HỌC VIỆN TƯ PHÁP
BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ DÂN SỰ CHUYÊN SÂU 27:
LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Nguyên đơn: Nguyễn Văn Đức
Bị đơn: Nguyễn Thị Minh Trang
Họ và tên
Lớp
Số báo danh
: …
: …
: …
…, ngày … tháng … năm …
1
MỤC LỤC
2
1. Soạn thảo lại Đơn khởi kiện
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Nam Đàn, ngày 15 tháng 3 năm 2016
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v tranh chấp ly hơn, ni con chung)
Kính gửi: TỊA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH
Người khởi kiện:
Ơng: NGUYỄN VĂN ĐỨC
Sinh năm: 1967
CMND số: 022 319 158 do Cơng an TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 15/10/2015
Địa chỉ cư trú: 108 Ng T L, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: 008 lơ K, chung cư Ngô Gia Tự, phường 2, Quận 10, TP. Hồ Chí
Minh
Số điện thoại: ……
Người bị kiện:
Bà: NGUYỄN THỊ MINH TRANG
Sinh năm: 1974
CMND số: 022 319 170 do Công an TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 25/10/2015
Địa chỉ cư trú: 108 Ng T L, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Số điện thoại: ……
NỘI DUNG KHỞI KIỆN
1. Về quan hệ hôn nhân
Tôi với bà Nguyễn Thị Minh Trang đã tìm hiểu, tự nguyện đi đến kết hơn theo
đúng quy định của pháp luật. Chúng tôi đã đăng ký kết hơn tại UBND phường 5, Quận
10, TP. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 01/2001 ngày
10/04/2001.
Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình hai bên khơng
hợp, bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng tình hình khơng
được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2012 cho
đến nay là khoảng 4 năm.
3
Do tình cảm giữa chúng tơi đã khơng cịn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng,
cuộc sống hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích của hơn nhân khơng đạt được, tôi yêu
cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh Trang.
2. Về con chung
Chúng tơi có 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Đức Ý Nhi sinh năm 2006.
Hiện nay cháu Nhi (10 tuổi) đang ở với bà Nguyễn Thị Minh Trang.
3. Về tài sản và nợ chung:
Tôi không yêu cầu Tịa án giải quyết.
U CẦU TỊA ÁN XEM XÉT GIẢI QUYẾT
1. Về quan hệ hơn nhân:
u cầu Tịa án giải quyết cho tôi với bà Nguyễn Thị Minh Trang ly hơn.
2. Về con chung:
u cầu Tịa án giao cháu Nguyễn Đức Ý Nhi cho tôi trực tiếp nuôi dưỡng, tôi
không yêu cầu bà Trang cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung và nợ chung:
Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trân trọng./.
Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có:
-
Giấy chứng nhận kết hơn (bản chính);
-
CMND, hộ khẩu của người khởi kiện (bản sao chứng thực);
-
Giấy khai sinh của cháu Nhi (bản sao chứng thực);
NGƯỜI KHỞI KIỆN
NGUYỄN VĂN ĐỨC
4
2. Soạn thảo văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn sau khi bị đơn nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tịa
án.
CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Nam Đàn, ngày 01 tháng 4 năm 2016
VĂN BẢN TRÌNH BÀY Ý KIẾN
Kính gửi: Tịa án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Tơi tên là
: Nguyễn Thị Minh Trang
Sinh năm: 1974
CMND số
: 022 319 170 do Công an TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 25/10/2015
Địa chỉ cư trú
: 108 Ng T L, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Là bị đơn trong vụ án ly hơn, tranh chấp nuôi con chung với nguyên đơn là ông
Nguyễn Văn Đức, vụ án được Tòa án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh thụ lý số
196/2016/TLSTHN ngày 28/03/2016.
Được biết nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với tôi và yêu cầu được trực tiếp
nuôi dưỡng con chung. Tôi xin trình bày ý kiến, u cầu của tơi đối với yêu cầu của
nguyên đơn trong vụ án này như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Tôi với ông Nguyễn Văn Đức là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hơn tại
UBND phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21,
quyển số 01/2001 ngày 10/04/2001.
Q trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu
thuẫn nhỏ nhặt. Tôi khơng đồng ý ly hơn bởi vì tơi nhận thấy giữa chúng tơi cịn tình
cảm, vẫn cịn có thể hàn gắn được để cùng nhau nuôi dạy con cái, tiếp tục xây dựng
hạnh phúc gia đình.
2. Về con chung
Chúng tơi có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức Ý Nhi, sinh năm 2006. Hiện tại
cháu Nhi đang ở với tôi.
Tôi khơng đồng ý ly hơn, tuy nhiên nếu Tịa án giải quyết cho ly hơn thì tơi u
cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Ý Nhi, yêu cầu ông Đức cấp dưỡng
nuôi con mỗi tháng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng cho đến khi cháu Nhi đủ 18 tuổi.
3. Về tài sản chung
5
Trong thời kỳ hôn nhân, tôi với ông Nguyễn Văn Đức tạo lập được một số tài sản
chung như sau:
(i)
01 lô đất số A57 khu Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh, trị
giá lúc mua khoảng 4.405.379.000 đồng, đất chưa có giấy chứng nhận.
(ii) 01 lơ đất A101 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí
Minh trị giá lúc mua 103.307 đơ la Mỹ, tỷ giá ngày 31/01/2000, đất đã có giấy
chứng nhận.
(iii) 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen, mệnh giá 10.000
đồng cổ phiếu, tương đương 910.000.000 đồng.
(iv) 01 căn hộ số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh, trị
giá khoảng 7.815.672.000 đồng do tôi với ông Đức cùng đứng tên trên giấy
chứng nhận.
(v)
Ngồi ra cịn một số tài sản khác, tơi sẽ bổ sung sau.
Nếu Tịa án giải quyết cho ly hơn thì u cầu Tịa án chia đơi tài sản chung nêu
trên, tôi đề nghị nhận một nửa tài sản bằng hiện vật.
4. Về nợ chung
Chúng tơi khơng có nợ chung.
Kính mong Tịa án xem xét ý kiến của tơi trên đây nhằm bác tồn bộ u cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
NGƯỜI LÀM ĐƠN
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
3. Trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề nội dung của vụ án?
3.1 Tóm tắt nội dung vụ án
Ngun đơn: ơng Nguyễn Văn Đức
Bị đơn: bà Nguyễn Thị Minh Trang
Tranh chấp: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Nội dung sự việc như sau:
Ngày 15/03/2016, ông Nguyễn Văn Đức làm đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Minh
Trang đến Tịa án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh yêu cầu Tòa án giải quyết cho
6
ông Đức với bà Trang ly hôn do vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, mục đích hơn nhân
khơng đạt được. Ông Đức yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung duy nhất là
cháu Nguyễn Đức Ý Nhi sinh năm 2006 và không yêu cầu bà Trang cấp dưỡng. Trong
đơn khởi kiện ơng Đức khơng u cầu Tịa án giải quyết về tài sản chung.
Sau khi vụ án đã được thụ lý, ngày 15/04/2016 ông Đức lập Đơn yêu cầu chia tài
sản chung và nợ chung. Theo đó ơng Đức cho rằng vợ chồng ơng Đức, bà Trang có 02
tài sản chung là: (i) lô đất số A-57, khu phố Nam Đơ, phường Tân Phú, Quận 7, TP.
Hồ Chí Minh có diện tích 414 m 2 trị giá 4.405.990.000 đồng và (ii) 91.000 cổ phiếu
của Công ty Cổ phần Bông Sen với tổng giá trị là 910.000.000 đồng. Đồng thời, ông
Đức cũng cho rằng vợ chồng ông Đức, bà Trang có khoản nợ chung là
11.780.000.000 đồng, trong đó (i) nợ bà Nguyễn Thị Năm số tiền 10.710.000.000
đồng và (ii) nợ ông Nguyễn Việt Đức số tiền 1.070.000.000 đồng. Ông Đức đề nghị
Tịa án xem xét nguồn tiền hình thành nên tài sản và cơng sức đóng góp khi phân chia
tài sản chung, sau khi trừ đi các khoản nợ theo quy định của pháp luật.
Sau nhiều lần hòa giải tại Tịa án, bà Trang đồng ý ly hơn với ơng Đức. Tuy
nhiên, về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung thì bà Trang khơng đồng ý.
Q trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập (hồ sơ vụ án khơng có Đơn u cầu độc lập của những người này):
1) Ơng Nguyễn Việt Đức: u cầu ơng Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Minh
Trang liên đới trả cho ông số tiền 1.170.000.000 đồng, trong đó số tiền gốc là
1.070.000.000 đồng và tiền lãi đến khi xét xử theo mức lãi suất 7%/năm.
2) Bà Nguyễn Thị Năm: Yêu cầu ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Minh
Trang liên đới trả cho bà số tiền 22.172.859.977 đồng, trong đó số tiền gốc là
10.710.000.000 đồng và tiền lãi là 11.462.859.977 đồng (lãi theo thỏa thuận là
50/50 từ chênh lệch kết quả kinh doanh). Bà Năm xác định cho vợ chồng ông
Đức, bà Trang vay.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Trang có yêu cầu phản tố. Theo Đơn yêu cầu phản
tố ngày 01/11/2016 và Đơn rút một phần yêu cầu phản tố ngày 20/04/2017 của bà
Trang thì nội dung yêu cầu phản tố như sau:
1) Về con chung: Bà Trang yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, yêu cầu
ông Đức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 20.000.000 đồng.
2) Về tài sản chung: Bà Trang kê khai vợ chồng bà có tài sản chung là 03 bất động
sản và cổ phần tại một số công ty, cụ thể:
(i)
Lô đất A-57 khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh
(ii)
Nhà đất số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
7
(iii)
Lô đất A1-01 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ
Chí Minh
(iv)
91.000 cổ phiếu của Cơng ty cổ phần khách sạn Bông Sen
(v)
1.000.000 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ ông Đức đứng
tên
(vi)
30.000.000 cổ phần tại Cơng ty cổ phần bao bì Tiền Giang ông Đức đứng
tên.
Bà Trang yêu cầu được chia một nửa tài sản chung nêu trên.
3) Về nợ chung: Bà Trang cho rằng bà với ơng Đức khơng có nợ chung. Những
khoản nợ do ông Đức khai là vay mượn bên ngồi thì bà khơng biết và khơng
đồng ý liên đới trả vì số tiền ơng Đức vay khơng dùng cho mục đích thiết yếu của
gia đình.
Sau nhiều lần hịa giải khơng thành, ngày 11/01/2017 Tịa án nhân dân Quận 10
ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
3.2 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Dựa trên yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến phản đối của bị đơn, có thể xác định
quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
3.3 Yêu cầu khởi kiện, những vấn đề cần chứng minh và chứng cứ
a)
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về hôn nhân: cho ông Đức với bà Trang ly hôn
Về con chung: giao cháu Nguyễn Đức Ý Nhi cho ông Đức trực tiếp nuôi dưỡng,
ông Đức không yêu cầu cấp dưỡng
Về tài sản chung: chia tài sản chung theo cơng sức đóng góp, tài sản chung bao
gồm: lô đất A-57 khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh và
91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen.
Về nợ chung: chia đôi tổng số nợ chung là 11.780.000.000 đồng, trong đó nợ bà
Nguyễn Thị Năm số tiền 10.710.000.000 đồng và nợ ông Nguyễn Việt Đức số tiền
1.070.000.000 đồng.
b)
Những vấn đề cần chứng minh, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện
Các vấn đề nguyên đơn cần chứng minh dựa trên các yêu cầu của nguyên đơn mà
bị đơn không thống nhất, bao gồm: quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chia tài
sản chung và giải quyết nợ chung.
8
Về quyền trực tiếp nuôi con:
-
Vấn đề cần chứng minh: nguyên đơn đáp ứng đủ các điều kiện để nuôi con và
việc giao con cho nguyên đơn trực tiếp nuôi là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của
con.
-
Chứng cứ chứng minh: nguyên đơn chưa giao nộp cho Tòa án chứng cứ gì
chứng minh cho u cầu trực tiếp ni con chung, vì vậy nguyên đơn cần thu
thập và giao nộp cho Tịa án các tài liệu chứng cứ sau:
• Chứng cứ xác nhận thu nhập ổn định;
• Chứng cứ chứng minh có nơi ở ổn định;
• Chứng cứ chứng minh thời gian chăm sóc, đưa đón con;
• Chứng cứ chứng minh nguyên đơn có điều kiện giáo dục con tốt hơn;
• Chứng cứ chứng minh tình cảm cha con gắn bó.
Về tài sản chung:
-
Vấn đề cần chứng minh: các tài sản mà bị đơn liệt kê trong đơn yêu cầu phản tố
là tài sản riêng của nguyên đơn.
-
Chứng cứ chứng minh:
Bị đơn đã giao nộp cho Tòa án các chứng cứ sau:
• Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 1327/04 do
UBND Quận 10 cấp ngày 04/08/2002;
• Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0040-2000-PMH/MBĐH.13 ngày 20/10/2000 (Lô đất số A1-01, khu phố Nam Thiên, phường Tân
Phong, Quận 7).
Bị đơn cần thu thập để giao nộp cho Tòa án chứng cứ chứng minh tài sản có
trước hơn nhân hoặc có trong thời kỳ hôn nhân nhưng nguồn tiền mua tài sản là
từ tài sản riêng của bị đơn.
Về nợ chung:
-
Vấn đề cần chứng minh: khoản tiền nợ bà Năm và ông Đức tổng cộng
11.780.000.000 đồng là nợ chung của vợ chồng: chứng minh mục đích mượn nợ
là nhằm phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của
gia đình.
-
Chứng cứ chứng minh: bị đơn giao nộp cho Tòa án các hợp đồng vay mượn nợ
đứng tên một mình bị đơn, vì vậy bị đơn phải thu thập chứng cứ về việc sử dụng
9
tiền vay cho mục đích của gia đình để giao nộp cho Tịa án: chứng từ về nguồn
tiền gia đình sử dụng trong thời điểm này có được từ việc vay; chứng từ chứng
minh số tiền vay dùng để mua tài sản chung của vợ chồng…
c)
Đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của yêu cầu khởi kiện
Các chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp trong hồ sơ vụ án chưa đủ để chứng
minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào các chứng cứ
có trong hồ sơ thì u cầu trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu chia đôi nợ chung
của ngun đơn sẽ khơng được Tịa án chấp nhận.
Về tài sản chung: các tài sản mà nguyên đơn yêu cầu chia đã được cấp giấy chứng
nhận, bị đơn cũng thống nhất các tài sản này là tài sản chung vợ chồng. Do vậy,
yêu cầu về chia tài sản chung của ngun đơn có thể được Tịa án xem xét, chấp
nhận.
3.4 Ý kiến, yêu cầu phản tố của bị đơn, những vấn đề cần chứng minh và
chứng cứ
a)
Ý kiến, yêu cầu phản tố của bị đơn
Về hôn nhân: đồng ý ly hôn với ông Đức
Về con chung: Bà Trang yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhi, yêu
cầu ông Đức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 20.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Bà Trang kê khai vợ chồng bà có tài sản chung là 03 bất
động sản và cổ phần tại một số công ty, cụ thể:
(i)
Lô đất A-57 khu phố Nam Đơ, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí
Minh;
(ii) Nhà đất số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh;
(iii) Lơ đất A1-01 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ
Chí Minh;
(iv) 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen;
(v)
1.000.000 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ ông Đức đứng
tên;
(vi) 30.000.000 cổ phần tại Cơng ty cổ phần bao bì Tiền Giang ơng Đức
đứng tên.
Bà Trang yêu cầu được chia một nửa tài sản chung nêu trên.
Về nợ chung: Bà Trang cho rằng bà với ơng Đức khơng có nợ chung. Những
khoản nợ do ơng Đức khai là vay mượn bên ngồi thì bà không biết và không
10
đồng ý liên đới trả vì số tiền ơng Đức vay khơng dùng cho mục đích thiết yếu
của gia đình.
b)
Những vấn đề cần chứng minh, chứng cứ chứng minh cho ý kiến phản đối,
yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về quyền trực tiếp nuôi con:
-
Vấn đề cần chứng minh: bị đơn đáp ứng đủ các điều kiện để nuôi con và việc
giao con cho bị đơn trực tiếp nuôi là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con.
-
Chứng cứ chứng minh:
Bị đơn đã giao nộp cho Tòa án chứng cứ là:
• Hợp đồng lao động khơng xác định thời hạn;
• Văn bản số 360/SCB-TĐG.18 ngày 31/01/2018 của Ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn ngày 31/01/2018 về số tiền của bị đơn trong ngân
hàng;
• Giấy viết tay về nguyện vọng của cháu Nhi.
Bị đơn cần thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh các vấn đề sau:
• Chứng cứ chứng minh có nơi ở ổn định;
• Chứng cứ chứng minh thời gian chăm sóc, đưa đón con;
• Chứng cứ chứng minh nguyên đơn có điều kiện giáo dục con tốt hơn;
• Chứng cứ chứng minh tình cảm mẹ con gắn bó;
• Chứng cứ chứng minh việc giao con cho bị đơn là ảnh hưởng đến sự phát
triển của con: ông Đức thường xuyên xay xỉn, cắt tiền sinh hoạt của con,
khơng quan tâm, chăm sóc con…;
• Bảng kê chi phí sinh hoạt, hóa đơn, biên lai học phí… để chứng minh
mức sinh hoạt của cháu Nhi hàng tháng để yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung:
-
Vấn đề cần chứng minh: các tài sản mà nguyên đơn nêu ra là tài sản hình
thành trong thời kỳ hơn nhân hoặc đã được ông Đức nhập vào khối tài sản
chung của vợ chồng.
-
Chứng cứ chứng minh:
Bị đơn đã nộp cho Tòa án:
11
• Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CH 00962 do UBND Quận 7 cấp ngày 25/03/2013;
• Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (khơng có tài sản gắn liền
với đất) số 004282 cơng chứng ngày 25/06/2013;
• Tài liệu đại hội đồng cổ đơng thường niên năm 2011, năm 2012;
• Cơng văn của Cơng ty cổ phần bao bì Tiền Giang, hồ sơ theo công văn
2101/SCB-TĐG 16.
Bị đơn cần thu thập, u cầu Tịa án thu thập thêm:
• Các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của vợ chồng hoặc đứng tên một
mình ngun đơn trong thời kỳ hơn nhân;
• Chứng cứ chứng minh nguồn tiền để mua tài sản là từ tài sản chung của
vợ chồng hoặc chứng cứ chứng minh nguyên đơn biết và đồng ý việc
nhập tài sản riêng của nguyên đơn vào tài sản chung của vợ chồng.
Về nợ chung:
-
Vấn đề cần chứng minh: bị đơn không biết khoản nợ mà nguyên đơn nêu ra,
việc sử dụng số tiền vay cũng không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình.
-
Chứng cứ chứng minh: hợp đồng vay tiền chỉ đứng tên bị đơn, nguyên đơn
cần thu thập thêm chứng cứ về tình hình tài chính của vợ chồng tại thời điểm
vay tiền như sao kê ngân hàng về số tiền tiết kiệm mà vợ chồng có, các tài
sản khác…
c)
Đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của yêu cầu phản tố.
Về quyền trực tiếp nuôi con: bị đơn đã đưa ra được một số tài liệu chứng cứ
chứng minh việc đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, kết hợp với độ tuổi,
giới tính và nguyện vọng của cháu Nhi thì yêu cầu của bị đơn có thể được
Tịa án xem xét, chấp nhận.
Về tài sản chung: bị đơn chưa cung cấp được đầy đủ các giấy tờ chứng minh
quyền sở hữu của vợ chồng đối với tất cả các tài sản mà bị đơn đã liệt kê, vì
vậy có thể u cầu của bị đơn sẽ chỉ được Tòa án chấp nhận một phần.
Về nợ chung: nghĩa vụ chứng minh chính thuộc về nguyên đơn, dựa trên ý
kiến phản đối của bị đơn, Tòa án có thể sẽ khơng chấp nhận u cầu buộc bị
đơn phải liên đới trả nợ.
3.5 Về yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
12
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị
Năm và ông Nguyễn Việt Đức có đưa ra u cầu ơng Đức, bà Trang phải liên
đới trả nợ nhưng không chứng minh được khoản nợ là nợ chung của vợ chồng
ông Đức, bà Trang.
Mặt khác, ông Đức, bà Năm chưa làm Đơn yêu cầu độc lập theo đúng hình thức
và nội dung quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, bà Năm, ơng Đức
chưa nộp tạm ứng án phí, Tịa án chưa thụ lý giải quyết yêu cầu độc lập do đó
các u cầu của bà Năm, ơng Đức sẽ khơng được Tịa án xem xét, giải quyết.
4. Trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề tố tụng của vụ án?
4.1 Chủ thể khởi kiện và đủ điều kiện khởi kiện
Ơng Nguyễn Văn Đức có đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị Minh Trang, bà
Trang hiện tại không mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Do vậy, cơng Đức có quyền khởi kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con, tranh chấp tài
sản chung với bà Trang theo quy định tại Điều 51 Luật hơn nhân gia đình 2014,
khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
4.2 Đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện chưa đáp ứng điều kiện về hình thức theo quy định tại Điều 189
Bộ luật tố tụng dân sự 2015, chưa lập danh mục tài liệu, chứng cứ đính kèm đơn
khởi kiện. Nội dung đơn chưa nêu cụ thể thông tin của con chung.
4.3 Tư cách đương sự
-
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đức (theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015)
-
Bị đơn: bà Nguyễn Thị Minh Trang (theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015)
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Năm
+ Ông Nguyễn Việt Đức
(theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).
4.4 Tịa án có thẩm quyền giải quyết
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” là tranh chấp về hơn
nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn
cư trú, cụ thể là Tòa án nhân dân Quận 10, TP. Hồ Chí Minh (theo khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
13
4.5 Thời hiệu khởi kiện
Căn cứ quy định tại Điều 155 Bộ luật dân sự 2015, tranh chấp về hôn nhân gia
đình thuộc trường hợp khơng áp dụng thời hiệu khởi kiện.
4.6 Trình tự thủ tục tố tụng mà Tồ án tiến hành
-
Nguyên đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí khơng có giá ngạch. Tịa án thụ lý
vụ án, tổ chức hịa giải. Sau đó ngun đơn mới nộp đơn bổ sung yêu cầu khởi
kiện, nộp tạm ứng án phí bổ sung, tuy nhiên Tịa án chưa ra thơng báo thụ lý
đối với yêu cầu bổ sung và gửi thơng báo cho đương sự, bao gồm cả người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới được tham gia vụ án.
-
Bị đơn có đơn yêu cầu phản tố nhưng trong hồ sơ vụ án chưa có biên lai nộp
tạm ứng án phí, chưa có thơng báo thụ lý u cầu phản tố của bị đơn mà Tòa
án đã đưa yêu cầu này vào giải quyết.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nêu yêu cầu độc lập nhưng chưa
làm đơn yêu cầu độc lập, chưa nộp tạm ứng án phí và Tịa án chưa thụ lý u
cầu độc lập mà đã đưa yêu cầu này vào giải quyết.
-
Ngày 16/03/2017, Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ đối với một số tài liệu chứng cứ, sau đó nguyên đơn có
nộp thêm chứng cứ là hợp đồng lao động của nguyên đơn nhưng Tịa án chưa
tổ chức phiên họp cơng khai chứng cứ mới.
-
Tịa án khơng lập biên bản việc giao nhận chứng cứ.
-
Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử khi chưa thu thập đầy đủ chứng cứ
bao gồm: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chưa lấy lời
khai của cháu Nhi về nguyện vọng của cháu, chưa ra Quyết định trưng cầu
giám định theo yêu cầu của bị đơn, chưa yêu cầu nguyên đơn, bị đơn giao nộp
bản sao hợp lệ các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản hoặc xác minh tại
các cơ quan có thẩm quyền.
5. Trình bày bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa đại diện Viện Kiểm sát và tất cả những người
tham gia tố tụng tại phiên tịa hơm nay!
Tơi là Luật sư Nguyễn Văn X, hiện đang công tác tại Công ty Luật TNHH A
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Tơi tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Minh
Trang, là bị đơn trong vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung và chia tài sản khi ly
hôn với nguyên đơn là ơng Nguyễn Văn Đức. Vụ án được Tịa án nhân dân Quận 10,
TP. Hồ Chí Minh đưa ra xét xử tại phiên tịa hơm nay.
14
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và theo dõi diễn biến phiên tịa, tơi xin trình bày
quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là Nguyễn Thị Minh Trang
như sau:
1. Về yêu cầu ly hơn: Ơng Đức và bà Trang đều đồng thuận về việc ly hôn nên vấn
đề này không phát sinh tranh chấp nữa.
Do vậy, tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 để cơng nhận thuận tình ly hơn cho bà Trang và ông Đức.
2. Về quyền nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đức Ý Nhi
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hơn nhân và gia đình 2014: “Vợ, chồng thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với
con; trường hợp khơng thỏa thuận được thì Tịa án quyết định giao con cho một bên
trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên
thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Ơng Đức và bà Trang khơng thỏa thuận được người trực tiếp ni con. Vì vậy, tơi
xin trình bày một số quan điểm thể hiện việc giao cháu Nhi cho bà Trang trực tiếp nuôi
là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Nhi như sau:
Về điều kiện kinh tế: Từ sau khi ông Đức dọn ra ngồi ở, mọi chi phí sinh hoạt
của cháu Nhi là do bà Trang lo. Hiện nay bà Trang đang làm việc tại cơng ty, có nguồn
lương đều đặn mỗi tháng, bà Trang đã cung cấp Hợp đồng lao động cho Tịa án. Khoản
tiền lương này hồn tồn có thể chăm lo cho cháu Nhi ăn học đầy đủ và chi trả các chi
phí sinh hoạt hằng ngày.
Mặt khác, bà Trang cũng đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ chứng minh số tiền
tiết kiệm của bà Trang tại Ngân hàng SCB. Như vậy, điều kiện kinh tế của bà Trang
hồn tồn có khả năng ni dưỡng tốt cháu Nhi.
Về chỗ ở: Bà Trang và cháu Nhi đang ở tại nhà số 108 Nguyễn Tiểu La, phường
5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh. Đây là căn nhà hình thành trong thời kỳ hôn nhân của
bà Trang với ông Đức. Bà Trang đề nghị được nhận căn nhà này để mẹ con tiếp tục ở.
Đây là yêu cầu hoàn toàn hợp pháp, chính đáng. Kính đề nghị Tịa án xem xét, chấp
nhận.
Về việc trơng nom, chăm sóc con: Từ sau khi ly thân, bà Trang một mình chăm
sóc con mà khơng có sự hỗ trợ gì từ phía ơng Đức. Tuy nhiên bà Trang vẫn chăm sóc
cháu Nhi rất tốt. Bà Trang làm việc tại cơng ty, có thời giờ làm việc ổn định, do vậy
ngoài giờ làm việc bà Trang có quỹ thời gian nhiều để chăm sóc con. Cháu Nhi được
mẹ nấu ăn cho, được ăn uống lành mạnh, được dạy học và rèn luyện thể dục thể thao,
do đó hiện tại cháu rất khỏe mạnh, chăm ngoan.
15
Về mặt tâm sinh lý, cháu Nhi là bé gái tuổi 10 tuổi sắp dậy thì, đây là lứa tuổi rất
quan trọng để phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần của bé, vì vậy sự gần gũi, bảo ban,
chăm sóc của mẹ trong giai đoạn này là vơ cùng quan trọng và cần thiết.
Bên cạnh đó, về nguyện vọng cháu Nhi cũng có nguyện vọng được ở với mẹ theo
như lời cháu Nhi đã ngồi viết tại Tòa án quận 10 vào tháng 4/2016: “con muốn sống
chung với mẹ, con rất sợ ở với ba vì ba hay say sỉn, ba hay nghe lời cơ Qun”.
Tơi xin trình bày thêm các dẫn chứng về việc ông Đức trực tiếp nuôi dưỡng cháu
Nhi sẽ không đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của cháu như sau:
-
Ông Đức khởi kiện ly hôn với bà Trang một phần cũng là vì đã có người thứ ba,
việc giao con cho ơng Đức nuôi đồng nghĩa với cháu Nhi sẽ phải sống cùng một
người không phải mẹ ruột, như vậy việc chăm sóc, giáo dục cháu cũng như tình
thương đối với cháu không thể bằng mẹ ruột được.
-
Hơn nữa, ông Đức không có đủ tình thương của một người cha dành cho con,
điều này thể hiện ở việc từ khi dọn ra ngồi ở, ơng Đức khơng quan tâm, hỏi han
gì đến cháu Nhi. Đồng thời ơng Đức cịn cắt tiền sinh hoạt của cháu trong khi bà
Trang giai đoạn này còn gặp nhiều khó khăn.
-
Mặt khác, do tính chất cơng việc, ông Đức thường xuyên xay xỉn không có ở
nhà, việc đưa đón hay ăn uống của cháu đều giao cho nhân viên công ty. Điều
này ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển lành mạnh của cháu.
Từ các phân tích trên, chúng tơi nhận thấy bà Trang là người có phù hợp để đảm
bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Nhi, bao gồm cả việc đảm bảo được sự phát triển về
mặt tinh thần. Do vậy, kính đề nghị Tịa án chấp nhận yêu cầu của bà Trang, giao cháu
Nhi cho bà Trang trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về việc cấp dưỡng nuôi con
Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hơn nhân và gia đình 2014: “Cha, mẹ
khơng trực tiếp ni con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
Mức phí sinh hoạt thiết yếu của cháu Nhi hiện nay là khoảng 20 triệu
đồng/tháng: trong đó bao gồm chi phí ăn uống, học phí, sách vở, thuốc men, quần áo,
học ngoại ngữ… Ngồi ra cịn có một số chi phí ngồi như giải trí, học năng khiếu,
luyện chữ… với mức khoảng 20 triệu đồng/tháng. Tổng cộng là 40.000.000
đồng/tháng.
Bà Trang đã nộp cho Tịa án bảng kê dự kiến chi phí ni dưỡng cháu Nhi hàng
tháng và một số hóa đơn chứng từ. Do vậy, yêu cầu của bà Trang về việc yêu cầu ông
Đức cấp dưỡng là phù hợp với thực tế.
16
Mặt khác, ông Đức hiện đang làm giám đốc công ty với mức thu nhập
50.000.000 đồng/ tháng, bên cạnh đó ơng Đức cịn có nhiều tài sản. Như vậy, việc cấp
dưỡng 20.000.000 đồng/tháng cũng phù hợp với điều kiện kinh tế của ơng Đức.
Do vậy, tơi kính đề nghị Tịa án chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà Trang.
4. Về yêu cầu chia tài sản chung
Các tài sản mà bà Trang kê khai là tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
(i)
Lô đất A-57 khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh;
(ii) Nhà đất số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh;
(iii) Lơ đất A1-01 khu phố Nam Thiên, phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí
Minh;
(iv) 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ phần khách sạn Bông Sen;
(v)
1.000.000 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ;
(vi) 30.000.000 cổ phần tại Công ty cổ phần bao bì Tiền Giang;
Đây là các tài sản được hình thành trong thời kỳ hơn nhân.
• Các bất động sản đã được cấp giấy chứng nhận hoặc có hợp đồng mua bán
chứng minh quyền sở hữu của ông Đức, bà Trang theo các chứng cứ các đương
sự đã nộp cho Tòa án, cụ thể là:
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
CH 00962 do UBND Quận 7 cấp ngày 25/03/2013;
-
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (khơng có tài sản gắn liền với
đất) số 004282 công chứng ngày 25/06/2013;
-
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 1327/04 do
UBND Quận 10 cấp ngày 04/08/2002;
-
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0040-2000-PMH/MBĐH.13 ngày 20/10/2000 (Lô đất số A1-01, khu phố Nam Thiên, phường Tân
Phong, Quận 7;
-
Công văn số 4143 /CCT-KTr2 ngày 13/09/2017, công văn số 3717/CCTKTr2 ngày 08/11/2016 của Chi cục Thuế quận 7.
• Các cổ phiếu tại các công ty đã được các Công ty xác nhận bằng các cơng văn
trả lời cho Tịa án.
Đặc biệt đối với lô đất A-57 khu phố Nam Đô và 91.000 cổ phiếu của Công ty cổ
phần khách sạn Bông Sen ông Đức cũng đã thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng.
17
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hơn nhân gia đình năm 2014:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định
tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
hoặc có được thơng qua giao dịch bằng tài sản riêng”.
Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014:
“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đơi nhưng có tính đến các yếu tố sau
đây:
a) Hồn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Cơng sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối
tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu
nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu khơng chia được
bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị
lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
[…]
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc khơng có khả năng lao động và khơng có tài
sản để tự ni mình”.
Căn cứ vào quy định nêu trên, các tài sản mà bà Trang đã nêu là các tài sản chung
của vợ chồng. Kính đề nghị Tịa án chia đơi các tài sản trên bằng hiện vật, cụ thể chấp
nhận yêu cầu của bà Trang về việc chia cho bà Trang được nhận:
1. Nhà và đất số 108 Nguyễn Tiểu La, phường 5, quận 10, TP.HCM: trị giá
7.815.671.527 đồng.
2. Lô đất A-57 khu phố Nam Đô, phường Tân Phú, quận 7, TP.HCM: trị giá
25.848.122.292 đồng.
18
3. 16.900 cổ phần tại Công ty cổ phần hàng hải Phú Mỹ tương đương
169.000.000 đồng.
5. Về nợ chung
Tại đơn u cầu phản tố, bà Trang xác định khơng có nợ chung với ông Đức.
Điều này là phù hợp với thực tế. Đối với khoản nợ hơn 11 tỷ đồng mà ơng Đức kê
khai, bà Trang khơng hay biết gì về món nợ này, ơng Đức chưa bao giờ bàn bạc hỏi ý
kiến bà Trang về việc vay mượn tiền, mục đích vay mượn tiền để làm gì.
Thực tế cũng khơng thể có chuyện vay mượn số tiền q lớn này. Bởi thời điểm
vay tiền này vợ chồng bà Trang khơng thiếu tiền, khơng có nhu cầu đầu tư gì.
Ơng Đức yêu cầu xác định các khoản nợ mà ông kê khai là nợ chung của vợ
chồng nhưng ông Đức khơng chứng minh được mục đích sử dụng tiền vay là đáp ứng
nhu cầu thiết yếu của gia đình. Các hợp đồng vay tiền và các chứng từ giao nhận tiền
chỉ ghi tên ơng Đức và khơng có sự tham gia của bà Trang.
Theo quy định tại Điều 37 Luật hơn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ
về tài sản của vợ chồng:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách
nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài
sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân
sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Căn cứ vào quy định nêu trên, khoản nợ 11.780.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị
Năm và ông Nguyễn Việt Đức do ông Đức xác lập không phải là nợ chung của vợ
chồng.
Do vậy, tơi kính đề nghị Tịa án bác u cầu của nguyên đơn và xác định ông
Đức, bà Trang không có nợ chung.
19
Từ các phân tích trên đây, kính đề nghị Tịa án cân nhắc, xem xét để ra bản
án hợp tình, hợp lý, phù hợp với nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
vợ, con chưa thành niên được quy định trong Luật hơn nhân gia đình, theo đó:
-
Cơng nhận thuận tình ly hơn giữa ơng Đức và bà Trang
-
Giao cháu Nguyễn Đức Ý Nhi cho bà Trang trực tiếp nuôi dưỡng, buộc ông
Đức cấp dưỡng nuôi con số tiền 20.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu
Nhi đủ 18 tuổi.
-
Chia cho bà Trang được nhận một nửa tài sản chung đã trình bày, bà Trang
nhận bằng hiện vật.
-
Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Trang liên đới trả
số nợ 11.780.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Năm và ông Nguyễn Việt
Đức.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
20