lOMoARcPSD|12114775
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
BÀI TẬP THẢO LUẬN BUỔI 7 MÔN DÂN SỰ
CHỦ ĐỀ: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Giảng viên: ThS. Lê Hà Huy Phát
Lớp: AUF47
TP. Hồ Chí Minh, Năm 2023
lOMoARcPSD|12114775
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Họ và tên thành viên
Phạm Ngọc Minh Thư (nhóm trưởng)
Phan Thị Thanh Trúc
Nguyễn Bảo Ngọc
Hồ Thiên Ngân
Trần Thảo Ngọc
Trịnh Thị Thanh Ngân
Nguyễn Như Ngọc
Trần Đức Thái Minh
Thiềm Gia Hân
Huỳnh Thị Thanh Tuyến
Trần Thị Tú Thanh
MSSV
2253801015308
2253801015352
2253801015209
2253801012141
2253801015213
2253801015199
2253801013118
2253801011155
2253801015098
2253801011323
2253801015286
1
lOMoARcPSD|12114775
BÀI LÀM
I. Xác định vợ/chồng của người để lại di sản:
1. Điều luật nào của BLDS quy định trường hợp thừa kế theo pháp luật?
Trong BLDS 2015, Điều 650 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật. Cụ thể:
“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Khơng có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc khơng cịn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà khơng có quyền hưởng di sản
hoặc từ chối nhận di sản.
2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc khơng có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ khơng có quyền
hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên
quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng khơng cịn tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế.”
Trước hết, trường hợp khơng có di chúc, tức là người quá cố chết mà không để lại di chúc, rất
hiển nhiên sẽ chia di sản theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu trường hợp người chết có để lại di chúc
nhưng di chúc lại bị thất lạc hay hư hại theo khoản 1 Điều 642 BLDS 2015 thì phần di sản vẫn sẽ
chia theo pháp luật. Trường hợp khác nếu di chúc để lại không rõ ràng về nội dung thì những người
đồng thừa kế hoặc Tịa án sẽ thống nhất giải thích nội dung để chia theo di chúc chứ khơng chia theo
pháp luật. Ngồi ra, nếu di chúc khơng định đoạt hết tồn bộ phần di sản thì phần di sản khơng định
đoạt sẽ được chia theo pháp luật (điểm a khoản 2 Điều 650 BLDS 2015). Đối với tính hợp pháp, nếu
di chúc khơng đáp ứng đầy đủ điều kiện tại Điều 630 và Điều 117 (điều kiện chung về giao dịch dân
sự) của BLDS 2015 dẫn đến hậu quả là di chúc không hợp pháp thì di sản sẽ được chia theo pháp
luật. Cuối cùng, nếu di chúc được lập ra hợp pháp những người thừa kế khơng cịn tồn tại nữa ở thời
điểm mở thừa kế (điểm c, d khoản 1 Điều 650, điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS 2015) thì di sản
cũng sẽ chia theo pháp luật.
2
lOMoARcPSD|12114775
Tóm tắt bản án số 20/2009/DSPT ngày 11 và 12/02/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao tại Hà Nội:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bằng, bà Nguyễn Thị Triển và bà Nguyễn Thị Tiến.
Bị đơn: Ông Nguyễn Tất Thăng.
Bố của các nguyên đơn là cụ Nguyễn Tất Thát có hai người vợ. Cụ Nguyễn Thị Tần là vợ cả và
có 4 người con chung với cụ Thát: ơng Thăng, bà Bằng, bà Khiết và bà Triển. Còn cụ Thứ là vợ hai
và có 1 người con chung với cụ Thát là bà Tiến. Ngoài ra, cụ Thát và cụ Tần có nhận ni bà Tý
nhưng sau đó bà đã về với bố mẹ đẻ và đi lấy chồng (được Bản án sơ thẩm số 28/2008/DS-ST xác
định không phải con nuôi của hai cụ Thát và Tần). Năm 1961, cụ Thát mất. Năm 1994, cụ Thứ mất.
Cả hai đều không để lại di chúc. Cụ Tần mất năm 1995 và có để lại lời dặn dị được bà Bằng chắp
bút ghi lại vào ngày 08/07/1994 về việc cho bà Tiến một phần nhà đất tuy nhiên ông Thăng không
công nhận và đã xé đi. Do đó mà phía ngun đơn coi như các cụ không để lại di chúc và đề nghị
Tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Về diện thừa kế, Tòa án xác định cụ Phạm Thị Thứ là vợ hai của
cụ Thát thông qua các chứng cứ nên bà Tiến sẽ được xem là người thừa kế theo pháp luật để được
chia thừa kế (nhưng chỉ được chia phần của bố là cụ Thát và mẹ là cụ Thứ chứ không được hưởng từ
mẹ kế là cụ Tần). Cuối cùng, Tòa chấp nhận đơn yêu cầu chia thừa kế của bà Tiến, bà Bằng, bà
Triển.
2. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật trong vụ việc được
nghiên cứu.
Việc Tòa án áp dụng thừa kế theo pháp luật là hợp lý. Vì theo lời khai của các nguyên đơn, cụ
Thát, cụ Thứ trước khi mất không để lại di chúc và khẳng định chỉ có cụ Tần để lại lời trăn trối,
được bà Bằng ghi lại nhưng lại bị ông Thăng không công nhận và xé đi. Ông Thăng lại khai rằng mẹ
ơng chết có để lại di chúc tuy nhiên ơng đã khơng trình được bản di chúc. Vì thế khơng có di chúc
nào được để lại căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 675 BLDS 2005. Do đó việc Tịa quyết định di sản
phải được chia theo pháp luật là hợp lý.
3. Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý khi trả
lời.
Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha
đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”, vợ/chồng của người để lại di sản
thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Lưu ý rằng ở đây chỉ có quan hệ vợ chồng được pháp luật ghi nhận mới
được hưởng thừa kế của nhau. Đối với các trường hợp khơng có đăng kí kết hơn nhưng vẫn sống
chung như vợ chồng thì Tòa án cần xem xét nhiều căn cứ để xác định tư cách vợ/chồng của họ, từ
đó mới có căn cứ để áp dụng điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015.
4. Cụ Thát và cụ Thứ có đăng ký kết hơn khơng trong Bản án số 20? Vì sao?
3
lOMoARcPSD|12114775
Cụ Thát và cụ Thứ không đăng ký kết hôn mà chỉ chung sống như vợ chồng. Theo như trong Bản
án số 20: “Năm 1956 cải cách ruộng đất vì nhiều đất nên bị quy thành phần địa chủ. Bố mẹ các bà
nói với cụ Thứ tố khổ để được chia ½ nhà. Sau đó Nhà nước sửa sai gia đình các bà được trả lại
nhà đất, bố mẹ các bà vẫn chung sống cùng nhau. Sau khi bố các bà mất, hai mẹ vẫn cùng nhau
nuôi dạy các con”.
5. Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không
đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 01/2003/NQ-HĐTP ngày
16/4/2003 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hơn
nhân và gia đình, các trường hợp những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không
đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau như sau:
Đối với các tranh chấp về hôn nhân gia đình:
“1. Thừa kế trong trường hợp chưa có đăng ký kết hôn:
a. Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, nếu có một bên chết
trước, thì bên vợ hoặc chồng cịn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của
pháp luật về thừa kế.
b. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày
01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hơn theo quy định của Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 thì
có nghĩa vụ đăng ký kết hơn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003;
do đó cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc
vợ cịn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế.”
6. Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án
cho câu trả lời.
Ngồi việc sống với cụ Thứ, cụ Thát cịn sống với cụ Tần. Ở phần xét thấy có nêu: “Các đương
sự đều thống nhất cụ Thát mất năm 1961 có vợ là cụ Tần mất năm 1995 có 4 người con là ông
Thăng, bà Bằng, bà Khiết và bà Triển. Theo các nguyên đơn và bà Khiết thì cụ Thát có vợ hai là cụ
Phạm Thị Thứ (mất năm 1994) có 1 con là bà Tiến.”
7. Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ
Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ
khơng được xem là người thừa kế của cụ Thát. Căn cứ vào Điều 5 Luật Hơn nhân Gia đình 1959 quy
định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hơn với người khác”. Bên cạnh đó dựa vào điểm a mục
4 Nghị quyết số 02/HĐTP 19/10/1990: “Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 1301-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-34
lOMoARcPSD|12114775
1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với
miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc
kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là
người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ
nhất của tất cả các người vợ.” Từ đó đưa đến kết luận vì mốc thời gian áp dụng Luật Hơn nhân và
Gia đình năm 1959 đối với miền Bắc sau ngày 13/01/1960 nên nếu cụ Thứ và cụ Thát chỉ sống với
nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ khơng được xem là người thừa kế của cụ Thát.
8. Câu trả lời cho câu hỏi trên có khác khơng khi cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Câu trả lời sẽ khác. Vì căn cứ theo điểm a mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy
định về người thừa kế theo pháp luật đối với người có nhiều vợ thì ở miền Nam hôn nhân thực tế
được chấp nhận trước ngày 25/3/1977, lúc này tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ
nhất của người chồng và ngược lại. Vậy nên khi cụ Thát và cụ Thứ sống chung như vợ chồng từ
cuối năm 1960 ở miền Nam thì lúc này cụ Thứ được pháp luật cơng nhận là vợ hợp pháp và là người
thừa kế hàng thứ nhất của cụ Thát.
9. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát.
Việc Tòa thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát là thuyết phục. Vì căn cứ theo khoản a
mục 4 của Nghị quyết 02/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Trong trường
hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày cơng bố Luật Hơn nhân và gia đình năm
1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được
áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam
sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực
pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược
lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ.” thì cụ Thát và cụ Thứ đã
chung sống như vợ chồng trước năm 1960 và cịn có với nhau một người con là bà Tiến, bên cạnh
đó cịn có sự xác nhận của họ hàng, hàng xóm cụ thể là cụ Nguyễn Xuân Chi, ông Nguyễn Văn
Chung (tổ trưởng tổ dân phố), ơng Nguyễn Hồng Đăm. Tất cả đều khẳng định cụ Thứ là vợ cụ
Thát. Chính vì vậy việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất là phù
hợp với hoàn cảnh, pháp luật lúc bấy giờ và cũng như đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của
cụ Thứ.
Tóm tắt Án lệ số 41/2021/AL:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trọng P1 và bà Trần Thị S.
Bị đơn: Anh Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3.
Ông Trần Thế T1 sống chung với bà Tô Thị T2 từ năm 1969, không có giấy chứng nhận đăng ký
kết hơn và có 2 đứa con chung là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3. Tuy nhiên, đến năm 1982, ông
5
lOMoARcPSD|12114775
T1 và bà T2 khơng cịn chung sống với nhau. Bà T2 chuyển đến Bà Rịa - Vũng Tàu chung sống với
ơng D đến nay có 3 người con chung. Sau đó ơng T1 sống chung với bà Trần Thị S từ năm 1985, có
1 đứa con chung là Trần Thị Trọng P1 và đến năm 2003, ông T1 chết và không để lại di chúc. Hai
quan hệ hôn nhân này đều là quan hệ hôn nhân thực tế. Quan hệ hôn nhân giữa ông T1 và bà T2 đã
chấm dứt từ lâu, vì vậy Tịa án sơ thẩm đã xử bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại.
Ơng T1 và bà S sống chung, có tài sản chung hợp pháp, Bản án sơ thẩm công nhận là hôn nhân thực
tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1.
10. Trong Án lệ số 41/2021/AL, bà T2 và bà S có được hưởng di sản do ơng T1 để lại khơng?
Đoạn nào của Án lệ có câu trả lời.
Bà T2 không được hưởng và bà S được hưởng di sản do ông T1 để lại. Đoạn: “Xét bà Tô Thị T2
chung sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ơng D
có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên
khơng cịn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 khơng được hưởng di sản của ông T1 để lại..” và đoạn
“Xét sau khi bà T2 khơng cịn sống chung với ơng T1 thì năm 1985 ơng T1 sống chung với bà S cho
đến khi ơng T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm công nhận là hôn nhân
thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ.”
11. Suy nghĩ của anh/chị về việc Án lệ xác định tư cách hưởng di sản của ông T1 đối với bà
T2 và bà S.
Theo nhóm, việc Án lệ xác định tư cách hưởng di sản của ông T1 đối với bà T2 và bà S như vậy
là hợp lí. Việc Án lệ cơng nhận quan hệ hôn nhân thứ nhất đã chấm dứt và quan hệ hôn nhân thứ hai
là hôn nhân thực tế là giúp cho pháp luật bù đi một lỗ hỏng do thực tế từ trước này 03/01/1987 có
nhiều trường hợp sống chung như vợ chồng với một người nhưng sau đó lại bỏ đi và sống chung
như vợ chồng với một người khác. Nếu thực sự những người trong hôn nhân thực tế thứ nhất đã
chấm dứt quan hệ, khơng ai có tranh chấp về hôn nhân thứ hai và nếu hôn nhân thứ hai thỏa mãn các
điều kiện để được thừa nhận thì chúng ta vẫn nên thừa nhận hơn nhân thứ hai 1. Việc khẳng định như
vậy giúp cho việc xác định được ai có quyền hưởng di sản theo pháp luật được trở nên thuận tiện và
đồng nhất hơn. Tuy nhiên, bản thân Án lệ khơng có xác định thế nào là hôn nhân thực tế nên cần căn
cứ vào điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
03/01/2001:
“Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo
quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
1 Đỗ Văn Đại (2022), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án Tập 2, NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh,
tr.219.
6
lOMoARcPSD|12114775
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc
ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về
chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung
sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.”
II. Xác định con của người để lại di sản:
Tóm tắt Quyết định số 182/2012/DS-GĐT ngày 20/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân
tối cao:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng Nga.
Bị đơn: Ông Phạm Văn Tùng, bà Võ Thị Tình.
Bà Nga là con của cụ Cầu và cụ Dung, ở với hai cụ đến năm 1962 thì đi cơng tác và ở xa nhà.
Sau khi hai cụ chết, bà để ông Tùng ở nhờ và trông coi khối tài sản hai cụ để lại. Ông Tùng được các
cụ cao tuổi trong làng xác nhận đã ở với cụ Cầu và cụ Dung từ lúc hai tuổi do cha mẹ ông Tùng chết
sớm và hai cụ là bà con họ hàng. Ông Tùng đã phụng dưỡng, chăm sóc lúc hai cụ già yếu và lo mai
táng cho hai cụ. Hơn nữa, sau khi hai cụ chết, ơng Tùng đã bảo quản, duy trì khối tài sản của hai cụ,
lấy vợ và vẫn ở trên diện tích đất đang tranh chấp với bà Nga. Bà Nga có nhu cầu sử dụng nên u
cầu ơng Tùng trả lại tài sản. Tòa án giám đốc thẩm đã yêu cầu xác minh lời khai của các nhân chứng
về việc hai cụ nuôi dưỡng ông Tùng và ông Tùng cũng phụng dưỡng hai cụ. Mặt khác, ông Tùng đã
ở đây từ khi hai cụ chết và bảo quản, duy trì khối tài sản này nên cần được xem xét trích cơng sức
cho ơng.
1. Con ni của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý khi trả
lời.
Theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng,
cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Như vậy, con nuôi của người để
lại di sản cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại di sản? Nêu cơ sở
pháp lý khi trả lời.
Theo khoản 1,3,4 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về người được nhận làm con nuôi:
“1. Trẻ em dưới 16 tuổi 2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
7
lOMoARcPSD|12114775
b) Được cơ, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ cơi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hồn cảnh đặc
biệt khác làm con ni.”
Như vậy, pháp luật đã quy định sự giới hạn về độ tuổi để được trở thành con nuôi. Cụ thể, trẻ em
dưới 16 tuổi có thể trở thành con ni theo quy định pháp luật, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
chỉ có thể trở thành con ni nếu thuộc một trong các trường hợp: “được cha dượng, mẹ kế nhận
làm con ni; được cơ, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.” Pháp luật quy định giới hạn về độ
tuổi cho người ở độ tuổi này do họ chưa có sự trưởng thành nhất định về thể chất, tinh thần, theo đó,
họ cần sự quan tâm ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục của người lớn. Mặt khác, quy định độ tuổi của
người con nuôi như vậy cũng tương ứng với quy định của các ngành luật khác như luật lao động,
luật dân sự. Như vậy, quy định về độ tuổi của người được nhận nuôi là tương đối phù hợp về mặt lý
luận và thực tiễn. Ngoài ra, pháp luật còn quy định một người chỉ được nhận làm con nuôi của một
người độc thân hay cả hai người là vợ chồng.
3. Trong Bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn
nào của bản án cho câu trả lời?
- Trong Bản án số 20, bà Tý không được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi.
- Phần Nhận thấy của Bản án có đoạn: “Trước khi chết cụ Thát, cụ Thứ khơng để lại di chúc. Cụ
Tần có để lại mấy lời dặn dò, bà Bằng chắp bút ghi lại ngày 08-6-1994 về việc cho bà Tiến một
phần nhà đất của bố mẹ các bà để lại nhưng ông Thăng không công nhận nên các bà coi như các cụ
khơng để lại di chúc. Các bà có nghe nói trước đây bố mẹ các bà có nhận bà Nguyễn Thị Tý là con
ni, sau đó bà Tý về với bố mẹ đẻ và đi lấy chồng.”
- Vì các con của cụ Thát chỉ nghe nói mà khơng có chứng cứ xác thực nên bà Tý không phải là
con ni của cụ Thát và cụ Tần.
4. Tịa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho
câu trả lời?
- Tịa án khơng coi bà Tý là con ni của cụ Thát và cụ Tần.
- Phần Nhận thấy của Bản án có đoạn:
“1. Xác định cụ Nguyễn Tất Thát có 2 vợ: vợ cả là cụ Nguyễn Thị Tần, vợ hai là cụ Phạm Thị
Thứ.
- Xác định cụ Thát và cụ Tần có 4 người con chung là: Nguyễn Tất Thăng, Nguyễn Thị Bằng,
Nguyễn Thị Khiết, Nguyễn Thị Triển.
- Xác định cụ Thát và cụ Thứ có 1 người con là Nguyễn Thị Tiến.
8
lOMoARcPSD|12114775
- Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ.”
5. Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý.
Giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý là hợp lý vì:
- Nếu bà Tý được nhận nuôi trước khi Luật Hôn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực mà khơng có
giấy tờ xác thực, thì sẽ xác định bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần dựa vào sự xác minh của
người thân, bạn bè, hàng xóm xung quanh. Tuy nhiên, trong trường hợp này các con của hai cụ đều
chỉ là “nghe nói trước đây bố mẹ các bà có nhận bà Nguyễn Thị Tý là con ni” nên khơng có
chứng cứ chứng minh bà Tý là con nuôi của hai cụ.
- Nếu bà Tý được nhận ni sau khi Luật Hơn nhân và gia đình 1986 có hiệu lực, phải dựa trên
Điều 37 của luật này để xác nhận: “Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Tuy nhiên,
trong bản án không đề cập Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của hai cụ và bà Tý
có cơng nhận và ghi vào sổ hộ tịch bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần hay khơng.
Do đó, Tịa án chỉ có thể xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần,
cụ Thứ.
6. Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào?
Vì sao?
Trong Quyết định số 182, Tòa án xét thấy cần phải coi ông Tùng là con nuôi của hai cụ trên thực
tế vì theo lời khai của ơng Tùng về việc hai cụ đã từng nuôi dưỡng ông Tùng và ông Tùng cũng đã
chăm sóc, nuôi dưỡng hai cụ khi già yếu. Nếu ơng Tùng có u cầu được chia đi di sản của hai cụ
thì phải giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, anh Tùng sẽ được hưởng thừa kế với tư
cách là con nuôi.
7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng.
Theo suy nghĩ của chúng em, hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng là thuyết
phục vì:
- Thứ nhất, ơng Tùng là người có cơng sức chăm cho cụ Cầu, cụ Dung khi hai cụ già yếu và khi
hai cụ chết, ông Tùng cũng là người lo mai táng. Ngoài ra, ơng Tùng đã có cơng bảo quản, duy trì
khối tài sản trên của hai cụ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm đã không xem xét đến công
sức cho ơng Tùng mà xác định tồn bộ tài sản tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Nga, chỉ giao
cho ông Tùng sử dụng một phần đất đã cất nhà nhưng phải trả giá trị đất cho bà Nga là chưa đảm
bảo quyền lợi của ông Tùng.
- Thứ hai, trong quá trình giải quyết vụ án, các cụ cao tuổi trong làng đều đã xác nhận ông Tùng
ở với hai cụ từ lúc 2 tuổi. Cụ thể, theo lời khai của các nhân chứng là cụ Thơ, cụ Thọ và cụ Thương
(những người cùng xóm) và lời khai của ông Tùng đều thể hiện: ông Tùng mồ côi cha mẹ từ nhỏ và
9
lOMoARcPSD|12114775
là cháu họ của Cụ Cầu, cụ Dung nên ông Tùng đã được hai cụ đưa về nuôi từ năm 2 tuổi. Như vậy,
nếu hai cụ là người nuôi dưỡng ông Tùng và ông Tùng cũng là người chăm soc, ni dưỡng hai cụ
khi già yếu thì cần phải coi ông Tùng là con nuôi của hai cụ trên thực tế và nếu ơng Tùng có u cầu
được chia di sản của hai cụ thì giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba, theo quan điểm của nhóm, hướng giải quyết của Tịa có sức thuyết phục khi ghi nhận
cơng sức của ơng Tùng do điều này góp phần duy trì, phát triển truyền thống tốt đẹp của con người
Việt Nam khi thúc đẩy con con chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ còn sống (điều này cần thiết trong nền
kinh tế thị trường hiện nay: Lợi ích kinh tế được đề quá cao trong khi đó giá trị đạo lý ngày càng bị
xem nhẹ)2.
8. Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định 182 xảy ra sau khi có Luật hơn nhân và gia
đình năm 1986, anh Tùng có được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung khơng? Vì sao?
- Nếu hồn cảnh tương tự như trong Quyết định 182 xảy ra sau khi có Luật hơn nhân và gia đình
năm 1986, anh Tùng khơng được hưởng thừa kế của cụ Cầu và cụ Dung.
- Vì anh Tùng khơng phải con ni hợp pháp của cụ Cầu và cụ Dung. Anh cũng đã trình bày:
“Cụ Cầu là bác của ơng. Ơng được cụ Cầu, cụ Dung nuôi dưỡng từ nhỏ và ở cùng hai cụ trong
ngơi nhà lá mái gắn liền với diện tích đất 3.127m 2 (hiện bà Nga đang tranh chấp) từ trước năm
1975.” Hơn nữa, các cụ cao tuổi trong làng chỉ xác nhận anh Tùng ở với hai cụ từ lúc 2 tuổi. Nghĩa
là anh Tùng chưa được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cụ Cầu, cụ Dung
hoặc ông công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.
- Cơ sở pháp lý: Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
9. Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ
đẻ, cha nuôi, mẹ ni, con đẻ, con ni của người chết.” Vì vậy con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất
của người để lại di sản.
10. Đoạn nào của bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát?
Đoạn của Bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát là: “Án sơ thẩm căn cứ vào lý lịch của
bà Tiến có xác nhận của chính quyền địa phương thì bà Tiến là con cụ Thát và là em ông Thăng, bà
Bằng, bà Khiết, bà Triển cũng như xác nhận của họ hàng, hàng xóm khẳng định cụ Thứ là vợ cụ
Thất và bà Tiến là con của cụ Thứ, cụ Thát. Tại phiên toà phúc thẩm bà Khiết, bà Tiến xuất trình
bản sơ yếu lý lịch của bà Nguyễn Thị Khiết, có nhận xét của bí thư Ban chấp hành Đảng bộ xã Xuân
La ký ngày 05-7-1966 (bản chính) trong phần hồn cảnh gia đình bà Khiết có ghi: gì ghẻ Phạm Thị
Thứ 45 tuổi; anh Nguyễn Tất Thăng 26 tuổi đi bộ đội; em Nguyễn Thị Tiến 17 tuổi học sinh. Bà Tiến
2 Đỗ Văn Đại (2022), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án Tập 2, NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh,
tr.473.
10
lOMoARcPSD|12114775
cịn xuất trình lý lịch và giấy khai sinh chính do Uỷ ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến
có bố là Nguyễn Tất Thát, mẹ là Phạm Thị Thứ.”
11. Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến.
- Về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến là hợp lý và đã bảo vệ được quyền lợi của bà
Tiến.
- Trong phần Xét thấy của bản án cũng đưa ra những dẫn chứng liên quan đến bà Tiến là “...căn
cứ vào lý lịch của bà Tiến có xác nhận của chính quyền địa phương thì bà Tiến là con cụ Thát và là
em ông Thăng, bà Bằng, bà Khiết, bà Triển…”; “...bản sơ yếu lý lịch của bà Nguyễn Thị Khiết, có
nhận xét của bí thư Ban chấp hành Đảng bộ xã Xuân La ký ngày 05/7/1966 (bản chính) trong phần
hồn cảnh gia đình bà Khiết có ghi: dì ghẻ Phạm Thị Thứ 45 tuổi; anh Nguyễn Tất Thăng 26 tuổi đi
bộ đội; em Nguyễn Thị Tiến 17 tuổi học sinh.”; “Bà Tiến cịn xuất trình lý lịch và giấy khai sinh do
chính Ủy ban nhân dân phường Xuân La cấp ghi bà Tiến có bố là Nguyễn Thị Thát, mẹ là Phạm Thị
Thứ.”
- Bên cạnh đó, cũng có một số nhân chứng xác nhận việc Nguyễn Thị Tiến là con đẻ của cụ Thát:
“Các nhân chứng như cụ Nguyễn Xuân Chi sinh năm 1992 ở tổ ở tổ 37, cụm 5, phường Xuân La;
ông Nguyễn Văn Chung sinh năm 1940 năm 2002 là tổ trưởng tổ dân phố và ơng Nguyễn Hồng
Đăm sinh năm 1947 ở cụm 10, tổ 52 phường Bưởi quận Tây Hồ, Hà Nội (Ơng Đăm là con trai cụ
Nguyễn Thị Vân, mẹ ơng Đăm là con cụ Nguyễn Tất Vặn - cụ Vặn là em ruột của Nguyễn Tất Thát)
đều khẳng định cụ Thứ là vợ hai cụ Thát, bà Tiến là con của cụ Thát và cụ Thứ.”
- Từ tất cả những cơ sở trên đã cho ta thấy được giải pháp của Tịa án liên quan đến bà Tiến là
hồn tồn hợp lí.
12. Ở Việt Nam, con dâu, con rể của người để lại di sản có là người thừa kế của người để lại
di sản không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Ở Việt Nam, con dâu, con rể của người để lại di sản không là người thừa kế của người để lại di
sản.
- Căn cứ theo khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của
người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột
của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
11
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cơ
ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cơ ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
- Vì con dâu và con rể không thỏa quy định ở khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 nên không thể là
người thừa kế của người để lại di sản.
13. Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào xác định con dâu, con rể là người thừa kế của cha
mẹ chồng, cha mẹ vợ khơng? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
- Tồn tại hệ thống pháp luật ở nước ngoài xác định con dâu, con rể là người thừa kế của cha mẹ
chồng, cha mẹ vợ đó là hệ thống pháp luật Ba Lan.
- Hệ thống pháp luật ở nước Ba Lan có đề cập đến việc xác định con dâu, con rể là người thừa kế
của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ. “Chỉ trên cơ sở của một di chúc vì con rể, con dâu khơng thuộc
nhóm người thừa kế theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự. Điều này có nghĩa là di sản
thừa kế từ bố/mẹ vợ, bố/mẹ chồng chỉ có thể được hưởng dựa theo di chúc. Trường hợp người lập di
chúc chuyển tài sản cho con rể, con dâu theo di chúc có thể dẫn đến nghĩa vụ trả phần được bảo
lưu. Những người được hưởng một phần riêng này là con cháu, vợ/chồng và cha mẹ của người lập
di chúc, những người sẽ được pháp luật kêu gọi thừa kế”, pháp luật này ghi nhận quyền thừa kế của
con dâu, con rể.
III. Con riêng của vợ/chồng:
1. Bà Tiến có là con riêng của chồng cụ Tần khơng?
Trong Bản án, Tịa án xác định cụ Tần có hai vợ là cụ Tần và cụ Thứ, trong đó cụ Tần là vợ cả,
cũng xác định luôn con chung của cụ Tần và cụ Thứ là Nguyễn Thị Tiến. Như vậy, bà Tiến là con
riêng của chồng cụ Tần.
2. Trong điều kiện nào con riêng của chồng được hưởng thừa kế di sản của vợ? Nêu cơ sở
pháp lý khi trả lời.
Điều 654 BLDS 2015 quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế: “Con
riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được
thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ
luật này”. Theo đó, để áp dụng được Điều 654, trước khi tồn tại quan hệ giữa con riêng và bố
dượng, mẹ kế thì phải tồn tại quan hệ vợ chồng giữa cha với mẹ kế hay giữa mẹ và cha dượng 3. Tuy
nhiên, mối quan hệ vợ chồng này có cần hợp pháp hay khơng thì pháp luật khơng có quy định rõ
ràng. Điều kiện thứ hai là người con riêng đó phải “có quan hệ chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha
3 Đỗ Văn Đại (2022), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án Tập 2, NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh,
tr.276.
12
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
con, mẹ con”. Vấn đề này cần có sự xem xét kĩ lưỡng các yếu tố từ thực tế, pháp luật, tập quán
phong tục mỗi nơi, điều kiện kinh tế các bên, sự lệ thuộc của con riêng, bố dượng, mẹ kế với
nhau…4 để có thể xác định được quá trình ni dưỡng, chăm sóc này.
3. Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần khơng? Vì sao?
Bà Tiến khơng đủ điều kiện để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần. Vì bà Tiến là con riêng của cụ
Thát và cụ Thứ nên bà Tiến không thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của cụ Tần. Trong bản
án cũng không thể được bằng chứng là bà Tiến “có quan hệ chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha
con, mẹ con” (theo Điều 654 BLDS 2015 hay Điều 679 BLDS 2005). Mặt khác, lời dặn của cụ Tần,
tuy có chia phần cho bà Tiến, nhưng không được xem là di chúc hợp pháp.
4. Nếu bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần thì bà Tiến được hưởng
thừa kế ở hàng thừa kế thứ mấy của cụ Tần? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Bà Tiến không thuộc bất kỳ hàng thừa kế nào của cụ Tần do cả hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai,
thứ ba đều không quy định con riêng của vợ hoặc chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Nếu
được hưởng thừa kế thì bà Tiến chỉ được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Tần trong trường hợp di
chúc hợp pháp và chia phần cho bà.
CSPL: Điều 651, 653, 654 BLDS 2015 (hay Điều 676, 679 BLDS 2005).
5. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tồ án khơng thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với
di sản của cụ Tần.
Việc Tồ án khơng thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với di sản của cụ Tần là hợp lý theo
quy định của pháp luật. Bà Tiến được xác định là con chung của cụ Thứ và cụ Thát, mà cụ Thứ có 2
vợ là cụ Tần và cụ Thát, như vậy, bà Tiến là con riêng của chồng cụ Tần. Căn cứ vào Điều 676
BLDS 2005 thì bà Tiến khơng thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của cụ Tần. Trong trường hợp thừa
kế theo di chúc, trong Bản án đã xem như di chúc của cụ Tần là không hợp pháp và cũng chưa xác
định mối quan hệ chăm sóc của cụ Tần và bà Tiến nên việc Tịa án khơng thừa nhận tư cách thừa kế
của bà Tiến theo Điều 679 BLDS 2005 là có căn cứ.
6. Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về chế định thừa kế liên quan đến hồn cảnh của con riêng
của chồng/vợ trong BLDS hiện nay.
Về chế định thừa kế liên quan đến hoàn cảnh của con riêng của chồng/vợ trong BLDS 2015, tại
Điều 654 quy định con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, ni dưỡng nhau như
cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và cịn được thừa kế di sản. Như vậy, theo Điều
luật này thì con riêng của vợ/chồng khơng được thừa hưởng di sản lẫn nhau, tuy nhiên trong quá
4 Đỗ Văn Đại (2022), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án Tập 2, NXB. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh,
tr.280-281.
13
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
trình chung sống có sự hịa hợp thì vẫn được pháp luật cơng nhận. Điều này là hồn tồn phù hợp
với tinh thần của pháp luật đó là thỏa thuận, hòa giải. Pháp luật đã mở rộng để hai bên có thể thương
lượng trên cơ sở tơn trọng lẫn nhau và làm giảm tỉ lệ kiện tụng về tranh chấp tài sản trong vấn đề
này.
IV. Thừa kế thế vị và hàng thừa kế thứ hai, thứ ba:
Tóm tắt bản án số 69/2018/DSPT ngày 09/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
Nguyên đơn: Anh Thiều Văn C1 (có đại diện theo ủy quyền là luật sư Phan Văn C2).
Bị đơn: Ơng Đỗ Quang V (có đại diện theo ủy quyền là ông Trần Hậu Đ).
Đây là vụ án tranh chấp về việc công nhận quyền thừa kế và tranh chấp di sản thừa kế của bà T5.
Theo đó, vợ chồng cụ M và cụ L (cả hai đều chết và khơng để lại di chúc) có 7 người con gồm: H1
(chết), T1 (chết), H2 (chết), V (chết), N (chết), T5 (chết) và T2 (cịn sống). Bà T5 (khơng có chồng),
nhận con ni là chị C3 (được Tịa án nhận định con nuôi thực tế nên chị C3 là người thừa kế duy
nhất ở hàng thừa kế thứ nhất của bà T5). Năm 2002, chị C3 (chết năm 2007, khơng để lại di chúc)
kết hơn với ngun đơn (có đăng ký kết hơn) và có 2 người con chung là cháu T7 và H4. Do đó, Tịa
án xác định hai cháu là người thừa kế thế vị cho chị C3 để hưởng phần di sản của chị do bà T5 để
lại.
1. Trong vụ việc trên, nếu chị C3 còn sống, chị C3 có được hưởng thừa kế của cụ T5 khơng?
Vì sao?
Trong vụ việc trên, nếu chị C3 cịn sống, chị C3 vẫn được hưởng thừa kế của cụ T5. Vì:
- Căn cứ theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hơn nhân và gia đình thì tại Khoản a
Điều 6 quy định như sau: “…Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịch nhưng
việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiện nghĩa vụ với con ni
thì việc ni con ni vẫn có những hậu quả pháp lý do luật định”. Mặc dù cụ T5 không làm thủ tục
đăng ký nhận con nuôi theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, gia đình của bị đơn đều thừa nhận
chị C3 được cụ T5 nhận nuôi từ năm 1979 và trong q trình ni dưỡng, gia đình có hỗ trợ kinh phí
để cụ T5 chăm sóc, ni dưỡng chị C3. Do đó, mối quan hệ con ni này tồn tại trên thực tế. Thêm
vào đó, sổ hộ khẩu gia đình cụ T5 do Cơng an xã H cấp năm 1995, thể hiện chị C3 có quan hệ với cụ
T5 là con.
- Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ,
chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ ni, con đẻ, con ni của người chết”. Do đó, chị C3 thuộc
hàng thừa kế thứ I của cụ T5, vì cụ T5 khơng có người con nào khác.
14
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Từ các lý lẽ trên thì nếu chị C3 cịn sống, chị C3 vẫn được hưởng thừa kế của cụ T5 theo quy
định của pháp luật.
2. Ở nước ngồi, có hệ thống pháp luật nào ghi nhận thừa kế thế vị trong trường hợp từ chối
nhận di sản/tước quyền hưởng di sản (khơng có quyền hưởng di sản) khơng? Nêu cơ sở pháp lý
khi trả lời.
Tại BLDS Pháp hiện hành, cụ thể là tại Điều 729-1 có quy định về việc cho phép con của người
từ chối nhận di sản hay bị tước quyền hưởng di sản được thừa kế thế vị cho cha hoặc mẹ. Đặc biệt,
người từ chối nhận di sản hay bị tước quyền hưởng di sản sẽ khơng được kiện địi được hưởng phần
hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần di sản này.
3. Ở Việt Nam, khi nào áp dụng chế định thừa kế thế vị? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- CSPL: Điều 652 BLDS 2015.
- Căn cứ theo pháp luật hiện hành cụ thể là Điều 652 BLDS 2015 thì chế định thừa kế thế vị được
quy định như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với
người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được
hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”.
- Như vậy khi người để lại di sản và con họ cùng chết một thời điểm hoặc con họ chết trước. Lúc
này cháu sẽ là người hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng phần di sản của người để
lại di sản. Trường hợp cháu cũng chết trước hoặc chết cùng lúc với người để lại di sản thì chắt được
hưởng phần di sản của cha hoặc mẹ của chắt được hưởng.
4. Vợ/chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ có được hưởng thừa kế thế vị
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Vợ/chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/ mẹ không được hưởng thừa kế thế vị. Căn
cứ theo Điều 652 BLDS 2015 thì những người được hưởng thừa kế thế vị chỉ bao gồm: cháu hoặc
chắt. Chắt là người thừa kế thế vị trong trường hợp cháu của người để lại di sản khơng cịn sống. Do
đó, người được hưởng thừa kế thế vị chỉ là cháu hoặc là chắt của người để lại di sản, không bao gồm
vợ/ chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ.
5. Trong vụ việc trên, Tịa án khơng cho chồng của chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5.
Hướng như vậy có thuyết phục khơng? Vì sao?
Trong vụ việc trên, hướng của Tịa án khơng cho chồng chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 là
thuyết phục. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất
gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” và Điều 677
BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời
điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được
15
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì
chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Như vậy, chị C3
là con nuôi trên thực tế của bà T5, do đó chị C3 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5. Tuy nhiên
chị C3 đã chết năm 2007 và vợ chồng chị C3 có 2 người con là T7 và H4. Do đó 2 cháu T7 và H4 sẽ
là người thừa kế thế vị hưởng phần di sản của chị C3 do cụ T5 để lại. Từ các lý lẽ trên cho thấy
hướng giải quyết của Tòa án khi không cho chồng chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 là hợp lý.
Bởi vì chồng chị C3 là anh C1 không thuộc diện thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật.
6. Theo quan điểm của các tác giả, con đẻ của con nuôi của người q cố có thể được hưởng
thừa kế thế vị khơng?
Con đẻ của con ni đương nhiên có quyền hưởng thừa kế thế vị từ người quá cố. Tại Điều 653
của BLDS 2015 cũng nói rõ ràng rằng con ni cịn được thừa kế di sản theo quy định của Điều 651
(thừa kế theo pháp luật) và Điều 652 (thừa kế thế vị).
7. Trong vụ việc trên, đoạn nào cho thấy Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế
thế vị của cụ T5?
Tại phần Nhận định của Tòa án, Tòa phúc thẩm đã khẳng định: “Năm 2002, chị C3 kết hôn với
anh Thiều Văn C1 và vợ chồng có hai con chung là cháu Thiều Thụy Thùy T7 (sinh năm 2002) và
cháu Thiều Đỗ Gia H4 (sinh năm 2004). Chị C3 (chết năm 2007) và bà T5 (chết năm 2009) cả hai
không để lại di chúc nên hai cháu T7 và H4 được thừa kế thế vị di sản của bà T5 theo quy định tại
Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005.”
8. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của
cụ T5.
Hướng giải quyết của Tịa án là hợp lý. Theo đó, Tịa án đã trích dẫn Điều 677 của BLDS 2005
với nội dung: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu
còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được
hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu cịn sống.” Trong điều luật này, ta có
thể thấy khơng có sự phân định rõ cháu ở đây là cháu nuôi hay cháu ruột như quy định tại Điều 676
BLDS 2005. Từ đó, ta có thể hiểu Điều 677 khơng có sự phân biệt giữa cháu ni và vì thế cháu
ruột và cả hai sẽ được quyền hưởng như nhau. Vì thế, hướng làm của Tịa án là đúng theo quy định
của pháp luật (BLDS 2015 cũng quy định tương tự).
9. Theo BLDS hiện hành, chế định thừa kế thế vị có được áp dụng đối với thừa kế theo di
chúc không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo BLDS hiện hành thì chế định thừa kế thế vị không được áp dụng đối với thừa kế theo di
chúc. Bởi vì thừa kế thế vị chỉ phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật. Còn đối với thừa kế theo
di chúc phải được tuân theo ý chí, nguyện vọng của người viết di chúc. Trường hợp người được
16
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
hưởng di sản theo di chúc chết thì phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật. Lúc này thì chế định
thừa kế thế vị được áp dụng. Thêm vào đó, Điều 652 BLDS 2015 được quy định cụ thể tại Chương
XXIII Thừa kế theo pháp luật.
10. Theo anh/chị, có nên áp dụng chế định thừa kế thế vị cho cả trường hợp thừa kế theo di
chúc khơng? Vì sao?
Theo nhóm, việc áp dụng thừa kế thế vị vào trường hợp thừa kế theo di chúc là khơng thích hợp.
Bởi lẽ, theo Điều 624 BLDS 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết”. Nó là ý chí đơn phương của chủ thể lập ra di chúc và di
chúc đó chỉ có hiệu lực khi chủ thể đó đã chết, nên về cơ bản ta cần phải tơn trọng tuyệt đối ý chí mà
họ để lại đối với tài sản của chính mình (thể hiện nguyên tắc tự định đoạt). Việc thừa kế thế vị tức là
ta đang cho một người khác ngồi ý chí của người lập di chúc được hưởng di sản, khiến cho ý chí
của họ khơng được thực hiện đầy đủ. Vì thế, để bảo tồn cho ý chí của người lập ra di chúc, ta
không nên áp dụng chế định thừa kế thế vị vào trường hợp của thừa kế theo di chúc.
11. Ai thuộc hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba?
* Theo điểm b và c của khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 quy định:
“b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột
của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cơ
ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
- Phân tích điểm b:
+ Ơng bà nội là người sinh ra cha của cháu. Ông bà ngoại là người sinh ra mẹ của cháu. Nếu cháu
ruột chết thì ơng bà nội, ơng bà ngoại là những người ở hàng thừa kế 2 của cháu và ngược lại.
Những người ở hàng thừa kế thứ 2 chỉ có khả năng được hưởng di sản thừa kế khi khơng cịn ai ở
hàng thừa kế thứ nhất (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người
chết), do những người này hoặc đã chết, hoặc khơng có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di
sản hoặc từ chối nhận di sản.
+ Ở điểm b có đề cập “anh ruột, chị ruột, em ruột” thì anh, chị, em ruột ở đây là những người có
thể cùng cha cùng mẹ, cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ. Vì vậy, khơng cần phân biệt con
trong giá thú hay con ngoài giá thú, nếu anh, chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng
thừa kế của anh chị ruột và ngược lại.
+ Con riêng của vợ và con riêng của chồng không phải là anh, chị, em ruột của nhau. Con nuôi
của một người không đương nhiên trở thành anh, chị, em của con đẻ người đó. Do đó, con ni và
con đẻ của một người không phải là người thừa kế hàng thứ 2 của nhau.
17
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
+ Con nuôi và con đẻ của một người không phải là anh, chị, em ruột của nhau nên không thừa kế
hàng thứ hai của nhau.
+ Một người làm con nuôi người khác vẫn được hưởng thừa kế hàng thứ 2 của anh, chị, em ruột
mình. Người có anh, chị, em ruột làm con nuôi người khác vẫn là người thừa kế hàng thứ 2 của
người đã làm con nuôi người khác đó.
- Phân tích điểm c:
+ Trong trường hợp cụ nội, cụ ngoại mất khơng có người thừa kế là con, cháu hoặc có người thừa
kế nhưng họ đều từ chối hoặc bị truất quyền thừa kế thì chắt sẽ hưởng di sản của cụ.
+ Cụ nội là người sinh ra ơng hoặc bà nội của người đó, cụ ngoại là sinh ra ơng hoặc bà ngoại của
người đó.
+ Bác ruột, cơ ruột, dì ruột, chú ruột, cậu ruột, là anh, chị, em ruột với ba hoặc mẹ của cháu. Khi
cháu ruột chết, anh chị em ruột của bố hoặc mẹ là những người hàng thừa kế thứ 3 của cháu ruột và
ngược lại.
- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa
kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu khơng cịn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, khơng có quyền
hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Tài sản khơng có người nhận
thừa kế thuộc về Nhà nước theo Điều 622 BLDS.
12. Trong vụ việc trên, có cịn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 ở thời điểm mở thừa
kế khơng? Vì sao?
- Theo điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Trong vụ việc trên, khơng cịn ai thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 ở thời điểm mở thừa kế.
+ Đầu tiên, bà T5 khơng lấy chồng, vì thế hàng thừa kế thứ nhất khơng có “chồng”, chỉ cịn có
“cha, mẹ, con”.
+ Thứ hai, khi bà T5 chết năm 2009, thì cha mẹ của bà là cụ Hồ Thị L đã chết năm 1993 và cụ Đỗ
Bá M đã chết năm 1978, nghĩa là cha mẹ bà đã chết trước bà nên hàng thừa kế thứ nhất chỉ còn lại
“con”.
+ Cuối cùng, trích từ bản án: “Đồng thời căn cứ vào sổ hộ khẩu (BL238) gia đình bà Đỗ Thị T5
do Công an thị xã H (nay là Công an thành phố H) cấp năm 1995, thể hiện chị C3 có quan hệ với
bà T5 là con, ngồi chị C3 thì bà T5 khơng có con nào khác”. Chị C3 là con nuôi duy nhất của bà
T5, cũng là người thừa kế duy nhất của bà T5. Tuy nhiên năm 2007, chị C3 đã chết, mà bà T5 vào 2
năm sau là năm 2009 mới chết. Nghĩa là chị C3 đã chết trước bà T5. Vì vậy, chị C3 khơng cịn là
người thừa kế của bà T5 nữa.
18
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
13. Trong vụ việc trên, có cịn ai thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 ở thời điểm mở thừa
kế khơng? Vì sao?
- Trong vụ việc trên, cịn bà Đỗ Thị T2 là người thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 ở thời điểm
mở thừa kế. Theo điểm b khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà
nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà
người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại”.
+ Vào thời điểm cụ T5 chết là năm 2009, ông nội, bà nội, ơng ngoại, bà ngoại của cụ khơng được
nói đến thì có thể là đã chết rồi. Do đó, hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 còn lại anh, chị, em ruột và
cháu ruột.
+ Bà T2 là em ruột cùng cha cùng mẹ của cụ T5 vẫn còn sống ở thời điểm mở thừa kế ở đoạn
“Vợ chồng cụ Đỗ Bá M (chết năm 1978) và cụ Hồ Thị L (chết năm 1993) sinh được 07 người con là
Đỗ Thị H1 (chết từ nhỏ), Đỗ Xuân T1 (chết năm 11 tuổi), Đỗ thị H2 (chết năm 1943), Đỗ Xuân V
(chết năm 1997), Đỗ Thị Tuyết N (chết năm 1994), bà Đỗ Thị T5 (chết năm 2009) và bà”.
+ Cụ T5 không lấy chồng và sinh con, chỉ nhận nuôi chị C3 làm con nuôi, chị C3 kết hôn với anh
Thiều Văn C1 và có hai con chung là cháu T7 và H4. Hai cháu T7 và H4 không thuộc hàng thừa kế
thứ hai của cụ T5. Vì theo quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa bố nuôi, mẹ nuôi và con nuôi chỉ
xuất hiện theo sự kiện nhận nuôi con nuôi nên người con nuôi không đương nhiên trở thành cháu
của cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi do vậy cháu T7 và H4 không mặc nhiên trở thành cháu ruột
của cụ T5.
14. Cuối cùng, Tịa án có áp dụng hàng thừa kế thứ hai không trong vụ việc trên? Vì sao?
- Theo bản án, cụ T5 khơng có chồng, cha mẹ của cụ T5 và chị C3 đều đã mất vì vậy cụ T5
khơng có người thừa kế ở hàng thứ nhất. Nếu căn cứ theo khoản 3 Điều 651 BLDS 2015 quy định:
“Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không cịn ai ở hàng thừa kế trước
do đã chết, khơng có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.” thì
sẽ áp dụng hàng thừa kế thứ hai. Tuy nhiên, Tịa án khơng áp dụng hàng thừa kế thứ hai mà áp dụng
thừa kế thế vị cho hàng thừa kế thứ nhất do trong phần Nhận định của Tịa án khơng nhắc đến mối
quan hệ giữa cụ T5 và bà T2. Mà Cụ T5 chết năm 2009 không để lại di chúc, chị C3 chết năm 2007
nên Toà án quyết định trao quyền thừa kế thế vị cho hai cháu là H4 và T7. Ở đây, chị C3 là hàng
thừa kế thứ nhất của cụ T5 nhưng chết trước ở thời điểm mở thừa kế của cụ T5, nên các con của chị
được hưởng di sản với tư cách là người thừa kế thế vị của chị C3.
15. Suy nghĩ của anh/chị về hướng của Tòa án về vấn đề nêu trong câu hỏi trên (áp dụng hay
không áp dụng quy định về hàng thừa kế thứ hai).
- Theo nhóm, hướng giải quyết của Tịa án khơng áp dụng hàng thừa kế thứ hai là hợp lý, thuyết
phục và cần được duy trì. Mặc dù theo khoản 3 Điều 651 BLDS 2015 quy định: “Những người ở
hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu khơng cịn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không
19
Downloaded by Vu Vu ()