lOMoARcPSD|12114775
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 46.1
BÀI TẬP THÁNG THỨ HAI:
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
Mơn học:
GVHD:
Nhóm:
Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế
ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải
03
Thành viên thực hiện:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Họ và tên
Đỗ Tuấn Anh
Phạm Huy Bảo
Trần Văn Bình
Lê Anh Minh Chi
Nguyễn Tường An Chi
Nguyễn Thúy Hiền
Lý Gia Khanh
Trần Vũ Minh Khuê
Huỳnh Quang Ngọc
Nguyễn Ý Quyết
MSSV
2153801090002
2153801090005
2153801090006
2153801090010
2153801090011
2153801090033
2153801090051
2153801090057
1751101030087
1953801012223
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2022
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
BLDS
BLDS 2005
BLDS 2015
TÊN ĐẦY ĐỦ
Bộ luật dân sự
Bộ luật Dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2015
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
TAND
TANDTC
TP.HCM
GDDS
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Thành phố Hồ Chí Minh
Giao dịch dân sự
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU
1
Câu 1.1. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình thức
sở hữu trong BLDS.
1
Câu 1.2. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình thức
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
sở hữu trong BLDS.
1
Câu 1.3. Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai Bộ
luật trên
1
VẤN ĐỀ 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA
KẾ
2
Câu 2.1. Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc khơng minh mẫn
thì di chúc có giá trị pháp lý khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
2
Câu 2.2. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã
quyết định như vậy?
2
Câu 2.3. Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
2
Câu 2.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm. 2
Câu 2.5. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã
quyết định như vậy?
2
Câu 2.6. Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
3
Câu 2.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm. 3
Câu 2.8. Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
Câu 2.9. Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
3
Câu 2.10. Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?
3
Câu 2.11. Di tặng trên có được Tịa án chấp nhận khơng? Đoạn nào của Quyết
định cho câu trả lời?
3
Câu 2.12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến di tặng.
3
Câu 2.13. Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
3
Câu 2.14. Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
3
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Câu 2.15. Truất quyền trên của cụ Biết có được Tịa án chấp nhận khơng? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời?
4
Câu 2.16. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến truất quyền thừa kế.
4
Câu 2.17. Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
4
Câu 2.18. Theo Viện kiểm sát và Tịa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý
phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
4
Câu 2.19. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và
Tòa dân sự.
4
Câu 2.20. Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di
sản” trong chế định thừa kế. Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
4
Câu 2.21. Trong Quyết định năm 2008, theo Viện kiểm sát và Tòa dân sự, bà Nga
có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình khơng? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời?
4
Câu 2.22. Nếu có cơ sở khẳng định bà Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình thì bà Nga có được hưởng thừa kế di sản của ơng
Bình khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
4
Câu 2.23. Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về hướng giải quyết trên của Tịa án liên
quan đến hành vi của bà Nga.
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
1
VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 1.1. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình
thức sở hữu trong BLDS.
Căn cứ vào điều 172 BLDS 2005 có 06 hình thức sở hữu.
Các hình thức sở hữu bao gồm:
-Sở hữu nhà nước.
-Sở hữu tập thể.
-Sở hữu tư nhân.
-Sở hữu chung.
-Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội.
-Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Câu 1.2. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình
thức sở hữu trong BLDS.
Căn cứ từ điều 197 đến điều 220 nằm trong tiểu mục 1, ti ểu m ục 2 và ti ểu m ục 3
Mục 2 Chương XIII BLDS 2015 có 3 hình thức sở hữu lớn đó là sở h ữu tồn dân,
sở hữu chung và sở hữu riêng.
Sở hữu chung còn được chia thành: sở hữu chung theo phần, s ở h ữu chung h ợp
nhất, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu chung của các thành viên gia đình, s ở
hữu chung của vợ chồng, sở hữu chung trong nhà chung cư, sở hữu chung hỗn hợp.
Câu 1.3. Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai
Bộ luật trên.
Nếu trong BLDS 2005, sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể được phân chia thành các
mục khác nhau thì trong BLDS 2015, 2 loại hình sở hữu này được gộp thành s ở hữu
riêng: "Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân." (khoản 1 đi ều
205 BLDS 2015 ). Quy định này đã bao trùm hết các đ ối t ượng đ ược quy ền s ở h ữu
riêng bao gồm cá nhân và pháp nhân. Tương tự như vậy, BLDS 2015 cịn quy đ ịnh
hai hình thức sở hữu cịn lại đó là sở hữu chung và sở hữu tồn dân.
Lý giải cách thức ghi nhận ba hình thức sở hữu như trên, Ban soạn thảo BLDS 2015
phân tích: “Theo quan điểm này thì khi một người (cá nhân, pháp nhân) có tồn
quyền chi phối đối với một tài sản nhất định thì xuất hiện hình th ức s ở h ữu là s ở
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
2
hữu riêng; khi có từ hai người (cả nhân, pháp nhân) trở lên cùng có quyền nhất
định trong việc thực hiện các hành vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài
sản nhất định thì xuất hiện sở hữu chung; khi tồn thể nhân dân thơng qua Nhà
nước của mình thực hiện các quyền của chủ sở hữu thì có s ở hữu tồn dân, mà các
nước gọi là
sở hữu nhà nước”[1]
BLDS 2015 quy định về ba hình thức sở hữu lớn là phù h ợp v ới th ực ti ễn, s ự đ ổi
mới về hình thức sở hữu là tiền đề quan trọng trong động lực phát triển kinh t ế - xã
hội. Trước đây, với việc quy định sáu hình thức sở hữu khác nhau đã phần nào gây
ra sự rắc rối trong việc xác định hình thức sở hữu và đơi khi là khơng cân b ằng v ề
lợi ích giữa các hình thức sở hữu. Việc quy định hình thức sở h ữu ch ỉ bao g ồm: s ở
hữu chung, sở hữu riêng và sở hữu toàn dân đã phản ánh đúng tính chất của sở h ữu.
Đặc biệt, việc quy định cơ sở pháp lý vững chắc về sở hữu chung, sở h ữu riêng và
sở hữu toàn dân đã tạo ra sự yên tâm cho các nhà đ ầu t ư, đ ặc bi ệt là các nhà đ ầu t ư
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Kế thừa quy định trong BLDS 2005, BLDS 2015
về nguyên tắc cũng không giới hạn tài sản và số lượng tài sản mà người dân được
quyền sở hữu (trừ một số hạn chế) và quy định chi tiết các ph ương th ức b ảo v ệ
quyền sở hữu đã tạo ra động lực cho người dân trong việc phát triển kinh tế, tạo lập
của cải, vật chất
Với việc sửa đổi này căn bản đã khắc phục được hạn chế về các hình th ức s ở h ữu
của BLDS 2005 bởi việc xác định các hình thức sở hữu ph ải đ ược d ựa trên tiêu chí
thống nhất. Trong khi đó BLDS 2005 dựa vào tính chất, ch ức năng, nhi ệm v ụ c ủa
các chủ thể mà phân chia thành sáu hình thức khiến các hình thức sở hữu này v ừa b ị
trùng lặp, vừa thừa vừa thiếu. Việc liệt kê chủ thể chưa khoa học vì sự liệt kê có thể
chưa đầy đủ vì cịn có thể có nhiều loại hình tổ chức, các nhóm ng ười phát sinh.
Nếu như có một thành phần kinh tế mới xuất hiện trong xã h ội thì BLDS l ại ph ải
sửa, như vậy tính ổn định của BLDS khơng cao. Từ đó, BLDS 2015 đã khắc phục
được những nhược điểm trên, để quá trình vận dụng pháp luật vào thực tiễn sẽ thuận
lợi hơn và hạn chế nhất định những khó khăn khi giải quyết tranh ch ấp. BLDS năm
2015 đã cố gắng loại bỏ những bất cập trên bằng cách chỉ quy định 3 hình th ức s ở
hữu là sở hữu riêng, sở hữu chung và sở hữu toàn dân3.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
3
Chuyên để 3 "Những nội dung cơ bản của Phần thứ hai "Quyền sở hữu và các vật quy ền khác" - Dự thảo
Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Nguồn lien-quan.aspx?ItemID=275 (truy
cập ngày 11/5/2021)
[2]
Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 , Nhà xuất
bản Tư pháp – Hà Nội, tr.190.
[3]
Trường Đại học Luật TP.HCM (2018), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa k ế (Tái b ản
có sửa đổi, bổ sung), tr.185.
[1]
VẤN ĐỀ 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA
KẾ
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 382/2008/DS-GĐT NGÀY 23/12/2008 CỦA
TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Nguyên đơn là bà Nga được cụ Bình và cụ Như nhận ni từ nhỏ đến khi lập gia
đình đều sống chung nhà với bố mẹ, sau này vì xảy ra mâu thu ẫn nên đã chuy ển ra
ngồi sinh sống. Khi cụ Bình mất, cụ Như có lập di chúc để lại nhà đất cho cháu là
vợ chồng ông Truyền (bị đơn), bà Hằng; tuy nhiên Tòa án c ấp sơ thẩm và phúc
thẩm không công nhận di chúc của bà Như là hợp pháp vì lý do bệnh xá Cơng an
tỉnh An Giang khơng có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc. Ngồi ra, Tịa án
cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định đơn ngày 28-4-2003 do ơng BÌnh ký tên, bà
Như điểm chỉ khơng có giá trị pháp lý vì chưa có quyết định có hi ệu l ực pháp lu ật
của Tịa án về việc chấm dứt việc ni con ni giữa ơng Bình, bà Như với bà Nga,
nên bà Nga vẫn là con ni và vẫn có quyền hưởng thừa kế tài sản của ơng Bình, bà
Như.
TĨM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 545/2009/DS-GĐT NGÀY 26/10/2009 CỦA
TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
- Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Nguyệt (1947) và chồng là ông Lê Sơn Thủy (1942).
-
Bị đơn: bà Đỗ Minh Thuyết (1946).
-
Nội dung:
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
4
Cụ Kiệt (chết ngày 2/3/1998) và cụ Biết (chết ngày 14/1/2001) có 2 ng ười
con là bà Thuyết và bà Nguyệt. Hai cụ chết để lại di sản gồm 1 ngôi nhà và 1 v ườn
cây ăn trái gắn liền với quyền sử dụng đất 6.278 m2 tại huyện Thuận An.
Từ năm 1997-2000, cụ Biết đã 3 lần lập văn bản về việc di tặng tài sản c ủa
mình cho con cháu, cụ thể như sau:
·
Ngày 20/9/1997, cụ Biết đã lập tờ Truất quyền hưởng thừa kế của vợ
chồng bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà đối với những tài sản
chung và riêng của cụ Kiệt. Đồng thời di tặng tài sản cho ba cháu ngoại là
ông Hùng, bà Diễm và ơng Hồng.
·
Ngày 15/9/2000 cụ Biết lại lập di chúc cho vợ chồng bà Nguyệt toàn bộ
tài sản trên.
·
Ngày 3/1/2001 cụ Biết lập di chúc cho bà Thuyết hưởng tồn b ộ tài s ản
trên.
Tịa án Phúc thẩm không công nhận Tờ truất quyền hưởng di sản lập ngày
20/9/1997 và Tờ di chúc lập ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù h ợp
với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn bản.
-
Hướng giải quyết của Tòa án:
·
Chấp nhận kháng nghị số 141 đối với bản án dân s ự phúc th ẩm s ố
263/2007/PTDS.
·
Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 263/2007/PTDS.
·
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm
lại theo quy định pháp luật.
PHẦN TRẢ LỜI
Câu 2.1. Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc khơng minh mẫn
thì di chúc có giá trị pháp lý khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu vào thời điểm bắt đầu lập di chúc, người lập di chúc không minh m ẫn
thì di chúc khơng có giá trị pháp lý.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS 2015 quy định về di chúc hợp pháp: “1.
Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
5
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa d ối,
đe doạ, cưỡng ép;”.
Như vậy vào thời điểm lập di chúc, nếu người lập di chúc đã già y ếu, lú l ẫn ho ặc
mất khả năng nhận thức do bị bệnh tâm thần, đang say rượu, đang lên c ơn nghi ện
ma túy…thì di chúc khơng có giá trị pháp lý. Bởi vậy, khi công ch ứng di chúc ,
công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra năng lực hành vi dân s ự và s ự minh m ẫn,
sáng suốt của người lập di chúc theo quy định của pháp luật về công chứng.
Câu 2.2. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã
quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi l ập
di chúc năm 2005 cụ Như khơng minh mẫn. Tịa phúc thẩm đã quy ết đ ịnh nh ư vậy
vì lý do dựa vào cơng văn của Sở y tế tỉnh An Giang xác đ ịnh B ệnh xá công an ch ỉ
được khám cho cán bộ trong ngành cơng an, cịn việc khám sức khỏe cho cụ Nh ư là
không đúng quy định, đây là khám dịch vụ để xác định di chúc của cụ Như là khơng
hợp pháp.
Theo đó, ở phần Xét thấy có đoạn[1]: “…Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án c ấp phúc
thẩm không công nhận di chúc của bà Như lập ngày 1-1-2005 là di chúc h ợp pháp
vì lý do Bệnh xá Cơng an tỉnh An Giang khơng có chức năng khám s ức khỏe đ ể lập
di chúc là khơng có căn cứ…”.
Quyết định số 382/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa Dân sự TANDTC,
phần Xét thấy, đoạn 3.
[1]
Câu 2.3. Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc 2005 thì cụ Như
vẫn cịn minh mẫn. Trong Quyết định 382 có nêu rõ: “Xét di chúc của bà Trần Thị
Như lập ngày 01/01/2005 do bà Như nhờ ông Lương Văn Ơn, trú tạo 37/2C Thoại
Ngọc Hầu, phường Mỹ Long viết, ông Đặng Kiếm là Tổ trưởng tổ dân phố 1A,
khóm 3 phường Mỹ Long và ơng Phùng Minh Hiếu là Cảnh sát khu vực khóm 3,
phường Mỹ Long ký tên làm chứng trong di chúc. Trong q trình giải quy ết v ụ án,
ơng Ơn, ơng Kiếm và ơng Hiếu đều có lời khai xác nhận tại thời điểm bà Như lập di
chúc, trạng thái tinh thần của bà Như vui vẻ, minh mẫn.”
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
6
Tịa giám đốc thẩm quyết định như vậy vì: ơng Ơn, ơng Kiếm và ơng Hiếu đều có
lời khai xác nhận tại thời điểm bà Như lập di chúc, trạng thái tinh th ần c ủa bà Nh ư
vui vẻ, minh mẫn. Bên cạnh đó, bác sĩ Hiền có kết lu ận tình tr ạng s ức kh ỏe và tinh
thần của bà Như được ghi trong Giấy chứng nhận khám sức khỏe ngày 26/12/2004,
trước ngày bà Như lập di chúc 05 ngày, không mâu thuẫn với lời khai c ủa ông Ơn,
ông Kiếm và ông Hiếu.
Câu 2.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Theo nhóm, quyết định trên của Tịa giám đốc thẩm là hoàn toàn hợp lý, phù
hợp với quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc. Tòa giám đ ốc th ẩm công
nhận di chúc hợp pháp và bà Như lập di chúc trong trạng thái minh mẫn, v ợ ch ồng
ông Truyền, bà Hằng được hưởng theo di chúc của bà Như.
Thứ nhất, Tờ di chúc của bà Như có đủ điều kiện về nội dung và hình thức của di
[1]
[2]
chúc theo quy định tại Điều 625 BLDS 2015
và 627 BLDS 2015
nên hiển
nhiên di chúc này được công nhận là hợp pháp. Tờ di chúc của bà Nh ư là di chúc
được lập bằng văn bản. Bà Như là người thành niên, có năng lực hành vi dân s ự đ ầy
đủ. Trong khi lập di chúc thì bà trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt, không bị đe
dọa, cưỡng ép. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội; hình thức di chúc khơng trái quy định của luật.
Thứ hai, người làm chứng cho di chúc cũng phù hợp v ới điều ki ện t ại Đi ều 632
[3]
BLDS 2015 vì ơng On, ơng Kiếm và Ơng Hiếu là người thành niên, có đ ủ năng
lực hành vi dân sự và cũng không phải là người được hưởng thừa kế, khơng phải là
người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc, nên có c ơ s ở xác đ ịnh
di chúc của bà Như nêu trên đã thể hiện đúng ý chí của bà Như khi lập di chúc.
Thứ ba, kết luận của bác sĩ Hiền về tình trạng sức khỏe tinh th ần c ủa bà Nh ư đ ược
ghi trong giấy chứng nhận khám sức khỏe trước ngày bà Như lập di chúc 5 ngày
cũng khơng có mâu thuẫn với lời khai xác nhận của người làm ch ứng là ông On,
ông Kiếm và ông Hiếu.
[1] Điều 625. Người lập di chúc
1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ lu ật này có quy ền l ập
di chúc để định đoạt tài sản của mình
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
7
2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được l ập di chúc, n ếu đ ược cha, m ẹ ho ặc ng ười
giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
[2] Điều 627. Hình thức của di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
[3] Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nh ận th ức, làm ch ủ
hành vi.
Câu 2.5. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã
quyết định như vậy?
Theo Toà phúc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết khơng minh mẫn.
Quyết định của Tồ phúc thẩm dựa trên ba nguyên do:
- Toà án cho rằng cụ Biết lập di chúc vào ngày 03/01/2001, khi đó cụ đã 84
tuổi.
- Trước đó vào tháng 11, 12 năm 2000 cụ Biết phải nhập viện điều trị với
triệu chứng theo chuẩn đoán là “thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp”.
- Cụ Biết lập di chúc ngày 3/1/2001 thì nhằm ngày 14/1/2001 cụ Biết chết.
Do đó, Tồ phúc thẩm nhận định cụ Biết lập di chúc trong tình tr ạng thi ếu
minh mẫn, sáng suốt.
Câu 2.6. Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 c ụ Bi ết
có minh mẫn.
Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy vì theo lời khai của ông Lương Văn Dầm
và ông Nguyễn Văn Thắng đều xác nhận khi lập di chúc, cụ Biết là người minh mẫn
và đọc nội dung di chúc cho ông Thắng viết. Mặt khác, ngày 04/01/2001 cụ Biết ký
(điểm chỉ) vào hợp đồng cho bà Trần Hoài Mỹ thuê vườn cây với thời hạn 4 năm thì
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
8
theo lời khai của bà Mỹ thì trước ngày ký hợp đồng 1 tuần, c ụ Bi ết còn g ọi bà M ỹ
đến để thoả thuận về việc thuê vườn cây và khi cụ Biết điểm chỉ vào h ợp đ ồng thì
cụ Biết là người minh mẫn, cịn chỉ dẫn cho bà Mỹ cách chăm sóc vườn cây. Do đó,
có căn cứ xác định cụ Biết là người minh mẫn vào thời điểm lập di chúc.
Câu 2.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý.
Đầu tiên, việc Tịa giám đốc thẩm khơng đồng ý việc Tòa phúc thẩm căn c ứ vào đ ộ
tuổi, thời điểm qua đời để kết luận tình trạng minh mẫn là có căn cứ. Cụ thể là, một
người cao tuổi không đồng nghĩa với việc họ không cịn minh mẫn, sáng su ốt. Bên
cạnh đó, khơng có đủ căn cứ để kết luận một cá nhân không minh m ẫn, sáng su ốt
khi lập di chúc nếu người này qua đời chỉ vài ngày sau khi lập di chúc. V ề vi ệc
tháng 11, 12/2000 cụ Biết phải nhập viện điều trị với chẩn đoán “thiếu máu cơ tim,
xuất huyết não, cao huyết áp” khơng nói lên rằng vào thời điểm lập di chúc, cụ Biết
không minh mẫn. Thời điểm cụ nhập viện là trước lúc lập di chúc 01 – 02 tháng nên
không thể kết luận vào lúc lập di chúc cụ (ngày 03/01/2001) không minh mẫn. Cụ
cũng không bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự dựa trên tình trạng bệnh tật này
nên cũng không thể xem cụ Biết không minh mẫn, sáng suốt.
Ngoài ra, chuyên gia Đỗ Văn Đại cho rằng khi người lập di chúc đã cao tu ổi và có
những ứng xử, hành vi mâu thuẫn với nhau hay không đúng thực tế thì khơng có c ơ
sở để cho rằng người này cịn minh mẫn, sáng suốt nếu khơng có ch ứng c ứ khác.
Trong vụ việc này, “chứng cứ khác” thể hiện ở việc Tòa giám đốc thẩm khai thác lời
khai của những người làm chứng cho việc lập di chúc. Đi ều 656 BLDS 2005 quy
định:
“Trong trường hợp người lập di chúc khơng thể tự mình viết bản di chúc thì có th ể
nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm ch ứng. Ng ười l ập di
chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng;
những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào
bản di chúc”.
Như vậy thì người lập di chúc có thể nhờ người viết di chúc hộ nhưng phải có từ hai
người trở lên làm chứng, người lập di chúc phải ký hoặc đi ểm ch ỉ vào di chúc và
người làm chứng cũng phải ký vào di chúc.
Trong Quyết định số 545, cụ Biết đã nhờ ông Thắng viết, cụ Biết điểm ch ỉ, ông
Thắng và ông Dầm cùng ký làm chứng vào di chúc. Nghĩa là di chúc này đã th ỏa
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
9
mãn điều kiện của di chúc có người làm chứng theo quy đ ịnh t ại Đi ều 656 BLDS
2005. Đồng thời ông Thắng, ông Dầm cũng khai rằng lúc điểm chỉ, cụ Biết là người
minh mẫn. Việc khai thác lời khai của những người làm chứng là có cơ sở để chứng
minh sự minh mẫn của cụ Biết khi lập di chúc. Bên cạnh đó, sau khi l ập di chúc 01
ngày, cụ Biết tiếp tục ký hợp đồng với bà Mỹ cho bà Mỹ thuê v ườn cây; theo l ời
khai của bà Mỹ thì trước khi ký hợp đồng, cụ Biết gọi bà đến để th ỏa thu ận, khi ký
hợp đồng cụ còn minh mẫn và cịn hướng dẫn bà Mỹ cách chăm sóc vườn cây. Như
vậy, lời khai của bà Mỹ càng khẳng định việc cụ Biết minh mẫn, sáng su ốt vào th ời
điểm lập di chúc và do đó lập luận của Tịa giám đốc thẩm xác đ ịnh cụ Bi ết minh
mẫn khi lập di chúc là thuyết phục.
Câu 2.8. Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo khoản 1 Điều 646 BLDS 2015: “Di tặng là tặng là việc người lập di chúc dành
một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng ph ải đ ược ghi rõ trong di
chúc”.
Câu 2.9. Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời.
Di tặng là trường hợp đặc biệt của thừa kế theo di chúc, là việc tặng di sản cho m ột
cá nhân hoặc tổ chức bất kì thơng qua di chúc. Chính vì l ẽ đó, đ ể có giá tr ị pháp lý
thì di tặng phải thỏa mãn những điều kiện về nội dung và hình thức tương tự như di
chúc.
Về nội dung: Phải đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 631 BLDS 2015 .
Cụ thể, phải có các nội dung chủ yếu theo quy định tại khoản a Đi ều 631 BLDS
2015 bao gồm thời gian lập di chúc, thông tin của người lập di chúc, thông tin
người được hưởng di sản, di sản và nơi có di sản. Ngồi các thơng tin chủ yếu đó thì
di chúc cũng có thể chứa các nội dung khác nếu cần thiết. Đ ồng th ời, di chúc cũng
không được viết tắt hoặc chứa các ký hiệu, phải đánh số trang nếu có nhiều trang và
có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Nếu có tẩy xóa, sửa đổi, bổ sung thì
người viết di chúc hoặc người làm chứng phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, bổ sung.
Về hình thức: Đảm bảo các điều kiện về hình thức được quy định ở Điều 633, Điều
634 và Điều 635 BLDS 2015.
Đối với di chúc khơng có người làm chứng được quy định ở Điều 633 BLDS 2015 ,
tại đây theo quy định của pháp luật thì người lập di chúc phải tự mình viết và ký vào
di chúc và di chúc phải tuân theo quy định của pháp luật về nội dung di chúc ở Đi ều
631 BLDS 2015.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
10
Điều 634 BLDS 2015 đã quy định nếu người lập di chúc khơng tự mình viết di
chúc thì có thể đánh máy hoặc nhờ người khác viết hộ. Tuy nhiên vi ệc đánh máy
hoặc nhờ người viết để đảm bảo ý chí của người lập di chúc thì phải có ít nh ất hai
người làm chứng và người làm chứng phải ký hoặc điểm chỉ vào di chúc và có s ự
xác nhận của người làm chứng. Bên cạnh đó, người làm chứng phải tuân theo quy
định tại Điều 632 BLDS 2015 .
Điều 635 BLDS 2015 cũng có quy định di chúc có cơng ch ứng ho ặc ch ứng th ực:
“Người lập di chúc có thể u cầu cơng chứng hoặc chứng thực bản di chúc”.
Câu 2.10. Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng tài sản của mình cho ba ng ười cháu
là ơng Hùng, bà Diễm, ơng Hồng.
Theo đoạn chín phần Nhận thấy của Quyết định 545/2009/DS-GĐT ngày 26-102009: “...Cụ Biết di tặng tài sản chung và riêng cho ba cháu ngoại là ông Hùng, bà
Diễm, ông Hoàng. Tờ truất quyền do cụ Biết ký tên và lăn tay”.
Câu 2.11. Di tặng trên có được Tịa án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết
định cho câu trả lời?
Di tặng trên khơng được Tịa án chấp nhận.
Các đoạn của quyết định cho câu trả lời gồm đoạn ba phần Xét thấy của Quy ết đ ịnh
số 545/2009/DS-GĐT ngày 26-10-2009: “Riêng cụ Biết thì từ năm 1997 đến năm
2001 có lập các văn bản gồm “Tờ truất quyền hưởng th ừa kế di s ản” l ập ngày
20/9/1997; “Tờ di chúc” lập ngày 15/9/2000 và “Tờ di chúc” lập ngày 03/01/2001.
Tịa án cấp phúc thẩm khơng cơng nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày
20/9/1997 và “Tờ di chúc” lập ngày 15/9/2000 bởi các văn bản này không phù h ợp
với quy định của pháp luật về cả nội dung và hình thức văn bản là có căn cứ”.
Và đoạn sáu phần Xét thấy của Quyết định số 545/2009/DS-GĐT ngày 26-10-2009:
“...công nhận di chúc của cụ Biết lập ngày 03/01/2001 có hiệu l ực đ ối với tài s ản
của cụ Biết trong khối tài sản chung với cụ Kiệt và phần tài sản cụ Biết được hưởng
thừa kế di sản của cụ Kiệt; phần di sản của cụ Kiệt chia th ừa k ế theo pháp lu ật cho
bà Nguyệt và bà Thuyết”.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
11
Câu 2.12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến di tặng.
Hướng giải quyết của Tòa là hợp lý nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải
quyết về việc Tòa đã hủy đi phần di tặng của cụ Biết dành cho các cháu c ủa mình.
Ta có thể thấy tại khoản 1 Điều 646 BLDS 2015 có quy đ ịnh v ề di t ặng nh ư sau:
“Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di s ản đ ể t ặng cho ng ười khác.
Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc”. Và cũng theo khoản 2 Điều 646 BLDS
2015: “Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai tr ước khi ng ười
để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn
tại vào thời điểm mở thừa kế”. Do đó các cháu ngo ại c ủa ơng đó là ơng Hùng, bà
Diễm và ơng Hồng, 3 người vẫn còn sống và vẫn đ ược nhận di t ặng t ừ ông theo
pháp luật. Trong bản án có đề cập đến phần di chúc c ụ có đề c ập đến vi ệc di t ặng
nên việc di tặng cho các cháu là hoàn toàn h ợp lý. Nh ưng v ẫn còn nhi ều khu ất m ắt
bởi lẽ cụ Biết được nhận tờ ủy quyền phân chia di sản từ cụ Kiệt chứ không phải cụ
Kiệt hoàn toàn định đoạt nên phần di tặng cho các cháu sẽ khơng đ ược Tịa án chấp
nhận.
Câu 2.13. Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Do pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là “truất” nên hiện nay cịn
có nhiều cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm cho rằng, người bị truất quyền hưởng di sản là tr ường h ợp
người lập di chúc thể hiện rõ ràng trong di chúc rằng một hoặc nhiều người th ừa k ế
theo pháp luật khơng có quyền hưởng di sản. Trong tr ường hợp này, n ếu di chúc b ị
vô hiệu tồn bộ, thì tư cách người thừa kế theo pháp lu ật của nh ững ng ười nói trên
khơng ảnh hưởng. Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc có hiệu l ực tồn bộ ho ặc có
một phần vơ hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của việc truất quyền hưởng
di sản thì tư cách người thừa kế theo pháp luật c ủa h ọ đ ương nhiên b ị m ất. Do v ậy,
nếu có phần di sản liên quan đến phần di chúc khơng có hi ệu l ực, đ ược chia theo
pháp luật thì người đó vẫn khơng được hưởng.
Quan điểm khác cho rằng, người thừa kế theo pháp luật c ủa ng ười l ập di
chúc nhưng không được người lập di chúc chỉ định hưởng tài sản. Khi đó ng ười
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
12
thừa kế không được chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản. Trong
trường hợp này, nếu có phần tài sản nào đó khơng được định đoạt trong di chúc,
được chia theo pháp luật thì họ vẫn sẽ được hưởng, vì họ là người thừa kế theo pháp
luật của người để lại di sản, quyền thừa kế của họ có được là do luật định.
Theo nhóm thì truất quyền thừa kế là một quyền của người lập di chúc. Căn
cứ khoản 1 Điều 648 BLDS quy định về quyền của người lập di chúc: “Người lập di
chúc có các quyền sau đây: Chỉ định người thừa kế; truất quyền h ưởng di s ản c ủa
người thừa kế”.
Và nhóm đồng ý với quan điểm của PGS. TS Đỗ Văn Đại, Lu ật th ừa k ế Vi ệt
Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. CTQG 2013 (tái bản lần thứ nhất), Bản án
số 65 và 66, tr.58, 59. Truất quyền hưởng di sản có thể được hiểu là “một người
đáng ra được hưởng di sản của người khác để lại nhưng vì một số lý do họ có th ể
khơng được hưởng di sản này nữa. Đó có thể là do pháp luật quy định hoặc do ý chí
của người để lại di sản”.
Câu 2.14. Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế c ủa bà Nguy ệt
cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt.
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Ngày 20/9/1997 c ụ Bi ết đã l ập t ờ
truất quyền hưởng thừa kế, có nội dung: cụ Biết được cụ Kiệt giao quy ền đ ịnh đo ạt
tài sản theo tờ uỷ quyền ngày 16/7/1997, cụ Biết truất quyền hưởng thừa kế c ủa bà
Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt đối với những tài sản chung và riêng
của cụ Kiệt, cụ Biết tại ấp Bình Phước”.
Câu 2.15. Truất quyền trên của cụ Biết có được Tịa án chấp nhận khơng? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời?
Truất quyền của cụ Biết khơng được Tịa án chấp nhận.
Đoạn sau trong Quyết định số 545/2009/DS-GĐT ngày 26/10/2009 c ủa Tòa dân s ự
Tòa án nhân dân tối cao cho câu trả lời: “Toà án c ấp phúc th ẩm không công nh ận
“Tờ truất quyền hưởng di sản” lập ngày 20/9/1997 (...) bởi các văn bản này không
phù hợp với quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức văn b ản là có căn
cứ”.
Câu 2.16. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến truất quyền thừa kế.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
13
Bà Nguyệt và con nuôi của bà Nguyệt thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông
Kiệt, bà Biết theo pháp luật được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 c ủa BLDS
2015 như sau: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
ni, con đẻ, con ni của người chết” . Vì vậy, ơng Kiệt và bà Biết có thể truất
quyền thừa kế của hai người này thì hướng giải quyết của Tịa án là hồn tồn h ợp
lý. Tuy nhiên, chồng bà Nguyệt không thuộc diện thừa kế theo pháp lu ật nên ông
Kiệt, bà Biết không thể truất quyền hưởng di sản đối với chồng bà Nguyệt.
Đối với phần tài sản của bà Biết (sở hữu chung hay riêng), thì pháp lu ật cho
phép bà Biết truất quyền hưởng di sản của bà đối với ng ười th ừa kế theo pháp lu ật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 626 của BLDS 2015 quy đ ịnh v ề quyền c ủa ng ười
lập di chúc như sau: “Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người
thừa kế”, do đó bà Biết chỉ có thể thực hiện việc truất quyền h ưởng di s ản khi bà
Biết là người lập di chúc, tức có sự thể hiện ý chí c ủa cá nhân nh ằm chuy ển tài s ản
của mình sau khi chết theo Điều 646 BLDS 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của
cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” . Bà Biết có di
tặng tài sản của mình cho 3 người cháu ngoại nên có thể xác đ ịnh bà Bi ết đã l ập di
chúc nên điều kiện theo đó người truất quyền phải là người lập di chúc đ ược th ỏa
mãn. Vì vậy, Tịa án khơng chấp nhận tờ truất quyền hưởng di s ản là khơng hồn
tồn thuyết phục đối với phần tài sản của cụ Biết.
Câu 2.17. Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài s ản là nhà và đ ất
vườn cây ăn trái diện tích 6.278m².
Đoạn của Quyết định cho thấy câu trả lời: “Ngày 03/01/2001 cụ Biết lập di
chúc với nội dung: Sau khi cụ qua đời thì bà Thuyết được tồn quyền thừa hưởng
phần tài sản là nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích 6.278m2. Nội dung di chúc do
cụ Biết đọc cho ông Nguyễn Văn Thắng viết, cụ Biết lăn tay có ơng Thắng và ơng
Lương Văn Dầm làm chứng ký tên”.
Câu 2.18. Theo Viện kiểm sát và Tịa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý
phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Viện kiểm sát và Tòa án dân sự, di chúc năm 2001 có giá tr ị pháp lý
phần di sản của cụ Biết.
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời:“Tại các quyết định giám đốc thẩm số
61/GĐT-DS ngày 25/5/2004 và số 231/2006/DS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa dân
sự Tòa án nhân dân tối cao đều hủy các bản án dân sự phúc thẩm số 48/DS-PT
ngày 21/4/2003 và số 122/2006/DS-PT ngày 22/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
14
Bình Dương và giao hồ sơ vụ án cho Tịa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc
thẩm lại theo hướng công nhận di chúc của cụ Biết lập ngày 03/1/2001 là hợp pháp
phần di sản của cụ Biết, phần di sản của cụ Kiệt chia theo pháp luật; nhưng c ả hai
lần xét xử phúc thẩm lại vụ án này, tuy khơng có thêm chứng cứ m ới nh ưng Tịa án
nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn khơng chấp nhận di chúc của cụ Biết là di chúc hợp
pháp phần di sản của cụ Biết là khơng có căn cứ và chấp hành khơng nghiêm quyết
định của Tịa án cấp giám đốc thẩm”
Câu 2.19. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và
Tòa dân sự.
Theo nhóm, hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Toà dân sự là hợp lý.
Bởi lẽ, di chúc được lập vào năm 2001 là do cụ Biết đọc cho ơng Th ắng vi ết
sau đó cụ Biết điểm chỉ vào di chúc với sự chứng kiến của ông D ầm và di chúc
được lập trong tình trạng cụ Biết còn minh mẫn. Bởi khi cụ Biết thoả thuận về h ợp
đồng thuê vườn cây với bà Mỹ, cụ cịn chỉ bà cách chăm sóc. Từ đó, có thêm căn c ứ
để xác định rằng cụ Biết vẫn còn minh mẫn trong khi lập di chúc.
Căn cứ vào Điều 630 của BLDS 2015 về Di chúc hợp pháp:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa d ối,
đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đ ạo đ ức xã
hội; hình thức di chúc khơng trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập
thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về vi ệc l ập di
chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của ng ười không bi ết ch ữ ph ải
được người làm chứng lập thành văn bản và có cơng chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có cơng chứng, chứng thực chỉ đ ược coi là h ợp
pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cu ối
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi ng ười di
chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép l ại, cùng ký tên
hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể
hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được cơng chứng viên ho ặc c ơ quan có th ẩm
quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”.
Như vậy, ta thấy di chúc của cụ Biết lập vào ngày 03/01/2001 là phần di chúc
hợp pháp và có hiệu lực. Do đó, cụ Biết có quyền định đoạt ph ần tài s ản c ủa mình
và phần di sản thừa kế của cụ Biết phải được chia theo di chúc. Cịn về phần tài sản
của cụ Kiệt thì do cụ Kiệt chết mà không để lại di chúc cho nên phần di s ản th ừa kế
của cụ Kiệt sẽ được chia theo pháp luật.
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
15
Câu 2.20. Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di
sản” trong chế định thừa kế. Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Về chủ thể thực hiện:
Pháp luật thừa kế nước ta ghi nhận truất quyền hưởng di sản thừa kế là quyền của
người lập di chúc, vì thế chủ thể truất quyền thừa kế phải là người lập di chúc. Điểm
này được quy định tại khoản 1 Điều 626 BLDS 2015, theo đó, ng ười l ập di chúc có
quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Tuy nhiên, quy định hạn ch ế
hiệu lực đối với trường hợp truất quyền hưởng di sản thừa kế lại xuất phát t ừ ý chí
chủ quan của nhà nước. Với mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng và c ần thi ết cho
một số người thừa kế, pháp luật thừa kế nước ta đã hạn chế quyền tự do định đoạt
của người để lại di sản. Cụ thể tại Điều 644 BLDS năm 2015, pháp lu ật quy đ ịnh
rằng con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con đã thành niên nh ưng khơng có
khả năng lao động của người để lại di sản là những đối tượng luôn đ ược h ưởng ít
nhất hai phần ba của một suất thừa kế theo pháp luật trong tr ường hợp h ọ không
được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng di sản ít h ơn hai ph ần
ba một suất đó, trừ khi họ từ chối nhận di s ản quy đ ịnh t ại.... hoặc h ọ là nh ững
người khơng có quyền hưởng di sản quy định tại khoản 1 điều 621 BLDS năm
2015.
Bên cạnh đó, chủ thể hạn chế cá nhân khơng được quyền h ưởng th ừa kế là Nhà
nước. Tuy nhiên bản chất bản chất của quy định hạn chế hiệu lực về khơng cho cá
nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo khoản 2 Điều 621 BLDS năm 2015 lại
xuất phát bởi ý chí của người lập di chúc. Quy định tại khoản 2 tuân thủ nguyên t ắc
tôn trọng tự do ý chí của người để lại di chúc cũng như bảo vệ quyền nhân thân, s ự
bình đẳng của những người được hưởng thừa kế nếu như xuất hiện sự gian dối tại
khoản 1 điều này, như vậy, những quy định tại khoản 1 đi ều này b ị h ạn ch ế b ởi
khoản 2. Qua đó, thể hiện rõ quyền tự do ý chí của người lập di chúc đối với việc
dịch chuyển tài sản của mình sau khi chết.
Về hình thức áp dụng:
Điều 626 BLDS năm 2015 quy định truất quyền hưởng di sản th ừa k ế là quy ền c ủa
người lập di chúc mà không phải là quyền của người để lại di sản. Tức là, khi và ch ỉ
khi tồn tại di chúc mới có thể truất quyền hưởng di sản thừa kế. Vì v ậy, tru ất quyền
hưởng di sản chỉ có thể được áp dụng đối với hình thức thừa kế theo di chúc.
Trường hợp người thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp lu ật có hành vi vi
phạm pháp luật gây ảnh hưởng tới người để lại di sản hoặc ng ười th ừa k ế khác,
được quy định tại Điều 621 BLDS 2015 có thể bị pháp luật tước quyền h ưởng di
sản thừa kế. Như vậy, tước quyền hưởng di sản thừa kế được áp dụng trong cả hai
hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Về đối tượng:
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
16
Người bị truất quyền hưởng di sản thừa kế luôn là người thừa kế theo pháp luật của
người lập di chúc.Vì theo khoản 1 Điều 626 BLDS 2015 quy định rằng, người lập
di chúc được “truất quyền hưởng di sản của người thừa kế” nên được hiểu rằng nếu
như không bị truất thì họ là một trong những người thừa kế của người để lại di sản.
Những người bị truất quyền hưởng di sản có thể có hoặc khơng có những hành vi vi
phạm pháp luật đối với người để lại di sản cũng như những người th ừa k ế khác.
Những người này có thể hồn tồn xứng đáng và đáp ứng đầy đủ điều kiện mà pháp
luật quy định để hưởng di sản nhưng người lập di chúc định đoạt họ không được
hưởng di sản nên họ không có quyền hưởng di sản.
Khác với trường hợp bị truất quyền hưởng di sản thừa kế, người bị tước quyền
hưởng di sản không bị giới hạn là người thừa kế theo luật của người l ập di chúc.
Người bị tước quyền hưởng di sản thừa kế là những người vi phạm pháp lu ật, có
những hành vi vi phạm đạo đức, ảnh hưởng tới sức khỏe, nhân thân, ý chí của người
để lại di chúc, giả dối, tạo phần lợi về mình, tạo sự bất bình đằng giữa những người
thừa kế...
Về lý do:
Người lập di chúc có thể có nhiều lí do mang tính ch ủ quan đ ể tru ất quy ền
thừa kế của một hoặc một vài cá nhân. Có thể dựa trên ph ương di ện kinh t ế ho ặc
cũng có thể dựa trên phương diện tình cảm. Trên thực tế, trong quan hệ gia đình, tuy
có quan hệ huyết thống nhưng lại nảy sinh nhiều vấn đề và có thể dẫn tới mâu thuẫn
khiến ý chí người để lại di chúc khơng muốn người cịn sống s ẽ đ ược nh ận di s ản
của mình. Pháp luật khơng quy định bắt buộc người lập di chúc ph ải nêu rõ lí do
truất quyền thừa kế của một chủ thể, người để lại di sản có thể truất quyền th ừa k ế
của một hay một số người mà không cần đưa ra bất c ứ lí do nào, hồn tồn tơn
trọng ý chí tự do định đoạt của người để lại di sản.
Nhưng ngược lại, đối với trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản
thừa kế phải xuất phát từ lí do rõ ràng, cụ thể đó là: họ có nh ững hành vi trái pháp
luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh d ự, nhân
phẩm,... của người để lại di sản hoặc những người thừa kế khác. Và họ phải b ị kết
án do hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe hoặc hành vi về ngược đãi
nghiêm trọng. hành hạ người để lại di sản; người bị kết án về hành vi c ố ý xâm
phạm tính mạng người khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà
người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi l ừa d ối, c ưỡng ép ho ặc ngăn
cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chú, h ủy di chúc nh ằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản trái với ý chí người để lại di sản.
Về hệ quả pháp lý:
Một người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản nghĩa là họ sẽ không được
hưởng di sản thừa kế của người để lại di sản dưới một hình thức thừa k ế nào k ể c ả
thừa kế theo pháp luật lẫn thừa kế theo di chúc. Tuy nhiên, trường hợp người thừa
Downloaded by Vu Vu ()