bà Thu hoán nhượng cho bà Thu sở hữu, sử dụng 1/2 diện tích nhà,
đất tại thừa 2352, tờ bản đồ số 01, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh và bà Phổ
khơng phải trả lại số vàng 100 lượng mua bán nhà còn lại.
Tại thời điểm giao dịch hốn nhượng thì UBND thành phố Hồ Chí Minh đã có
quyết định số 1997/QĐ-UB ngày 10/05/2002 về việc thu hồi đất và giao đất xây
dựng khu đô thị mới, anh Vinh và người liên quan có sự gian dối khi không thông
báo cho vợ chồng bà Thu biết đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù. Mặt khác
thỏa thuận khơng có chữ ký của ơng Đơ (chồng bà Thu) và bà Phổ (mẹ anh Vinh)
nên thỏa thuận vơ hiệu.
Tịa án quyết định hủy bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm về vụ án tranh chấp
hợp đồng mua bán nhà giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn.
*Tóm tắt quyết định số 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Theo khởi kiện ngày 13/12/2010, nguyên đơn bà Châu Thị Nhất trình bày: Nguồn
gốc tài sản vợ chồng và gồm 5 lô đất, là tài sản chung của hai vợ chồng, trong thời
gian chờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà đi Đài Loan làm ăn. Tháng
08/2007 bà và ông Nguyễn Văn Dưỡng ly hôn mới biết ông Dưỡng giả chữ ký của
bà bán lô đất số 2 đứng tên bà cho ông Võ Minh Tài vào tháng 02/2003. Nay bà
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ơng Thi. Tịa
chấp nhận yêu cầu của bà Nhất: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được ký giữa bà Nhất và ông Tài là không có hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/05/2012, ơng Tài kháng cáo. Tịa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã bác
đơn khởi kiện của bà Châu Thị Nhất về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/11/2003. Sau khi xét xử phúc thẩm bà Nhất có
đề nghị xem xét lại bản phúc thẩm nêu trên.
14
lOMoARcPSD|12114775
Quyết định của Tòa án: Chấp nhận kháng nghị số 27/QĐ-KNGĐT-V5 ngày
27/03/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản phúc thẩm
số 199/2012/DSPT ngày 19/09/2012 của TAND tỉnh Kiên Giang. Hủy toàn bộ bản
án dân sự phúc thẩm số 199/2012/DSPT ngày 19/09/2012 của TAND tỉnh Kiên
Giang và bản án dân sự sơ thẩm số 14/2012/DS-ST ngày 18/04/2012 của TAND
huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
3.1. Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo BLDS
2005 và BLDS 2015?
- Điều 123 BLDS 2005 quy định: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên
hoặc của người thứ ba nhằm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng
hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.
- Điều 127 BLDS 2015 cũng quy định tương tự: “Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành
vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ
thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch
đó”.
“Lừa dối” có thể là hành vi hành động cũng có thể là hành vi không hành động, tác
đến nhận thức của một bên là một bên thấy hiểu sai hợp đồng. Vậy điều kiện vô hiệu là:
Tác động ấy phải làm một bên hiểu sai (hiểu sai nên mới xác lập). Nếu hiểu đúng mà vẫn
xác lập thì khơng vơ hiệu giao dịch.
Trong điều 127 BLDS 2015 được bổ sung thêm hành vi cưỡng ép là điều kiện để
chủ thể có thể u cầu Tịa án tun bố giao dịch dân sự đó là vơ hiệu.
3.2. Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tun
vơ hiệu do có lừa dối?
Theo bản án số 521/2010/DS-GĐT:
“Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân - họ
hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà
các bên thỏa thuận hốn đổi đã có quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có
quyết định tháo dỡ do xây nhà trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị
căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì khơng đủ điều kiện để được mua nhà tái định cư theo
Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối. Mặt khác, tại bản thỏa thuận
hốn nhượng khơng có chữ kí của ơng Đơ (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán
căn nhà 135/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh). Do vậy, giao
dịch thỏa thuận hoán nhượng giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng điều 132
BLDS để giải quyết.”
15
lOMoARcPSD|12114775
3.3. Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ
anh/chị biết?
- Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ vì theo nguyên tắc áp dụng án lệ để giải quyết thì
các tình tiết trong vụ việc, vấn đề pháp lý được án lệ giải quyết phải được phân tích, viện
dẫn làm rõ trong bản án và quyết định của Tòa án. Và trong bản án trên thì tất cả chỉ căn
cứ vào luật để giải quyết chứ khơng có bất cứ một viện dẫn nào.
3.4. Hướng giải quyết trên có cịn phù hợp với BLDS năm 2015 khơng? Vì sao?
Hướng giải quyết trên phù hợp với BLDS 2015 vì điều kiện tun bố một giao
dịch dân sự vơ hiệu do có lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2015 là
giống nhau.
Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 132 BLDS 2015: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật
này là 02 năm, kể từ ngày: “ Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch
được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối”
Việc anh Vinh và những người liên quan không thông báo cho vợ chồng ơng Đơ
và bà Thu biết về tình trạng nhà, đất mà các bên thỏa thuận đã có quyết định thu hồi, giải
tỏa đền bù là có sự gian dối. Do anh Vinh cố tình gian dối nên bà Thu khơng biết đã kí
vào thỏa thuận chuyển nhượng mà khơng có chữ kí của ơng Đơ. Theo điều khoản trên thì
thì hợp đồng này vơ hiệu.
=> Do đó, quyết định hủy bản án phúc thẩm của TAND TP.HCM và sơ thẩm của
TAND quận Gò Vấp về “ Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” giữa nguyên đơn là ông
Đô, bà Thu và bị đơn là bà Phố, anh Vinh cùng những người có liên quan (ơng Tồn và
bà Vân) là hoàn toàn hợp lý.
3.5. Trong Quyết định số 210, theo Tịa án, ai được u cầu và ai khơng được u
cầu Tịa án tun bố hợp đồng có tranh chấp vơ hiệu?
Trong quyết định số 210, theo Tịa án, ông Tài được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp
đồng có tranh chấp vơ hiệu và bà Nhất là người khơng được u cầu Tịa án tun bố hợp
đồng có tranh chấp vô hiệu. Điều này đã thể hiện rõ trong phần xét thấy của quyết định
210:
Về quyền khởi kiện: Do bà Nhất khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dưỡng do bà Nhất đứng tên với ông Tài bị
vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng nêu trên bị vô hiệu do bị lừa dối là không
đúng. Bởi lẽ, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 bà
Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ơng Tài, nên bà Nhất khơng có quyền
khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa
dối. 10
10 Quyết định 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 về vấn đề tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
16
lOMoARcPSD|12114775
Trường hợp này chỉ có ơng Tài mới có quyền khởi kiện u cầu Tịa án tun bố
hợp đồng vơ hiệu do bị lừa dối, nếu ông Tài không biết việc ơng Dưỡng giả mạo chữ kí
của bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà Nhất
chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Tài và ông Dưỡng vô hiệu vì đã vi phạm Điều 28 Luật Hơn nhân và Gia đình
năm 2014 vì theo đó việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng phải có sự đồng ý của cả
vợ, chồng nhưng ông Dưỡng tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ chồng là không đúng.
3.6. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu u cầu Tịa án tun bố hợp
đồng vơ hiệu do lừa dối có cịn khơng? Vì sao?
- Theo phần xét thấy của quyết định số 210:
Về thời hiệu: Khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 thì thời hiệu khởi kiện tuyên bố hợp
đồng vô hiệu do bị lừa dối là một năm; Khoản 1 Điều 136 BLDS năm 2005 quy định thời
hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do
bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập. Còn Điều 159 BLTTDS quy định
trong trường hợp pháp luật khơng có quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện
vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích
của mình bị xâm phạm.11
- Trong quyết định số 210, theo Tòa án thời hiệu yêu cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ
hiệu do lừa dối là khơng cịn vì theo Khoản 1, Điều 136, BLDS 2005 quy định: “Thời
hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ
Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được
xác lập.”
Vậy tính từ năm xác lập giao dịch dân sự giữa ông Dưỡng và ông Tài vào năm
2003 đến thời điểm có đơn khởi kiện của bà Nhất vào năm 2010 đã được bảy năm. Do
vậy, thời hiệu khởi kiện đã hết.
3.7. Trong trường hợp hết thời hiệu u cầu Tịa án tun bố hợp đồng vơ hiệu do
lừa dối, Tịa án có cơng nhận hợp đồng khơng? Vì sao?
Thời điểm bà Nhất khởi kiện là 13/12/2010, áp dụng theo BLDS 2005. BLDS
2005 đề cập đến việc còn hay mất quyền khởi kiện mà không quy định rõ số phận pháp lý
của giao dịch khi đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với trường hợp hết thời hiệu yêu cầu
Tòa án hay Trọng tài tuyên bố giao dịch dân sự vơ hiệu hóa do lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn
thì Tịa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn theo hướng giao dịch dân sự có hiệu lực tại
theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao. Căn cứ vào hướng dẫn của Tịa tối cao thì trong trường hợp hết thời
đất.
11 Quyết định 210/2013/DS-GĐT ngày 21/5/2013 về vấn đề tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.
17
lOMoARcPSD|12114775
hiệu u cầu Tịa án tun bố hợp đơng vơ hiệu do lừa dối, Tịa án cơng nhận hợp đồng.
3.8. Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương
ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?
Câu trả lời cho các câu hỏi trên có sự khác biệt nếu áp dụng các quy định tương
ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210:
- Câu 3.5: câu trả lời không thay đổi
- Câu 3.6: thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối vẫn đã kết thúc.
Theo khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép là hai năm, kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa
dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối. Thời hiệu
tuyên bố hợp đồng vô hiệu được tính từ ngày bà Nhất biết chuyện, khác với Điều 136
BLDS 2005 thời hiệu được tính từ ngày xác lập giao dịch, nhưng đến khi bà Nhất đi kiện
thì cũng đã vượt qua thời hiệu là hai năm. (Từ 08/2007 đến 10/12/2010)
18
lOMoARcPSD|12114775
VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VƠ HIỆU
*Tóm tắt quyết định số 26/2013/KDTM-GĐT ngày 13/08/2013 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
Ngày 15/06/2007 nguyên đơn là Công ty TNHH Orange Engineering và bị đơn là
Công ty cổ phần phát triển Phú Mỹ ký kết hợp đồng dịch vụ. Công ty Phú Mỹ chỉ
định Công ty Orange làm nhà thầu cung cấp dịch vụ thiết kế cho dự án đầu tư xây
dựng “CLB quốc gia và sân Golf Đôi Chim Câu”. Ngày 20/09/2007 Cơng ty
Orange hồn thành đúng tiến độ cơng việc nhưng không nhận được bất cứ phản
hồi nào từ công ty Phú Mỹ, cho rằng đã chấp nhận sản phẩm của Cơng ty Orange
mà khơng có khiếu nại gì và sử dụng bản vẽ của Công ty Orange thưc hiện xin
giấy phép xây dựng và tiến hành xây dựng trên thực tế. Công ty Phú Mỹ không
tiếp tục thực hiện thanh tốn lần 3 nên Cơng ty Orange khởi kiện u cầu chấm
dứt hợp đồng và buộc Phú Mỹ phải thanh toán cùng lãi suất chậm theo hợp đồng.
Bên bị đơn khẳng định bản thảo của nguyên đơn cung cấp bản thảo cịn sơ sài và
khơng hồn chỉnh, Chủ tịch Cơng ty Orange cịn phản đối kiến trúc sư trưởng của
Cơng ty Phú Mỹ. Bên cạnh đó bản chi tiết phối cảnh không xem xét đến yếu tố tự
nhiên và thời tiết của Việt Nam, Công ty Phú Mỹ cũng nhiều lần phản ánh nhưng
Công ty Orange không thể hiện trong bản thiết kế và Công ty Phú Mỹ cũng cũng
phải bồi thường thiệt hại nên bên bị đơn đề nghị Tịa án khơng chấp nhận u cầu
khởi kiện của bên ngun đơn.
Tịa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Công ty Orange, chấm dứt hợp đồng dịch vụ và buộc Công ty Phú Mỹ thanh tồn
khoản cịn thiếu cũng như chịu thêm tiền lãi suất. Ngày 19/04/2011, Công ty Phú
Mỹ làm đơn kháng cáo toàn bộ bản sơ thẩm và đề khị xử bác yêu cầu khởi kiện
của bên nguyên đơn. Quyết định số 07/VKSNDTC-V12 kháng nghị bản phúc
thẩm số 127/2011/KDTM-PT và đề nghị xét xử theo giám độc thẩm.
Xét thấy: Hợp đồng là sự thỏa thuận văn bản có giá trị pháp lý ràng buộc về quyền
và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng, nội dung thỏa thuận có căn cứ nhưng tịa
án sơ thẩm và phúc thẩm lại có thiếu sót trong q trình xét xử và chưa làm rõ vấn
đề hợp đồng. Quyết định hủy toàn bộ bản phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án
cho TAND tỉnh Bình Dương
19
lOMoARcPSD|12114775
*Tóm tắt quyết định số 75/2012/DS-GDDT ngày 23/02/2012 của Tịa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Phiên tòa ngày 23/03/2012 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao để xét xử giám độc
thẩm hồ sơ vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Sanh và bị đơn là anh Nguyễn Văn Dư
Vợ chồng anh Dư và chị Chúc có mối quan hệ cậu cháu với bên nguyên đơn.
25/10/2006 anh Dư chị Chúc chuyển nhượng cho ông 100m 2 đất thổ cư, hai bên
lập văn bản ký kết có xác thực. Ơng Sanh trả tiền cho vợ chồng anh Dư làm 2 lần
(Lần 1 trả tại ngân hàng Cơng thương huyện Bình Xun ngày 25/10/2006 vì vợ
chồng anh Dư nợ ngân hàng và thế chấp quyền sử dụng đất; lần 2 trả cho chị Chúc
vào 19 giờ cùng ngày), sau đó có làm cơm mời anh em hàng xóm ăn uống. Ngày
28/06/2006 ơng lên Ủy ban nhân dân xã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử
dụng đất thì vợ chồng anh Dư khơng ký vào hợp đồng theo mẫu in sẵn.
Bị đơn trình bày vợ chồng anh có vay ơng Sanh 160.000.000 đồng đã thế chấp
giấy chứng nhận giấy sử dụng đất làm tín, khi vợ chồng anh đem tiền đến trả ông
Sanh không nhận, anh có viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thay vợ
kí tên do chị Chúc đi vắng. Nay anh không chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng và
yêu cầu ông Sanh trả lại đất.
Quyết định số 75/2012/DS-GDDT ngày 23/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân
dân tối cao quyết định hủy bản án phúc thẩm 42/2010/DSPT ngày 23/07/2010 của
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và hủy bản án dân sự sơ thẩm 06/2010/DSST
ngày 29/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh phúc.
*Tóm tắt bản án số 133/2017/DSPT ngày 15/05/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Hà Nội.
Căn cứ vào án số 133/2017/DSPT ngày 15/05/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao
tại Hà Nội, nguyên đơn là ông Bùi Tiến Văn và bà Nguyễn Thị Tằm có một khu
đất đứng tên hai ơng bà. Năm 2008 con trai ông Văn là anh Bùi Tiến Dậu hỏi
mượn để thế chấp vay ngân hàng lấy vốn làm ăn. Lợi dụng bà Tằm đi vắng anh
Dậu lập sẵn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nói dối ơng Văn đây
là hợp đồng vay vốn ngân hàng, ông Văn ký vào thay bà Tằm mà không đọc kỹ.
Năm 2010, do mâu thuẫn nên anh Dậu đuổi ông Văn và bà Tằm ra khỏi nhà sau đó
ơng bà mới biết mình bị con trai lừa dối. Khi lấy được giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất anh Dậu đã làm 3 hợp đồng tặng và được UBND huyện Đông Sơn cấp 3
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại bản án sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày
20
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
16/8/2016, Tịa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Căn cứ vào quyết định của Tịa: Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo
của anh Bùi Tiến Bình; khơng chấp nhận kháng cáo của anh Bùi Tiến Dậu giữ
nguyên bản án sơ thẩm; Xác định “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất” không số giữa bên tặng cho là ông Văn, bà Tằm và bên được
tặng là anh Dậu, do UBND xã Đông Tân, huyện Đơng sợ là vơ hiệu; Ơng Văn bà
Tằm có quyền liên hệ lại UBND làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
21
Downloaded by Vu Vu ()