lOMoARcPSD|12114775
BT LỚN HỌC KỲ NHÓM 5 DS46B1
Luât Dân sự 1 (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
--- ---
Môn học: Hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
Lớp: 127-DS46B
Nhóm 5
DANH SÁCH CÁC SINH VIÊN THỰC HIỆN
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Họ và Tên
Trịnh Thị Thanh Thái
Trần Thị Nguyệt Thanh
Nguyễn Thị Thảo Nguyên
Trần Nguyễn Thế Nhân
Võ Hồng Nhi
Lê Hồng Nhung
Lị Thụy Hồng Nhung
Dương Tơn Triều Phát
Nguyễn Thị Thúy Quỳnh
Hồ Ngọc Sung
Niên khóa: 2022-2023
MSSV
2153801012207
2153801012208
2153801012151
2153801012154
2153801012158
2153801012159
2153801012160
2153801012169
2153801012187
2153801012195
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
TỪ VIẾT TẮT
BLDS 2015
TAND
TỪ VIẾT ĐỦ
Bộ luật Dân sự 2015
Tòa án nhân dân
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
3
4
5
GĐ – ST
VKSND
….
Giám đốc – sơ thẩm
Viện kiểm sát nhân dân
…
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.......................................5
* Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân
TP.Tuy Hòa tỉnh Phú Yên.......................................................................................5
Câu 1: Theo Tồ án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thơng tin cho bên mua về lô
đất chuyển nhượng không?.....................................................................................6
Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải
cung cấp thơng tin về lơ đất chuyển nhượng khơng? Vì sao?................................6
Câu 3: Việc Tồ án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có
thuyết phục khơng? Vì sao?....................................................................................6
Câu 4: Đối với hồn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo
hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn khơng? Vì sao?.................7
VẤN ĐỀ 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VÔ
HIỆU.................................................................................................................................. 8
* Tóm tắt Quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/04/2020 của Hội đồng thẩm
phán Tịa án nhân dân tối cao..................................................................................8
* Tóm tắt Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 của Tòa dân sự
Tòa án nhân dân tối cao..........................................................................................9
Câu 1: Khi nào hợp đồng vơ hiệu một phần, vơ hiệu tồn bộ? Nêu cơ sở pháp lý
khi trả lời.................................................................................................................9
Câu 2: Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài
sản chung của hộ gia đình mà khơng có sự đồng ý của tất cả các thành viên của
hộ gia đình?...........................................................................................................10
Câu 3: Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo
hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần?...............................10
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng
chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần............................................................11
Câu 5: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS
2015.......................................................................................................................11
Câu 6: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác
định như thế nào?..................................................................................................12
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Câu 7: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như
thế nào?.................................................................................................................12
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tịa dân sự................13
Câu 9: Với các thơng tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường
khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?................................................................13
VẤN ĐỀ 3: BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CÓ THỜI HẠN.. . .14
* Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa
án nhân dân tối cao...............................................................................................14
Câu 1: Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?............................14
Câu 2: Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn
bảo lãnh của Ngân hàng khơng?...........................................................................14
Câu 3: Theo Tồ án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện
Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có cịn
trách nhiệm của người bảo lãnh khơng? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời?
...............................................................................................................................14
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối
cao.........................................................................................................................15
VẤN ĐỀ 4: GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG DO HỒN CẢNH KINH TẾ KHĨ
KHĂN.............................................................................................................................. 15
Tình huống: Anh Nam là người thuộc quản lý của UBND xã, đã vơ ý gây thiệt
hại cho bà Chính khi thực hiện công việc được UBND xã giao. Thực tế, thiệt hại
quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam và Tòa án đã áp dụng các quy định
về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh
Nam để ấn định mức bồi thường...........................................................................15
Câu 1: Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do
thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế..............................................................16
Câu 2: Trong tình huống nêu trên, việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm
mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn
định mức bồi thường có thuyết phục khơng? Vì sao?...........................................17
VẤN ĐỀ 5: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY
RA.................................................................................................................................... 17
* Tóm tắt Quyết định số 30/2010/DS-GĐT ngày 22/01/2010 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao...............................................................................................17
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi
thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?...........................................18
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.......................................................................18
Câu 3: Tịa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt
hại không?.............................................................................................................18
Câu 4: Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường giây hạ thế gây thiệt hại?..............18
Câu 5: Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
gia đình nạn nhân?................................................................................................18
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân
tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
gia đình nạn nhân..................................................................................................19
VẤN ĐỀ 6: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CƠNG VỤ GÂY
RA.................................................................................................................................... 19
* Tóm tắt Bản án số 02/2015/HSST ngày 15/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Yên.................................................................................................................19
Câu 1: Những khác biệt cơ bản về thiệt hại được bồi thường khi một cá nhân chết
theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và BLDS..................................20
Câu 2: Hồn cảnh như trong vụ việc trên có được Luật trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước điều chỉnh khơng? Vì sao?.............................................................21
Câu 3: Nếu hoàn cảnh như trong vụ án trên xảy ra sau khi BLDS 2015 có hiệu
lực thì hướng giải quyết có khác hướng giải quyết trong vụ án khơng? Vì sao?..22
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
VẤN ĐỀ 1: THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.
* Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tịa án nhân dân TP.Tuy
Hòa tỉnh Phú Yên.
Nguyên đơn: vợ chồng ông Linh; bị đơn vợ chồng ông Thành. Hai bên tranh chấp
với nhau về việc “tranh chấp đặt cọc”. Cụ thể với lý do ơng Linh có đặt cọc mua một
miếng đất của ông Thành nhưng tuy nhiên, sau khi đặt cọc ông Linh mới biết được lô đất
ông đang mua của ơng Thành đã bị thu hồi. Ơng Linh yêu cầu ông Thành trả lại
50.000.000 triệu tiền cọc cho mình vì khơng cung cấp rõ thơng tin về lơ đất, nhưng ông
Linh không đồng ý và cho rằng ông Linh phải chủ động tự biết thông tin này và chỉ đồng
ý hồn lại một nửa số tiền mà ơng Linh đã đặt cọc. Tòa án ra quyết định hợp đồng đặt cọc
giữa hai bên đương nhiên bị vô hiệu, u cầu ơng Thành hồn trả lại tồn bộ số tiền mà
ơng Linh đã đặt cọc trước đó.
Câu 1: Theo Tồ án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thơng tin cho bên mua về lơ đất
chuyển nhượng khơng?
Theo Tồ án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thơng tin cho bên mua về lô đất
chuyển nhượng. Căn cứ vào phần Xét thấy của Tòa án: “Xét về lỗi của các bên dẫn đến
giao dịch dân sự vơ hiệu thì thấy rằng:...Vợ chồng ông Thành là người cho rằng là chủ
quyền sử dụng đất nói trên buộc phải biết và đương nhiên phải biết tồn bộ diện tích đất
mua bán với vợ chồng ông Linh là thuộc đất nông nghiệp cấp theo Nghị định 64 và đã
được thông báo nằm trong quy hoạch giải tỏa, mặt khác, đất này không đứng tên của vợ
chồng ông Thành nhưng đã cung cấp thông tin sai dẫn đến sự nhầm lẫn nên vợ chồng
ông Linh đã xác lập giao dịch...”
Câu 2: Đối với hồn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung
cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng khơng? Vì sao?
Đối với hồn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp
thơng tin về lô đất chuyển nhượng. Căn cứ Điều 443 BLDS 2015: “Bên bán có nghĩa vụ
cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng
tài sản đó; nếu bên bán khơng thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên
bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho
bên mua khơng đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp
đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Trong hoàn cảnh vụ án, do ông Linh không yêu
cầu ông Thành cung cấp thơng tin và giữa 2 ơng có thỏa thuận rằng ông Thành được
miễn trách nhiệm cung cấp thông tin. Thay vào đó, thơng tin về lơ đất sẽ do ơng Linh tự
tìm hiểu. Do vậy, khơng thể truy cứu trách nhiệm buộc ông Thành bồi thường thiệt hại.
6
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Ơng Thành chỉ có nghĩa vụ cung cấp thơng tin nếu khơng có thỏa thuận liên quan đến
cung cấp thơng tin với ông Linh và ông Thành chỉ bị buộc bồi thường thiệt hại khi ông
Linh yêu cầu ông cung cấp thông tin trong một thời hạn hợp lý nhưng ông không thực
hiện.
Câu 3: Việc Toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vơ hiệu do nhầm lẫn có thuyết
phục khơng? Vì sao?
Hướng giải quyết trên của Tịa là khơng hợp lý. Vì Tịa án chỉ quan tâm đến hậu
quả của việc nhầm lẫn đã đến không đạt được mục đích của giao dịch. Thực chất, nhầm
lẫn trong giao dịch dân sự “là sự khơng trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn
thật sự của người thể hiện ý chí”. Trong một bài viết nghiên cứu đã nêu “Chúng tơi (cho
rằng) khơng nên chỉ lấy tiêu chí đạt hay khơng đạt được mục đích của giao dịch dân sự để
xác định nhầm lẫn là điều kiện để yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, mà còn cần
phải xem xét vấn đề người mua và những người bình thường khác có ký kết hợp đồng
hay khơng nếu họ biết được tình trạng thực tế liên quan đến hợp đồng”[3]. Cụ thể, ta phải
xem xét liệu người bị nhầm lẫn có “biết hoặc phải biết” rằng họ bị nhầm lẫn khi giao kết
hợp đồng hay không. Trong trường hợp này, bên bị nhầm lẫn mặc dù khơng biết nhưng
xuất phát từ điều kiện, hồn cảnh cụ thể họ buộc phải biết về khả năng họ bị nhầm lẫn
nhưng đã khơng có những hành vi, biện pháp để khắc phục (trong tình huống này, những
người bình thường khác sẽ không ký kết hợp đồng, thực hiện giao dịch). Như vật, mặc dù
khơng đạt được much đích của hợp đồng nhưng bên bị nhầm lẫn khơng có quyền u cầu
tun bố hợp đồng vơ hiệu. Theo đó, trong hồn cảnh trên, hướng giải quyết của Tịa án
là khơng hợp lý. Vì thơng tin về việc thu hồi đất cũng như quyền sử dụng đất của lô đất
trên, vợ chồng ơng Linh đã khơng xác thực rõ ràng, chính xác. Như vậy, họ đã khơng có
những hành vi, biện pháp để khắc phục.
Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo
hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn khơng? Vì sao?
Căn cứ vào Bản án số 8A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tịa án nhân dân Thành
phố Tuy Hịa, tình Phú Yên liên quan đến vụ việc “Tranh chấp đặt cọc” đồng thời đối
chiếu với chế định liên quan đến “Giao dịch dân sự vơ hiệu do nhầm lẫn” thì trong
trường hợp này, Bộ luật Dân sự năm 2015 không theo hướng cho phép xử lý theo hướng
giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn. Để làm rõ vấn đề nêu trên, cần đối chiếu
với Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015 và so sánh với hoàn cảnh như trong bản án để
làm rõ vấn đề.
7
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Cụ thể, khoản 1 Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “1. Trường
hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên khơng
đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền u cầu Tịa
án tun bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”.
Như vậy, trong trường hợp này Bộ luật Dân sự năm 2015 không định nghĩa nhầm
lẫn là gì nhưng đã cho biết hệ quả của giao dịch nhầm lẫn cũng như các yếu tố để nhận
biết sự nhầm lẫn. Để chứng minh có yếu tố nhầm lẫn cần phải căn cứ vào các yếu tố sau
đây:
Thứ nhất, phải là giao dịch dân sự: căn cứ theo Điều 116: “Giao dịch dân sự là
hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, yếu tố đầu tiên đã thỏa mãn vấn đề nêu trên. Trong vụ
án nêu trên, các bên đã có giao kết hợp đồng và có sự thỏa thuận, trong trường hợp này
yếu tố đầu tiên đã hội đủ và đáp ứng tiêu chí về giao dịch dân sự như đã nêu ở trên.
Thứ hai, việc nhầm lẫn này làm cho một bên hoặc các bên khơng đạt được mục
đích của việc xác lập giao dịch: trong trường hợp này, mục đích của việc xác lập giao
dịch chính là kết quả cuối cùng mà các bên hướng đến trong giao dịch dân sự nói chúng.
Tuy nhiên, do có sự nhầm lẫm (có thể từ một trong hai bên giao kết) đã dẫn đến việc giao
dịch này khơng đạt được mục đích và cần lưu ý việc nhầm lẫn này trong phạm vi, khuôn
khổ ra sao và không phải lúc nào cũng là nhầm lẫn. Theo quan điểm GS.TS Đỗ Văn Đại:
“Kinh nghiệm thực tế cho thấy: “nhầm lẫn” là sự khác nhau giữa nhận thức của một bên
về một vấn đề và thực tế của vấn đề này. Chẳng hạn, một bên nhận thức rằng đây là thật
nhưng thực tế là giả và thực tế đều có thể được coi là nhầm lẫn”. Trong vụ việc nêu trên,
giao dịch dân sự có đối tượng là bất động sản, cụ thể là đất và có đăng ký, việc chuyển
quyền này cần phải có sự tìm hiểu một cách kỹ lưỡng. Tuy nhiên, bên mua lại khơng nắm
rõ tình trạng đất cũng như chủ sở hữu của mảnh đất nhận chuyển nhượng, còn bên bán lại
chưa thực sự rõ ràng. Trong trường hợp này, mặc dù khơng đạt được mục đích nhưng
chưa thực sự rõ ràng để xác minh có sự nhầm lẫn hay khơng mà cịn phụ thuộc vào ý chí,
ngun nhân của các bên.
Trong trường hợp nêu trên đồng thời đối chiếu với quy định tại Bộ luật Dân sự
năm 2015, dường như chưa chắc chắn rằng sẽ cho phép Tòa án tuyên bố theo hướng giao
dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn bởi lẽ từ những yếu tố và lập luận nêu trên, chúng ta
thấy được rằng nhầm lẫn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và cần xem xét để đưa ra kết
luận chính xác nhất. Tóm lại, trong vụ án nêu trên và đối chiếu với các quy định tại Bộ
luật Dân sự năm 2015, việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn dường như
8
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
chưa thực sự thuyết phục và chưa đáp ứng các tiêu chí như đã nêu ở phần lập luận phía
trên liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn.
VẤN ĐỀ 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VƠ
HIỆU.
* Tóm tắt Quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/04/2020 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: anh Vũ Ngọc Khánh, Vũ Ngọc Tuấn, chị Vũ Thị Tường Vy. Bị đơn:
ông Trần Thiết Học, Đào Thị Mỹ. Ông Long mất để lại cho vợ là bà Dung và các con là
nguyên đơn. Thời điểm bà Dung là chủ hộ đã ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất
252,6 m2 cho vợ chồng ông Học nhưng khơng có sự đồng ý của các ngun đơn. Do
chứng thực hợp đồng ủy quyền không đúng với quy định của pháp luật nên hợp đồng
chuyển nhượng vi phạm cả về hình thức và nội dung. Hội đồng thẩm phán đã theo hai
hướng phải xác định rõ phần đất nêu trên là đất cấp cho hộ gia đình hay đất được thừa kế
và xác định hợp đồng vô hiệu một phần: quyền sở hữu của bà Dung đã chuyển cho vợ
chồng ông Học nếu đúng quy định của pháp luật thì có hiệu lực. Bởi lẽ đó, hủy bản án sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, giao vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử
lại.
* Tóm tắt Quyết định số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 của Tịa dân sự Tịa án
nhân dân tối cao.
Ngun đơn: ơng Trịnh Văn Vinh.
Bị đơn: ông Đào Văn Lộc và bà Hồng Thị Lan.
Vợ chồng ơng Lộc và bà Lan ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Vinh với giá 120.000.000 đồng nhưng sau đó lại ký hợp đồng khác với giá
100.000.000 đồng. Ông Vinh đã đưa trước cho vợ ơng Lộc 45.000.000 đồng, sau đó ơng
Vinh phải trả thêm 2 đợt nữa. Ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền 2 đợt sẽ giao sổ đỏ cho
ông Vinh nhưng ông Vinh không giao tiếp tiền cho ông Lộc và ông Lộc cũng không giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ơng Vinh. Tịa án tối cao xét thấy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên khơng được chính quyền địa phương cho
phép chuyển nhượng. Hơn nữa, ông Vinh mới trả cho ông Lộc được 45.000.000 đồng
bằng 45% giá trị thửa đất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Vinh và ông Lộc bị vơ hiệu. Tịa án cấp sơ thẩm và
Tịa án cấp phúc thẩm hủy hợp đồng là có cơ sở. Tuy nhiên khi giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh được chính
xác mức độ lỗi của các đương sự làm cho hợp đồng vô hiệu. Việc xác định thiệt hại của
hợp đồng vô hiệu cũng không chính xác. Trong trường hợp này, ơng Vinh mới trả được
45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất 100.000.000 đồng tức là mới trả 45% giá trị
thửa đất, cả hai bên cùng có lỗi thì khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vơ hiệu thì ơng
Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá
9
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
thị trường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại buộc vợ chồng ơng Lộc bồi thường
thiệt hại ½ giá trị của toàn bộ thửa đất theo giá thi trường là không đúng.
Câu 1: Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vơ hiệu tồn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời.
Căn cứ vào Điều 130 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một
phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng khơng ảnh hưởng đến hiệu lực của
phần cịn lại của giao dịch.” và căn cứ vào Điều 122 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự
khơng có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vơ hiệu,
trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.” Mà các điều kiện được quy dịnh tại Điều
117 BLDS 2015 bao gồm:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hồn tồn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,
khơng trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp luật có quy định.”
Như vậy, nếu hợp đồng không đáp ứng một trong các điều kiện trên thì sẽ bị vơ
hiệu tồn bộ, còn nếu như một phần nội dung của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh
hưởng đến hiệu lực của phần cịn lại của hợp đồng thì hợp đồng đó bị vô hiệu một phần.
Câu 2: Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản
chung của hộ gia đình mà khơng có sự đồng ý của tất cả các thành viên của hộ gia
đình?
Căn cứ vào Quyết định giám đốc thẩm số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/4/2020 của
Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến vụ việc: “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”. Liên quan đến việc chuyển nhượng tài
sản chung của hộ gia đình mà khơng có sự đồng ý của tất cả các thành viên hộ gia đình
được thể hiện rõ thơng qua đoạn trích sau đầy:
(1) “Tịa án cấp sơ thẩm xác định tại thời điểm chuyển nhượng, cả bà Dung và vợ
chồng ông Học, bà Mỹ đều nhận thức được tài sản chuyển nhượng là tài sản của hộ gia
10
lOMoARcPSD|12114775
đình bà Dung, việc chứng thực Hợp đồng ủy quyền ngày 27/7/2011 không đúng the quy
định pháp luật, nhưng hai bên vẫn ký kết.”.
(2) “Trường hợp này, do các thành viên trong gia đình khơng có thỏa thuận về
quyền sủ dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, nên xác định quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của các thành viên trong hộ gia đình theo
phhaafn và áp dụng quy định về sở hữu chung để giải quyết.”.
Tóm lại, từ hai đoạn trích nêu trên chúng ta thấy được rằng việc chuyển nhượng
tài sản chung của hộ gia đìng mà khơng có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ
gia đình được thể hiện rất rõ và làm sáng tỏ vấn đề nêu trên.
Câu 3: Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng
hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần?
“… Theo đó, phần quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà của bà Dung đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông Học nếu đúng quy định của pháp luật thì có hiệu lực. Cịn
phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy là vô hiệu…”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng
chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần.
Việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu
phần là hợp lý.
Bởi vì căn cứ theo quy định của pháp luật, tài sản của hộ gia đình là tài sản chung,
các thành viên hộ gia đình được xác định là đồng chủ sở hữu đối với những tài sản này.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình được thực hiện theo sự
thỏa thuận của các thành viên. Trong trường hợp trên, tài sản chung khơng có sự thỏa
thuận giữa các thành viên còn lại trong gia đình về việc thực hiện quyền của chủ sở hữu
đối với tài sản chung thì việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản này được thực hiện
theo quy định pháp luật về tài sản thuộc hình thức sở hữu chung theo phần, tức là trong
đó, phần sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định. Căn cứ theo đó, Hội đồng thẩm phán
có cơ sở để xác định bà Dung thực hiện việc chuyển nhượng phần đất thuộc quyền sở
hữu của bà cho vợ chồng ông Học, nếu đúng yêu cầu về nội dung và hình thức theo quy
định của pháp luật thì vẫn có hiệu lực. Vì vậy, khơng thể nào vơ hiệu tồn bộ hợp đồng
mà chỉ vơ hiệu một phần hợp đồng đó. Đối với phần tài sản khơng có sự thỏa thuận của
các thành viên cịn lại trong gia đình thì vơ hiệu theo quy định tại Điều 135 BLDS 2005
là hợp lý. Việc theo hướng hợp đồng chỉ vô hiệu một phần là đúng quy định của pháp
luật, phù hợp với tình huống trên. Bởi lẽ hợp đồng được giao kết dựa trên cơ sở sự tự do
11
lOMoARcPSD|12114775
của ý chí, nếu Hội đồng thẩm phán vơ hiệu cả phần giao dịch liên quan phần tài sản thuộc
quyền sở hữu của bà Dung thì khơng phù hợp với nguyên tắc cơ bản của một hợp đồng
và chưa đảm bảo được quyền và lợi ích của bà Dung.
Câu 5: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.
Thứ nhất, vấn đề “khôi phục tình trạng ban đầu”: Về nguyên tắc chung, tại Điều
137 BLDS 2005 và Điều 131 BLDS 2015 đều theo hướng “giao dịch dân sự vô hiệu
không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời
điểm xác lập”. Khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì các bên khơi phục lại tình trạng ban đầu,
hồn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Nhưng
tại BLDS 2015 có một số bất cập xảy ra như tại khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định
về hậu quả của giao dịch vô hiệu như sau: “Khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì các bên khơi
phục lại tình trạng ban đầu, hồn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp khơng thể
hồn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hồn trả” nhưng trong thực tiễn áp
dụng pháp luật thì, “khơi phục lại tình trạng ban đầu” thường được đồng nhất với “hồn
trả cho nhau những gì đã nhận”. Khơng những thế, trong trường hợp đối tượng hợp đồng
là tài sản nhưng tài sản khơng cịn giữ được tình trạng như ban đầu hay đối tượng hợp
đồng là công việc (dịch vụ) đã được thực hiện mà có căn cứ xác minh là hợp đồng vơ
hiệu thì khơng thể áp dụng được việc “khơi phục lại tình trạng ban đầu” và Điều 131
BLDS 2015 khơng quy định việc hồn trả được tiến hành ở thời điểm nào nên vấn đề thời
điểm hoàn trả được đặt ra, nhất là khi cả hai bên đều phải hồn trả lẫn nhau gây ra khó
khăn cho việc áp dụng luật trên thực tế.
Thứ hai, quy định về “bên có lỗi thì phải bồi thường thiệt hại”: Tại khoản 4 Điều
131 BLDS 2015 không quy định rõ “bên” trong quan hệ này cụ thể là chủ thể như thế
nào. Trong trường hợp, hợp đồng vô hiệu do lỗi của một chủ thể khác thì quy định của
khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 chưa rõ ràng và dễ gây hiểu lầm. Hợp đồng vơ hiệu có thể
chỉ do lỗi một bên mà cũng có thể do lỗi của hai bên và vấn đề bồi thường thiệt hại được
đặt ra cả trong trường hợp mức độ lỗi của hai bên là tương đương nhau. Do đó, Tịa án
phải xác định mức độ lỗi của từng bên trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu để xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại: nếu mỗi bên đều có lỗi tương đương nhau thì mỗi bên
phải chịu 1/2 giá trị thiệt hại; nếu mức độ lỗi của họ không tương đương nhau thì trách
nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo mức độ lỗi của mỗi bên. Hiện nay, vấn đề
xác định thiệt hại của hợp đồng dân sự vơ hiệu nói chung chưa được hướng dẫn cụ thể,
chúng ta chỉ có thể dựa vào một số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để
nghiên cứu vấn đề này.
Câu 6: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định
như thế nào?
Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định rằng:
12
lOMoARcPSD|12114775
Ngun đơn: Ơng Trần Văn Vinh khơng thực hiện thanh tốn tiền đợt hai đúng
hạn theo thỏa thuận.
Bị đơn: Ơng Đào Văn Lộc, bà Hồng Thị Lan khơng giao sổ đỏ theo thỏa thuận.
Câu 7: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế
nào?
Trích phần xét thấy của quyết định số 319/2011/DS-GĐT: “Trong trường hợp này
ông Vinh mới trả được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất 100.000.000 đồng tức
là mới trả 45% giá trị thửa đất, cả 2 bên cùng có lỗi thì khi giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu ông Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là ½ chênh lệch giá của 45% giá trị
thửa đất theo giá trị trường”. Theo hội đồng định giá thì thửa đất trên có giá trị thị trường
vào ngày 15/1/2008 là 350.000đ/m2. Như vậy tổng giá trị của thừa đất 953 m 2 theo giá trị
trường là 333.550.000 đồng. Tổng kết, số tiền ông Vinh sẽ được bồi thường là (45% x
(333.550.000-100.000.000)) x ½ =52.548.750 đồng.
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự.
Hướng giải quyết của Tịa dân sự là hợp lý.
Vì theo khoản 2 Điều 212 BLDS 2015 quy định: “2. Việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức
thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản
là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên
gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có
quy định khác” mà các anh chị Khánh, Tuấn, Vy không thừa nhận đã ký vào hợp đồng
“Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” và điều này cũng đã được
Phân viện khoa học Hình sự tại TP HCM xác nhận là các mẫu chữ ký này “chưa đủ cơ sở
kết luận để giám định”. Nhưng mảnh đất mà ông Long để lại cho gia đình mình là sở hữu
theo phần nên quyền sở hữu chung theo phần được quy định tại Điều 209 BLDS 2015
được chia thừa kế cho vợ mình là bà Dung, và các con là anh chị Khánh, Tuấn, Vy. Do
các thành viên trong gia đình khơng có thoả thuận về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất nên Tòa án chỉ để vô hiệu phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của
các anh Khánh, Tuấn, chị Vy cho vợ chồng ơng Học, cịn phần mà bà Dung đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông Học nếu đúng theo quy định pháp luật thì có hiệu lực. Đây là
cách giải quyết hợp lý và đúng đắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng
ơng Học vì mảnh đất ơng Long để lại được Tịa án giải quyết theo hướng “sở hữu chung
từng phần” mà đây là việc mỗi chủ sở hữu có quyền định đoạt phần quyền sở hữu theo
thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Câu 9: Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường
khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
13
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 953m2 đất tại khu phố 4, Tân
Thiện, thị xã La Gi, Bình Thuận giữa vợ chồng ơng Lộc (bên bán) và ông Vinh (bên
mua).
Giá thỏa thuận: 120.000.000đ song bên bán thống nhất bớt 20.000.000đ nên giá
theo hợp đồng lúc này là 100.000.000đ.
Bên mua đã đưa bên bán: 45.000.000đ
Định giá thửa đất: 953m2 = 333.550.000đ
Giá chênh lệch: 233.550.000đ
Theo Tịa án, ơng Vinh chỉ được bồi thường thiệt hại là ½ chênh lệch giá của 45%
giá trị thửa đất theo giá thị trường.
Dựa vào các dữ kiện trên trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường
khoản tiền cụ thể là:
½ x 45% x (chênh lệch giá) = ½ x 45% x 233.550.000 = 52.548.750đ
Như vậy số tiền ông Vinh sẽ được bồi thường 52.548.750đ.
VẤN ĐỀ 3: BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CĨ THỜI HẠN.
* Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án
nhân dân tối cao.
Công ty K.N.V (gọi tắt là Công ty A) đã đặt mua 3.000 tấn phân bón Ure hạt trong
đơn giá là 5.100.000đ từ Công ty Cửu Long (gọi tắt là Công ty B) tổng giá trị hợp đồng là
15.300.000.000đ, thời gian bên B bắt đầu giao hàng chậm nhất cho bên A là 20 ngày kể
từ ngày bên B ký nhận tiền tạm ứng của bên A, nếu trì hoãn sẽ B sẽ chịu phạt 5%. Ngày
15/4/2016 bên A đã chuyển khoản cho bên B 4 lần vào Ngân hàng Việt Á tổng số tiền
3.060.000.000đ như vậy ngày giao hàng chậm nhất là ngày 9/5/2016, nhưng bên B lại
cho rằng ngày 27/5/2016 là ngày chậm nhất để giao hàng là sai. Về phía Ngân hàng Việt
Á có thư bảo lãnh hoàn trả số tiền tạm ứng trước ngày 14/4/2016, hạn của thư bảo lãnh là
17h00 ngày 9/5/2016, do trước 17h00 bên B đã vi phạm hợp đồng với bên A, nên A đã
yêu cầu Ngân hàng Việt Á thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nhưng do Ngân hàng gửi đơn
không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trái pháp luật. Tòa án phúc thẩm buộc Ngân hàng Việt
Á phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền tạm ứng cho bên A.
Câu 1: Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?
Thư bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước được Ngân hàng Việt Á – Bình Dương phát
hành ngày 14/4/2016. Sau đó vào ngày 04/5/2016 Ngân hàng phát hành “Thư tu chỉnh
14
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
bảo lãnh” để tu chỉnh hiệu lực của Thư bảo lãnh chấm dứt hiệu lực vào lúc 17 giờ 00
ngày 09/5/2016.
Câu 2: Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn
bảo lãnh của Ngân hàng không?
Nghĩa vụ của công ty Cửu Long đối với Công ty KNV phát sinh từ thời điểm
Công ty KNV thanh tốn tạm ứng cho Cơng ty Cửu Long 20% tổng giá trị hợp đồng ngày
15/04/2016 và Công ty Cửu Long phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng chậm nhất là
ngày 9/5/2016. Như vậy, nghĩa vụ của Công ty Cửu Long đối với Cơng ty KNV có phát
sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng.
Câu 3: Theo Tồ án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện
Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có cịn
trách nhiệm của người bảo lãnh khơng? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời?
Theo Tồ án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân
hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng vẫn cịn trách nhiệm
của người bảo lãnh.
Đoạn của Quyết định có câu trả lời là: “Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc
thẩm buộc ngân hàng Việt Á phải thực hiện nghĩa vụ hồn trả cho Cơng ty TNHH K.N.V
số tiền tạm ứng cịn thiếu 1.510.000.000 đồng là có căn cứ. Quyết định giám đốc thẩm
của Uỷ ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận ý kiến của ngân
hàng Việt Á cho rằng công ty K.N.V nộp bản gốc Thư bảo lãnh khi đã hết thời hạn hiệu
lực nên ngân hàng Việt Á có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là không đúng
với bản chất của vụ án.”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối cao.
Trong Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao nhận định lý do từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng Việt Á là
không thể chấp nhận được. Nhận định trên là có căn cứ và hồn tồn thuyết phục. Có thể
thấy, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về
việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước, tiền đặt cọc của khách hàng theo hợp
đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trong tình huống trên, khi cơng ty Cửu Long vi
phạm nghĩa vụ giao hàng thì cơng ty K.N.V đã gửi thông báo yêu cầu Ngân hàng Việt Á
thực hiện trách nhiệm bảo lãnh. Trong cùng ngày, Ngân hàng Việt Á ra công văn thông
báo về việc tạm ngưng việc hồn trả tạm ứng mà khơng đề cập đến nguyên nhân là do
chưa nhận được Thư bảo lãnh gốc từ công ty K.N.V và cũng không yêu cầu cơng ty xuất
trình thư bảo lãnh gốc cho Ngân hàng trong ngày 9/5/2016, cho đến khi Thư bão lãnh hết
hiệu lực, Ngân hàng mới ra thông báo rằng không thực hiện nghĩa vụ là do nguyên nhân
15
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
trên, vì vậy lý do của Ngân hàng Việt Á khơng được chấp nhận. Do đó, khơng thể chấp
nhận ý kiến trên của Ngân hàng Việt Á và phải xác định Ngân hàng Việt Á có nghĩa vụ
phải hồn trả cho Cơng ty K.N.V số tiền tạm ứng cịn thiếu bởi vì theo quy định của Pháp
luật trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước, tiền
đặt cọc mà khơng hồn trả hoặc hồn trả khơng đầy đủ thì ngân hàng sẽ thực hiện trả
thay. Hội đồng thẩm phán ra quyết định như trên vừa đảm bảo tuân thủ đúng Luật định,
vừa đảm bảo được bản chất của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đó chính là sự
ràng buộc mang tính pháp lý để các khơng vi phạm hợp đồng, không vi phạm tiến độ
thực hiện hợp đồng nhằm hướng đến sự an toàn khi thực hiện hợp đồng.
VẤN ĐỀ 4: GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG DO HOÀN CẢNH KINH TẾ KHĨ
KHĂN.
Tình huống: Anh Nam là người thuộc quản lý của UBND xã, đã vơ ý gây thiệt hại cho
bà Chính khi thực hiện công việc được UBND xã giao. Thực tế, thiệt hại quá lớn so với
khả năng kinh tế của anh Nam và Tòa án đã áp dụng các quy định về giảm mức bồi
thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi
thường.
Câu 1: Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt
hại quá lớn so với khả năng kinh tế.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến chế định
“Nguyên tắc bồi thường thiệt hại”, từng điều kiện cụ thể để giảm mức bồi thường thiệt
hại quá lớn so với khả năng thực tế được thể hiện như sau:
Thứ nhất, phải phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: đây là yếu tố mấu chốt
và vô cùng quan trọng, nếu không phát sinh trách nhiệm bồi thườn thiệt hại thì khơng dẫn
đến việc giảm mức bồi thường trong trường hợp cụ thể. Có phát sinh trách nhiệm bồi
thường chính là cơ sở và làm tiền đề xem xét các yếu tố tiếp theo.
Thứ hai, phải có chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường: sau khi có căn cứ phát sinh
trách nhiệm bồi thường, tiêu chí thứ hai vơ cùng quan trọng là chủ thể chịu trách nhiệm
bồi thường, trong trường hợp này, tiêu chí chủ thể cũng đáng được lưu tâm và quan trọng.
Nếu khơng có chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thì khơng có cơ sở để chứng minh
được việc có hay không việc giảm mức bồi thường trong những trường hợp cụ thể. Có
chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường chính là cơ sở quan trọng tiếp theo để chứng minh
các tiêu chí đáp ứng với quy định tại khoản 2 Điều 585.
16
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
Thứ ba, nếu khơng có lỗi hoặc có lỗi vơ ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế của mình: trong trường hợp này, cần phải đáp ứng yếu tố lỗi và khả năng kinh tế. Đối
với yếu tố lỗi, Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hai loại lỗi được xác định sẽ giảm mức
bồi thường, đó là trường hợp khơng có lỗi hoặc có thể là lỗi vô ý – đây là sự xem xét vô
cùng nhân văn và đáp ứng yêu cầu của xã hội tiến bộ, trường hợp khơng có lỗi hoặc lỗi
vơ ý chính là yếu tố quan trọng để xem xét giảm mức bồi thường. Đối với yếu tố thiệt hại
quá lớn so với khả năng kinh tế, đây cũng là yếu tố vơ cùng quan trọng, sẽ khơng có gì
bàn cãi nếu khả năng kinh tế đủ để đáp ứng bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, sẽ có những
trường hợp người gây thiệt hại trong trường hợp này không đủ khả năng kinh tế gánh vác,
Bộ luật Dân sự trước đây và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự lường trước nhằm tránh
tình trạng “khó thực thi” và “ràng buộc quá mức” đối với người chịu trách nhiệm bồi
thường. Như vậy, tiêu chí thứ ba cũng khơng kém phần quan trọng, là cơ sở để chứng
minh và xem xét có hay khơng việc giảm mức bồi thường và là tiêu chí khơng thể thiếu
trong các tiêu chí đã phân tích ở trên.
Tóm lại, khoản 2 Điều 585 về trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại do vượt
quá khả năng về kinh tế bao gồm 03 tiêu chí căn bản, ngồi ra cịn những tiêu chí phụ có
thể xem xét đến như hành vi vi phạm pháp luật, mức độ bồi thường thiệt hại và chi phí
phát sinh khác. Đó là những yếu tố phụ và cần xem xét trong những điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể.
Câu 2: Trong tình huống nêu trên, việc Tịa án áp dụng các quy định về giảm mức
bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định
mức bồi thường có thuyết phục khơng? Vì sao?
Quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế ở
khoản 2 Điều 585 BLDS 2015, như đã phân tích ở trên thì muốn áp dụng thì người có
trách nhiệm bồi thường phải thỏa đủ 2 điều kiện: lỗi vô ý hoặc khơng có lỗi và thiệt hại
phải bồi thường quá lớn so với khả năng kinh tế.
Xét trong tình huống trên, anh Nam trong lúc thực hiện công việc do UBND giao
do vô ý gây thiệt hại cho bà Chính thì được giảm mức bồi thường. Như vậy, anh Nam đã
thỏa điều kiện về yếu tố lỗi là “lỗi vô ý”. Tiếp theo, ta cần xem xét tời điều kiện thứ hai là
liệu khoản thiệt hại phải bồi thường có quá lớn so với khả năng kinh tế của anh hay
khơng. Tình huống trên chỉ cho ta một khẳng định tổng quát như sau: “Thực tế, thiệt hại
quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam”. Theo chúng em, với lượng thơng tin như
trong tình huống thì việc Tòa án áp dụng quy định về giảm mức bồi thường thiệt hại do
quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường là cịn thiếu cơ
sở và chưa mang tính thuyết phục cao. Vậy nên Tòa án cần phải đánh giá kĩ hơn, chi tiết
hơn về các khoản kinh tế của anh Nam về kinh doanh, sản xuất, thu nhập, tài sản... trong
hiện tại và tương lai, sau đó đem so sánh với mức thiệt hại thực tế để quyết định xem
17
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
chênh lệch giữa hai khoản chi phí trên là bao nhiêu mới được coi là “quá lớn”. Như thế
thì khi đó việc Tịa án áp dụng khoản 2 Điều 585 sẽ thuyết phục, minh bạch và rõ ràng
hơn.
VẤN ĐỀ 5: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY
RA.
* Tóm tắt Quyết định số 30/2010/DS-GĐT ngày 22/01/2010 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Trong vụ án “Địi bồi thường thiệt hại tính mạng", ngun đơn là anh Nguyễn Hữu
Công đã tố cáo bị đơn là Chi nhánh điện Cái Bè về vấn đề cháu Nguyễn Hữu Lợi (con
của anh Công) bị điện giật chết tại nhà ông Huỳnh Chí do đường dây hạ thể chạy ngang
qua nhà ông Dũng bị hở mạch điện dẫn điện qua mái tole nhà ông Dũng đến dây chằng
bằng sắt xuống đất, khi cháu Lợi đi ngang qua chạm vào dây chằng thì bị điện giật chết
tại chỗ. Tồ án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đã quy định về các mức phạt bồi
thường nhưng Hội đồng Giám đốc thẩm Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao cho rằng
Tồ sơ thẩm và phúc thẩm khơng hướng dẫn, xác định rõ cho nguyên đơn khởi kiện đúng
đối tượng nên huỷ cả hai bản án, cần điều tra và hướng dẫn lại cụ thể.
Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường
thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Đoạn của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: “Theo quy định tại Điều 627 BLDS 1995 (Điều 623
BLDS năm 2005) thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi khơng có lỗi (trừ các trường hợp
thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thiệt hại xảy ra trong trường
hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết...).
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra là hợp lý.
Bởi vì, thứ nhất ở đây có nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại khoản 1 Điều
601 BLDS 2015 thì nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm hệ thống tải điện và trong trường
hợp trên có nguồn nguy hiểm cao độ đó là đường dây hạ thế sau cơng tơ bị hở mạch điện.
Thứ hai, có thiệt hại xảy ra theo quy định tại khoản 2 Điều 601 BLDS 2015, sự việc hở
mạch điện đã làm cho Nguyễn Hữu Lợi chết. Như vậy, có thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra nên chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại. Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả:
18
Downloaded by Vu Vu ()
lOMoARcPSD|12114775
do việc hở mạch điện ở đường dây sau công tơ điện nên đã làm cho cháu Lợi chết. Vì thế,
việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là hợp
lý, bởi vì đáp ứng các điều kiện để áp dụng quy định này.
Câu 3: Tịa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại
khơng?
Tịa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại. Theo
nhận định của hội đồng giám đốc thẩm tịa dân sự tịa án nhân dân tối cao thì chủ sở hữu
đường dây điện hạ thế gây thiệt hai là Công ty điện lực 2 – Chi nhánh điện Cái Bè, tỉnh
Tiền Giang do ông Nguyễn Văn Bạch làm đại diện. Người được giao chiếm hữu, sử dụng
đường dây điện hạ thế gây thiệt hại là Nguyễn Văn Xua và Trần Văn Ri.
Câu 4: Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường giây hạ thế gây thiệt hại?
Theo nhóm, chủ sở hữu đường dây hạ thế gây thiệt hại là anh Trần Văn Ri.
Câu 5: Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
gia đình nạn nhân?
Theo Tịa dân sự, chủ thể sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn
nhân là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là công ty điện lực 2.
Điều này được thể hiện trong bản án: “… lẽ ra phải làm rõ trách nhiệm của chủ
sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là công ty điện lực 2 và trách nhiệm của bên quản lý…”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân
tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia
đình nạn nhân.
Đồng tình với hướng xử lý của Tịa dân sự Tịa án nhân dân tối cao liên quan đến
xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân. Bởi căn cứ
khoản 1 Điều 601 BLDS 2015: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao
thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy cơng nghiệp đang hoạt động, vũ khí,
chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác
do pháp luật quy định.” Thì nguồn điện từ đường dây điện hạ thế gây thiệt hại trong bản
án thuộc hệ thống tải điện là nguồn nguy hiểm cao độ và trách nhiệm bồi thường được
quy định tại Điều này.
19
Downloaded by Vu Vu ()