ĐẠI HỌC QC GIA THÀNH PHỊ HỊ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT
NGUYEN PHAN NGOC TRAM
XỬ LÝ TÀI SÀN TRONG HỢP ĐƠNG TẶNG CHO
CĨ ĐIỀU KIỆN KHI VIỆC KẾT HÔN KHÔNG THÀNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật Dân sự và Tổ tụng Dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: PGS - TS DƯƠNG ANH SƠN
TP. HỊ CHÍ MINH - NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan, Luận văn này là cơng trình nghiên cứu của bản thân tôi, dưới
sự biết ơn đối với Phó Giáo sư - Tiến sĩ Dương Anh Sơn, người được giao trách nhiệm
và tận tình hướng dẫn cho cơng trình khoa học này. Các thơng tin nêu trong Luận văn là
trung thực. Các ý kiến, quan điếm, khái niệm không thuộc ý tưởng hoặc kết quả tổng
hợp của chính bản thân, đều được tác giả dẫn nguồn đầy đú. Tơi xin chịu trách nhiệm về
tính trung thực và khách quan của các kết quả nghiên cứu trong Luận văn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Phan Ngọc Trâm
DANH MỤC TÙ VIẾT TẮT
STT
Tù’ viết tắt
Cum từ cần viết tắt
•
1
BLDS
Bơ lt Dân sư
•••
2
HNGĐ
Hơn nhân gia đình
3
HĐTCTS
4
HĐTCTSCĐK
Hợp đồng tặng cho tài sán
Hợp đồng tặng cho tài sản có
điều kiên
•
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................................3
DANH MỤC TÙ VIẾT TẮT..........................................................................................4
MỤC LỤC.........................................................................................................................5
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu...................................................................................................2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................3
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn............................................................................3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn...........................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................4
4.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................................4
4.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................5
6. Kết cấu luận văn...........................................................................................................5
CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VỀ xử LÝ TÀI SẢN TRONG HỢP ĐỒNG TẶNG
CHO CÓ ĐIÈU KIỆN KHI VIỆC KÉT HÔN KHÔNG THÀNH.............................6
1.1 Đặc điểm quan hệ tặng cho tài sản trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều
kiện trước khi kết hơn theo quy định của pháp luật dân sự.......................................6
1.1.1 Tài sản tặng cho.......................................................................................................6
1.1.2 Việc tặng cho tài sán là có điều kiện.......................................................................9
1.1.3 Thời điềm có hiệu lực cùa hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện......................20
1.2 Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu xử lý tài sản trong
HĐTCTSCĐK khi việc kết hôn không thành.............................................................22
1.2.1 Khái niệm xử lý tài sản trong HĐTCTSCĐK.......................................................22
1.2.2 Thực trạng các quy định về xử lý tài sản trong HĐTCTSCĐK khi việc kết hôn
không thành....................................................................................................................23
1.2.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề xử lý tài sàn trong hợp đồng tặng cho tài
sản có điều kiện khi việc kết hôn không thành..............................................................27
KÉT LUẬN CHƯƠNG 1..............................................................................................29
CHƯƠNG 2 THỤC TIỄN xử LÝ TÀI SẢN TRONG HỢP ĐỊNG TẶNG
CHO CĨ ĐIỀU KIỆN KHI VIỆC KÉT HƠN KHƠNG THÀNH VÀ....................30
KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN PHÁP LUẬT................................................................30
2.1 Thực tiễn xử lý tài sản khi việc kết hôn không thành........................................30
2.1.1 Xử lý tài sản theo tập quán địa phương................................................................30
2.1.1.1 Phong tục cưới hỏi của dân tộc Thái..................................................................30
2.1.1.2............................................................................................................................ Lễ
xin phép đi lại của người Ê-đê.......................................................................................31
2.1.1.3 Tục “thách cưới cao” của đồng bào dân tộc Jrai...............................................32
2.1.1.4............................................................................................................................ Vậ
n dụng tập quán trong xét xử.........................................................................................34
2.1.2 Xử lý tài sản theo quy định của pháp luật dân sự.................................................35
2.2
Bất cập về xử lý tài sản trong HĐTCTSCĐK khi việc kết hôn không thành
và Kiến nghị hoàn thiện pháp luật...............................................................................42
2.2.1 Bất cập về việc xác định bản chất quan hệ tranh chấp và kiến nghị hoàn thiện ...42
2.2.1.1 Bất cập về việc xác định bản chất quan hệ tranh chấp.......................................42
2.2.1.2............................................................................................................................ Ki
ến nghị hoàn thiện pháp luật..........................................................................................46
2.2.2
Bất cập trong việc áp dụng tập quán và kiến nghị hoàn thiện...........................47
2.2.2.1 Bất cập trong việc áp dụng tập quán..................................................................47
2.2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện........................................................................................48
2.2.3 Bất cập trong việc áp dụng pháp luật dân sự và kiến nghị hoàn thiện.................49
2.2.3.1............................................................................................................................ Tr
ường hợp bên được tặng cho thực hiện một phần điều kiện.........................................49
2.2.3.2 Người được tặng cho không thực hiện được điều kiện kết hơn do lồi của
chính người tặng cho.....................................................................................................50
2.2.3.3 Loại tài sản bên tặng cho được quyền đòi lại khi điều kiện kết hôn không
thực hiện được...............................................................................................................52
2.2.3.4 Hướng xử lý tài sản trong trường hợp tài sản hình thành có cơng sức đóng
góp cùa bên được tặng cho.............................................................................................54
2.2.3.5 Cách thức giải quyết đối với tài sản tặng cho được đầu tư tăng thêm giá trị ....55
KẾT LUẬN CHU ƠNG 2..............................................................................................57
KẾT LUẬN.....................................................................................................................58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÃO.......................................................................1
PHỤ LỤC..........................................................................................................................4
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo phong tục tập quán xưa cua người Việt, việc kết hôn được thực hiện qua
các lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh diễn ra cho họ hàng,
bạn bè chung vui, trở thành vợ chồng. Theo pháp luật, hơn nhân hợp pháp từ khi họ
đăng kí kết hôn tại úy ban nhân dân nơi một trong hai người sinh sống thường trú. Từ
thời điểm đó, quyền và nghĩa vụ của họ được pháp luật bảo vệ.
Pháp luật HNGĐ bảo vệ họ từ lúc trở thành vợ chồng khi đã đăng kí kết hơn.
Tuy nhiên, quan hệ tặng cho tài sản của nhà trai cho nhà gái tại thời điểm trước khi đăng
ký kết hơn thì pháp luật chưa điều chỉnh đến. Theo tập quán từ xưa cho đến nay, một
trong những thủ tục quan trọng trước lễ cưới đó chính là lễ hởi (đính hơn). Tại buối lễ
này, nhà trai mang tài sản sang nhà gái đế hởi vợ. Hiện nay, giá trị của tài sản do nhà trai
tặng cho nhà gái để thực hiện thủ tục này có giá trị ngày càng cao, từ động sản đến bất
động sản bao gồm: tiền, vàng và các quyền tài sản khác. Tuy nhiên, một số ít gia đình từ
giai đoạn sau lễ hởi đến trước lễ cưới do không thống nhất được quan điểm dẫn đến bất
đồng, lễ cưới khơng diễn ra. Vì nhà trai khơng cưới được vợ, không được con dâu mà
những tài sản tặng cho này lại có giá trị cao nên nhà trai muốn đòi lại tất cả tài sản tặng
cho ban đầu. Hiện nay, pháp luật chưa đề cập đến vấn đề này một cách cụ thề trong các
văn bản pháp luật.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện nay, đa phần áp dụng tập
quán, phong tục khi chưa có quy phạm pháp luật điều chính trực tiếp hay áp dụng quy
định tương tự của pháp luật dân sự để giải quyết các vụ án về xử lý tài sản trong hợp
đồng tặng cho có điều kiện khi việc kết hôn không diễn ra. Pháp luật không quy định cụ
thể nên khi Tòa án giải quyết gặp nhiều vướng mắc, khó khăn cũng như khơng thống
nhất quan điểm trong giải quyết vấn đề này. Xuất phát từ thực trạng pháp luật này cũng
như thực tiễn xét xử, tác giả đã lựa chọn đề tài “Xử lý tài san trong hợp đồng tặng cho
có điều kiện khỉ việc kết hơn khơng thành theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có một số cơng trình khoa học ở Việt Nam liên quan đến đề tài như:
Lê Thị Giang (2019), Hợp đồng tặng cho tài sân theo pháp luật Việt Nam - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, trường ĐH Luật Hà Nội. Luận án
đã nghiên cứu bản chất pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản, bàn về hình thức hợp
đồng, phân loại hợp đồng tặng cho tài sản, thời điểm chuyển giao quyền tài sản khi giao
kết hợp đồng tặng cho tài sản. Ngoài ra, luận án đã đi nghiên cứu sâu một phần về hợp
đồng tặng cho có điều kiện. Tuy nhiên, luận văn tiếp tục nghiên cứu hợp đồng tặng cho
có điều kiện với một điều kiện cụ thể: tặng cho tài sản đế việc kết hôn thành. Sau khi
nghiên cứu, giải quyết các vấn đề phát sinh khi vi phạm điều kiện tặng cho và hướng xử
lý tài sản tặng cho.
Đồ Văn Đại và Lê Thị Diễm Phương, “Tranh chấp sính lễ khi hơn ước bị hủy
bỏ", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2014. Bài viết cơ bản đã tái hiện tại sự tồn tại của
đính hơn và sính lễ quy định trong luật xưa và nay, hướng xử lý cơ bản khi tranh chấp
sính lễ theo tập quán và theo pháp luật dân sự hiện nay. Tuy nhiên bài viết chưa làm rõ
lồi của các bên khi tranh chấp, luận văn sẽ phân tích cụ thể mức độ lỗi của các bên dẫn
đến hôn nhân không diễn ra, giải quyết xừ lý tài sản cụ thể, tỉ lệ phân chia tài sản đã tặng
cho, xác định tài sản sẽ hồn trả, tài sản khơng hồn trả, lồi các bên có mối quan hệ nhân
quả đối với việc xử lý tài sản.
Tấn Chinh - TAND Quận 10, “Tặng cho sính lễ trong ngày đám hỏi có được
xem là họp đồng tặng cho có điều kiện?”, Diễn đàn pháp luật - Website TAND TPHCM,
truy cập cập ngày 6/10/2019. Bài viết đã phân tích mối quan hệ của việc tặng cho sính lễ
theo quy định cua hợp đồng tặng cho có điều kiện của BLDS 2005, tuy nhiên hiện nay,
BLDS 2005 đã hết hiệu lực và bài viết theo hướng không phải là hợp đồng tặng cho,
việc tặng cho đã kết thúc không phát sinh điều kiện. Cho nên, luận văn tiếp tục nghiên
cứu bố sung các quy định về sính lễ có liên quan BLDS
2015 hiện tại và phân tích điêu kiện trong tặng cho sính lê tơn tại như thê nào, có phải là
điều kiện có hiệu lực của việc tặng cho sính lễ.
Lê Vĩnh Châu (2014) “Hoàn trả tài sản tặng cho khi đính hơn", Sách tình huống
. Trong tình huống Tịa án đã giải quyết vụ án rằng có tài sản được hồn trả và có tài sản
khơng được hồn trả dựa vào hợp đồng tặng cho và tập quán. Tuy nhiên, vụ án được
phân tích theo BLDS 2005. Luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu để giải quyết vấn đề theo
BLDS 2015.
Đồ Văn Đại (2017), “Hợp đồng có điều kiện thực hiện ”, Luật hợp đồng Việt
Nam Bản án và Bình luận bản án tập 2, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam. Tài
liệu đã chứng minh sự tồn tại cúa HĐTCTSCĐK theo quy định của BLDS dựa trên hai
cơ sở, “các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Luận văn tiếp tục nghiên cứu và
chứng minh việc tặng cho sính lễ là một thỏa thuận có điều kiện tặng cho, khi việc thỏa
thuận khơng được lập thành văn bản, điều kiện thực hiện hợp đồng không được các bên
tuyên bố mà ngầm khẳng định, khi phát sinh mâu thuẫn, căn cứ để các bên bảo vệ quyền
lợi của mình.
Đỗ Văn Đại (2017), “Yêu cầu đối với điều kiện trong hợp đồng”, Luật họp đồng
Việt Nam Bản án và Bình luận bản án tập 2, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.
Tài liệu đã phân tích yêu cầu đối với điều kiện trong hợp đồng, điều kiện không được
trái với đạo đức xã hội và điều kiện không vi phạm điều cấm, hệ quả của điều kiện
không đáp ứng đúng yêu cầu của pháp luật quy định. Luận văn tiếp tục nghiên cứu và
phân tích điều kiện kết hơn trong thỏa thuận tặng cho và đánh giá xem có thuộc trường
hợp vi phạm điều cấm cùa pháp luật, trái đạo đức xã hội hay không?
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về xử lý
tài sản khi việc kết hôn không thành như đặc điểm cùa HĐTCTSCĐK khi kết hôn, vấn
đề xử lý tài sản tặng cho khi kết hôn không thành, ...Trên cơ sở nghiên cứu các vân đê lý
luận, tại chương 2 của Luận văn, tác giả sẽ làm rõ thực trạng pháp luật khi phát sinh
tranh chấp đòi lại tài sản tặng cho trước khi kết hôn, chỉ ra những bất cập cua pháp luật.
Từ đó, tác giả thực hiện mục đích quan trọng nhất cua Luận văn là đưa ra các kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản trong HĐTCTSCĐK khi việc kết hôn không thành.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các cơng trình khoa học đã cơng bố, luận văn
tiếp tục nghiên cứu làm rõ các nội dung sau đây:
- Phân tích bản chất pháp lý của việc tặng cho tài sản trong hợp đồng tặng cho
có điều kiện, căn cứ pháp lý, cơ sở để xử lý tài sản trong hợp đồng tặng cho khi việc kết
hôn không thành;
- Bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp, xử lý tài sản khi pháp luật
HNGĐ và BLDS chưa có quy phạm điều chinh trực tiếp;
- Đánh giá quy định của Luật HNGĐ và BLDS có liên quan, từ đó đề xuất
hướng hoàn thiện pháp luật trong vấn đề này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các phong tục tập quán tốt đẹp và quy định của
pháp luật về hôn nhân và dân sự liên quan đến HĐTCTSCĐK tại BLDS 2015. Xác định
đúng bản chất pháp lý của quan hệ tặng cho tài sản có điều kiện khi việc kết hơn khơng
thành để có cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản từ đó, thấy được những bất cập khi giải
quyết các vụ án về xử lý tài sản trong hợp đồng tặng cho có điều kiện và đưa ra hướng
hoàn thiện hệ thống pháp luật HNGĐ và Dân sự.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài giới hạn tại các quy định của Luật HNGĐ 2014 và Nghị định
126/2014/NĐ-CP cụ thể tại Điều 6, Điều 7 Luật HNGĐ 2014 và các quy định của
BLDS 2015 tại Điêu 457 đên Điêu 462 và các quy định vê hợp đơng nói chung, vê tặng
cho tài sản có điều kiện, điều kiện thực hiện hợp đồng tặng cho và kết quả xứ lý tài sản
tặng cho khi việc kết hôn không thành. Đề tài còn tham khảo quy định một số điều luật
nước ngồi có liên quan để đề xuất giải pháp hồn thiện pháp luật.
5.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu có hiệu quả đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp và bình luận xun suốt q trình nghiên cứu. Phân tích quy định của pháp luật
HNCiĐ và BLDS về các vấn đề liên quan đến tặng cho tài sản có điều kiện. Phương
pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái
quát kết quá nghiên cứu tại chương 1 và chương 2 của luận văn. Cụ thể:
Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, nghiên cứu bản chất của quá trình
tặng cho tài sản trong hợp đồng tặng cho có điều kiện, tìm ra căn cứ pháp lý đế xử lý tài
sản tặng cho này khi việc kết hôn không thành, xác định đúng lồi các bên, và phương
thức xử lý tài sản đúng đắn. Nhận xét ưu điểm và khuyết điểm của những quy định pháp
luật hiện đại, nhất là trong vấn đề hôn nhân, chứng minh sự cần thiết bố sung các quy
định liên quan đến việc xử lý tài sản trong họp đồng tặng cho có điều kiện hay phát triền
một quy phạm mới trong lĩnh vực HNGĐ nói riêng và dân sự nói chung. Tham khảo học
hỏi quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, thống kê các vụ án liên
quan đến địi sính lễ, thống kê hướng xử lý của các Tòa, tống hợp và rút ra nhận xét.
Ngồi ra tác giả sử dụng phương pháp bình luận các vụ án thực tế giải quyết các vụ án
việc xử lý tài sản trong hợp đồng tặng cho có điều kiện cụ thể để đưa thực tiễn vào
nghiên cứu chương 2 luận văn.
6.
Kết cấu luận văn
Luận văn được chia thành hai chương như sau:
Chương 1. Tông quan vê xử lý tài sản trong họp đơng tặng cho có điêu kiện
khi việc kết hôn không thành
Chương 2. Thực tiễn xử lý tài sản trong họp đồng tặng cho có điều kiện khi
việc kết hôn không thành, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
CHƯƠNG 1
TỐNG QƯAN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN TRONG HỌP ĐỊNG TẶNG CHO
CĨ ĐIÈU KIỆN KHI VIỆC KẾT HÔN KHÔNG THÀNH
1.1 Đặc điểm quan hệ tặng cho tài sản trước khi kết hôn trong
HĐTCTSCĐK theo quy định của pháp luật dân sự
Theo tập quán, việc tặng cho tài sản trước khi kết hôn được thề hiện thông qua
việc trao nhận tài sản của nhà trai dành cho nhà gái khi tiến hành hỏi vợ. Truyền thống
này nhằm chúc mừng ngày vui của cô dâu và chú rể; bên cạnh đó, việc tặng cho có một
điều kiện ngầm hiểu rằng, tặng cho để tiến tới hơn nhân. Đe có quan hệ tặng cho tài sản,
nhà trai và nhà gái đã tự nguyện trao nhận tài sản cho nhau và thông thường việc trao
nhận tài sản này với mục đích chuyển quyền sở hữu tài sản từ phía nhà trai sang nhà gái
và tiến tới việc kết hôn.
1.1.1 Tài sản tặng cho
Tại thời điềm trao nhận các tài sản, nhà trai và nhà gái khơng nói việc trao nhận
là hợp đồng tặng cho; tuy nhiên về bản chất có tồn tại HĐTCTS vì các bên liên quan có
thỏa thuận một bên giao tài sản của mình là “sính lễ” và chuyến quyền sở hữu tài sản
này cho bên kia. Việc chuyển giao tài sản phải không mang tính đền bù, chỉ bên tặng
cho chuyển giao lợi ích vật chất cho bên được tặng cho mà không nhận về một lợi ích
vật chất nào.
••••
Đối tượng của hợp đồng tặng cho là tài sản; điều này được thể hiện cụ thể tại nội
dung của Điều 457 BLDS năm 2015: ‘‘HĐTCTS là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sỏ’ hữu cho bên được tặng cho...”.
Mọi tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản đều có thể trở thành đối tượng của HĐTCTS. Tài sản tặng cho có thể là
động sản, bất động sản; tài sản hiện có. Riêng đối với tài sản hình thành trong tương lai
thì việc xác định loại tài sản này có trở thành đối tượng của HĐTCTS hay khơng cịn
chưa thống nhất.
Nếu ngày xưa, "sính lễ” thường là trầu cau, chén rượu, mâm xơi thì hiện nay
ngồi những lễ vật truyền thống cịn có tài sản có giá trị như vàng, tiền, đá quý hay
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, ... Bên cạnh đó, vẫn cịn tồn tại nhiều phong tục
"sính lễ” đặc trưng của các dân tộc. Điển hình như lễ cưới theo phong tục Jrai ở buôn
Rưng (thị xã Ayun Pa), bởi chế độ mẫu hệ nên khi chuẩn bị cho lễ cưới thì nhà gái phải
thực hiện hồn tồn mà khơng có sự chia sẻ, phối hợp của phía nhà trai, chưa kề nhà gái
cịn phải đảm bảo có đồ "sính lễ” theo u cầu nhà trai như bạc trắng, tiền mặt, của hồi
môn, trâu, bò, chiêng ché ... Trong phong tục cưới hỏi xưa của người dân tộc Thái, trước
khi kết hôn, nhà trai phải đem "sính lễ” đến nhà trưởng bản xem như một tục ra mắt.
"Sính lễ” là mấy chục đồng bạc, ngoài ra phải mang tiền đến cho cha mẹ cô gái, không
những vậy còn phái mang tiền đến biếu “người chị cả” trong bản. Nếu đạt yêu cầu mới
được nhà cô gái chấp nhận cho làm lễ cưới.
Đe trở thành đối tượng của họp đồng tặng cho thì tài sản phải thỏa mãn các điều
kiện sau đây:3
Thứ nhất, tài sản tặng cho phải được phép giao dịch
Các chủ thế được toàn quyền tặng cho tài sản tự do lưu thông mà khơng phải
chịu bất kì hạn chế nào của pháp luật. Khi các bên xác lập HĐTCTS với tài sản hạn chế
lưu thơng thì cần tn thủ các điều kiện theo quy định cùa luật (như tặng cho ngoại tệ).
Còn đổi với tài sản cấm lưu thông như ma túy, vũ khí,...thì các bên chú thề khơng được
phép tặng cho. Trường họp các bên tặng cho tài sản cấm lưu thông thì HĐTCTS bị vơ
hiệu tuyệt đơi; khơng phát sinh hiệu lực giữa bên tặng cho và bên được tặng cho.
Thứ hai, tài sản tặng cho phải thuộc sở hữu của người tặng cho tài sản
Mục đích của HĐTCTS nhằm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản. Do vậy, chỉ
chủ sở hữu tài sản mới có quyền định đoạt tài sản thông qua phương thức tặng cho.
Trường hợp một người tặng cho tài sản của người khác khi không được sự đồng ý của
người đó thì họ đã xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ tài sản và phải chịu các trách
nhiệm pháp lý. Việc xác minh tài sản tặng cho thuộc sở hữu của bên tặng cho được thực
hiện như sau:
(i) Đối với tài sản phải đăng ký sở hữu như quyền sử dụng đất, nhà ở, ô tô, xe
máy, tàu thuyền...bên được tặng cho cần căn cứ vào các thông tin trên giấy tờ chứng
nhận sở hữu (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sàn khác gắn liền với đất;
đăng ký xe mô tô, ô tô...) để xác định tư cách sở hữu của bên tặng cho tài sản;
(ii) Đối với tài sản không phải đăng ký sở hữu: khi xác lập HĐTCTS với tài sản
khơng đăng ký sở hữu thì việc xác định chủ sở hữu thường dựa trên cơ sở suy đốn.
Thơng thường, người đang chiếm hữu tài sản trên thực tế được suy đoán là chủ sở hữu
tài sản. Việc suy đốn có thế dẫn tới hậu quả tài sản tặng cho không thuộc sở hữu cùa
bên tặng cho. Người tặng cho có thể biết hoặc khơng biết về việc tài sản tặng cho không
thuộc sở hữu của họ. Tùy từng trường hợp mà sẽ có cách thức giải quyết tương ứng đối
3 Lê Thị Giang (2019), Hợp đồng tặng cho tài sán theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận án tiến sì Luật học, tr.64-66
với tài sản tặng cho.
Thứ ba, tài sản tặng cho không đang bị tranh chấp về quyền sở hữu
Tài sản đang bị tranh chấp về quyền sở hữu là tài sản đang có hai hay nhiều
người cùng xác nhận quyền sở hữu của mình và phủ định quyền sở hữu của người kia
đối với tài sản. Điều kiện này thực chất là hệ quả được rút ra từ điều kiện “tài sản tặng
cho phải thuộc sở hữu của người tặng cho tài sản”. Khi tài sản đang bị tranh chấp quyền
quyền sở hữu thì chưa thể xác định được ai là chủ sở hữu cúa tài
sản. Do vậy, với những tài sản đó thì các bên tranh châp không thê xác lập HĐTCTS.
Thứ tư, tài sản đang không bị kê biên để thi hành án
Theo quy định tại Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ - CP ngày 18 tháng 07 năm
2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Thi hành án dân sự
năm 2014 thì kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải
thi hành án chuyền đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho
người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và khơng cịn tài sản
khác hoặc tài sản khác không đủ đề đảm bào nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê
biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.1.2 Việc tặng cho tài sản là có điều kiện
Quan hệ tặng cho tài sản khi kết hơn có được coi là một dạng HĐTCTSCĐK hay
không? Thực tiễn xét xử cho thấy, các Tòa án đa số khẳng định tồn tại họp đồng tặng
cho tài sản có điều kiện và nêu rõ điều kiện là “các bên sẽ tổ chức lễ cưới ”. Bản án số
13/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp 4 cũng khắng
định “Việc anh H cho chị T vàng cưới đã phát sinh quan hệ “Hợp đồng tặng cho tài sản
có điều kiện Vì ngồi lễ vật như trầu, cau, rượu, bánh, trà thì anh H cịn tặng cho chị T
vàng gồm lắc tay, dây chuyền, đơi bơng tai hột xồn đó là vàng cưới với điều kiện anh
H và chị T thành vợ chồng Khi phía nhà trai trao tài sản cho nhà gái, hồn tồn có thể
suy luận rằng nhà trai làm việc đó với ý định rằng việc kết hơn sẽ diễn ra. Vì khơng ai
tiến hành trao tài sản cho nhà gái mà lại nghĩ rằng hay mong muốn rằng việc kết hơn sẽ
khơng diễn ra. Vì vậy, hồn tồn có thể khẳng định tồn tại HĐTCTSCĐK xuất phát từ
việc nhà trai trao tài sản cho nhà gái với điều kiện “các bên sẽ tố chức lễ cưới ”.
Nói tóm lại, việc thừa nhận hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện như trên
khơng trái với Điều 462 BLDS và đây cũng là hướng giải quyết ở nhiều nước trên thế
giới. Vậy, thế nào là HĐTCTSCĐK?
BLDS hiện hành có một số quy định về tặng cho có điều kiện trong đó có
HĐTCTSCĐK. Cụ thể, Điều 462 BLDS 2015 quy định như sau:
422 Bân án số 13/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 cùa Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng
Tháp
“1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều
nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Trường họp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nêu bên được tặng
cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho khơng giao tài sản thì bên tặng cho phải
thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3. Trường họp phủi thực hiện nghĩa vụ sau khỉ tặng cho mà bên được tặng cho
khơng thực hiện nghĩa vụ, thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi
thường thiệt hại. ”
Nội dung Điều 462 BLDS 2015 có một số vấn đề cần phân tích là:
Vấn đề 1: Chủ thế thực hiện quan hệ tặng cho tài sản
Điều 8 Luật HNGĐ 2014 quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở
lên và không mất năng lực hành vi dân sự thì có quyền kết hôn. Như vậy, về mặt chủ
thề, nếu người con trai tặng cho tài sản cho người con gái đế làm “sính lễ” cho việc kết
hơn thì họ phải là người đủ tuổi kết hôn theo quy định của LHNGĐ.
Tuy nhiên, trường hợp trên không phải là điều kiện duy nhất đối với chủ thể
trong quan hệ tặng cho tài sản để thực hiện việc kết hôn. Thực tế vẫn tồn tại chủ thể tặng
cho tài sảnlà người chưa đủ tuổi kết hơn và mục đích tặng cho cũng nhằm mong muốn lễ
cưới diễn ra. Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ 2014 điều chỉnh độ tuổi kết hôn của
chú thể chứ khơng điều chính độ tuối tặng cho tài sán để thực hiện việc kết hơn. Do đó,
chủ thể thực hiện quan hệ tặng cho tài sản có thể là người đủ
hoặc chưa đủ tuôi kêt hôn nhưng phải thỏa mãn quy định của pháp luật dân sự vê chủ
thể tặng cho tài sản.
vấn đề 2: Bên tặng cho tài sản và bên được tặng cho tài sản phải là người có
năng lực pháp luật dân sự và có năng lực hành vi dân sự.
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân
sự và nghĩa vụ dân sự 5. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế trừ
trường hợp BLDS hoặc Luật khác có liên quan có quy định khác6.
- Năng lực hành vi dân sự cùa cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của
mình xác lập, thực hiện quyền nghĩa vụ dân sự7.
Chú thế tặng cho tài sản phải là người có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự đầy đủ. Bên tặng cho tự làm chủ hành vi và quyết định việc tặng cho của mình,
bên được tặng cho cũng tự quyết định trong việc nhận tài sản tặng cho để tiến hành kết
hôn.
Tương tự, trường hợp nhà trai tặng cho tài sản của mình cho nhà gái (tức ba mẹ
cúa chú rể thực hiện việc tặng cho đối với cô dâu và ba mẹ của cô dâu) nhằm mục đích
thỏa thuận việc kết hơn, kết thành thông gia. Chủ thể trong trường họp này, là ba mẹ của
chú rể và ba mẹ của cô dâu cũng phải là người có năng lực pháp luật và năng lực hành
vi dân sự để có thể tự ra quyết định và làm chủ hành vi của mình. Chủ thể trong hợp
đồng tặng cho có điều kiện này thỏa quy định của pháp luật dân sự.
vấn đề 3: Bên tặng cho tài sản và bên được tặng cho tài sản hoàn toàn tự
nguyện.
Nguyên tăc này được BLDS năm 2005 quy định tại Chương II (từ điêu 4 đên
điều 12); đến BLDS năm 2015, các nguyên tắc cơ bản này đã được đưa vào thành một
điều luật (Điều 3) với các nội dung ngắn gọn, súc tích, rõ ràng. Đây là một trong những
thành công của việc sửa đổi, bồ sung BLDS 2005 (nay là BLDS 2015).
Cụ thể Điều 3 BLDS 2015 quy định:
“1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều binh đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để
5Điều 16BLDS 2015
6Điều 86BLDS 2015
7Điều 19BLDS2015
phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên
và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
của mình một cách thiện chí, trung thực.
4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự khơng được xâm
phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cơng cộng, quyền và lợi ích họp pháp của
người khác”.
Đối với bên tặng cho, họ được tự mình quyết định việc chuyến giao tài sản thuộc
sở hữu của mình cho người khác mà khơng cần đền bù một lợi ích vật chất tương xứng.
Cịn đổi với bên được tặng cho, họ được quyền tự do quyết định nhận hay không nhận
tài sản tặng cho. Khi họ khơng nhận tài sản tặng cho thì quan hệ tặng cho khơng được
hình thành; cịn khi họ đã đồng ý nhận tài sản tặng cho thì hợp đồng tặng cho được xác
lập và họ phải chịu trách nhiệm về cam kết của chính mình.8
Việc kêt hơn do nam và nữ là tự nguyện quyêt định và không thuộc các trường
hợp cấm kết hôn theo Điểm b Khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014 đều được nhà nước và
pháp luật khuyến khích, bảo vệ. Hai bên gia đình nhà trai, nhà gái, tuy khơng có một
thỏa thuận cụ thể bằng văn bản, không tồn tại một họp đồng bằng văn bản về việc tặng
cho, tuy nhiên các chủ thể trong quan hệ tặng cho tài sản này thực hiện hợp đồng tặng
cho trên tinh thần tự nguyện giao kết, tự do thỏa thuận và bình đắng giữa hai bên, khơng
có sự phân biệt đối xử nào. Việc tặng cho này được thực hiện trước sự chứng kiến của
họ hàng, bạn bè hai bên gia đình. Tặng cho tài sản là cơ sở để hai bên cùng bàn bạc,
thống nhất ngày giờ cụ thể để thực hiện hôn lễ của đơi trai gái. Tuy khơng có văn bản
hợp đồng nào ghi nhận nhưng pháp luật dân sự chấp nhận giao kết họp đồng thơng qua
hình thức họp đồng bằng lời nói, nếu khơng thuộc các trường hợp pháp luật bắt buộc
giao kết bằng hình thức văn bản. Việc giao kết thởa thuận tặng cho này không nhằm
8Lê Thị Giang (2018), “Nhận diện hợp đồng tặng cho tài san theo quy định cùa pháp luật Việt Nam", Tạp
chí Luật học, số 9/2018, tr.22.
giao kết một hợp đồng hôn nhân, hôn nhân là tự nguyện. Tài sản tặng cho là quà cưới
mà nhà trai tặng cho nhà gái, thể hiện tình cảm thơng gia, là một phần chuẩn bị cho lễ
cưới chính thức. Việc tặng cho sính lễ là một tập tục quen thuộc trong việc cưới hỏi tại
Việt Nam.
Vấn đề 4: Thực hiện hợp đồng với điều kiện là bên được tặng cho phải thực hiện
nghĩa vụ dân sự theo yêu cầu của bên tặng cho.
Trong quan hệ này, các bên đã thống nhất với nhau về hợp đồng nhưng việc hợp
đồng có phát sinh hay khơng cịn phụ thuộc vào một điều kiện. Thông thường là một sự
việc trong tương lai chưa chắc chắn sẽ xảy ra. Khi điều kiện xảy ra thì hợp đồng phát
sinh cịn khi điều kiện khơng xảy ra, họp đồng coi như chưa phát sinh với hệ quả là nếu
các bên đã trao nhận tài sản thì các bên phải khơi phục tình trạng ban đầu. Khi quy định
về tặng cho tài sản có điều kiện, BLDS có quy định về loại điều kiện đang được phân
tích Khoản 1 Điều 462 BLDS theo đó “Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho
thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”.
Khái niệm “nghĩa vụ” được hiêu là một quan hệ pháp luật dân sự, bao gôm các
bên chủ thể, trong đó một bên chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ
dân sự phải chuyền giao một tài sản, phải thực hiện một công việc hoặc không được
thực hiện một công việc, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản. Chỉ những tài sản có
thể đem giao dịch và những cơng việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm,
không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghĩa vụ dân sự. Việc thực hiện nghĩa vụ
đến đâu, nghĩa vụ được thực hiện ở mức độ nào, còn tuỳ thuộc vào hành vi pháp lý của
các bên trong quan hệ nghĩa vụ. Đó cũng là căn cứ để xác định hành vi thực hiện đúng,
đầy đủ nghĩa vụ dân sự hoặc hành vi xâm phạm quan hệ nghĩa vụ dân sự9.
Xét về mặt pháp lý, Điều 274 BLDS 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo
đó, một hoặc nhiều chú thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật,
chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện cơng việc hoặc khơng được
thực hiện cơng việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi
chung là bên có quyền)” . Như vậy, đối tượng cúa nghĩa vụ chính là tài sản và công việc
(bao gồm công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện). Theo nội dung của
những quy định trên, nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân
thân của các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chú thể mang nghĩa
vụ phái chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một
việc vỉ lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về
tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên
có quyền.
Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể
mang quyền. Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể trong quan hệ
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các bên xác lập quan hệ
nghĩa vụ dân sự.
Việc bên tặng cho đặt ra yêu câu nêu trên có thê được coi là đã đặt điêu kiện cho
việc tặng cho. Khi bên được tặng cho không thực hiện yêu cầu trên (tức không thực hiện
nghĩa vụ mà bên tặng cho đặt ra), chúng ta có thể cho rằng điều kiện để làm phát sinh
hợp đồng tặng cho đã không xảy ra và lúc đó hợp đồng tặng cho chưa được coi là đã
9 truy cập ngày 13/06/2020.
phát sinh với hệ quả là, nếu bên tặng cho đã giao tài sản, tài sản phải hoàn trả cho bên
tặng cho. Thực ra, khoản 3 Điều 462 BLDS đã thế hiện hướng giải quyết vừa nêu với
nội hàm: “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho
khơng thực hiện nghĩa vụ, thì bên tặng cho có quyền địi lại tài sản và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 276 BLDS năm 2015 thi “đối tượng của nghĩa
vụ phải được xác định.” Như vậy, điều kiện tặng cho chính là một nghĩa vụ mà bên được
tặng cho phái thực hiện, do đó, điều kiện tặng cho phái được xác định theo quy định
chung của nghĩa vụ. Tính xác định của nghĩa vụ nói chung và điều kiện tặng cho nói
riêng được thể hiện thơng qua chính đối tượng của nghĩa vụ: i) Nếu đối tượng của nghĩa
vụ là tài sản thì cần phải xác định cụ thế về loại tài sản, số lượng tài sản. Đối với tài sản
hình thành trong tương lai thì loại tài sản này cũng được xác định qua các mô tả chi tiết
tài sản; ii) Nếu đối tượng của nghĩa vụ là công việc thì cần xác định loại cơng việc, địa
điểm thực hiện công việc, công việc hướng tới chú thể nào ...Tính xác định là một u
cầu khơng thể thiếu đối với điều kiện tặng cho, bởi lẽ, nếu điều kiện tặng cho khơng
được xác định cụ thể thì bên được tặng cho khơng có đủ cơ sở để hồn thành điều kiện
mà bên tặng cho đưa ra.
Theo những phân tích trên, trong trường hợp HĐTCTSCĐK được giao kết để
tiến hành lễ cưới chính thức, nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản là thực hiện việc lễ
cưới theo ngày giờ đã được định sẵn theo thỏa ước giữa hai bên gia đình. Nghĩa vụ được
thực hiện ở đây là thực hiện một công việc nhất định. Tuy nhiên, việc xác định nghĩa vụ
thực hiện lề cưới thực tế theo đúng dự định chỉ là nghĩa vụ ngầm hiểu không được thỏa
thuận cụ thể trong hợp đồng. Nên, khi có tranh chấp phát sinh, một trong hai bên cho
ràng bên kia đã vi phạm nghĩa vụ thực hiện điều kiện của việc tặng cho tài sản để thực
hiện kết hôn, một bên khởi kiện địi lại tồn
bộ tài
sản đã tặng cho. Xét vê nghĩa vụ không được thực hiện ở đây gây tôn thât tinh thần của
cả hai bên gia đình, một bên khơng cưới được dâu, một bên khơng có con rể, tuy nhiên
nếu đồ trách nhiệm cúa việc thực hiện nghĩa vụ này chỉ do một bên thì không họp lý,
nghĩa vụ thực hiện tiến hành hôn lễ thực tế như đã định là nghĩa vụ xuất phát từ hai
phía, hai nghĩa vụ trong trường hợp hơn nhân khơng thành có thế xuất phát ngun nhân
từ một hoặc cả hai phía. Vậy, một bên khới kiện địi lại tất cả phần tài sản đã tặng cho là
vấn đề cịn nhiều tranh cãi, chưa hợp lý.
•
•
•
4^2
•
•
7
•
•
•
Bên cạnh đó, Điều 462 BLDS theo hướng có thể tồn tại hợp đồng “tặng cho tài
sản có điều kiện” nhưng không cho biết điều kiện này phải là điều kiện minh thị hay
điều kiện ngầm định. Do đó, điều kiện trong họp đồng tặng cho hồn tồn có thể là điều
kiện ngầm định và việc Tòa án xác định tồn tại HĐTCTSCĐK xuất phát từ việc nhà trai
trao sính lễ cho nhà gái là không trái với quy định của 462 BLDS. Khi phía nhà trai trao
sính lễ cho nhà gái, hồn tồn có thể suy luận rằng nhà trai làm việc đó với ý định rằng
việc kết hơn sẽ diễn ra (khơng ai tiến hành trao sính lễ cho nhà gái mà lại nghĩ rằng hay
mong muốn rằng việc kết hơn sẽ khơng diễn ra)10.
Vấn đề 5: Tính hợp pháp của điều kiện
Theo từ điển Tiếng Việt: “Điều kiện” là “thứ cần phải có để cho cái khác tồn tại”
hay là “điều cần thiết phải có để đạt được mục đích, cơ sở của một sự thỏa thuận”.
Vào thời La Mã cổ đại, cũng đã tồn tại những quy định về giao dịch có điều kiện
(condicio) “là những tình huống được đặt ra trong họp đồng gắn với những hậu quả
pháp lý nhất định”. Theo đó điều kiện là sự kiện có thể xảy ra và khơng chắc chắn phải
xảy ra11.
- Điêu kiện tặng cho không được vi phạm điêu câm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội.
Điều 462 BLDS 2015 quy định "bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho
thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho”. Điều này cũng nêu lên
quan điểm khoa học pháp lý về điều kiện tặng cho đó là việc thực hiện một hoặc nhiều
nghĩa vụ trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho. BLDS 2015 chưa đưa ra khái niệm cụ
thể về điều kiện trong HĐTCTSCĐK mà chỉ đưa ra yêu cầu đổi với điều kiện trong hợp
đồng tặng cho tại Khoản 1 Điều 462 BLDS 2015 "Điều kiện tặng cho không được vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
về nguyên tắc, một giao dịch trái pháp luật được hiếu là giao dịch vi phạm quy
10Đỗ Vãn Đại và Lê Thị Diềm Phương (2014), “Sính lễ trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 1/2014, tr.75.
11Lê Thị Diềm Phương, “Khái niệm về điều kiện trong hợp đồng có điều kiện” (2020), xem tại
truy cập ngày
27 tháng 6 năm 2020.
phạm pháp luật bắt buộc, được quy định cụ thề trong văn bản quy phạm pháp luật, cụ
thể là cấm làm một việc gì đó hay khơng được làm hay phải làm một điều gì bắt buộc.
Điều 123 BLDS 2015 định nghĩa điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp
luật không cho phép chủ thể thực hiện hành vi nhất định. BLDS 2015 đã thu hẹp phạm
vi điều cấm “của luật” so với BLDS 2005 là điều cấm “của pháp luật”. Trên thực tế,
trong nhiều văn bản luật, các giao dịch vi phạm các quy phạm bắt buộc phải làm một
việc thì bị coi là vơ hiệu. Hơn nữa, cịn có một cách hiểu khác, điều luật quy định phải
làm một việc, vậy hiểu ngầm của điều luật này là không được phép làm trái với quy
định của điều luật đó, nếu làm trái với quy định, điều luật này vần có thể bị xem là điều
cấm.
Mọi giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật đều bị xem là vô hiệu tuyệt đối.
Tham khảo luật pháp một số nước thì thấy, để xác định tính vơ hiệu tương đối hay tuyệt
đối khi nội dung hợp đồng vi phạm một quy phạm bắt buộc của pháp luật, việc phân
định quy phạm “cấm”, quy phạm “phải làm một việc” hoặc “khơng được làm một việc”
khơng có nhiều ý nghĩa, mà phải căn cứ vào việc quy phạm bắt buộc này có mục đích
bảo vệ lợi ích cơng cộng hay lợi ích cá nhân. Nếu quy phạm đó nhằm bảo vệ lợi ích
cơng cộng thì hợp đồng sẽ vơ hiệu tuyệt đối, ngược lại, nếu nhăm bảo vệ lợi ích cá nhân
thì hợp đơng sẽ bị vơ hiệu tương đôi. ơ Việt Nam, mọi trường hợp vi phạm điều cấm
đều dần đến vô hiệu tuyệt đối. Chẳng hạn, Điều 468 BLDS 2015 quy định về mức lãi
suất cho vay tối đa nhằm tránh việc bên cho vay có thể lợi dụng hoàn cảnh của bên vay
để áp đặt mức lãi suất quá cao. Các Tòa án đều coi điều khoản lãi suất của một họp đồng
vay tài sản vi phạm Điều 468 BLDS 2015 là vô hiệu tuyệt đối12.
Vậy điều kiện “phải kết hôn” trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện như
trên có đáp ứng yêu cầu “không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội” hay không? Theo Điều 39 BLDS, “nam, nữ có đủ điều kiện kết hơn theo
quy định của pháp luật về HNGĐ có quyền tự do kết hơn ” . Ở đây, nam và nữ “có
quyền tự do kết hôn” và đây “là một trong những quyền nhân thân quan trọng gắn với
mỗi người”. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 Luật
12 phamdieu-cam-cua-phap-luat-hoac-trai-dao-duc-xa-hoi/vn, truy cập ngày 13/06/2020.
HNGĐ 2014, việc kết hôn là tự nguyện, do nam và nữ quyết định. Đặt ra điều kiện tặng
cho tài sản để kết hơn có vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội khơng, có vi phạm với
ngun tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ do Hiến pháp quy định hay khơng? Có nhiều ý
kiến xung quanh vấn đề này cho rằng:
- Điều kiện trong hợp đồng tặng cho được thực tiễn ghi nhận là “việc các bên tố
chức lễ cưới theo ngày giờ đã định”, điều này không đồng nghĩa với việc bắt buộc kết
hơn. Nói cách khác, điều kiện này không buộc hai bên nam nữ phải kết hôn với nhau
nếu họ không mong muốn nên điều kiện này không trái với quy định về tự do kết hôn. 13
Tuy nhiên, nếu điều kiện kết hôn được thực hiện thì họp đồng tặng cho phát sinh hiệu
lực.
- Luồng quan điểm khác cho rằng, đặt ra điều kiện thực hiện kết hôn trên thực tế
là một dạng của ép buộc thực hiện hôn nhân, nếu là điều kiện gây ra hôn nhân bị cưỡng
ép là trái với quy định của Luật HNGĐ 2014, điêu kiện này vô hiệu dẫn đến
HĐTCTSCĐK thành hợp đồng tặng cho khơng có điều kiện hoặc HĐTCTSCĐK đó vơ
hiệu hồn tồn, khơng tồn tại hợp đồng tặng cho. Tuy nhiên, quan điểm này chưa có
thống nhất, cịn nhiều mâu thuẫn.
Theo tác giả, điều kiện kết hơn trong họp đồng tặng cho tài sản có điều kiện
không buộc các bên phải kết hôn nếu họ không mong muốn nên không trái với quy định
về tự do kết hôn. Việc thiết lập chế độ HNGĐ theo pháp luật là do nam và nữ tự nguyện
quyết định, khơng ai có quyền cưỡng ép, cản trở, việc tặng cho có điều kiện là để tiến
hành một lễ cưới theo tập tục dân gian, tặng cho tài sản được xem là quà cưới của đôi
trẻ, thủ tục cưới hởi đầy đủ lễ nghĩa, hồnh tráng, khơng có ý định ép buộc cho đôi trẻ
kết hôn, dẫn đến vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội.
Loại điều kiện trên khá phổ biến và không ảnh hưởng tới tự do kết hôn nên theo
tôi là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
- Điều kiện tặng cho phải có khả năng thực hiện được
Bên tặng cho có thể đưa ra điều kiện về việc chuyển giao tài sản hay thực hiện
hoặc không được thực hiện một công việc, vấn đề đặt ra là, Điều 462 BLDS năm 2015
13Tranh chấp sính lề khi hơn ước bị húy bó (2014), Đồ Văn Đại và Lê Thị Diềm Phương, Tạp chí Khoa
học pháp lý số 1/2014, trường Đại học Luật TPHCM.
chưa dự liệu đến khả năng thực hiện được của điều kiện tặng cho. Nếu trong trường họp
bên tặng cho đưa ra một điều kiện không thế thực hiện được trên thực tế thì điều kiện
này có được thừa nhận hay không?
Khoản 3 Điều 282 BLDS năm 2005 đã ghi nhận vấn đề này: “Chỉ những tài sản
có thế giao dịch được, những cơng việc có thể thực hiện được mà pháp luật không cấm,
không trải đạo đức xã hội mới là đối tượng của nghía vụ dân sự". Điều này đã quy định
rất rõ “cơng việc có thế thực hiện được” mới trở thành đối tượng của nghĩa vụ. Tuy
nhiên, Điều 276 BLDS năm 2015 không tái ghi nhận điều kiện này. Thực chất, tặng cho
tài sản là họp đồng; do vậy, điều kiện tặng cho cũng phải được sự đồng ý của bên tặng
cho. Do đó, với những điều kiện mang tính chất phi lý thì bên được tặng cho hồn tồn
có thể từ chối thực hiện nên khơng hình thành quan hệ tặng cho giữa bên tặng cho và
bên được tặng cho. Đối với hợp đồng tặng cho tài sản có điêu kiện, điêu kiện “phải kêt
hơn” hiên nhiên được xem là “cơng việc có thê thực hiện được” không chi đối với bên
được tặng cho mà cịn với cả bên tặng cho. Do đó, theo quan điểm cúa tác giả, việc ghi
nhận điều kiện tặng cho có thể thực hiện được trong BLDS là khơng cần thiết mặc dù
điều kiện tặng cho phải đáp ứng yêu cầu này.
1.1.3 Thời điếnt có hiệu lực của hợp done tặng cho tài sản có điều kiện
♦ •
•£
O•O
•
- Điều kiện kết hôn được thực hiện
Trong Điều 462 BLDS 2015 quy định về tặng cho tài sản có điều kiện khơng quy
định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Tại khoản 2 của
Điều 462 BLDS 2015 chỉ quy định “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng
cho, nếu bền được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho khơng giao tài
sản, thì bên tặng cho phải thanh tốn nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện. ”
Quy định này là chung chung, không xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
và trường hợp có một bên vi phạm hợp đồng thì khó xác định thời điểm vi phạm hợp
đồng. Việc tặng cho tài sản có điều kiện có phải tuân theo quy định tại Điều 458 (về
tặng cho động sản) và quy định tại Điều 459 BLDS 2015 (về tặng cho bất động sản) hay
không cũng là vấn đề cần được quan tâm.14
14Phạm Thị Hằng (2017), “Tặng cho tài sản có điều kiện và một số vướng mắc từ thực tiền”, Tạp chí
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản của HĐTCTSCĐK so với hợp đồng tặng cho tài
sản thông thường là HĐTCTSCĐK phát sinh hiệu lực khi điều kiện được đặt ra của bên
tặng cho đối với bên được tặng cho được thực hiện.
Dưới góc độ pháp lý, kết hơn là sự kiện pháp lý làm hình thành quan hệ hơn
nhân, là căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật. Kết hôn chịu sự điều chính của pháp luật và
ghi nhận trong các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Nhà nước bảo hộ việc kết
hôn của công dân. Cụ thể, Điều 36 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Nam, nữ có qun kêt
hơn, ly hơn. Hơn nhân theo ngun tăc tự nguyện, tiên bộ, một vợ một chồng, vợ chồng
bình đẳng tôn trọng lẫn nhau”. Điều 39 BLDS 2015: “Cá nhân có quyền kết hơn,ly hơn
quyền bình đắng vợ chồng.. .”15.
Pháp luật hiện hành quy định điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội. Điều kiện tác giả nghiên cứu là thực hiện việc kết
hôn thành, đây là điều kiện không roi vào các trường hợp vi phạm điều cấm của luật,
không trái với đạo đức xã hội. Điều kiện kết hôn thành là điều kiện làm phát sinh hiệu
lực của HĐTCTSCĐK.
- Quyền sở hữu tài sản khi điều kiện tặng cho chưa hoàn thành
Đối với hợp đồng tặng cho tài sản, thơng thường, khi việc tặng cho hồn thành,
người tặng cho khơng có quyền lấy lại tài sản và khơng thể cho người khác tài sản đã
cho, tức tài sản tặng cho thuộc sở hữu cúa bên được tặng cho. Tuy nhiên, đối với hợp
đồng tặng cho tài sản có điều kiện thì có sự khác biệt, đặc biệt trong trường hợp điều
kiện tặng cho chưa hồn thành thì tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể nào? Bên tặng
cho hay bên được tặng cho?
Thông thường, tại thời điểm tặng cho tài sản, việc kết hôn chưa xảy ra; nhưng tài
sán đã được bên tặng cho (nhà trai) trao cho bên được tặng cho (đại diện là cô dâu) để
nhà gái quản lý, sử dụng. Theo quy định tại Điều 458, 459 BLDS năm 2015 thì:
- Nếu đối tượng của hợp đồng tặng cho là động sản thì tài sản thuộc quyền sở
hữu của bên được tặng cho kể từ thời điểm tặng cho.
Tòa án nhân dân, số 5 (kỳ I tháng 3/2017), tr. 16.
15Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình (tái ban có sửa đồi, bồ sung), Phạm Đức Trọng, Hội luật gia Việt
Nam - Nhà xuất bàn Hồng Đức.