Tải bản đầy đủ (.docx) (63 trang)

Pháp luật tố tụng dân sự về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân huyện mỏ cày nam, tỉnh bến tre

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (335.1 KB, 63 trang )

ĐẠI HỌC QC GIA THÀNH PHĨ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TÉ - LUẢT

ĐỎ THÚY HẰNG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN sụ VÈ GIAO Nộp,
TIÉP CẬN, CÔNG KHAI CHỦNG cú
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

Ngành: Luật dân sự và Tổ tụng dân sự
Mã số: 838 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯĨNG DẢN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒI PHUONG

TP. HỒ CHÍ MINH - NÀM 2022


LỊI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Hoài Phương. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc
rõ ràng, nghiên cứu là trung thực. Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu
và tính trung thực của luận văn.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Thúy Hằng


DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TÁT


CHŨ VIẾT TẮT

CHŨ VIẾT THƯỜNG

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

TAND

Tòa án nhân dân

TLCC

Tài liệu, chứng cứ

TTDS

Tố tụng dân sự

VKS

Viên kiểm sát



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẤT
MỤC LỤC


1.2.1.................................................................................................................................


1.2.2............................................................................................................................
Thời hạn giao nộp chứng cứ.......................................................................................
_

_

i

£

1.1. Khái niệm và quy định của pháp luật vê hoạt động tiêp cận, công khai chứng
1.3.1.................................................................................................................................
2.1.3.1..............................................................................................................................
2.1.3.2. Bât cập trong quy định vê phương thức “đương sự thực hiện sao gửi TLCC
1.3.2....................................................................................................................................
1.3.3....................................................................................................................................
1.3.4. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


6

1.3.5. PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
1.3.6. Vào ngày 25 tháng 11 năm 2015, Quốc hội khóa XIII đã thơng qua Bộ luật


tố tụng dân sự (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, gọi tắt là BLTTDS
2015). Theo đó, BLTTDS 2015 đã sửa đổi, bổ sung những quy định về việc giao nộp
chứng cứ, tiếp cận chứng cứ và phiên họp về việc kiếm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (được sứa đối, bồ sung năm 2011
- gọi tắt là BLTTDS 2004). Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung này là nhằm bảo đảm
nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS; bảo đảm bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ cúa đương sự trong TTDS trong đó có quyền giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ; bảo đảm mọi TLCC phải được xem xét đầy đù, khách quan, tồn diện, cơng
khai (trừ trường hợp khơng cơng khai theo quy định). Qua đó, nâng cao chất lượng tranh
tụng trong xét xứ cũng như chất lượng giải quyết các vụ án dân sự, đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49- NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005 của
Bộ Chính trị.
1.3.7. Có thế nói, chứng cứ giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động tố tụng nói
chung, hoạt động tổ tụng dân sự nói riêng. Đẻ xác định các tình tiết khách quan của vụ
án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp
hay khơng thì phải có chứng cứ. Trong đó, việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
là các hoạt động giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong pháp luật TTDS. Thông qua các
hoạt động này, đương sự sẽ có sự đánh giá tổng quan và đầy đù hơn về những chứng cứ
được thu thập có trong hồ sơ vụ án, từ đó có sự chuẩn bị tốt nhất cho q trình tranh
tụng tại phiên tịa.
1.3.8. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định liên quan đến việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã phát sinh vướng mắc, bất cập, có những cách hiểu
và áp dụng khơng thống nhất dẫn đến mục đích của quy định này chưa được đảm bảo.
Trên thực tế, vẫn có sự nhầm lẫn giữa nghĩa vụ chứng minh của các đương sự với trách
nhiệm của Tòa án trong việc hồ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh.
1.3.9. Mặc khác, những quy định liên quan đên việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng


7


cứ khi áp dụng vào thực tế giải quyết vụ án dân sự, đã tạo nên áp lực lớn cho Tịa án,
nhiều đương sự khơng có thiện chí đã lợi dụng các quy định này đế kéo dài thời hạn giải
quyết vụ án hoặc cố tình khơng thực hiện hoặc chậm thực hiện dẫn đến kéo dài thủ tục
tố tụng, ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử. Bên cạnh, nhiều vụ án bị hủy, sửa với lý do Tòa
án thu thập chứng cứ chưa đầy đủ hoặc có vi phạm nghiêm trọng trong việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ hoặc phát sinh trường họp đương sự giao nộp chứng cứ
mới tại cấp phúc thẩm... Chính vì vậy, việc đi vào tìm hiểu, nghiên cứu các quy định về
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ của pháp luật hiện hành cũng như áp dụng các
quy định vào thực tiễn xét xử sẽ làm rõ hơn tầm quan trọng và ý nghĩa của quy định này,
đồng thời góp phần tìm ra những điếm cịn bất cập, hạn chế và đề ra một số giải pháp
khắc phục là điều mà tác giả quan tâm.
1.3.10.

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, để hoàn thiện đề tài nghiên cứu

luận văn thạc sĩ Luật học của mình, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật tố tụng dân sự
về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ - Thục tiễn áp dụng tại Tịa án nhân dân
huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre”.
2.

Tình hình nghiên cúru
1.3.11.

Trước khi BLTTDS 2015 được ban hành, có rất nhiều bài viết, cơng

trình khoa học có phân tích về chứng cứ và chứng minh, về cung cấp chứng cứ như: Bùi
Thị Huyền (2002), “Thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự”, Tạp chí Luật học, số
1/2002; Tưởng Duy Lượng (2004), “Một vài suy nghĩ về vấn đề chứng cứ và chứng
minh được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số

20/2004; Nguyễn Minh Hằng (2012), “Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và
trách nhiệm chửng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2012: Các bài
viết, cơng trình trên đã tập trung làm rõ vai trò, ý nghĩa của chứng cứ và chứng minh,
nghiên cứu việc thực hiện thu thập, đánh giá chứng cứ, đưa ra các khái niệm, đặc điểm
và giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các
bài viêt mang tính chât định hướng, trao đơi kinh nghiệm trên các tạp chí khoa học chứ
chưa mang tính chất nghiên cứu chun sâu.
1.3.12.

Có một số đề tài chuyên khảo liên quan đến chứng cứ như: Nguyễn


8

Đức Mai (chú biên) (2012), Bmh luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa
đổi, bổ sung năm 2011), NXB Chính trị quốc gia: Đây là cơng trình biên soạn có sự
tham gia của tập thể các tác giả là những nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn. Các tác
giả đã phân tích và bình luận từng điều luật cụ thể nhằm làm sáng tỏ nội dung của các
quy định, đặc biệt là những điếm mới (trong đó có việc giao nộp chứng cứ) được sửa
đồi, bố sung năm 2011. Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng
dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phổ Hồ Chí
Minh: Tác giả đề cập cơ sở lý luận, nội dung, thực tiễn thực hiện pháp luật cúa hoạt
động thu thập chứng cứ trong TTDS Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện các quy định của
pháp luật về vấn đề này. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu này được thực hiện
chù yếu vào thời điểm BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) có hiệu lực nên chủ
yếu đề cập đến việc thu thập chứng cứ của Tòa án. Đồng thời, cùng với sự phát triển của
kinh tế, xã hội, các quy định cùa pháp luật liên quan cũng khơng cịn phù hợp và phát
sinh nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.
1.3.13.


Sau khi BLTTDS 2015 được ban hành, có nhiều bài viết, cơng trình

liên quan việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ như: Nguyễn Thị Hồi Phương
(chú biên) (2015), Bình luận những điếm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh: Đây là cơng trình biên soạn có
sự tham gia của tập thể nhiều tác giả, đã phân tích các điểm mới của BLTTDS 2015, có
giá trị nghiên cứu cao. Trần Anh Tuấn (chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố
tụng dân sự của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp:
Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả, bao gồm các nhà thực tiễn, các nhà nghiên
cứu, các giảng viên nhằm làm rõ những điềm mới của BLTTDS 2015, cơ sở lý luận cúa
các quy định cũng như mối liên hệ giữa chúng với các văn bản pháp luật có liên quan.
1.3.14.

Bùi Thuận Yên (2016), “Vê giao nộp chứng cứ - điêm mới theo quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Quán lý Nhà nước, số 245/2016; Phan Thị Thu
Hà (2018) “Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định cúa Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 về chứng cứ, chứng minh và một số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí Tịa án
nhân dân, số 8/2018; Chu Quang Duy (2018), “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”,


9

< />
can-

cong-khai-chung-cu-va-hoa-giai-theo-blttds-2015>, truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2020.
Đây là các bài viết, cơng trình quan trọng, có ý nghĩa và giá trị nghiên cứu cao, đề cập
rất nhiều vấn đề liên quan việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong TTDS theo

BLTTDS 2015, làm rõ những điếm mới so với BLTTDS 2004, sửa đồi, bồ sung năm
2011.
1.3.15.

So với các cơng trình đã liệt kê như trên, đề tài nghiên cứu của tác giả

có tính mới như sau: Ke thừa các cơng trình, bài viết và căn cứ vào các quy định pháp
luật, tác giả đã nêu khái quát một số vấn đề về lý luận cũng như quy định của pháp luật
về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong TTDS Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Thơng qua đó có sự so sánh những điềm tương đồng và khác nhau so với BLTTDS 2004
(sửa đổi, bổ sung năm 2011). Tác giả có bổ sung thêm khái niệm giao nộp chứng cứ và
khái niệm tiếp cận, công khai chứng cứ. Từ đó, làm cơ sở khảo sát thực tiễn khách quan
tại các Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, nêu lên những bất cập, tồn
tại trong quá trình thực hiện và nêu một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật TTDS về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Qua đó, có cái nhìn tồn diện hơn
quy định của pháp luật TTDS về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, góp phần nâng
cao chất lượng giải quyết các loại vụ án dân sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách
tư pháp hiện nay.
3.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cún
1.3.16.

về mục tiêu: Thông qua việc nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp

luật TTDS Việt Nam hiện hành về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; đồng thời,
thông qua thực tiễn áp dụng trong quá trình cơng tác tại Tịa án, tác giả xin nêu ra một số
bất cập, tồn tại trong việc thực hiện các quy định này, từ đó đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật và kiến nghị một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự.

1.3.17.

về nhiệm vụ cụ thể:

- Phân tích những vân đê lý luận và quy định cùa pháp luật TTDS vê giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ.


10

- Kháo sát thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTDS về giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ tại TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Ben Tre. Đồ xuất một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng trong pháp luật TTDS.
4.
4.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
về đối tượng nghiên cún
1.3.18.

Là pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về giao nộp, tiếp cận, công

khai chứng cứ; thực tiễn áp dụng việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại TAND
huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Ben Tre thông qua một số vụ án cụ thể.
4.2.

về phạm vi nghiên cứu
1.3.19.


Kể' nội dung'. Là các quy định về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự theo thú tục thông thường.
1.3.20.

Vê không gian và thời gian'. Nghiên cứu việc áp dụng các quy định vê

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Ben Tre từ
ngày BLTTDS 2015 có hiệu lực (ngày 01/7/2016) cho đến nay.
5.

Phuong pháp nghiên cứu
1.3.21.

Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Trên cơ sở

quan điểm, đường lối, chính sách cùa Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vê chiên lược cải cách tư pháp và xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
1.3.22.

Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp nhàm làm rõ các quy định

của pháp luật TTDS về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Sử dụng phương pháp so
sánh để so sánh quy định của BLTTDS 2004 với BLTTDS 2015.
1.3.23.

Sử dụng phương pháp thống kê khi nghiên cứu các báo cáo công tác


xét xử, các bản án dân sự của TAND huyện Mỏ Cày Nam và Tòa án nhân dân cấp trên
có liên quan đến giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ.


11

1.3.24.

Trong đó, chương 1, chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh

để phân tích các quy định của pháp luật về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong
TTDS; Chương 2, sử dụng phương pháp phân tích, thống kê và tồng hợp để làm rõ việc
thực hiện giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh
Bến Tre trong những năm qua. Từ đó, phân tích những bất cập, tồn tại của BLTTDS hiện
hành về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án dân
sự cụ thể. Đề ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập trong quy
định về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
6.

Kết cấu đề tài
1.3.25.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của luận văn gồm:
1.3.26.

Chương 1: Một số vấn đề về lý luận và quy định của pháp luật TTDS

Việt Nam hiện hành về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

1.3.27.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về giao nộp, tiếp cận,

công khai chứng cứ tại TAND huyện Mó Cày Nam, tỉnh Bến Tre và giải pháp hồn
thiện.
1.3.28.CHƯƠNG 1
1.3.29.MỘT SĨ VÁN ĐÈ VÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VÈ GIAO NỘP, TIÉP CẶN, CÔNG KHAI CHÚNG cú
TRONG TTDS VIỆT NAM
1.1.
1.1.1.

Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ
Khái niệm chứng cứ
1.3.30.

Khái niệm chứng cứ có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào khía

cạnh nhận thức, phương cách tiếp cận, cách đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ.
Theo nghĩa thông thường, “chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định, chứng
minh điều gì đó là có thật” ’.
1.3.31.

Dưới góc độ TTDS, chứng cứ được quy định tại Điều 93 BLTTDS

2015: “Chứng cứ trong vụ việc dãn sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ


12


chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tịa án trong q trình tố tụng hoặc do Tịa
án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng
làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu
hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và họp pháp
1.3.32.

Từ quy định trên cho thấy, so với BLTTDS 2004 thì Điều này có một

số sửa đổi, bổ sung mới như thay cụm từ “cá nhân, cơ quan, tổ chức” thành “cơ quan, tổ
chức, cá nhân”. Bổ sung cụm từ “xuất trình”, “trong quá trình tố tụng”, thay “mà” bàng
“và được”, “dùng làm căn cứ” thay bằng “sử dụng làm căn cứ”, bổ sung cụm từ “để xác
định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như”, bở đoạn “hay khơng cũng như những
tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”. Như vậy, tinh thần
của Điều luật cho thấy chứng cứ là “những gì có thật”, “được đương sự và cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình hoặc do Tịa án thu thập

1

Viện Ngơn ngừ học (2002), Từ điên tiếng Việt phơ thơng, NXB thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí
Minh; tr.174.

1.3.33.theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định” và “được Tòa án sử dụng là căn cứ
đê xác định tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối
của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Tức đương sự là chủ thế thực hiện việc giao
nộp, xuất trình nhưng họ không phải là chủ thế sử dụng chứng cứ làm căn cứ xác định
tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự
là có căn cứ và hợp pháp. Quyền này thuộc về Tòa án.
1.3.34.


Trong các vụ việc dân sự được Tịa án giải quyết, có rất nhiều tình tiết,

sự kiện mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó. Những tình tiết,
sự kiện này thường xảy ra trước khi có đơn khởi kiện đến Tòa án nhưng để giải quyết
được vụ việc dân sự vẫn phải làm rõ chúng. Trong mối liên quan chung và qua lại giữa
các tình tiết, sự kiện, khơng tình tiết, sự kiện nào xảy ra trên thực tế lại khơng có mối
quan hệ với các tình tiết, sự kiện khác; khơng tình tiết, sự kiện nào xảy ra lại không để
lại tin tức, dấu vết. Trong TTDS, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự được thể hiện dưới hình thức nhất định do Tòa án sử dụng làm cơ sở để giải


13

quyết vụ việc dân sự được gọi chung là chứng cứ 4.
1.1.2.

Đặc điếm của chứng cứ

1.3.35.

Chứng cứ trong vụ việc dân sự có ba thuộc tính cơ bản sau đây:

1.3.36.

Thứ nhất, về tính khách quan, chứng cứ trong vụ việc dân sự phải là

những gì có thật và tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tính có thật của chứng cứ
gắn liền với sự hiện hữu của chứng cứ, được thể hiện dưới những hình thức nhất định và
thơng qua đó, chù thế chứng minh cung cấp được cho Tòa án và Tòa án xác định được
những nội dung mà dựa vào đó làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Tính có thật của

chứng cứ gẳn liền với tính khách quan của chứng cứ. Tính khách quan của chứng cứ thể
hiện sự khơng phụ thuộc vào ý chí của con người, biểu thị sự độc lập của chứng cứ với
mong muôn của con người. Con người mn có chứng cứ phải tìm kiểm, thu thập, bảo
quản, kiểm tra, đánh giá theo trình tự nhất định. Con người không thế tạo ra chứng cứ,
không thế làm ra thông tin, tài liệu, sự kiện theo hướng có lợi cho mình để tham gia vào
hoạt động chứng minh theo ý chí chủ quan của mình. Trong đời sống xã hội, thông qua
các hoạt động khác nhau, con người tạo ra và để lại nhiều dấu vết, thông tin nhằm phục
vụ cho nhu cầu hoạt động của mình. Những dấu vết, thông tin này xuất phát từ những
hành vi hợp pháp hoặc không họp pháp. Tuy nhiên, không phải dấu vết, thông tin nào từ
hành vi của con người cũng là chứng cứ. Chỉ những dấu vết, thông tin gắn liền với việc
Tòa án giải quyết vụ việc dân sự và được Tòa án sứ dụng làm căn cứ để giải quyết các
yêu cầu của đương sự, người yêu cầu mới là chứng cứ. Phải được thu thập, bảo quản,
kiểm tra, đánh giá theo trình tự luật định, tồn tại một cách độc lập với ý chí con người
mới được coi là chứng cứ 5.
1.3.37.

Thứ hai, tỉnh liên quan, đây là thuộc tính quan trọng của chứng cứ.

Tính liên quan cùa chứng cứ gắn liền với sự kiện cần chứng minh trong các vụ việc dân
sự. Những thông tin, tài liệu, sự kiện có thật, tồn tại khách quan chỉ được coi là chứng cứ
khi nó có mối liên hệ với các sự kiện cần chứng minh trong vụ việc dân sự mà Tòa án
4 Trường đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, NXB Cơng an nhân
dân, Hà Nội; tr. 168.
5Nguyễn Thị Hồi Phương (chú biên) (2015), Bình luận những điếm mới trong Bộ luật TTDS
năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh; tr. 208 - 210.


14

đang giải quyết. Những thông tin, tài liệu, sự kiện này bản thân nó phải mang, chứa

đựng một nội dung hoặc một số nội dung làm sáng tở một hoặc một số tình tiết trong vụ
án. Tính liên quan cúa chứng cứ gắn liền với sự hàm chứa thông tin từ các thông tin, tài
liệu, sự kiện mà các đương sự và các chủ thề tham gia chứng minh cung cấp cho Tòa án
cũng như hoạt động sử dụng chứng cứ của Tòa án trong việc kết luận sự việc.
1.3.38.

Thứ ba, về tính hợp pháp, gắn liền với sự tuân thủ pháp luật trong việc

thu thập, xác định chứng cứ. Thơng tin, tài liệu, sự kiện chí được coi là chứng cứ khi
được thu thập, bảo quản, kiềm tra, đánh giá theo thủ tục, trình tự do luật định. Thủ tục,
trình tự này có tính băt buộc và thực hiện theo những nguyên tăc nhât định. Tính hợp
pháp của chứng cứ gắn liền với giá trị chứng minh của chứng cứ. Mọi chứng cứ được
Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự phải thực hiện theo quy trinh nhất
định nhằm khẳng định tính khách quan, đúng đắn, chính xác của chứng cứ cũng như sự
đồng nhất của chứng cứ trong hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ 6.
1.3.39.

Có thể nói, ba thuộc tính này của chứng cứ là “một thể thống nhất

khơng thể tách rời, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, tính
khách quan và tính liên quan là điều kiện cần có của chứng cứ, được xem là yếu tố tiền
đề khi đặt trong mối quan hệ với các thuộc tính cịn lại; cịn tính họp pháp là co sở pháp
lý của tính khách quan” 7.
1.3.40.

Quy định trên cho thấy, chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động

TTDS. Để tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏ nội dung vụ việc dân sự thì phải
có chứng cứ. Thơng tin, tài liệu, sự kiện được thừa nhận là chứng cứ hoặc không là
chứng cứ là tiền đề lý luận và cơ sở pháp lý để các chủ thể chứng minh sử dụng làm căn

cứ bảo vệ quyền của mình hoặc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc phát sinh tại
cơ quan tư pháp. Nhận thức được tầm quan trọng cùa chứng cứ, BLTTDS 2015 đã ghi
nhận và quy định về chứng cứ từ Điều 93 đến Điều 95. Trên cơ sở các quy định này, chủ
thể chứng minh có quyền sử dụng các quy định về chứng cứ để phục vụ cho nhu cầu của
mình trong việc bảo vệ quyền và Tòa án làm căn cứ giải quyết các yêu cầu cúa đương sự
6Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên) (2015), tr. 208 - 212.
7Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tổ tụng dân sự cùa nước Cộng hòa xã hội
chù nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp, Hà Nội; tr. 237.


15

khi giải quyết vụ việc dân sự 8. Trên thực tế, hoạt động chứng minh diễn ra dưới dạng
cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ là cơ bản và do các đương sự thực
hiện là chủ yếu 9. Vì vậy, các hoạt động có liên quan đến chứng cứ như giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ đều là những hoạt động TTDS cơ bản và có ỷ nghĩa quan trọng
nhằm làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn
các vụ việc dân sự. Thế nên, việc nghiên cứu chi tiết về lý luận cũng như quy định pháp
luật đối với từng hoạt động nêu trên là rất cần thiết và mang ý nghĩa tích cực trong chiến
lược cải cách tư pháp.
1.2.

Khái niệm và quy định của pháp luật về hoạt động giao nộp chứng cứ

1.2.1.

Khái niệm

1.3.41.


Theo từ điến tiếng Việt phổ thông, giao nộp là “nộp cho cơ quan có

trách nhiệm thu giữ, ví dụ như giao nộp sản phẩm, giao nộp vào ngân sách nhà nước” 10.
Còn theo từ điển từ và ngừ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân thì giao nộp được hiểu là
“trao cho một cấp nào, theo chù trương chung, ví dụ giao nộp tiền thuế cho kho bạc” 11.
1.3.42.

Theo tác giả Bùi Thuận Yến, giao nộp chứng cứ được hiếu là “hoạt

động tố tụng của các chủ thế tham gia tố tụng trong việc giúp cho Tịa án, VKS có thêm
các chứng cứ xác thực của vụ việc dân sự" 12.
1.3.43.

Trong BLTTDS 2015 không nêu khái niệm về hoạt động giao nộp

chứng cứ, nhưng xuất phát từ “nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
TTDS” được quy định tại Điều 6 BLTTDS 2015 thấy rằng việc thu thập, giao nộp chứng
cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ “chú động” của đương sự cũng như mọi cơ quan, tổ
chức, cá nhân khởi kiện, yêu câu đê bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người khác
nhăm “chứng minh cho u cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Đương sự vốn là
8 Nguyễn Thị Hoài Phương (chú biên) (2015), tlđd, tr. 207.
9Trường đại học luật Hà Nội (2015), tlđd, tr.134.
10 Viện Ngôn ngữ học (2002), tlđd, tr.348.
11 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí
Minh; tr.748.
12 Bùi Thuận Yến (2016), “về giao nộp chứng cứ - điềm mới theo quy định của Bộ luật
TTDS”, Tạp chi Quàn lý Nhà nước, số 245/2016; tr. 114.


16


người đưa ra yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cúa mình nên phài thu
thập, giao nộp TLCC đề chứng minh. Đây là một chuồi hành vi khó có thể tách bạch để
xác định đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ. Bởi khi thực hiện quyền cũng là để thực hiện
nghĩa vụ và ngược lại. Nhưng trước hết đó là quyền chú động của đương sự. Đương sự
có thế thu thập chứng cứ mọi lúc, mọi nơi, phù họp với kế hoạch, điều kiện chủ quan của
mình. Sau khi chủ động thu thập chứng cứ, đương sự thực hiện giao nộp chứng cứ cho
Tòa án. Đương nhiên, việc giao nộp phải thực hiện theo trình tự, thủ tục luật quy định
mới có giá trị pháp lý. Đương sự cũng có thế lựa chọn khơng giao nộp TLCC. Họ chỉ
chịu một sức ép duy nhất đó là nếu không chủ động thu thập, giao nộp đầy đủ, khách
quan TLCC thì có thề dẫn đến khơng chứng minh được u cầu của mình là có căn cứ
và hợp pháp. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc “Quyền quyết định và tự định đoạt
của đương sự” tại Điều 5 BLTTDS 2015.
1.3.44.

Khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 quy định: “... Trường hợp TLCC đã

giao nộp chưa đảm bảo đủ cơ sở giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự
giao nộp bô sung TLCC... ”. Quy định này đã làm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của đương
sự, giúp cho đương sự có cơ hội giao nộp bổ sung TLCC sau khi được Thẩm phán kiểm
tra và thấy việc giao nộp là chưa đảm bảo đú cơ sở giải quyết vụ việc. Trên thực tế, có
nhiều trường họp đương sự không biết đế giao nộp đầy đủ và hoặc khơng muốn giao nộp
TLCC thì quy định này là yêu cầu phải thực hiện giao nộp bổ sung, vì nếu khơng thực
hiện mà khơng có lý do chính đáng thì Tịa án căn cứ vào TLCC mà đương sự đã giao
nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định đế giải quyết.
1.3.45.

Từ các phân tích trên, tác giả xin phép được đưa ra định nghĩa như sau:

“Giao nộp chứng cứ là hoạt động của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi

kiện, yêu cầu bảo vệ quyển lợi của người khác bằng hành vi của mình chủ động hoặc
theo u cầu của Tịa án giao nộp cho Tòa án nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo
quy định của pháp luật TTDS”.


17

1.3.46.

ỉ.2.2. Chủ thê thực hiện giao nộp chứng cứ

1.3.47.

Theo khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015 quy định về giao nộp tài liệu,

chứng cứ: “Trong q trình Tịa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và
nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án... ”.
1.3.48.

Khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015 quy định về cung cấp chứng cứ và

chứng minh trong TTDS: “Trường hợp cơ quan, tố chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu đế
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung
cap chứng cứ, chứng minh như đương sự ”.
1.3.49.

Từ quy định trên có thể thấy, chủ thể thực hiện giao nộp TLCC là

“đuơng sự” và “cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ lợi ích cơng
cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

người khác” trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết.
1.3.50.

Vậy, chù thế thực hiện việc “giao nộp chứng cứ” có gì khác với “nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ”. Căn cứ khoản 1 Điều 6 BLTTDS 2015 nêu trên, cho thấy, nhà
làm luật đã thay đổi cụm từ “nghĩa vụ cung cấp chứng cứ” trong BLTTDS 2004 bàng
cụm từ “nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ”. Điều đó cho thấy, nhà làm luật
đã đề cao tính “chủ động” và mở rộng “nghĩa vụ cung cấp chứng cứ” của đương sự, tức
hoạt động thu thập, giao nộp chứng cứ là loạt hành vi mang tính “chủ động” của đương
sự, đương sự có thể thực hiện hoạt động thu thập mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với kế hoạch
và điều kiện chù quan của mình và cũng có quyền “chủ động” giao nộp cho Tòa án. Quy
định này cho thấy đây vừa là một chuồi hành vi khó tách bạch nhằm chứng minh cho
u cầu của mình. Hoạt động này khơng đơn thuần chỉ là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
mà còn có quyền chủ động giao nộp chứng cứ cho Tịa án. Đương nhiên, việc giao nộp
chứng cứ phải thực hiện theo một quy trình luật định. Như vậy, có thể thấy BLTTDS
2015 đã mở rộng hơn về “nghĩa vụ cung cấp chứng cứ” của đương sự so với quy định
của BLTTDS 2004 và đề cao vai trò “chủ động” của đương sự hơn trong hoạt động
chứng minh này.
1.3.51.

Mở rộng vân đê, tại Điêu 106 BLTTDS 2015 quy định “trong trường

hợp cơ quan, tồ chức, cá nhân được đương sự, Tòa án hoặc VKS yêu cầu cung cấp


18

chứng cứ thì có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo các quy định tại điều luật này”. Vậy
việc “giao nộp chứng cứ” cùa đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân như nêu trên có gì

khác so với “cung cấp chứng cứ” của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo Điều 106
BLTTDS 2015? Theo các tác giả tại Trường Đại học Luật Hà Nội thì “cung cấp chứng
cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thế tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, VKS các
chứng cứ của vụ việc dân sự. Trong TTDS, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện hoặc đang quản lí, lưu giữ chứng cứ có nghĩa vụ cung cấp cho Tịa án. Ngồi ra, họ
cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho VKS khi có yêu cầu” n. Như vậy, có thể thấy,
xét theo nghĩa rộng thì “cung cấp chứng cứ” là hoạt động cùa tất cả các chủ thể bao
gồm: “đương sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích
cùa Nhà nước hoặc u cầu Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người khác”;
và “là hoạt động của các cơ quan, tồ chức, cá nhân khác cung cấp chứng cứ theo yêu cầu
để giải quyết VADS”. Khi đó, “cung cấp chứng cứ” sẽ có nội dung bao hàm cả hoạt
động giao nộp chứng cứ. Theo nghĩa hẹp thì “cung cấp chứng cứ” chỉ là hoạt động cung
cấp chứng cứ theo yêu cầu tại Điều 106 BLTTDS 2015 của các cơ quan, tố chức, cá
nhân khác. Nghĩa là, ý nghĩa của “cung cấp chứng cứ” và “giao nộp chứng cứ” là không
giống nhau vì hai hoạt động này có một số khác biệt về chú thế thực hiện cũng như chủ
thể tiếp nhận chứng cứ cũng như mục đích của hoạt động. Cụ thế, đối với hoạt động
“giao nộp chứng cứ” thì chú thế thực hiện là đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, u cầu bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc u cầu Tịa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho
mình hoặc lợi ích cơng cộng, nhà nước hoặc người khác và chủ thể tiếp nhận chứng cứ
là Tòa án. Còn đối với hoạt động “cung cấp chứng cứ” theo Điều 106 BLTTDS 2015 thì
chủ thể thực hiện bao

11

Trường đại học luật Hà Nội (2015), tlđd, tr.152. gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

không phải là đương sự (họ khơng bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình trong
vụ án) và chủ thể tiếp nhận chứng cứ là Tịa án, VKS và cả đương sự.
1.3.52.


Từ những phân tích trên, có thể kết luận: “Đương sự là chủ thể có

quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ trong TTDS; trường hợp các cơ quan, tố chức, cá


19

nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc u cầu
Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có quyền và nghĩa vụ
giao nộp chứng cứ như đương sự”.
1.2.3.

Vai trò của Tòa án trong việc giao nộp chứng cứ

1.3.53.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 96 BLTTDS 2015, “trường hợp TLCC

đã giao nộp chưa đảm hảo đủ cơ sở giải quyết vụ việc thì Thâm phán yêu cầu đương sự
giao nộp bổ sung TLCC. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài
liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà khơng có lý do chính đảng thỉ Tịa án căn cứ vào
tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại
Điều 97 BLTTDS 2015 để giải quyết vụ việc dãn sự”.
1.3.54.

Vậy, việc Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung TLCC có đồng

nghĩa với việc Tịa án có nghĩa vụ chứng minh làm rõ các sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho
yêu cầu của đương sự không. Trước khi có BLTTDS 2004, các pháp lệnh riêng rẽ đã tồn

tại và phát huy tác dụng. Tại Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989
quy định Tịa án có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể
thu thập thêm chứng cứ đế bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Cũng theo
pháp lệnh nêu trên thì việc thu thập chứng cứ thơng qua việc cung cấp chứng cứ của
đương sự và những người tham gia tố tụng khác là nhiệm vụ của Tịa án. “Có thể dễ
dàng nhận thấy là các pháp lệnh trước đây đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ. Nguyên nhân lúc đó vẫn tồn tại giai đoạn điều tra cùa Tòa án đối
với mồi vụ án cụ thể. Từ việc điều tra, thu thập chứng cứ, Tịa án sẽ phân tích, đánh giá
và quyết định. Chính vì vậy mà trong một thời gian dài vai trò chứng minh của đương sự
trong việc giải quyết vụ án dân sự chưa được quan tâm và đê cao đúng mức. Từ khi có
BLTTDS 2004, các quy định vê chứng cứ và chứng minh đã có những quy định phù hợp
hơn theo hướng ngày càng hội nhập sâu vào sự phát triển chung của luật tố tụng dân sự
quốc tế. Đặc biệt là Điều 91 BLTTDS 2015 đã có những bước tiến vượt trội so với các
quy định trước đây về nghĩa vụ chứng minh” *2.
1.3.55.

Theo các tác giả của Trường Đại học luật Hà Nội, “về ngun tắc Tịa

án khơng có nghĩa vụ chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện đương sự đưa ra làm cơ


20

sở cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ vì Tịa án khơng phải là người chi ra các
tình tiết, sự kiện ấy. Nhưng để giải quyết đúng vụ việc dân sự thì Tịa án vẫn phải xác
định xem trong vụ việc dân sự phải chứng minh làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào?
Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp đã đú đề
giải quyết vụ việc dân sự chưa? Trong trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ
việc khơng đủ làm rõ được vụ việc thì Tịa án u cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng
cứ. Như vậy, hoạt động chứng minh cùa Tòa án chủ yếu phục vụ cho việc làm rõ cơ sở

quyết định của mình” 13 14. Đây cũng là “tình tiết góp phần làm rõ sự thật khách quan vụ
án” nhưng quy định này thường bị nhầm lẫn “nghĩa vụ chứng minh của các đương sự”.
1.3.56.

BLTTDS 2015 cũng bổ sung tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS 2015 về việc

“Tịa án có trách nhiệm hồ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành
thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do BLTTDS 2015 quy định”. Đây
là bố sung quan trọng cho thấy trách nhiệm của Tòa án trong việc hỗ trợ đương sự thu
thập chứng cứ.
1.3.57.

Vấn đề đặt ra là trường hợp này có đảm bảo “ngun tắc bình đẳng

quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự giữa các đương sự” khơng và trách nhiệm của
Tịa án là “tìm ra sự thật khách quan của vụ án” hay châp nhận sự thật năm trong phạm
vi từng chứng cứ do đương sự giao nộp có trong vụ án. “Chứng minh khơng những để
làm rõ sự thật của vụ việc dân sự mà còn là biện pháp tốt nhất đế đương sự báo vệ quyền
và lợi ích họp pháp của mình. Tuy vậy, hiệu quả chứng minh lại phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố. Để đảm bảo cho đương sự thực sự thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình, các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh như nhau. Bên này được đưa
ra chứng cứ, lý lẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bên kia cũng phải đưa
ra các chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Sự thiếu bình đẳng về
nghĩa vụ chứng minh của đương sự có thể dần đến hậu quả chỉ có một bên đưa ra chứng
cứ, lý lẽ chứng minh, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cúa mình (trù - một số ngoại lệ),
Tịa án có thề nhận thức sai sự việc từ đó giải quyết vụ việc khơng đúng với bản chất của
nó. Trong những trường hợp đương sự khơng thể tự mình thu thập được chứng cứ hoặc
trong những trường hợp pháp luật quy định thì Tịa án tiến hành các biện pháp xác minh
13Trần Anh Tuấn (2017), tlđcl, tr. 226 - 227.
14Trường đại học luật Hà Nội (2015), tlđd, tr. 142 - 143.



21

thu thập chứng cứ. Ngồi ra, Tịa án cịn phải tiến hành các hoạt động chứng minh khác
như nghiên cứu, đánh giá chứng cứ... Ở Việt Nam, pháp luật vẫn quy định Tịa án có
nghĩa vụ xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ như các Điều 85, 86, 87... BLTTDS
2004, Điều 97, 98, 99... BLTTDS 2015. Sự tích cực chứng minh của Tịa án nhằm đảm
bảo tìm ra chân lí, có thể làm giảm được những hậu quả bất lợi cho đương sự trong
trường hợp họ không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình. Như vậy, hoạt
động chứng minh của Tòa án chú yếu phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của
mình. Trong trường hợp ngoại lệ vì lý do khách quan đương sự khơng thể thực hiện
được nghĩa vụ chứng minh thì Tịa án hồ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh
làm rõ những sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đối, chấm dứt quan hệ pháp luật giữa
các đương sự 15. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của tư duy truyền thống, ln đặt mục
tiêu tìm hiểu sự thật khách quan đã diễn ra hơn là chấp nhận sự thật nằm trong phạm vi
từng chứng cứ do các bên đương sự giao nộp khiên cho nhiêu vụ án bị trì trệ, kéo dài
q thời hạn luật định khơng thể giải quyết dứt điểm”.
1.2.4.

Thời điểm phát sình, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ
1.3.58.

Theo Điều 189 BLTTDS 2015 quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải

có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm
phạm. Trường họp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thê nộp đầy đù TLCC
kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp TLCC hiện có đế chứng minh quyền, lợi ích hợp
pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung
TLCC khác theo u cầu của Tịa án trong q trình giải quyết vụ án". Đây là điểm mới

của BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004 vì cho phép “các đương sự trong trường họp vì
lý do khách quan mà khơng thể nộp đầy đủ TLCC cùng với đơn khởi kiện thì có thể giao
nộp bổ sung TLCC theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án”. Quy định
này nhằm đảm bảo cho “nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bào vệ quyền và lợi ích họp
pháp”. Như vậy, đối với nguyên đơn thì thời điếm phát sinh quyền và nghĩa vụ giao nộp
chứng cứ là thời điếm họ tiến hành nộp đơn khởi kiện.
1.3.59.

Đổi với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định

tại khoản 1 Điều 199 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
15Trường đại học luật Hà Nội (2015), tlđd, tr.139, 142, 143.


22

thơng báo thụ lý vụ án, “phài nộp cho Tịa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu
cầu của nguyên đơn và TLCC kèm theo, yêu cầu phản tổ, yêu cầu độc lập (nếu có)”.
Như vậy, có thể thấy quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của họ phát sinh kể từ thời
điểm nhận được thông báo thụ lý vụ án.
1.2.5.

Thời hạn giao nộp chứng cứ
1.3.60.

Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 quy định: “Thời hạn giao nộp TLCC

do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quét
thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự
theo quy định của Bộ luật này”. Đây là điểm mới của BLTTDS 2015 so với BLTTDS

2004, vì BLTTDS 2004 khơng quy định về thời hạn cuối cùng để giao nộp chứng cứ.
1.3.61.

Quy định này nhăm đảm bảo “nguyên tăc tranh tụng trong xét xử theo

quy định tại Điều 24 BLTTDS 2015”. Cụ thể là đảm bảo quyền giao nộp chứng cứ của
các đương sự, từ đó đảm bảo quyền tiếp cận chứng cứ, chủ động được thời gian nghiên
cứu, phân tích TLCC liên quan của tất cả các đương sự trước thời điểm phiên tịa xét xử;
chủ động chuẩn bị trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, tranh luận tại phiên tòa.
Đồng thời, tạo điều kiện cho Thấm phán có thời gian nghiên cứu vụ án, đánh giá chứng
cứ cũng như yêu cầu bố sung chứng cứ, chủ động thu thập chứng cứ trong những trường
hợp luật định. Bên cạnh, quy định này cịn khắc phục trình trạng đương sự cố tình kéo
dài thời gian giao nộp chứng cứ hoặc chọn thời điểm giao nộp chứng cứ có lợi cho họ,
dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
1.3.62.

Việc quy định cho Thấm phán quyền ấn định thời hạn giao nộp tài liệu,

chứng cứ như nêu trên có ưu điếm là cho Thẩm phán quyền chú động trong từng vụ án
dân sự cụ thể, tùy từng diễn biến vụ án mà Thẩm phán sẽ linh hoạt phân bố thời gian thu
thập chứng cứ khác nhau. Tuy nhiên, quy định này cũng phát sinh nhiều bất cập trong
thực tế áp dụng.
1.3.63.

Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 còn quy định 02 trường hợp ngoại lệ

đương sự được quyền giao nộp chứng cứ “sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục sơ thấm là do đương sự không biết phải nộp hoặc Tịa án khơng u cầu;
Tịa đã u cầu mà trước đó đương sự khơng giao nộp được, đến phiên tòa xét xử sơ



23

thẩm mới giao nộp được và chứng minh được vì “lý do chính đáng””. Tuy nhiên,
BLTTDS 2015 lại khơng quy định trường hợp nào được xem là có “lý do chính đáng”
gây nhiều bất cập trong q trình áp dụng thực tế. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thấm, đương sự được quyền giao nộp bổ sung TLCC quy định Điều 287 và theo Khoản
3 Điều 302 BLTTDS 2015.
1.3.64.

Như vậy, có thể thấy “thời điểm chấm dứt quyền và nghĩa vụ giao nộp

chứng cứ của đương sự là khi vụ án kết thúc bằng một bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật”.
1.3.

Khái niệm và quỵ định của pháp luật về hoạt động tiếp cận, công khai

chứng cứ
1.3.1.

Khái niệm
1.3.65.

về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ “tiếp cận” là “từng bước, bằng những

phương pháp nhất định, tìm hiểu một đối tượng nghiên cứu nào đó” 16. Theo quan điểm
của TS. Đồ Xuân Lân - Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, “tiếp cận” “chính
là q trình tương tác giữa chủ thề này với một chủ thể khác nhằm đạt được một mục
tiêu xác định” 17.

1.3.66.

Trong từ điến Tiếng Việt: “cơng khai là khơng giữ kín, mà đế cho mọi

người đều có thể biết” 18.
1.3.67.

BLTTDS 2015 khơng đưa ra định nghĩa “tiếp cận chứng cứ”, “công

khai chứng cứ”, nó chỉ xuất hiện trong cụm từ “phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải” được quy định tại Điều 208 BLTTDS 2015. về
nguyên tắc, trong TTDS các đương sự đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ
trong đó có quyền tiếp cận, công khai chứng cứ. Tại Điều 70 BLTTDS 2015 quy định
“về quyền, nghĩa vụ của đương sự” trong đó khoản 8 quy định “đương sự có quyền được
biết, ghi chép, sao chụp TLCC do đương sự khác xuất trình hoặc do Tịa án thu thập”.
16Viện Ngơn ngừ học (2002), tỉđd, tr.987.
17 Đỗ Xuân Lân (2017), “Khái niệm, nội dung, hình thúc tiếp cận pháp luật”,
< truy cập ngày 22
tháng 9 năm 2020.
18 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điền Tiếng Việt, NXB Đà Nằng, Hà Nội - Đà Nằng; tr.208.


24

Tại khoản 5 Điều 97 BLTTDS 2015 quy định “đương sự cịn có quyền được thơng báo
về những TLCC mà Tòa án thu thập được”. Các quy định này nhằm tạo điều kiện cho tất
cả các đương sự có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận đối với tất cả các TLCC do các
bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác giao nộp, cung câp có trong hơ sơ
vụ án. Trong khi đó, cơng khai chứng cứ cũng là hoạt động nhằm mục đích làm cho
đương sự được biết chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Để đảm bào quyền tiếp cận chứng cứ

thì chứng cứ phải được cơng khai theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trong đó,
đương sự giao nộp TLCC có trách nhiệm cơng khai chứng cứ đối với đương sự khác
thông qua hoạt động gửi TLCC và thông báo cho nhau các TLCC đã nộp theo quy định
tại khoản 2 Điều 24 BLTTDS 2015. Tịa án có trách nhiệm công khai chứng cứ thông
qua hoạt động thông báo cho các đương sự các TLCC đã thu thập được cũng như công
bố tất cả TLCC trong hồ sơ vụ án thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ để đương sự thực hiện việc tấp cận chứng cứ. Như vậy, tiếp cận
chứng cứ, công khai chứng cứ có thế xem là 01 hoạt động vì chúng khơng tách rời nhau
và có mục đích, ý nghĩa giống nhau.
1.3.68.

Từ các phân tích trên, xin đưa ra định nghĩa như sau: "Tiếp cận, công

khai chứng cứ là hoạt động cung cấp, thơng háo TLCC nhằm mục đích để đưong sự
hoặc người đại diện họp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp
của đương sự được biết, ghi chép, sao chụp TLCC có trong hồ sơ vụ án do đương sự
khác giao nộp hoặc do Tòa án thu thập được nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử”.
1.3.69.

Đối với việc “các đương sự tiến hành ghi chép, sao chụp TLCC có liên

quan đến vụ án do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ” không được xem là đang
thực hiện “quyền tiếp cận, công khai chứng cứ” mà là “thực hiện quyền thu thập chứng
cứ theo quy định tại Điều 97 BLTTDS 2015”.
1.3.2.

Chủ thế của hoạt động tiếp cận, công khai chứng cứ

1.3.70.


Tại khoản 9 Điều 70 BLTTDS 2015 quy định “đương sự có nghĩa vụ

gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp cúa họ bản sao đơn khởi kiện và
TLCC, trừ TLCC mà đương sự khác đã có hoặc TLCC khơng được cơng khai”. Ngồi


25

đương sự, “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền được
ghi chép, sao chụp tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều
76 và khoản 1 Điêu 204 BLTTDS 2015”. Đôi với các TLCC “không thê công khai theo
quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015 hoặc các TLCC khơng thể sao gửi được”
thì đương sự cũng phải” thông báo bằng văn bản cho đương sự khác, người đại diện hợp
pháp của đương sự khác biết theo khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015”. Các quy định này là
nội dung được bổ sung mới so với BLTTDS 2004, nó mang tính tích cực, là căn cứ pháp
luật để thực thi quyền tiếp cận, công khai chứng cứ của đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự trên thực tế. Tuy nhiên, về thời hạn gửi TLCC cũng
như thực hiện thông báo, BLTTDS 2015 không quy định cụ thể nên thực tế áp dụng vẫn
còn nhiều bất cập.
1.3.71.

Khoản 9 Điều 70 BLTTDS 2015 cịn quy định, “trong trường hợp vì lý

do chính đáng khơng thề sao chụp, gửi đơn khởi kiện, TLCC thì họ có quyền u cầu
Tịa án hồ trợ”. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các đương sự cịn lại thực hiện
được quyền tiếp cận, cơng khai chứng cứ một cách đầy đủ nhất trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử, từ đó chủ động thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc nhằm
phản bác yêu cầu của đương sự khác. Đây là tiền đề rất quan trọng nhằm chuẩn bị tốt
cho việc mở phiên họp kiếm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như

bảo đảm nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử được ghi nhận tại Điều 24
BLTTDS 2015.
1.3.72.

So sánh với BLTTDS 2004, thấy rằng quyền tiếp cận, công khai chứng

cứ của đương sự cũng được quy định trong BLTTDS 2004. Tuy nhiên, BLTTDS 2004
không quy định về trách nhiệm của đương sự khác cũng như trách nhiệm cua Tòa án
trong việc đảm bảo đế đương sự khác, người đại diện hợp pháp của đương sự khác thực
hiện quyền tiếp cận, công khai chứng cứ. Khi Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành
Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 để hướng dẫn nội dung này cũng chỉ
quy định về nghĩa vụ cúa Tòa án khi đương sự thực hiện quyền ghi chép, sao chụp
TLCC.
1.3.73.

BLTTDS 2015 đã bồ sung quy định tại khoản 5 Điều 97, đây là quy


×