Tải bản đầy đủ (.docx) (80 trang)

Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho người dùng mạng xã hội tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (589.83 KB, 80 trang )

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Đê tài “Pháp luật vê hảo vệ dữ liệu cá nhân, tôn trọng quyên
riêng tư cho người dùng mạng xã hội tại Việt Nam ” là cơng trình nghicn cứu của riêng tác
giả, khơng có sự sao chép hay vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ cua bất kỳ ai. Các quan điểm, vụ
việc thực tế được phân tích cũng như các đề xuất kiến nghị được nêu trong bài nghiên cứu là
hoàn toàn trung thực và chưa từng được lặp tại bất kỳ cơng trình nghiên cứu nào khác. Việc sứ
dụng các tài liệu tham khảo trong bài đề tài đều được tác gia trích dẫn nguồn, viện dẫn nội dung
một cách rõ ràng, đầy đủ, chính xác. Nếu có dấu hiệu về những điều sai sự thật của lời cam
đoan trên, tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Học viên

Nguyễn Đức Bình


DANH MỤC TÙ VIẾT TẤT
STT

Ký hiệu chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

1

DLCN

2

QRT


Dữ liêu cá nhân

Quyền riêng tư

3

ĐK.BM

4

MXH

5

BLDS

Điều khốn báo mât

Mạng xã hội
Bơ Lt dân sư
•••


MỤC LỤC


4

PHẦN MỞ ĐẦU
1.


Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã chứng kiến sụ chuyển

biến mạnh mẽ cùa khoa học cơng nghệ, sự thay đồi về chính sách kinh tế đã làm cho thị trường
trở nên khó đốn định hon. Kéo theo đó là yêu cầu cùa hội nhập, họp tác quốc tế đòi hòi hệ
thống pháp luật, đặc biệt là pháp lý liên quan đến khoa học công nghệ phải chuyến minh theo đê
phù hợp với vận động xã hội. Trên cơ sở đó, “mạng internet” mà cụ thế là mạng xã hội đã phát
triển không ngừng với khối lượng người dùng khổng lồ ngày một tăng. Kéo theo đó là khối
lượng dữ liệu cá nhân ngày một trở nên đồ sộ và giá trị hơn bao giờ hết. Có thể ví dừ liệu cá
nhân từ các trang mạng xã hội là “mị dầu” tiềm năng và sẽ đóng góp trực tiếp vào doanh thu tý
đơ la của các cơng ty cơng nghệ theo một cách nào đó.
Thường thì mỗi cá nhân sẽ có tâm lý coi thường những thơng tin mà mình chia sẻ. Nhưng
băn chất tất cả chúng đều là một thành tố của dữ liệu và nhiều dữ liệu cá nhân tập hợp lại sẽ tạo
ra khối dữ liệu rất lớn. Tới lúc đó dữ liệu cá nhân nó khơng cịn đơn thuần là chi của cá nhân,
nhỏ lẻ hoặc vô giá trị như cách chúng ta nghĩ nữa, đó thực sự là một tài nguyên - là lợi ích kinh
tế thiết thực trong thị trường ngày nay.
Có thề nói khơng một nguồn lợi nào mà không kéo theo những sự cạnh tranh. Từ việc
cạnh tranh có thể sẽ kéo theo những hoạt động khơng lành mạnh hoặc vi phạm giá trị đạo đức,
pháp luật chỉ vì những mục đích riêng nào đó. Điều đó chính là sự tồn tại âm thầm cúa những
rủi ro sau này đổi với tất cá chúng ta. Neu các doanh nghiệp được tiếp cận với nguồn dữ liệu cá
nhân dề dàng thì sẽ dẫn đến những dữ liệu cá nhân của người dùng có rủi ro bị khai thác hoặc bị
tiết lộ rộng rãi. Các trang mạng xã hội được thu thập và lưu trữ cũng như sử dụng một cách
nhanh chóng dữ liệu người dùng nhưng dường như việc bảo mật và bào vệ cho người dùng lại
bị coi nhẹ một cách vô tâm và đáng đế xem xét. Các phần dữ liệu cá nhân dần dần khơng cịn
mang tính cá nhân hay riêng tư nữa, người dùng khơng chỉ bị phiền tối mà cịn đối phó với
nguy cơ khơng cịn điều gì giữ lại cho riêng mình. Dữ liệu của mồi cá nhân được sứ dụng theo
những phương diện mà họ không được biết tới, những vấn đề nhảy căm như y tế, tài chính bị
xâm hại nghiêm trọng. Và tác giá tin rằng các công ty công nghệ, nơi sản sinh ra những trang
mạng xã hội đầy cám dỗ đã khơng tịn trọng quyền riêng tư cùa chính tác giả nữa. Chăng có gi

là lý thuyết xng khi một loạt những vụ việc thực tế bị phanh phui gần đây, có thể kể đến vụ
việc Facebook để lộ thông tin của khoảng 50 triệu người dùng, khiến chính lãnh đạo của mạng
xã hội này phải ra điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ, và còn rât nhiêu những vụ việc tương tự
khác nữa. Chúng ta đâ đang và sẽ trở thành những người bị hại đáng thương nếu chúng ta


5

khơng lên tiếng cho mình vào ngay lúc này.
Trước những nguy cơ cận kề đó, tác giả nhìn lại trong hệ thống các quy phạm pháp luật
của Việt Nam hiện nay đã có hơn 19 văn bản điều chinh hoặc có liên quan tới vấn đề bảo mật
thơng tin cũng như dữ liệu cá nhân, tuy nhiên mặc dù số lượng có nhiều nhưng vẫn thiếu đi một
điều gì đó mang tính hệ thống mà chúng ta cần. Bởi vỉ quá trình lập pháp đã đem vào quá nhiều
khái niệm, mỗi văn bản đều mang tính khái quát chung mà khơng có một vãn bản nào quy định
cụ thể về bảo mật thông tin của người dùng mạng xã hội. Đó là một thiếu xót, là điềm yếu của
pháp luật hiện tại mà nghiên cứu này hướng tới giải quyết.
Nhìn từ góc độ nghiên cứu, hiện khơng phái là chưa có các đề tài nghiên cứu phân tích về
vấn đề trên. Thế nhưng, sự thật là hầu hết các “tác phẩm” là các cơng trình đơn lẻ, các bài viết
cá nhân hoặc bài báo dưới dạng đặt vấn đề. Việc hệ thống hóa các khái niệm riêng lẻ lại là hết
sức cần thiết.
Việc phân tích cũng như tìm hiểu về vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân không chi đáp ứng
nhu cầu thực tiễn mà còn là yêu cầu hội nhập của các quốc gia. Trong bối cảnh ngày càng có
nhiều sự họp tác xuyên biên giới, các hiệp định CPTPP, FTA thế hệ mới ra đời và đề đàm bảo
các điều kiện chung cũng như tạo được lợi thế khi tham gia sân chơi tồn cầu thì việc bảo vệ dừ
liệu cá nhân chính là một yêu cầu cần thiết. Bảo vệ tốt dữ liệu cá nhân chính là đảm bảo công
bằng cũng như trong sạch giữa các tồ chức kinh doanh. Điều đó mang ý nghĩa kinh tế to lớn và
đem lại sự phát triển bền vững cho đất nước.
Từ những lý do trên kết họp với mong muốn hoàn thiện được pháp luật liên quan nhằm
nâng cao ý thức cùa các cá nhân - tổ chức, tác giả đã bức thiết và nồ lực hoàn thiện đề tài này.
Qua đó, giúp đưa ra các lập luận khoa học cũng như các giải pháp hữu hiệu góp phần vào bảo

vệ dữ liệu cá nhân được tốt hon và hướng tới tôn trọng quyền riêng tư trong xã hội.
2.

Tình hình nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, hiện tại pháp luật liên quan tới vấn đề bảo vệ dìĩ liệu cá nhân cịn

nằm rải rác ở rất nhiều văn băn quy phạm khác nhau. Hầu hết các văn bán đó đều dừng lại ở
mức độ đưa ra khái niệm mà chưa có một giải pháp cụ thể nào. Khung pháp lý chuyên biệt vẫn
chưa được định hình một cách rõ ràng. Trên khía cạnh phân tích và nghiên cứu cúa các học giả
thì số lượng nghiên cứu tuy có nhiều nhưng chủ yếu dưới dạng bài viết cá nhân, nhận định của
chun gia và chưa có một cơng trình khoa học đầy đủ nào đi từ cơ sở lý luận đến phân tích
thực tiền.
Cụ thể hơn có thể nhắc tới các nghiên cứu và phân tích sau:
Đe tài thạc sĩ luật học cúa tác giá: Trần Thùy Dương do TS Lê Đình Nghị hướng dẫn năm


6

2014 với tên đề tài “Quyền nhăn thân và hảo vệ quyền nhân thân trong môi trường mạng xã
hội”. Đây là một nghiên cứu khá đầy đú và bài bán từ cơ sớ lý luận đến phân tích pháp luật.
Bên cạnh việc có cùng phạm vi nghiên cứu là trên mơi trường mạng xã hội thì đề tài này cũng
đề cập được các khái niệm cũng như một phần nhở của quyền riêng tư trong tông thể quyền
nhân thân cùa cá nhân. Tuy nhiên, có thể thấy đối tượng nghiên cứu của đề tài còn rộng mở và
chung chung hơn rất nhiều so với việc chi tập trung vào pháp luật về dữ liệu cá nhân, từ đó đề
tài cũng chưa có được những giải pháp cụ thề cho các rủi ro pháp lý về báo mật dừ liệu cá nhân
trong thời đại số.
Một đề tài luật học khác năm 2016 cúa tác giả: Nguyễn Việt Hà do PGS.TS Nguyễn Thị
Vân Anh hướng dẫn với đề tài: “Pháp luật Việt Nam về bao vệ thông tin cá nhân của người
tiêu dùng trong thương mại điện tử”. Tác phẩm này đã khái quát được nhiều khái niệm quan
trọng cũng như đưa ra được bất cập, nguy cơ đối với dữ liệu cá nhân người tiêu dùng. Thế

nhưng, xét thấy phạm vi nghiên cứu của đề tài lại có phần khác so với việc xoáy sâu vào người
dùng trên phạm vi mạng xã hội.
Hay phái kề đến đề tài “Nghiên cứu pháp luật về quyền được cung cấp thông tin và
hảo vệ thông tin của người tiêu dùng ở Việt Nam” của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh
và đề tài thạc sĩ luật học năm 2013 về “Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng ở
Việt Nam” cúa tác giả Hà Thị Thanh, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Là những cơng
trình khoa học có tính hệ thống hóa cao nhưng bao quát chung về đối tượng trên diện rộng là
người tiêu dùng và còn thiếu đối chiếu với pháp luật các nước.
Bài báo khoa học “Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về
cuộc sống riêng tư” trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của tác giả Nguyễn Ngọc Điện năm
2018. Bài viết đã chì ra được sự mâu thuẫn giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm
phạm cuộc sống riêng tư dưới hai góc độ tiếp cận là chủ thế tư và nhà nước. Từ đó chỉ ra đâu là
quyền mang tính ngun tắc cịn đâu là ngoại lệ. Tuy nhiên, bài viết không tập trung phân tích
phương diện là dữ liệu cá nhân trong mơi trường mạng xã hội.
Bài phân tích “Bảo vệ quyền đối vói thông tin dữ liệu của cá nhân trong môi trường
mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyền Thị Nhung năm 2020. Bài phân tích
này đã chi ra được nguyên tắc chung trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân kèm theo một số biện
pháp như là chế tài, luật định, quản lý nhà nước, biện pháp kỳ thuật, nâng cao nhận thức, tuy
nhiên chưa đê cập được giải pháp từ đôi tượng doanh nghiệp cung câp dịch vụ, nên tàng mạng
xã hội.
Bài phân tích “Một số vấn đề về bảo vệ quyền riêng tư trong không gian Internet”


7

cùa tác giái Lã Khánh Tùng năm 2017. Bài phân tích này đã đề cập được bối cảnh bức thiết từ
hội nhập, sự thay đổi mạnh mẽ pháp luật các nước trên thế giới, bên cạnh đó cũng chi ra sự vượt
quá giới hạn công quyền tác động đến an toàn dữ liệu cá nhân. Tác giả đã cho ràng cần lấy Hiến
pháp làm kim chi nam đế tuân thủ và bảo vệ dữ liệu cá nhân tốt nhất. Tuy nhiên, cũng như các
bạn phân tích khác tác giả chưa có biện pháp cụ thể dành cho đối tượng là doanh nghiệp cung

cấp dịch vụ.
Một số nghiên cứu và công bố liên quan khác bao gồm:
- Bài phân tích “Quyền riêng tư trên thế giói và ở Việt Nam” trên tạp chí VNU Journal of
Science của tác giả Nguyễn Duy Đăng năm 2017.
- Giao, v.c.,& Tuyên, L.T.N. (2020). Bài phân tích “Bảo vệ quyền đối vói dữ liệu cá nhân
trong pháp luật quốc tế, pháp luật ồ' một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt
Nam” trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của tác già PGS. TS Vũ Công Giao và ThS Lê Trần
Như Tuyên năm 2020.
- Phân tích “Quyền đưọ’c lãng quên trong kỷ nguyên số: Thách thức của úng dụng trí
tuệ nhân tạo” của tác giả TS. Ngô Thị Minh Hương và TS. Phạm Hải Chung năm 2019.
- Phạm, T. I I. (2017). “Quyền đưọ’c bảo vệ bí mật thơng tin cá nhân ở Việt Nam hiện
nay”. Đồ tài ThS. Pháp luật về quyền con người (chuyên ngành đào tạo thí điểm) (Doctoral
dissertation, IL: Khoa Luật).
- Theo Cục An tồn thơng tin, “Bao dám an tồn thơng tin khi sử dụng mạng xã hội”, Báo
điện từ An tồn thơng tin, Ban Cơ yếu Chính phù - antoanthongtin.vn, ngày 01/10/2018.
- PGS.TS Phùng Trung Tập, "Quyền về đời sống riêng tư, hí mật cá nhân, hí mật gia
đình”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số ra tháng 02/2018.
Các viện dẫn trên đều là các nghiên cứu đã được thực hiện trong bổi cánh còn hạn chế
cùa pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng. Mỗi một bài viết, bài phân tích
đều đã mang lại được những hiểu biết chung và chì ra thực tiền hiện tại. Tuy nhiên, có thể
khẳng định lại, vẫn rất cần một nghiên cứu tối ưu nhất mang tính chắt lọc cũng như đi thắng vào
vấn đề bức bối trên phạm vi cùa mạng xã hội. Từ đó vận dụng tiến bộ của pháp luật quốc tế đế
đưa ra đề xuất, đồng thời tạo dựng khung pháp lý riêng rẽ cho việc bảo vệ dữ liệu người dùng.
Có như vậy sẽ đạt được tính hiệu của pháp luật. Đó là lý do chính, tác giả kế thừa, tiếp thu và
phát triển tiếp những điếm then chốt và yêu cầu đặt ra cúa việc báo vệ dừ liệu người dùng trên
mạng xã hội, nhằm tôn trọng quyền riêng tư của chúng ta.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu



8

Mục đích nghiên cứu nhằm khái quát hệ thống pháp luật có liên quan hiện đang điều
chinh tới việc bảo vệ dừ liệu cá nhân cho người dùng trên môi trường mạng xã hội. Qua đó,
nhằm xốy vào các giải pháp cụ thể hướng tới điều chinh đối tượng là doanh nghiệp cung cấp
nền tảng mạng xã hội để từ đó giúp bào vệ dữ liệu cá nhân người dùng một cách tốt hơn, linh
hoạt hơn và hiệu quả hơn.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng là quyền được báo vệ đối với dừ liệu cá nhân cua người dùng trong môi trường

mạng xã hội. Các quy định pháp luật liên quan điều chinh việc tuân thù, thực thi biện pháp an
toàn đối với dữ liệu cá nhân từ phía doanh nghiệp. Sau cùng là góc độ kinh tế và giá trị của dữ
liệu cá nhân.
Phạm vi rộng gồm điều khoản bảo mật trong môi trường mạng xã hội, trong phạm vi
pháp luật Việt nam có tác động, tập trung vào phân tích quy định hiện hành, phân tích tình
huống thực tế đề có giải pháp trong khơng gian, thời gian tương ứng. Các cơng ty, doanh nghiệp
có kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ, nền tảng mạng xã hội tại lãnh thổ Việt Nam.
5.

Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Một trong những cơ sở lý thuyết quan trọng của đề tài là các lý thuyết về nhân quyền,

quyền bất khả xâm phạm đối với đời tư cá nhân.
Đề tài là sự vận dụng khéo léo các cơ sở triết học về phương pháp duy vật biện chứng,
phán đoán và tư duy logic. Phương pháp hệ thống, phân tích, đối chiếu quy định hiện hành,
phương pháp so sách. Phương pháp viện dần tình huống thực tế và chi ra đối tượng cần hoàn
thiện. Phương pháp thống kê, khảo sát và tổng hợp dữ liệu để đưa ra đánh giá, nhận định và đặc

biệt có sử dụng phương pháp phân tích luật viết để đánh giá quy định cũng như chi ra điếm bất
hợp lý và mâu thuẫn cúa pháp luật.
6.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Là một cơng trình nghiên cứu chun sâu vào lình vực cụ thể về quyền riêng tư, bảo mật

thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dùng mạng xã hội.
Hướng tới nghiên cứu tương đối hồn chình từ cơ sở lý luận, đưa ra khái niệm tới chĩ ra
bất cập và có giải pháp thực tế của vấn đề. Cúng cố phương pháp luận vững chắc, tạo nền tảng
lý luận cho học thuyêt pháp lý nhân qun. Là hệ thơng hóa gân như bài bản đâu tiên phục vụ
cho người học, người nghiên cứu sau này. Đe tài đã giái quyết được các vấn đề và hồn thiện
pháp luật. Có vai trị như một cơng trình nghiên cứu ứng dụng đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Góp
phần hình thành khung pháp lý liên quan.
7.

Kết cấu đề tài


9

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khao, và phụ lục cũng như danh mục
bảng biếu, từ viết tắt. Đe tài gồm 02 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho người dùng mạng xã hội.
Chương 2: Thực tiễn và kiến nghị về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho người dùng mạng xã hội tại Việt Nam.


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VÈ BẢO VỆ DỬ LIỆU CÁ NHÂN NGU ỜI DÙNG MẠNG XÃ HỘI.
Ở chương này, tác giả sẽ đưa đến những khái niệm kèm theo những giải thích cho các

thuật ngữ chun ngành có liên quan. Lĩnh vực dữ liệu nói chung và dừ liệu cá nhân (DLCN)
nói riêng bên cạnh với quyền riêng tư (QRT) là một trong những lĩnh vực vô cùng mới mẻ, gắn
liền với sự phát triển cùa công nghệ và sự thay đối cùa ngành khoa học dữ liệu. Bởi những lẽ
đó, những thuật ngừ hay khái niệm mà tác giả đề cập tới rất cần có các giải thích cụ thể, để đàm
bảo rằng chúng ta không hiểu sai hoặc hiểu chưa đầy đủ về đối tượng nghiên cứu. Một định
nghĩa cố định là chưa đủ mà rất cần những khái quát đề có những cách hiểu mở rộng cho các
khái niệm liên quan, từ đó việc nghiên cứu và xác định phạm vi nghiên cứu mới thực sự hợp lý
và đúng đắn nhất. Chúng ta sẽ không thể dùng cách hiểu thông thường vào việc nghiên cứu hệ
thống pháp luật liên quan tới DLCN và QRT. Bên cạnh đó việc hệ thống hóa được các quy định
pháp luật điều chinh trực tiếp cũng như tác động gián tiếp tới dữ liệu người dùng mạng xã hội
(MXII) là cơ sở cho những phân tích chun sâu. Đó là lý do chính của Chương 1 và cũng là
tiền đề của Chương 2, từ việc đưa ra được cách hiếu thống nhất, chính xác nhất và dề tiếp cận.
1.1.
1.1.1.

Khái niệm về dữ liệu cá nhân, điều khoản bảo mật dữ liệu cá nhân
Khái niệm về dữ liệu cá nhân
Điều đầu tiên tác giả muốn xác định tại phần này chính là khái niệm bao trùm nghiên

cứu, một khái niệm quan trọng và chính yếu về dừ liệu cá nhân. Neu quay trở lại một vài năm
trước đây thi hẳn tất cả chúng ta sẽ cảm thấy mới mẻ, xa lạ với khái niệm DLCN ở ngoài đời
sống xã hội Việt Nam và cả trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, từ sự hội nhập sâu rộng, một
thế giới phăng và nền kinh tế mở đã tạo ra cơn sóng về khoa học dữ liệu cùng những ứng dụng
cùa khoa học dữ liệu trong kinh tế, phát triên thị trường, sản phấm...Điều đó làm cho thuật ngừ
DLCN trở nên nóng hơn, gần gũi hơn và có vẻ như tác giả được nghe thấy nhiều hơn.


Thật vậy, gắn với sự phát triển ngành công nghệ máy tính và trí tuệ nhân tạo (AI) 1
khơng thề khơng nhắc tới khoa học dừ liệu2. Vì vậy, thuật ngừ dừ liệu trở thành từ khóa, khái
niệm DLCN cần được hiểu một cách cụ thể nhất.

Vậy DLCN là gì? Cách tiếp cận đầu tiên chính là tìm kiếm định nghĩa trong hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện hành. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không có được
câu trả lời cụ thế mà điều nhận lại là một khái niệm gần giống với nó, chính là khái niệm về
thơng tin cá nhân. Có vẻ như pháp luật Việt Nam hiện hành đang đánh đồng khái niệm thông tin
cá nhân với DLCN, điều này chưa được hợp lý vì cả trong từ điền pháp lý và từ điền ngơn ngữ
hay từ điển tiếng Anh thì hai cụm từ “Thông tin 3” và “Dữ liệu4” thực sự không đồng nhất tuyệt
đối với nhau.
Giả sử trong phạm vi nghiên cứu cùa đề tài, khi tác giả chấp nhận tạm thời thuật ngừ
“Thông tin cá nhân” gần giống với thuật ngữ “DLCN”. Vậy thông tin cá nhân được hiểu như
thế nào?
Căn cứ theo Khoản 15, Điều 3, Luật An toàn thơng tin mạng năm 2015 thì khái niệm
thơng tin cá nhân được hiếu hết sức ngắn gọn “là thông tin gắn với việc xác định danh tính cùa
một người cụ thể”. Mơ tả có phần ngắn gọn nhưng bao hàm rất rộng về đối tượng, từ khái niệm
này lại dẫn đến một loại khái niệm khác khiến người nghiên cứu cảm thấy khó khăn hơn khi xác
định. Minh chứng là thuật ngữ như thế nào là thông tin xác định danh tính và thơng tin khơng
dùng đê xác định danh tính?
Khác với pháp luật Việt Nam, khi mở rộng phạm vi nghiên cứu và tìm kiếm tác giá đã
tiếp cận được một khái niệm có vẻ như dễ hiểu hơn và chính xác hơn về DLCN trong Quy định
về báo vệ dữ liệu chung (GDPR3) của Liên minh châu Âu (EU). Chiếu theo vãn bàn có phần
tiến bộ này thì DLCN được định nghĩa: “DLCN là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một thể
nhân đã được nhận định danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tinh, dù trực tiếp hay gián
1 Theo Bách khoa toàn thư mờ - . AI (khẩu âm tiếng Việt đọc là "ây-ai" và từ tiếng Anh là
“Artificial Intelligence ”) được gọi là trí thơng minh nhân tạo, là trí thơng minh được thể hiện bang máy móc, trái ngược
với trí thơng minh tự nhiên cùa con người.
2 Theo Bách khoa toàn thư mờ - . Khoa hục dữ liệu (tiếng Anh là “Data Science”) là một lĩnh
vực liên ngành về các quá trinh và các hệ thong rút trích tri thức hoặc hiếu biết từ dừ liệu ờ các dạng khác nhau, kế ở
dạng cấu trúc hay phi cấu trúc, là sự tiếp nối của một so lình vực phân tích dữ liệu như khoa học thong kê, khai phá dừ
liệu, tương tự như khám phá tri thức ờ các cơ sở dữ liệu.
3 Theo Từ điên tiếng Việt - . Thông tin (tiếng Anh là “Information ”) là một khái niệm cơ bản của
khoa học hiện đại, khái quát về các điều hiểu biết, tri thức thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối

tượng với nhau. Một thuộc tính cơ băn cũa thơng tin là đối lập với tính bat định, ngầu nhiên và hồn loạn.
4 Theo Từ điển tiếng Việt - . Dữ liệu (tiếng Anh là “Data”) là chất liệu ban đầu cùa thông tin, thường
là các giá trị của thông tin định lượng như giá bán cũa một mặt hàng, số nhà được xây dựng, số người trong một đơn
vị.. .Trong tin học, Dữ liệu được dùng như một cách biếu diễn hình thức hố thơng tin về các sự kiện, hiện tượng, thích
ứng với các yêu cầu truyền đưa, thề hiện và xử lí bằng máy tính, hệ máy tính.


tiếp, cụ thể là bằng cách chi ra một định danh như tên, sổ đinh danh, dữ liệu vị trí, định danh
trên mạng, hay một hoặc nhiều yểu tố chỉ định danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh
lý, di truyền, tâm lý, kinh tế, văn hoả, hoặc xã hội 5 6 Như vậy, không chi dừng lại ở những thông
tin dùng đế định danh mà khái niệm cịn mơ tả nhũng thơng tin khác có mối liên hệ tới cá nhân
và kèm theo các ví dụ phổ biến như tên, dữ liệu định vị, di truyền, giới tính.. .Khái niệm tuy chi
ra các ví dụ cụ thế nhưng khơng mang tính chất bó hẹp phạm vi mô tá mà theo hướng mở gồm
cả việc xác định trực tiếp và gián tiếp. Ta có thể thấy rằng khái niệm về dữ liệu cá nhân trong
pháp luật hiện hành mặc dù khơng có mâu thuẫn với khái niệm về DLCN của GDPR, tuy nhiên
khái niệm của GDPR được cho là đầy đủ hon, hồn thiện hơn và có độ bao quát tốt hơn trong
quá trình áp dụng. Việc toàn bộ các quốc gia trong khu vực EU đã áp dụng khái niệm của
GDPR và sự tác động trên phạm vi rộng đã chúng minh cho tính tối ưu hơn cùa khái niệm trong
GDPR so với các quy định khác.
Như vậy, tới đây ta có thế kết luận khái niệm DLCN chính là những thơng tin để mơ tả
về một thể nhân hoặc có liên quan đến thể nhàn và có thề giúp xác định danh tính một cách trực
tiếp hay gián tiếp tới đối tượng cụ thề.
1.1.2.

Khái niệm về điều khoán báo mật dữ liệu cá nhân
Khi đà có những hiểu biết căn bản nhất về khái niệm DLCN, chúng ta sẽ dần hiểu hơn

về điều khoản bảo mật (ĐKBM) dừ liệu cá nhân. Cũng giống như khái niệm về DLCN, chúng
ta sẽ khơng thể tìm thấy chính xác trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam một lý giải
cụ thê cho ĐKBM DLCN, tuy nhiên thuật ngữ ĐKBM là một thuật ngừ pháp lý khá phơ biến và

hồn tồn có thê khái qt cũng như mô tả trong phần này.
Pháp luật hâu hêt các quôc gia trong đó có cả Việt Nam chi ra răng, việc thiêt lập các
trang MXH thường phải có điều khốn sứ dụng và ĐKBM dữ liệu người dùng ở trong nó như là
một phần bắt buộc hay là nghĩa vụ cúa nhà cung cấp. 7 Các ĐK.BM DLCN thường được các bên
thống nhất, đồng ý trước khi thực hiện, đồng thời phái được cơng khai.
ĐK.BM DLCN trong kinh doanh cịn mang ý nghĩa quan trọng và cần thiết hơn, nó
5 GDPR (tiếng Anh là: “General Data Protection Regulation ’’) là quy định của luật ELỈ về báo vệ dữ liệu và quyền
riêng tư cho tất cá các cá nhân trong Liên minh châu Ảu và Khư vực kinh tế châu Ảu. Nó cùng đề cập đốn việc xuất dừ
liêu cá nhân bơn ngồi EƯ và EEA. GDPR nhằm mục đích chu yếu đơ cung cắp cho kiêm sốt cho cơng dân và cư dân
trên dừ liệu cá nhân cùa họ và đơn giản hóa mơi trường pháp lý cho kinh doanh quốc tê bang cách thông nhất các quy
định trong EU. Quy định này cò tên đây đù là "Quy đinh (EU) 2016/679 cùa Nghị viện Châu Ầu và của Hội đồng Cháu
Âu ngày 27 tháng 4 năm 2016 về bào vệ thê nhân liên quan đen việc xừ lý dữ liệu cá nhân, về việc giao thông dừ liệu tự
do và về việc bài bị Chì thị 95/46 / EC" và có hiệu lực từ ngày 25/05/2018.
6 Theo Điều 4 - Định nghĩa, GDPR.
7 Điều 25, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 cùa Chinh phù quy định về quàn lý, cung Cấp, sứ
dụng dịch vụ internet vả thông tin trên mạng.


thế hiện cam kết của nhà cung cấp, đơn vị kinh doanh trước khách hàng và đối tượng sừ dụng.
Thông qua đó là cơ sở để khách hàng, người dùng cảm thấy được tơn trọng và an lồn khi tham
gia vào một quan hệ xã hội.
Thông thường các nhà cung cấp dịch vụ thường đưa ra ĐKBM như một dạng liệt kê
các hành vi, các cộng việc được làm hoặc sẽ thực hiện và các hành vi không được phép thực
hiện của mồi bên đổi với dừ liệu người dùng cung cấp. Điển hình có thể nói đến là điều khoán
bảo mật của Facebook.8
Trong một số trường hợp ĐKBM DLCN được xây dựng như là một điều khoản mầu.
Sở dì gọi là điều khoăn mẫu vì được một bên thiết kế gồm các nội dung có sẵn theo khung nhất
định, điều khoản mầu này mang ý chí và sự khéo léo sao cho có lợi nhất cùa một bên và nó
khơng được người dùng, bên khách hàng mấy khi để ý tới. Chính sự lơi là và dễ dãi này là điều
hết sức nguy hiểm dẫn đến việc xâm phạm DLCN.

Tóm lại, ĐKBM có đặc tính như là một nội dung thõa thuận giữa người dùng mà nhà
cung cấp ứng dụng mạng xã hội để thơng qua đó các bên cam kết thực hiện các nghĩa vụ nhằm
báo vệ tính bảo mật đối với thông tin. Điều khoăn báo mật mang đặc tính cúa một thỏa thuận
dân sự nhiều hơn là một quy định thực thi bắt buộc. ĐKBM DLCN theo cách hiểu phố biến,
chính là một hoặc một số thỏa thuận giữa các bên hoặc quy định đơn phương của một bên được
đưa ra nhằm bảo đảm tính an toàn cho việc thu thập, cập nhật, quản lý, lưu trữ, dịch chuyến
hoặc xóa DLCN, đảm bảo tính tồn vèn, không bị tiết lộ và bị can thiệp, sử dụng khi chưa có sự
chấp thuận của chủ thề chủ sở hữu.
Một lần nữa phải khàng định ràng, việc phân tích cũng như xây dựng ĐKBM DLCN
trong bài này là hết sức cần thiết và quan trong, tác giả sẽ có những phân tích sâu hơn ớ các
phần sau để đưa ra một ĐK.BM mẫu và mang tính mẫu mực nhằm đăm bảo quyền lợi về sự tôn
trọng cần thiết cho người dùng, nhưng cũng khơng vì thế mà làm mất đi giá trị kinh doanh mà
nhà cung câp cân thiêt phải có. Qua đó, biên ĐKBM DLCN khơng phải chì là sự hiện diện “cho
có”, khơng phải là một điều gì đó gây khó hiểu hay dài dịng khiến cho mồi cá nhân lười biếng
mà lướt qua, mà nó trở thành cơng cụ cân bàng lợi ích, bào vệ chính đáng cho các bên, là thứ
mà người dùng quan tâm đến đầu tiên trước khi sứ dụng dịch vụ trên bất cứ nền tảng MXH nào.
1.2.
1.2.1.

Khái niệm về mạng xã hội và nguôi dùng mạng xã hội
Khái niệm về mạng xã hội
Chắc hẳn với mồi chúng ta đều khơng cịn mấy xa lạ với cụm từ MXH, hay chí ít là

8 hĩĩps://\vww.facebook,com/poỉicy


cũng có cho mình một tài khoản cá nhân trên một nền tảng MXH nào đó. Và MXH chính là mơi
trường nghiên cứu chính cua bài phân tích này, phạm vi phân tích về báo vệ DLCN, tơn trọng
QRT mà tác giả chọn cũng chính là MXH mà khơng phải trên bất kỳ môi trường nào khác. Thật
may mắn là nhà nước đã có một định nghĩa về MXII được quy định cụ thể tại Khoàn 22, Điều

3, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 cùa Chính phù quy định về quán lý,
cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thơng tin trên mạng. Theo đó, MXH là hệ thống thông tin
cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm,
chia sẻ và trao đối thơng tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn
đàn, trò chuyện, trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác.
Theo một cách hiểu và diễn giải khác thì MXH chính là một nền tảng trực tuyến không biên
giới với các nội dung, thông tin được chia sẻ và sáng tạo ra từ chính những người dùng, những
người tham gia vào mơi trường đó. Mồi người dùng có thể có một hoặc nhiều tài khoản với các
thơng tin nhận dạng xác thực hoặc ấn danh được lưu trữ, quán lý trên hệ thống của nhà cung
cấp, thường được gọi là tài khoản hay hồ sơ. Các nền tảng MXH đều có thiên hướng tạo điều
kiện cho các thành phần tham gia đon lẻ kết nối với nhau, tương tác với nhau và thiết lập các
mối liên hệ hình thành cộng đồng và ta gọi đó là xã hội trực tuyến, hay xã hội ào.
Cũng từ khái niệm trên ta hiếu được một số đặc diem của MXH như là việc được vận
hành đa phương thức, đa tính năng khác nhau, được cập nhật và trang bị liên tục các tính năng,
cơng cụ hỗ trợ trên các nền táng điện thoại thơng minh, máy tính, máy tính sách tay (laptop)...
Ớ đó người dùng có thể tự do chia sẻ bài viết, ý tưởng, hình ảnh, đoạn phim ngắn (video), hoạt
động, thông báo, sự kiện, công việc..., từ đời sống thực lên môi trường trực tuyến với cộng động
tương tác trên đó. Đồng thời cũng có thể tiếp cận và biết được các thông tin tương tự từ những
người dùng khác trong mối liên hệ và tương tác của mình.
Các MXH khơng được hiếu với một ý nghĩa nhất định ở một lình vực cụ thề mà được
hiểu theo nghĩa rộng và bao gồm các dịch vụ hay nền táng phát sinh, thay đổi không ngừng theo
sự phát triển cứa khoa học công nghệ, của đời sổng xã hội. Một số MXH nổi bật có quy mơ và
sức ảnh hướng được đông đáo mọi người tham gia như là Facebook (MXH về chia sẻ hầu như
mọi thứ và tương tác ảo) hoặc Tiktok (một nền tảng MXH chuyên về chia sẻ video, clip ngắn)
hay phải kế đến Linkedln (MXH chuyên về việc làm và tuyển dụng)...Tất cả chúng cho thấy
mức độ phát triền và sự đa dạng của loại hình này trong đời sống.
1.2.2.

Khái niệm người dùng mạng xã hội
Từ khái niệm về MXH nêu trên, lại phát sinh ra thuật ngữ khác cần được giải thích



một cách thấu đáo, bới lẽ việc hiểu được thuật ngừ này giúp tác giá hiểu được đối tượng nghiên
cứu cũng như đổi tượng mà đề tài hướng tới xem xét, khuyến nghị và đưa ra các biện pháp bảo
vệ hữu ích. Đó chính là khái niệm về người dùng MXH. Đây là một cụm từ khơng mấy khó
hiểu nhung lại không dễ để khái quát như chúng ta nghĩ, đồng thời bên cạnh đó vẫn cịn nhũng
cách hiểu sai, cách hiểu khá đơn giản về nghĩa của từ.
Cái điều đầu tiên mà khiến nhiều người nhầm lẫn đó chính là từ “Người” trong khái
niệm này không chi dùng đế chỉ một cá nhân mà giống như định nghĩa trong Luật Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng năm 20109 hay một số pháp luật khác của Việt Nam thì “Người” dùng đề
chi chung cho cá cá nhân và tổ chức, đơn vị. Cụ thể khi tham chiếu trong hệ thống pháp luật
hiện hành cúa Việt Nam thì hầu hết ớ các văn băn luật đều khơng có một định nghĩa cụ thể, kèm
theo đó các nhà làm luật sứ dụng thẳng vào các quy định mà quên mất rằng cần có định nghĩa
khái qt trước. Mặc dù khơng tìm thấy được định nghĩa luật hóa về người dùng MXH nhưng
có một thuật ngừ khác bao hàm được khái niệm trên, đó chính là khái niệm người sừ dụng
(Khoản 7, Điều 3, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP giài thích về người sử dụng internet). Trong
các văn bàn quy phạm pháp luật các bạn sẽ thấy ràng có văn bản sử dụng thuật ngữ người dùng,
có văn băn lại dùng từ người sử dụng, về cơ bản thì hai thuật ngừ khơng khác nhau và các nhà
làm luật hay dùng cụm từ người sử dụng nhiều hơn. Và trong một phạm vi nhất định, có thề
chấp nhận thay thế cho nhau giữa hai cụm từ đó. Thêm nữa, như đã giải thích ở trên và khái
niệm MXH thì mơi trường mạng (Internet) là mơi trường rộng hơn, chứa đựng, bao hàm cả mịi
trường MXII trong nó. Như vậy, người sử dụng internet gồm trong đó có cả người sử dụng
MXH.
Vậy người dùng MXH được hiêu theo viện dân từ Khoản 7, Điêu 3, Nghị định sơ
73/2013/NĐ-CP chính là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ MXH hoặc chính là những cá nhân, tổ chức sử dụng MXH và các tính năng
của MXH được cung cấp một cách miễn phí hoặc có tra phí vào các mục đích cá nhân của
mình. Người dùng MXH phải chấp thuận và tuân thủ theo các điều khoản, yêu cầu mà nhà cung
cấp đưa ra trước khi sử dụng MXH. Các nhà cung cấp thường đóng vai trị là đơn vị thiết kế, tạo
lập các tính năng, mơi trường, khơng gian tương tác, cịn người dùng MXH chính là một thành

tố quan trong giúp sáng tạo nên nội dung, phát triển tài nguyên và làm cho MXH “nhộn nhịp”
hơn, có giá trị và thu hút hơn.
Mồi người dùng MXH dù là cá nhân hay tố chức thì thường có thơng tin định danh
xác định hay cịn gọi là hồ sơ cá nhân và được thiết lập dưới dạng tài khoán. Tuy nhiên, những
9 Luật Báo vệ quyền lợi người tiêu dùng số: 59/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2010.


thông tin định danh được xác định trên nền tảng MXII có thế là thịng tin thực hoặc thơng tin
giá chưa được xác thực ngoài đời sống thực tế. Đây chính là một đặc điểm nơi bật của người
dùng MXH, đồng thời đặc điểm này có thể dẫn tới rất nhiều tình huống pháp lý liên quan phức
tạp, đáng để phân tích hay đơi khi lại là một nhược điếm mang tính tiêu cực.
1.2.3.

Chủ thể của hành vi xâm phạm dữ liệu.
Đen với tiểu mục này, tác giả đã có thể khái lược được chủ thể của hành vi xâm phạm

từ các khái niệm đã phân tích về người dùng mạng xã hội và từ thực tiễn xã hội.
Chú thề cứa hành vi xâm phạm không ám chỉ một cá nhân, một người cụ thể, đơn lé.
Mà chù thể ở đây có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức, tuy nhiên cá nhân tồ chức phái đáp ứng
điều kiện về tham gia vào môi trường mạng internet hoặc có sử dụng các mạng xã hội. Việc
tham gia vào sừ dụng các ứng dụng nền tảng, muốn thế hiện ràng các chủ thể của hành vi xâm
phạm phải là những chủ thể tồn tại trong môi trường mạng và có cung cấp, trao đơi thơng tin
hoặc sáng tạo ra các nội dung thông tin.
Chi tiết hơn đối với mạng xã hội, thi chủ thề có thề bị xâm hại tới bao gồm tất cả
những người dùng tham gia vào các mạng xã hội đó.
Trong mơi tương quan ba chiêu giữa cá nhân, doanh nghiệp và chính phú thì chù thế
cúa hành vi xâm phạm có thể bao gồm cá ba đối tượng trên. Các doanh nghiệp cung cấp các nền
táng mạng xã hội có thể âm thầm sừ dụng thông tin của các cá nhân, các doanh nghiệp hoặc các
tổ chức chính phủ khi các đối tượng này hoạt động trên nền tảng của họ.
Ớ một phạm vi khác, các hành vi phâm phạm có thể lại đến từ các cơ quan chính phủ

và phát sinh trong q trình lạm dụng quyền thực thi cơng vụ. Trong tình huống này, thì chủ thề
của hành vi phâm phạm có thể có các cá nhân doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong phạm vi phân
tích của đề tài, tác giả muốn nhấn mạnh vào quan hệ giữa nhà cung cấp mạng xã hội với các
chú thể khác và các hành vi xâm phạm liên quan.
1.3.

Điều khoản bảo mật dưó'i khía cạnh của pháp luật dân sự
ĐKBM được khái quát và đề cập tới trong pháp luật về lao động với vai trò như là một

điều khoản của hợp đồng lao động và thể hiện cam kết của người lao động khi tham gia vào
quan hệ lao động với người sử dụng lao động, hay trong pháp luật về cạnh tranh được thế hiện
như là một điều khoản nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong hệ thống pháp luật dân sự nói chung và Bộ luật dân sự (BLDS) nói riêng
thì ĐK.BM lại bị bỏ ngỏ. Chưa có bất kỳ một đề cập, khái niệm hay điều chinh đích danh nào
đổi với điều này. Đó là một thiếu xót vô cùng lớn bởi lẽ, không nơi nào hợp lý bằng BLDS,


cũng không nơi đâu thuận tiện hơn việc ĐKBM được quy định trong BLDS. Cách tiếp cận của
luật dân sự là một cách tiếp cận chính xác cũng như bám sát với nội dung điều chinh từ thực
tiễn đối với ĐK.BM.
Như đã đề cập ở trên ĐKBM là phương tiện tốt nhất đế nhà cung cấp dịch vụ thể hiện
được các nồ lực của mình cũng như thề hiện trách nhiệm đối với dữ liệu cũng như ỌRT của
người dùng, và ngược lại đó cũng là nơi đáng được người dùng lưu tâm nhất đề thề hiện mong
muốn, quyền lợi chính đáng của mình đối với DLCN. Chình vì vậy, ĐK.BM giữ một vai trò
quan trọng mà tác giả sẽ tiếp tục phân tích thêm ớ phần dưới của đề tài này.
Có một thực tế đó là việc người dùng đã q quen với việc bó qua hoặc khơng quan tâm
nhiều đến ĐKBM nói riêng và điều khoản sử dụng nói chung khi tham gia vào các nền tảng
MXH. Nguyên nhân và lý do sẽ được đề cập đến trong phần thực trạng phía sau, tuy nhiên điều
này đã nói lên rằng một rủi ro hết sức to lớn tiềm ấn cho người dùng. Cụ thế tại cuộc khảo sát
được tác giả thực hiện cho thấy có tới 70,8% trong tống số hơn 600 người được hỏi trà lời họ

lướt qua, hoặc không đọc các ĐKBM khi sử dụng MXH và 26,7% tức là gần như số người cịn
lại thì trả lời rằng họ có đọc và cũng khơng hiếu.10 Như vậy, tác giá thấy rằng vị thế cúa ĐK.BM
đang bị xem nhẹ và pháp luật dân sự cần phái có các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức người
dùng đồng thời nâng cao giá trị của công cụ ĐK.BM như là một trong những cách cơ bãn, đầu
tiên đế bảo vệ người dùng khi tham gia các trang MXII.
Tới đây, tác giả có thể đúc kết lại rằng: ĐKBM được hiếu như là một sự thỏa thuận, giao
kèo giữa các bên nhằm thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với nội dung cần được bảo mật. Bên
cạnh đó, ĐKBM cịn là quyền lợi chính đáng của mồi cá nhân, mỗi cá nhân có quyền được biết,
được thảo luận và thóa thuận các nội dung ĐKBM.
1.4.
1.4.1.

Khát quát về quyền riêng tư, quy định của Việt Nam về quyền riêng tư
Khái quát về quyền riêng tư
QRT là một trong những quyền dân sự cơ bán của mỗi công dân, tuy nhiên khái niệm

ỌRT vẫn còn là một khái niệm bao quát mà trong nó chứa đựng các quyền thành phần, những
quyền thành phân được bao hàm trong QRT khơng chì có ý nghĩa là quyền dân sự mà cịn có ý
nghĩa kinh tế và được đặt ra yêu cầu bức thiết trước bối cánh thị trường phát triển khơng
ngừng.11 Mục đích của việc hiểu khái niệm về QRT giúp chúng ta hiểu rõ hơn cơ chế báo vệ
DLCN rồi lại từ đó đi đến kết luận được tầm quan trong của bảo vệ DLCN vào góp phần tơn
10 Theo Mầu hỏi 5, Phụ lục ỉ.
11Phùng Trung Tập (2018), “Quyền về đòi sống riêng tư, hí mật cá nhân, hi mật gia đình " Tạp chí Kiêm sát, Sổ ra
tháng 02 năm 2018.


trọng ỌRT trong thực tế. Có thể nói QRT và việc bảo vệ DLCN có mối quan hệ mật thiết, tác
động lẫn nhau.
Khái niệm ỌRT là một khái niệm quen thuộc cũng chính vì vậy mà dường như việc
luật hóa là khơng cần thiết, và nếu tìm kiếm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện hành

thì khơng có một khái niệm chính xác. Đó cũng là lý do mà tác giả cần khái quát nó từ thực tiễn
cũng như từ những cách hiểu vẫn đang hiện diện, tồn tại trong đời sống.
1.4.2.

Quyền riêng nhìn tư từ thực tiễn
Thực tế có các định nghĩa khác nhau về QRT tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và văn

hóa xã hội ở các quốc gia, một số nơi cho ràng ỌRT gần như tương đồng với khái niệm bí mật
đời tư tại nhiều nước.
QRT được nêu trong phạm vi ở đây có cách hiếu xuất phát từ gốc của quyền về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, và là quyền nhân thân bất khả xâm phạm cùa mồi
cá nhân, không ai được xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá
nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý và cho phép. Tới đây có thể thấy rằng quyền về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân,bí mật gia đình lại bắt nguồn gần giống với quyền về bí mật đời tư.
Cuối cùng là hiểu như thế nào cho đúng về phạm vi cũng như nội hàm cùa đời sống
riêng tư cứa cá nhân, câu trá lời phù hợp nhất có lẽ đó chính là tập hợp các yếu tố tạo thành nét
riêng biệt, đặc thù, độc lập, khó có thể thể lẫn lộn và có trong đó dấu ấn riêng cùa mỗi cá nhân,
là đặc điểm để phân biệt với người khác. Đời sống riêng tư cúa cá nhân có đặc điềm riêng biệt
của cá nhân trong quá trình sống, thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà
hình thành và mang dấu ấn riêng của cá nhân. Đời sống riêng tư là một quan hệ phản ánh đời
sống cùa một cá nhân có tính độc lập và với tư cách chủ thể trong các quan hệ xã hội ổn định
hoặc không ổn định trong không gian và thời gian xác định được. Các thành tố thơng tin từ đó
mà hình thành và cấu thành nên dữ liệu cá nhân, lớn hơn là khối dữ liệu được hình thành từ sự
liên kết những dừ liệu cá nhân thành tố mà nên.
1.4.3.

Các quy định liên quan đến quyền riêng tư
Sau khi có được cách hiểu mà tác giả cho là phù hợp nhất về khái niệm QRT, thì việc

khái quát được quy định hiện hành cũng như các pháp luật liên quan đang trực tiếp điều chinh,

chi phối nó là hết sức cần thiết. Phải nói rằng, Việt Nam khơng phải là chưa có pháp luật quy
định về ỌRT mà càng ngày cùng với sự phát triến cùa khoa học cộng nghệ, sự phát triền của thị
trường thế giới và trong nước, trước bối cảnh và yêu cầu hội nhập thì pháp luật liên quan đến
QRT được cập nhật liên tục bên cạnh với các quy định hiện đã có. Tuy nhiên có thề khẳng định


được rằng, đe tìm được một luật riêng biệt hay thậm chí một văn bản riêng biệt tương tự như
GDPR của EU hay các Đạo luật về báo vệ quyền riêng tư, dừ liệu cá nhân cúa Hoa Kỳ quy định
chi tiết, chặt chẽ và cứng rắn cho vấn đề này là chưa có ớ nước ta.
Khi nghiên cứu vấn đề được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành thì cách tốt
nhất là đi từ pháp luật chung nhất, có giá trị pháp lý cao nhất, chính là Hiến pháp. Chiếu theo
Điều 21, Hiến pháp 2013 có quy định về QRT, quyền bí mật đời tư một cách tổng quan như sau:
“Mọi người có quyền bất khá xám phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhãn và bỉ mật gia
đình; có quyền báo vệ danh dự, uy tín của mình. Thơng tin về đời sống riềng tư, bí mật cá nhân,
bi mật gia đình được pháp luật bảo đảm an tồn. Mọi người có quyền bi mật thư tín, điện thoại,
điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiếm sốt,
thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thơng tin riêng tư của
người khác. ”
Theo đó, dựa trên cơ sở khái niệm tương đồng hay có liên quan đã phân tích ở trên thì
QRT mà hiến pháp đề cập là quyền đời sống riêng tư ở Việt Nam cũng như đại đa số các


nước đó là một quyên cơ bản hiên định, mang trong mình ý nghĩa tơi cao, được tơn trọng và bảo
vệ trên thực tế.
Tại Điều 38, Bộ Luật Dân sự 201512 (BLDS) có quy định về quyền đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân, bí mật gia đinh: “£>ờ/ sống riêng tư, bi mật cả nhãn, bỉ mật gia đình là bất khả
xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khái thông tin liên
quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phái được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ,
sử dụng, công khải thông tin liên quan đến bỉ mật gia đình phái được các thành viên gia đình
đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử

và các hình thức trao đổi thơng tin riêng tư khác cùa cả nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiếm sốt, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình
thức trao đổi thơng tin riềng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật
quy định. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thơng tin về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bỉ mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp
đồng, trừ trường họp có thỏa thuận khác. ” Một lần nữa cũng với hàm ý tương tự như hiến
pháp, BLDS đã khắng định tính cá nhân hóa rất cao, tầm quan trọng cần được bảo vệ và tôn
trọng đối với QRT tại Việt Nam.
Còn đối với vãn bản hướng dẫn, quy định chi tiết cụ thế hơn ta có một số quy định
riêng rẽ, đan xen trong Luật hình sự, Luật an tồn thơng tin mạng và các nghị định hướng dẫn,
thực thi. Cụ thể tại Luật An toàn thơng tin mạng 2015 13 có nói đến một sổ nguyên tắc báo vệ
quyền và các hành vi phồ biến xâm phạm tới QRT, đồng thời cũng đề cập một số biệt pháp an
tồn thơng tin cũng như báo vệ QRT, thông tin cá nhân qua các Điều 4, Điều 7, Mục 2 - Chương
II. Bộ Luật hình sự 201513 cũng đã có những bước tiếp cận cơ băn tới biện pháp xử lý vi phạm
và xâm hại ỌRT cá nhân tại các Điều 226a và Điều 226b, nhằm tăng cường răn đe, phòng ngừa
và khuyến cáo ngăn chặn hành vi vi phạm.
Các biện pháp xử lý hành chính cũng được đề cập tại Nghị định số 15/2020/NĐCP 14 15
hay Nghị định số: 72/2013/NĐ-CP13 được bổ sung bởi nghị định số: 27/2018/NĐ-CP, nhưng
còn khá chung chung và chưa đây đủ hoặc chưa tương xứng. Các biện pháp hành chính chỉ
12 Bộ Luật Dân sự số: 91/2015/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015.
13 Luật An toàn thông tin mạng số: 86/2015/ỌH13 do Quốc hội ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2015. 13 Bộ Luật hình
sự số: 100/2015/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2015, được sừa đồi, bổ sung một số điều bời Luật số
12/2017/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2017.
14 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP do Chính phú ban hành ngày 03 tháng 02 năm 2020 Quy định xừ phạt vi phạm hành
chính lĩnh vực bưu chính, viễn thơng, tan so vơ tuyến điện, cơng nghệ thông tin và giao dịch điện tử.
15 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP do Chính phú ban hành ngày 15 tháng 7 năm 2013 Quy định về Quán lý, cung cấp, sứ
dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.


dừng lại ở mức có đề cập nhưng chưa tương xứng và chưa đù sức phòng ngừa hành vi xâm

phạm.
Tựu chung lại, cho dù có cách hiểu nào thì hàm ý chung cua QRT tại Việt Nam chính
là quyền cá nhân được tôn trọng và được pháp luật báo vệ. QRT được rút ra và mô tả dựa trên lý
thuyết cùa quyền bất khả xâm phạm đối với đời tư của cá nhân. Việc thu thập, quản lý, sừ dụng,
công khái thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được sự đồng ý. Thư tín, điện thoại,
thơng tin nhân thân, các hình thức thơng tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn, bất
khả xâm phạm. QRT cũng giổng như bí mật cá nhân, bí mật đời tư là một trong những quyền cơ
bản quan trọng nhất cùa con người được Hiến pháp năm 2013 16 ghi nhận và không ai phải chịu
can thiệp một cách tùy tiện nên chúng. Nói theo cách khác ỌRT là quyền cá nhân được kiếm
sốt các thơng tin về chính bán thân cá nhân đó. Một khái niệm dung hịa là sự tự do khói sự
can thiệp khơng hợp lý và không mong muốn vào các hoạt động mà xã hội thừa nhận là thuộc
về phạm vi tự chú cúa cá nhân. Phạm vi tự chú của cá nhân lại được hiếu là những hành động
không làm ảnh hưởng đến tự do cùa người khác, nơi một người tự tạo cho mình mong muốn,
ước vọng, thế hiện và lối sống khác với người khác.
Như vậy, pháp luật hiện tại của Việt Nam quy định về quyền riêng tư và các vấn đề
liên quan được xem là tương đối đầy đủ. Các quy định hầu như đều đã có hoặc đã được đề cập
tới. Tuy nhiên, mức độ chi tiết và kha năng áp dụng trong đời sống thì chưa cao. Thời điểm hiện
tại Hệ thống pháp luật nước ta đã có những quan tâm nhất định đối với vấn đề dữ liệu và báo
mật thông tin cá nhân. Tuy nhiên phải nhấn mạnh ràng việc phát triển của thị trường bên cạnh
giá trị của dữ liệu trong thời đại số đã đặt ra một yêu cầu cao hơn về pháp luật để có thể bắt kịp
điều chinh và hồ trợ tốt nhất các quan hệ xã hội. Chính vì thế, việc cần có tối thiểu là một văn
bản pháp luật chuyên biệt và hệ thống hóa vấn đề dữ liệu, bảo mật thông tin cá nhân là hết sức
cần thiết và đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng, vận dụng pháp luật vào thực tiễn dựa trên thực
tế đời sống.
1.5. Ý nghĩa kinh tế và yêu cầu hội nhập của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân.
1.5.1. Ý nghĩa kinh tế cùa việc báo vệ dữ liệu cá nhân
Trong một thế giới vận động và biến đổi khơng ngừng thì ranh giới giữa các lình vực
khơng cịn trở nên chăc chăn cũng như có thê thay đơi khó lượng theo quy luật vận
động và phát triển. Chính vì đó, điều tưởng chừng như khó chứng minh đã trớ nên rõ
ràng và nhiều người thường nghĩ ràng thuần túy việc bảo vệ DLCN hay tôn trọng QRT

16 Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chú Nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành ngày 28 tháng 11 nám 2013.


là một trong những lĩnh vực pháp lý dân sự, nhân quyền đơn giản thì thực tế cho thấy
khơng phái như vậy. Nếu theo xuyên suốt đề tài này, có nhiều lần vấn đề giá trị, lợi ích
kinh tế cúa báo vệ DLCN được đánh giá phân tích. Có lẽ tới đây, thuật ngữ “mỏ dầu tỷ
đơ” đã khơng cịn quá lạ lẫm và khó về mặt kinh tế, bảo vệ dữ liệu ngày càng trở nên
quan trọng và sẽ ành hưởng đến quyết định của người dùng về nơi họ thực hiện duyệt
web, mua sắm trực tuyến và tham gia các nền tảng ứng dụng. Càng ngày, danh tiếng
của một cơng ty về việc xử lý DLCN có trách nhiệm sẽ là một loại tài sán giúp chính
cơng ty đó có thêm nhiều hơn lưu lượng truy cập trang web, tăng lượng người dùng sử
dụng, tác động tích cực đến lợi nhuận.. .Và việc chuyền giao dữ liệu của cơng dân Việt
Nam ra nước ngồi là vấn đề quan trọng, có thể tác động tới phát triển kinh tế ở tầm vĩ
mơ tồn cầu hay an ninh quốc phịng của một quốc gia.
1.5.2. Yêu cầu hội nhập cúa việc bảo vệ dữ liệu cá nhân
Công tác đảm bảo an ninh mạng đang thật sự cần thiết đối với nhiều cơ quan, tố chức
và doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn nước ta ngày càng hòa nhập sâu rộng vào kinh tế thị
trường và gia nhập các hiệp định CPTPP, EVFTA,...Tuy nhiên, hoạt động triển khai thực tế của
chúng ta lại không tương xứng với yêu cầu đặt ra. Nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa thật sự coi
trọng đến vấn đề này. Nguyên nhân là: (1) Hệ thống công nghệ thông tin cùa một số cơ quan, tổ
chức chưa thật sự đi vào hoạt động do đó chưa thấy rõ tác hại của việc thiếu biện pháp an toàn
và bảo mật; (2) Các cấp lãnh đạo và quản lý do chưa nhận thức được đầy đủ các nguy cơ mất an
ninh mạng trên các kênh kỳ thuật trong các hệ thống thông tin hiện đại nên chưa thật sự quan
tâm đến vai trò cùa bào mật và an ninh mạng. Một số tố chức, doanh nghiệp đã triến khai giải
pháp an toàn và bảo mật song lại thiếu đồng bộ, chắp vá, có nơi chi dùng tường lửa hoặc một số
chương trình kiểm sốt truy nhập đơn giản mà khơng sử dụng các giãi pháp mật mã. Những tổ
chức, doanh nghiệp này thường thiếu đội ngũ chuyên gia về an ninh mạng đề có thể tư vấn cho
các nhà lãnh đạo, quăn lý. Phần lớn các sán phấm báo mật đều được chuyển giao từ nước ngoài
và trong nhiều trường hợp chưa làm chủ được công nghệ, đặc biệt là các giái pháp bảo mật.



Trong thời đại công nghệ sô hiện nay, đặc biệt là sự phát triên mạnh mẽ của các công
nghệ mang tính đột phá trong cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 17, vấn đề báo vệ DLCN đang
ngày càng trở nên cấp thiết. Có thể nói, một trong những điều kiện để Việt Nam gia nhập thị
trường quốc tế thông qua các hiệp định thương mại (tiêu biểu như: Hiệp định CPTPP 18, tiền
thân là TPP, có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019; Hiệp định EVFTA18 có hiệu lực từ
01/08/2020) đó chính là minh bạch thể chế hóa. Cụ thế hơn là việc hồn thiện khn khố pháp
lý theo yêu cầu quốc tế, nhằm bắt kịp tư pháp quốc tế cũng như các quy định tiến bộ trên thế
giới. Qua đó, việc sửa dồi hay cập nhật pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực mới, cơng nghệ
cao, lình vực phát triền liên tục là không thế bở qua. Khi các quốc gia tham gia vào cùng một
thị trường mở, một dịng lưu chuyển và phát triển chung thì đòi hỏi pháp luật cùa mồi quốc gia
thành viên phải tương đương nhau, đáp ứng các yêu cầu về thương mại hóa, thương mại dịch vụ
- đầu tư, về sở hữu trí tuệ, về minh bạch hóa, thực hiện các cam kết chung hướng tới phát triển
bền vững trong tương lai.
1.5.3.

Thực tiễn về bảo vệ dữ liệu trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề bào vệ DLCN đã được nhiều quốc gia (như Hoa Kỳ, Pháp, Đức,

Nhật Bản, EU...) hết sức coi trọng. Theo thống kê trong báo cáo của Bộ Cơng an năm 2020,
hiện nay đã có hơn 80 quốc gia ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ DLCN. Theo
các nước, quyền bào vệ DLCN là QRT và được pháp luật bào vệ; bão vệ DLCN được thể hiện
qua nhiều khía cạnh, như bảo đám quyền tự chù, QRT và bảo toàn được danh dự, uy tín cua mỗi
cá nhân, giúp cá nhân kiểm sốt tốt hơn các vấn đề trong cuộc sống, tăng cường niềm tin trong
xã hội và là một trong những nhân tố quan trọng thúc đấy quyền được bày tở chính kiến, quyền
tự do ngôn luận. Cũng theo báo cáo trên của Bộ Cơng an thì Israel đã ban hành Quy định bảo
mật dữ liệu vào tháng 5/2017, tiến hành quy trình kiểm tốn đối với hơn 150 cơng ty thuộc các
lĩnh vực khác nhau để đánh giá mức độ tuân thủ bảo mật dữ liệu, thành lập cơ quan bảo vệ
QRT. Nhật Bàn ban hành Luật bảo vệ thông tin cá nhân vào tháng 5/2017, điêu chinh đôi với tât
cả các cơng ty kinh doanh có trụ sở tại Nhật Bản hay ở nước ngoài khi kinh doanh tại Nhật Băn,

thành lập ủy ban báo vệ thông tin cá nhân, tăng cường quản lý các doanh nghiệp công nghệ
17Một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện, được gọi là Công nghiệp 4.0. Công nghiệp 4.0 tập trung vào
công nghệ kỹ thuật số từ những thập kỳ gần đây lên một câp độ hoàn toàn mới với sự trợ giúp cũa kết nối thông qua
Internet vạn vật, truy cập dir liệu thời gian thực và giới thiệu các hệ thong vặt lý không gian mạng. Công nghiệp 4.0 cung
cấp một cách tiếp cận toàn diện hơn, liên kết và toàn diện hơn cho sản xuất. 18 Hiệp định Đối tác Tồn diện và Tiến bộ
xun Thái Bình Dương, tên khác: TPP11 là một Hiệp định về nguyên tắc thương mại giừa Australia, Brunei, Canada,
Chile, Nhật Bân, Malaysia, México, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.
18 Được dịch từ tiếng Anh-Hiệp định Thương mại Tự do EƯ-Việt Nam là hiệp định thương mại tự do giừa Liên minh
Châu Âu và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hiệp định Bào hộ Đầu tư giừa EƯ và Việt Nam cũng đẫ được thống
nhất là một hiệp ước đầu tư song phương.


nước ngoài (Google, Facebook, Amazon...). Một số quốc gia như Pháp, Áo, Đức đề xuất áp
thuế cao hơn, tương đương 3% doanh thu đối với các công ty kinh doanh dịch vụ MXH. Tháng
6/2019, các bộ trưởng tài chính (G20) đã thống nhất quy tắc chung đánh thuế cao hơn đối với
các công ty công nghệ thu thập dữ liệu người dùng xuyên biên giới, bắt đầu từ năm 2020.
Tháng 5 năm 2018, EU đã ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu chung Châu Âu (GDPR), yêu cầu các
doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định cụ thể, rõ ràng về cách thu thập thông tin cá nhân, địa
điềm lưu trữ dữ liệu, loại hình dữ liệu được phép chia sẻ, các cơng ty nằm ngồi lãnh thố Châu
Âu cũng phái chấp hành các quy định này. Bất kỳ doanh nghiệp nào vi phạm sẽ có nguy cơ đối
mặt với mức phạt lên tới 20 triệu Euro hoặc 4%19 doanh thu toàn cầu hàng năm. Hoa Kỳ cũng là
quốc giá đã tăng cường xử lý đối với các hành vi thu thập trái phép thông tin người dùng của
các công ty cơng nghệ lớn có tra sở tại nước này.
Đối với Việt Nam, nước ta là một trong những quốc gia có tốc độ phát triền và ứng
dụng Internet cao nhất thế giới, số lượng người sử dụng Internet cùa Việt Nam đã đạt hơn 64
triệu người, chiếm hơn 2/3 dân số (66%), tăng hơn 19% so với năm 2018, xếp thứ 13 trên thế
giới về số người dùng, trong đó có 58 triệu tài khoăn Facebook, 62 triệu tài khoản Google.20 Cơ
sở hạ tầng số phát triển nhanh và cơ sở hạ tầng dừ liệu đang được cái thiện. Chính phù đang
quyết liệt chi đạo đấy mạnh xây dựng Chính phú điện tữ, hướng tới chính phú số, nền kinh tế số
và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ càng nhiều thì

việc cung cấp, sử dụng thơng tin cá nhân lại càng lớn. Điều này đặt ra cho Chính phủ bài toán
phải quàn lý sao cho hiệu quả, đàm bảo phòng ngừa, xử lý được các hành vi vi phạm pháp luật
về thông tin cá nhân; đồng thời, đảm bảo phù họp với Hiến pháp, các quy định của pháp luật
Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế.
Kềt luận Chương 1
Như đã đề cập ngay từ đầu, việc nghiên cứu hệ thống pháp luật liên quan tới DLCN và
QRT là một cơng việc mang tính khai phá. Bên cạnh đó, lĩnh vực khoa học công nghệ cao gắn
liền với phạm vi nghiên cứu cùa đề tài ngày càng trở nên thu hút các nhà nghiên cứu. Chính vì
vậy việc khái quát và phân tích được các khái niệm mang ý nghĩa hết sức cần thiết. Thông qua
Chương 1, bàng những phân tích của mình và những dần chứng cụ thế, tác giả tin rằng đã giúp
cho việc tiếp cận những nội dung cùa Chương 2 trở nên dễ dàng hơn. Từ đây, giúp chúng ta một
lần nữa hiểu được tầm quan trọng của DLCN và vài trò của việc bão vệ QRT đối với người
19 Khoản 5, Điều 83, GDPR (Quy định chi tiết về “General conditions for imposing administrative fines”).
20Báo cáo Đánh giá tác động sơ bộ một số nội dung đề nghị xây dựng Nghị định báo vệ DLCN năm 2021 cùa Bộ Công
an.


dùng MXH.
Cũng từ những đề cập cua mình, tác giã cho rằng việc hệ thống hóa đi đến khuyến nghị,
đề xuất để hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến dừ liệu người dùng và QRT là hết sức cần
thiết. Hiện tại các quy định liên quan còn len lõi trong hệ thống pháp luật và cịn khá rời rạc.
Chính điều này khiến khung pháp lý về dữ liệu và QRT chưa phát huy được vai trị của mình,
thậm chí là chưa linh hoạt đế bắt kịp với sự thay đổi của kinh tế và cơng nghệ. Ngồi ra, chính
những tồn tại đó đã khiến việc nghiên cứu, vận dụng và sử dụng pháp luật về dữ liệu, ỌRT trở
nên khó khăn, xa rời hơn với thực tiễn. Từ những lẽ ấy, ta thấy rằng pháp luật chưa làm tốt nhất
có thề vai trị bảo vệ cơng dân, tạo ra luật chơi lành mạnh và cân bằng lợi ích cho các bên khi
tham gia các quan hệ xã hội. Tiếp nối chương này, ngay tại phần đầu của chương tiếp theo tác
giả sẽ có một chút phân tích sâu hơn về thực trạng nói trên. Việc đề cập các vấn đề tại đây như
tái khẳng định lại một lần nữa sự cần thiết cũng như tầm quan trọng của nghiên cứu này. Và cụ
thể từ Chương 1 chúng ta có thể tiếp nối qua Chương 2 rồi đi vào những nội dung bám sát với

thực tiễn hơn, hướng đến tìm ra những giải pháp cũng như tính mới của phân tích. Việc đó góp
phần tạo ra giá trị, những kết quả có thể úng dụng ngay vào thực tiễn và giúp ích cho thực tiễn
áp dụng pháp luật khi điều chỉnh các hoạt động kinh tế, thúc đấy sự bảo vệ quyền cũng như lợi
ích chính đáng của các bên.


×