ĐẠI HỌC QC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT
NGUYỄN THỊ HẢI Âu
LÔI TRONG TRÁCH NHIỆM BƠI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGỒI HỢP ĐỊNG THEO Bộ LUẬT DÂN sụ 2015
Ngành: Luật Dân sự và Tô tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: DƯƠNG ANH SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NẢM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu riêng cua tôi, các sô liệu và kết
quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Nếu không đúng như
đã nêu trên, tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về đề tài của mình.
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYÊN THỊ HAI AU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TÁT
Bơ lt Dân sư
BLDS
•••
TNBTTH
Trách nhiêm bồi thường thiêt hai
BTTH
Bồi thường thiệt hại
SHTT
Sở hữu trí t
•
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẤT
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
Lồi khơng là căn cứ bắt buộc trong tất cả các trường hợp.
Đây chính là điểm mới trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo
quy định của Bộ Luật dân sự số 91/2015/QH13 (Bộ Luật dân sự 2015) ngày 24/11/2015,
Quốc hội đã thơng qua, có hiệu lực ngày 01/01/2017.
Theo sự thay đổi cùa các quan hệ xã hội, thì việc xác định yếu tố lồi là căn cứ
đầu tiên làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại khơng cịn phù hợp như trước
nữa. Từ thực tiễn áp dụng pháp luật, có khơng ít bất cập khi để yếu tố lồi là yếu tố bắt
buộc, gây gánh nặng cho người bị gây thiệt hại.
Ở một số nước như Pháp, Thụy Sĩ, Thố Nhĩ Kỳ, việc sửa đối chế định bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng đang được tiến hành. Ở châu Âu, một Bộ nguyên tắc về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã hình thành và đang thu hút nhiều học giả. Ớ Việt
Nam, chế định về bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng được quy định khá chi tiết, đầy
đủ trong Bộ luật dân sự năm 2005, đến năm 2015 chế định này tiếp tục được sửa đổi bổ
sung, quy định tại chương XX, từ điều 584 cho đến điều 608 Bộ luật dân sự năm 2015,
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017’.
Theo Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp, chúng ta sẽ “hoàn thiện chế định họp đồng, bồi thường”. Điều này cho
thấy nhu cầu hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng là một thực tế.
Thơng qua việc phân tích và đổi chiếu văn bản pháp luật với thực tiễn xét xừ cùng việc
so sánh với một số hệ thống luật khác, tác giả hi vọng cung
1
/>
7
cấp những thơng tin, hướng hồn thiện một chế định lớn trong hệ thống pháp luật dân sự
Việt Nam.2
Khoa học luật dân sự đã có những phân tích yếu tố lồi trong trách nhiệm dân sự
nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các bên trong quan hệ dân sự. Kết hợp với các yếu tố
nêu trên, mức độ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được làm rõ, tạo điều kiện
thuận lợi trong việc áp dụng các quy định pháp luật trong giải quyết các tranh chấp dân
sự mà cụ thề là bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng.
Bên cạnh những thành tựu đó vẫn tồn tại song song những vướng mắc, bất cập
trong việc xác định lồi về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mặc dù đã
được thay thế những quy định cũ không còn phù hợp và bổ sung thêm những quy định
mới, cụ thể, chi tiết hơn nhưng trong quá trình áp dụng thực tiễn cho thấy cịn có nhiều
quy định gây tranh cãi, chưa thống nhất; một số quy định về lồi trong những trường họp
cụ thể có những điểm khơng hợp lý và bất cập.
Đứng trước thực tiễn đó cùng với kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu các vấn đề
dân sự trên thực tế, tác giả lựa chọn đề tài “Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2015” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ
đồng thời với mong muốn đề tài sẽ đóng góp nhở trong việc nghiên cứu một trong
những nội dung cấp thiết ở nước ta hiện nay là bảo vệ tối đa các quyền và lợi ích hợp
pháp của tồn xã hội, từ đó đưa giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015.
Mặt khác, việc nghiên cứu vấn đề này còn ít nên bản thân mạnh dạn đưa ra
những ý tưởng cho việc hồn thiện pháp luật, qua đó nâng cao kiến thức của bản thân,
tạo động lực cũng như hành trang kiến thức cho nghề nghiệp sau này.
2.
2.1.
1.
Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đê tài trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Kim Anh (2003), “Khái niệm lồi trong trách nhiệm dân sự”, Tạp chí
2 />
binh-luan-ban-an-a617.html
8
Khoa học pháp lý (số 3). Bài viết đi sâu các vấn đề lý luận về lồi, một trong những
căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường
2.
Hoàng Quảng Lực, 2008 “về trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khoẻ bị
xâm phạm khi người bị thiệt hại có hành vi trái pháp luật”, Tạp chí Tồ án nhân dân
số 08-2008.
3.
Đồ Văn Đại, 2010. Lỗi, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng? /Đỗ Văn Đại. Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu chỉ ra yếu tố lồi - một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng và vai trò của yếu tố lồi.
4.
Phùng Trung Tập, 2017. Luật dân sự Việt Nam bình giảng và áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tạp chí Cơng an Nhân dân, 2017. Bài
viết tập trung nghiên cứu Khái niệm và điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngồi họp đồng; Bình giải và áp dụng các quy định về trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng; Một số tình huống thiệt hại ngồi hợp đồng; Phong tục, tập quán và
luật tục về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
5.
Dương Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn, 2017. 77ÍC động của các hình thức lỗi
đến việc xác định trách nhiệm họp đồng nhìn từ góc độ nguyên tắc trung thực và
thiện chí, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1.
Lê Thị
xuất,
kinh
Thanh
doanh
Lan,theo
2018.
pháp
Điều
luật
kiện
Việt
làmtrường
Nam.
phátLuận
sinh
văn
trách
Thạc
nhiệm
sĩ, sản
bồi
Trường
thường
Đại
thiệt
họcdoanh
Luật,
hạitrên
do
Đạigây
họcsở
ơHuế.
nhiễm
Nghiên
mơi trường
cứu nhằm
trong
đưahoạt
ra các
động
nhóm
sản
giải
pháp
về
BTTH
do
làm
ơ nhiễm
mơi
trong
hoạt
động
xuất
kinh
cơ
luận
giải
khoa học các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật.
6.
Nguyễn Phương Thảo, 2018. Lồi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - So sánh với quy định của BLDS. Tạp chí Tịa án
nhân dân, 2018. Bài viết phân tích các quy định pháp luật về yếu tố lồi trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT trong sự so sánh với các quy
định tương ứng theo pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử nhằm đưa ra một số kiến
nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung nghiên
cứu hai vấn đề: Giá trị của yếu tố lồi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng và trong căn cứ xác định mức bồi thường.
2.2.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1. Melanie Fink, 2017. Individual rights and non-contractual liability:
Pappalardo and Others V Commission (Quyền cá nhân và trách nhiệm bồi thường ngồi
họp đồng). Leiden Law Blog.
3.
3.1.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
•••“
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về yếu tố lỗi
trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với các quy định pháp luật
hiện hành đề tài đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá thực tiễn việc xác định yếu tố lồi - một
trong những căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng, từ đó đưa
ra cái nhìn tổng quát và đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe thực hiện mục đích trên, đề tài đưa ra các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, phân tích yếu tố lỗi và các quy định pháp luật hiện hành về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Phân tích thực tiền việc xác định lồi và áp dụng các quy định của pháp luật để giải
quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó đưa ra những đánh giá
chung đồng thời đưa ra nguyên nhân cho những hạn chế.
- Từ thực tiễn đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng
cao hiệu quả việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quan điểm, vấn đề lí luận về yếu tố lồi - điều
kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thực tiễn áp dụng
pháp luật qua các báo cáo phân tích, các vụ án điến hình.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về khơng gian: Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động áp
dụng các quy định của pháp luật trong việc phân tích yếu tố lồi để làm căn cứ xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đặc biệt là trong hoạt động giải quyết
các vụ án dân sự trên phạm vi cả nước.
Phạm vi về thời gian: Những số liệu thống kê cùng với các trường hợp điển hình
được sử dụng để đánh giá việc phân tích yếu tố lỗi để làm căn cứ xác định trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam được lấy từ năm 2017 đến
năm 2019.
5.
5.1.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về các quan điếm, chính sách cúa Đảng
về cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng.
5.2.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp, phân tích những
vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật đế
xác định yếu tố lỗi trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đồng thời
sử dụng phương pháp thống kê, so sánh nhằm làm rõ hơn chủ đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, tơng hợp và so sánh được sừ dụng ở Chương 1 để phân
tích một số vấn đề lý luận và các quy định pháp luật hiện hành nhằm làm sáng tỏ cơ sở
lý luận cúa đề tài.
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng ở Chương 1 và
chương 2 để thống kê các số liệu từ thực tiễn, qua đó phân tích việc áp dụng các quy
định của pháp luật trong việc xác định lồi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng hiện nay.
Phương pháp phân tích, quy nạp - diễn dịch được sử dụng ở Chương 2 để xây
dựng định hướng và kiến nghị các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống
pháp luật dân sự và nâng cao hoạt động giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài họp đồng theo pháp luật Việt Nam.
6.
Những điếm mới của luận văn
Thứ nhất, đưa ra được những bất cập về mặt pháp luật trong xác định lồi về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Thứ hai, đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật dân
sự nói chung và pháp luật quy định về yếu tố lỗi nói riêng trong việc giải quyết các vụ
án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu
gồm 02 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về yếu tổ lỗi trong trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại
ngoài họp đồng
Chương 2: Thực trạng việc xác định lỗi và áp dụng các quy định của pháp luật
để giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đồng thời đưa ra định
hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VÈ YẾU TÓ LỎI TRONG TRÁCH NHIỆM DÂN sụ
VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGỒI HỢP ĐỊNG
1.1.
1.1.1.
Khái qt chung về lỗi trong trách nhiệm dân sự
Khái niệm về lỗi trong trách nhiệm dân sự
Khoa học luật dân sự đã có những phân tích yếu tố lồi trong trách nhiệm dân sự
nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các bên trong quan hệ dân sự. Kết hợp với các yếu tố
nêu trên, mức độ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được làm rõ, tạo điều kiện
thuận lợi trong việc áp dụng các quy định pháp luật trong giải quyết các tranh chấp dân
sự.
Có nhiều quan điếm cho rằng một trong những cơ sở phát sinh trách nhiệm trong
dân sự nói chung và trong trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng
nói riêng chính là các yếu tố cấu thành các vi phạm, trong đó có yếu tố lỗi. Yếu tố lồi
đóng vai trò khá quan trọng trong việc xác định trách nhiệm cùa chủ thể khi có quan hệ
tranh chấp về dân sự xảy ra trên thực tế. Có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về yếu
tố lồi trong dân sự. Tác giả xin đưa ra một số nhận định về yếu tố lồi như sau:
Theo Luật La Mã, lồi (Culpa) là sự không tuân thủ hành vi mà pháp luật u
cầu: “Khơng có lỗi nếu như tn thủ tất cả những gì được yêu cầu Trong Luật La Mã,
lồi cũng được phân chia thành lồi cố ý (dolus) và lồi vơ ý (culpa)3. Theo đó, luật La Mã
chú trọng đến lồi vơ ý nhiều hơn vì họ cho rằng lồi cố ý là quá rõ ràng khi xác định
trách nhiệm. Trong Luật La Mã lồi vô ý được coi là lồi vơ ý nếu như khơng nhìn thấy
trước được những gì mà mọi người chu đáo, cẩn thận có thế nhìn thấy. Lồi vơ ý cũng
được chia thành hai loại. Lồi vơ ý khơng đáng kể tức là người có lồi không thể hiện mức
độ quan tâm chu đáo mà một người chủ nhân hậu hay một người đứng đầu chu đáo phải
có. Lồi vơ ý nghiêm trọng tức là khi người có lồi khơng thê hiện được mức độ quan tâm
cân phải có ở tât cả mọi người trong hồn cảnh tương tự, mà trong hành động (khơng
hành động) của họ không thế hiện được sự hiếu biết tất cả những gì mà những người
3Phạm Kim Anh (2003), ‘"Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lỵ (số 3).
bình thường khác đều biết được4.
Có thể thấy, pháp luật La Mã thường không chú trọng đến trạng thái tâm lý và
hành vi cúa chù thể khi xác định lồi. Chúng ta thấy rằng các luật gia La Mã trên cơ sở
các điều kiện thực tế thời bấy giờ đã đưa ra khái niệm lồi hợp lý trong trách nhiệm dân
sự.
Trong khi đó, pháp luật Anh - Mỹ khơng coi lồi là căn cứ phát sinh trách nhiệm
dân sự, vì vậy họ không đưa ra định nghĩa khái niệm lồi. Luật La Mã và các nước Châu
Âu lục địa coi lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, tuy nhiên họ không định nghĩa
lồi trên cơ sở trạng thái tâm lý của chủ thể mà khi xem xét lồi họ dựa trên tiêu chuẩn
mức độ quan tâm của chủ thể đến việc thực hiện nghĩa vụ của mình5.
Đổi với Luật Việt Nam, theo khoản 2 Điều 364 Bộ luật dân sự năm 2015:
••*•••
“Lỗi vơ ý là trường hợp một người khơng thấy trước hành vi của mình có khả năng gây
thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thế biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành
vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho ràng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn chặn được”6. Người gây thiệt hại đã khơng mong muốn, không để mặc cho
thiệt hại xảy ra mà là do khơng kiểm sốt được diễn biển cúa sự kiện do hành vi vơ ý
của mình tạo ra thì người có hành vi đó phải bồi thường.
Theo quy định tại Điều 364 Bộ luật dân sự năm 2015, lỗi trong trách nhiệm dân
sự bao gồm lồi cố ý, lồi vô ý. Riêng với lồi cố ý, xét về mặt khách quan, quy định tại
đoạn 2 Điều 364 Bộ luật dân sự năm 2015 đã dự liệu trường hợp người gây thiệt hại
nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, cho dù
người đó mong mn hoặc khơng mong mn nhưng đã có thái độ đê mặc cho thiệt hại
xảy ra thì người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lồi cố ý cúa mình, về mặt
chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây thiệt hại ln nhằm mục đích có
thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ: Mong muốn có thiệt
4*Luật Tư pháp La Mã, sách giáo khoa do I.B.Novisky, I.C.Petersky chú biên, Moscow, 1996, tr 347 350. Bản tiếng Nga.
5 3/5411/
6 Luật số 91/2015/QH13 của Quốc hội : Bộ Luật Dân sự
hại xảy ra; khơng mong muốn có thiệt hại, nhưng lại đế mặc cho thiệt hại xảy ra. Mức
độ thề hiện ý chí, hành vi của người cố ý gây thiệt hại trong trường hợp người đó nhận
thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, thì phải chịu
trách nhiệm dân sự do lồi cố ý là nguyên nhân của thiệt hại.7
Pháp luật dân sự khi phân tích yếu tố lồi cũng chia ra các trường hợp cụ thể về
trạng thái tâm lí của người thực hiện hành vi để xác định đúng trách nhiệm trong quan
hệ dân sự nói chung và khía cạnh bồi thường thiệt hại nói riêng.
1.1.2.
. Đặc điểm của yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thứ nhất, lỗi có là yếu tố bất buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại và trường họp nào khơng có lỗi những vần phải bồi thường thiệt hại?
Khi tài sản gây thiệt hại, lồi không phải là một trong các điều kiện phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Ta có thể lý giải bởi những lý do:
Thứ nhất, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây ra thiệt hại, lồi được thề
hiện dưới dạng cố ý hay vô ý”. Một hành vi bị coi là có lỗi nếu người thực hiện hành vi
đó có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Tức là lồi khơng thể tồn tại ngồi hành vi
có ý thức của con người. Do đó, khi tài sản gây thiệt hại thì bản thân tài sản khơng thể bị
coi là có lồi. Bởi vì hoạt động của tài sản khơng thể coi là một hành vi có ý thức. Đồng
thời, sẽ bất hợp lý khi gắn hành vi vào một tài sản, tức là một tài sản gây thiệt hại lại xét
đên hành vi, găn lôi cho tài sản khi chúng gây thiệt hại là không thể xảy ra. Vì vậy đây
chính là một trong những sự thay đổi mới tại bộ luật dân sự 2015 khi không xem yếu tố
lỗi là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ hai, Nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý)
được sử dụng như là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng thì
trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH đầu tiên lại là hành vi xâm phạm
của người gây thiệt hại. Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
7 />
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường. BLDS 2015 đã thay đổi quy định theo hướng người bị
thiệt hại khơng có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác
định được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường.
Người ta không xét đến yếu tố lồi do lồi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng được suy đoán.
Sự thay đổi này là hợp lý hom trong quan hệ xã hội hiện tại, trong việc áp dụng
pháp luật trên thực tiễn và đã giảm bớt được gánh nặng chứng minh cho người bị thiệt
hại.
77ỉỉ? hai, lỗi trong nhiều trường hợp là lỗi suy đoán
Theo quy định hiện hành, trong các trường hợp như bồi thường thiệt hại do
người của pháp nhân gây ra, bồi thường do hành vi cùa người chưa thành niên gây ra,
do gia súc, gia cầm gây ra, ... dẫn đến thiệt hại nghĩa là các chủ thể ấy khơng có lồi trực
tiếp đổi với thiệt hại. Đồng thời, có nhiều dạng và mức độ lồi nhưng điều này không ảnh
hưởng đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc phân biệt lỗi cố ý, vơ ý chỉ có ý nghĩa
đối với việc xem xét đề giảm mức bồi thường.
Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải
bồi thường ngay cả khi khơng có lồi theo quy định tại Điều 601, Điều 604, Điều 605
BLDS 2015. Những trường hợp này được coi là trách nhiệm khách quan của chủ sở hữu
mà pháp luật quy định dựa trên nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu.
Thứ ba, trường hợp nào khơng có hành VZ trái pháp luật nhưng vân phải chịu
trách nhiệm bồi thường?
Có thể kể đến trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 và
như đã phân tích ở trên, tài sản có thể gây thiệt hại mà ngay bản thân chủ sở hữu, người
chiếm hữu, sử dụng tài sản cũng không thế kiếm soát được. Đây là những trường họp
mà chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản đã tuân thủ mọi quy định liên quan
đến việc quản lý tài sản, nhưng thiệt hại vẫn xảy ra. Điều đó cũng có nghĩa là chú sở
hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản khơng có lồi trong việc quản lý tài sản
(khơng có yếu tố lồi). Nếu như coi lồi là một điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại thì trong những trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng
tài sản sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản mới là người được
hưởng lợi ích mà tài sản mang lại. Hơn nữa, về nguyên tắc, chú sở hữu được thực hiện
mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản. Do đó chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử
dụng tài sản phải gánh chịu rủi ro mà tài sản mang lại, tức là phải bồi thường thiệt hại
cho người bị thiệt hại ngay cả khi khơng có lồi và ngay cả khi khơng có hành vi trái
pháp luật.
Với những phân tích trên có thể thấy, yếu tố lồi khơng gắn với hoạt động của tài
sản mà chỉ gắn với hoạt động quản lý tài sản của con người. Khi tài sản gây thiệt hại,
chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng tài sản bị suy đốn là có lồi trong việc quản lý tài
sản. Tức là họ bị suy đoán rằng đã không thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện
không đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý tài sán. Tuy nhiên, lồi trong việc
quản lý tài sản không phải là một trong các yếu tố cấu thành các điều kiện phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra mà nó chỉ là yếu tố xác định người
quản lý tài sản có được loại trừ trách nhiệm bồi thường hay khơng, có được giảm mức
bồi thường theo các nguyên tắc chung hay không.
Chung quy lại, theo tác giả: Lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây
thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà
họ thực hiện. Lỗi không là căn cứ bắt buộc trong tất cả các trường họp, có thê thấy
nhiều trường hợp được xem là suy đoán lỗi và việc phân biệt lỗi cố ý, vơ ý chỉ có ý
nghĩa đổi với việc xem xét để giảm mức bồi thường.
1.2.
Một số quy định liên quan về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thucmg
thiệt hại ngoài họp đồng
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ yếu tố lồi trong căn cứ làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thề tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015
khẳng định:
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.
Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phấm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường, trừ trường họp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác..."
Theo quy định của Bộ luật Dân sụ trước đây, khi xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có "lồi cố ý hoặc lỗi
vô ý", cùng với hành vi gây thiệt hại là xác định thêm yếu tố lồi, tức là phải có lồi thì
mới phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Đến quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, khi các quan hệ xã hội có sự thay đổi, khi
trên thực tế đã phát sinh sự bất cập khi xem lỗi là yếu tố bắt buộc để xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên khi bỏ yếu tố lồi khơng cịn là
yếu tố bắt buộc thì khơng có nghĩa là phủ nhận đi vai trò của yểu tố lồi.
Thứ hai, tuy yếu tố lồi không được xem là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại nhưng Bộ luật dân sự đã quy định yếu tố lồi trong một số trường
hợp đế giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại, cụ thể:
Nội dung này được ghi nhận tại khoản 2 Điêu 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 là
một căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm hồi thường thiệt hại
....2. Người gây thiệt hại không phủi chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của
bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phủi
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định
tại khoản 2 Điều này."
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chủ thể chịu trách nhiệm bồi
thường khơng có lồi hoặc có lồi vơ ý chỉ được coi là căn cứ để xem xét giảm mức bồi
thường. Tức là ngay cả khi khơng có lồi vẫn có thể phải bồi thường. Khẳng định này có
thề được minh chứng thông qua ba trường họp cụ thể như sau:
Người phải bồi thường thiệt hại có một phần lồi, người bị thiệt hại cũng có một
phần lỗi đối với thiệt hại xảy ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh. Tuy
nhiên, phần thiệt hại do lồi của người bị thiệt hại gây ra sẽ không được bồi thường.
Người phải bồi thường thiệt hại khơng có lồi, người bị thiệt hại hồn tồn có lồi
thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được loại trừ theo khoản 2 Điều 584 Bộ luật
• ^2 • • • • • • Dân sự năm 2015.
Người phải bồi thường thiệt hại khơng có lồi, người bị thiệt hại khơng có lồi thì
trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh. Song, người chịu trách nhiệm bồi thường
có thể được giảm mức bồi thường.
Thứ ba, hiện lồi khơng cịn là yếu tố hàng đầu làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng Bộ luật Dân sự hiện hành vần quy định rõ
về yếu tố lỗi với mục đích là xác định lồi của các bên góp phần xác định mức bồi
thường khi người bị thiệt hại cũng có lồi hoặc thiệt hại do nhiều người cùng gây ra:
Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015:
"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
...2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thê được giảm mức bồi
thường nếu khơng có lỗi hoặc có lỗi vơ ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế
của mình.
3. Khi mức bơi thường khơng cịn phù hợp với thực tê thì bên bị thiệt hại hoặc
bên gây thiệt hại có quyền u cầu Tịa án hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền khác
thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì khơng được bồi thường
phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra....”
Việc xác định lỗi là căn cứ để xem xét giảm mức bồi thường khi người chịu trách
nhiệm bồi thường khơng có lỗi hoặc có lỗi vơ ý. Theo đó, nếu người chịu trách nhiệm
bồi thường chứng minh được mình khơng có lồi hoặc có lồi vơ ý mà thiệt hại xảy ra quá
lớn so với khả năng kinh tế của họ thì có thể được xem xét để giảm mức bồi thường.
Việc xác định lồi của người gây thiệt hại là căn cứ xác định trách nhiệm hồn trả
khi người của pháp nhân, người làm cơng, người học nghề gây thiệt hại. Khi người của
pháp nhân, người làm công, người học nghề gây thiệt hại khi đang thực hiện nhiệm vụ
pháp nhân giao thì pháp nhân, người sử dụng người làm công, người học nghề phải bồi
thường cho người bị thiệt hại. Việc yêu cầu người gây thiệt hại hoàn lại khoản tiền đã
bồi thường chỉ đặt ra khi chứng minh được họ có lồi trong việc gây ra thiệt hại.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 587 Bộ luật Dân sự, khi nhiều người cùng
gây thiệt hại cho một người thì trước hết phải căn cứ vào mức độ lồi của mồi người để
xác định mức bồi thường mà từng người phải gánh chịu.
Thứ tư, xác định việc bôi thường thiệt hại thông qua suy đốn lơi
Suy đốn lồi là cách mà pháp luật buộc một người phải có trách nhiệm trước
hành vi của người thứ ba, khi người này có trách nhiệm giám hộ người gây ra thiệt hại,
suy đoán lồi ở đây là sự suy đốn người đó có lồi với nghĩa vụ giám hộ, quản lí của
mình đối với người gây thiệt hại. Tại Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015 có nêu ra một số
trường họp áp dụng việc suy đoán lồi:
“Điều 599. Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất
năng lực hành vỉ dẫn sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân
khác trực tiếp quản lý
ỉ. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà
gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
2.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời
gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quân lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải
bồi thường thiệt hại xảy ra.
3.
Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này không phủi bồi thường nếu chứng minh được mình khơng có lỗi trong quàn lý;
trong trường họp này, cha, mẹ, người giấm hộ của người dưới mười lăm tuổi, người
mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường'1'.
Người giám hộ được suy đốn lồi do khơng thực hiện đúng phạm vi giám hộ cúa
mình để người được giám hộ gây thiệt hại nên pháp luật áp dụng việc suy đoán lỗi, buộc
người giám hộ phải bồi thường trong trường hợp người gây thiệt hại khơng có tài sản
hay tài sản khơng đủ để đền bù. Như vậy, nếu người gây thiệt hại là người được giám
hộ, trong thời gian học tại trường học, bệnh viện... mà gây ra thiệt hại thì người giám hộ,
trường học, bệnh viện phải bồi thường.
Trừ trường hợp người giám hộ chứng minh được rằng mình khơng có lồi khi
người được giám hộ gây ra thiệt hại thì người đó khơng phải bồi thường. Nghĩa là
người giám hộ chứng minh được trường hợp suy đoán lồi là sai, bởi họ đã thực hiện đúng
nghĩa vụ của người giám hộ nhưng người được giám hộ vẫn gây ra thiệt hại.
1.3.
Sự khác biệt về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thưịng thiệt hại ngồi
họp đồng qua Bộ luật dân sự 2015 và Bộ luật dân sự 2005
Thứ nhất, về sự khác biệt giữa hai bộ luật:
TIÊU CHÍ
về đinh
• nghĩa lỗi
trong trách
Bơ LT DÂN SƯ 2005
•••
Điều 308. Lỗi trong trách
nhiêm dân sư
nhiêm dân
•
sư
•
••
1...
Bơ LT DÂN SƯ 2015
•••
Điều 364. Lỗi trong trách nhiệm
dân sư
•
Lồi trong trách nhiệm dân sự bao gôm lôi
co y, lôi VO ý.
2. Cổ ý gây thiệt hại là trường
Lỗi cố ý là trưòng hợp một người nhân
hợp một người nhân thức rõ
hành vi của •
thức rõ hành vi của mình sẽ
mình sẽ gây thiệt hại cho
•
người khác mà vẫn thực hiện
gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực
và mong muốn hoặc tuy
hiện và mong muốn hoặc tuy không mong
không mong muốn nhung để
muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ỷ là trường hợp một người không
Vô ý gây thiệt hại là trường
thấy trước hành vi của mình có khả năng
hợp một người khơng thấy
gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể
trước hành vi của mình có khả biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy
năng gây thiệt hại, mặc dù
trước hành vi của mình có khả năng gây
phải biết hoăc có thể biết
thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ
trước thiêt • •
khơng xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước
hành vi của mình có khả năng
gây thiệt hại, nhưng cho rằng
thiệt hại sẽ khơng xảy ra hoặc
có thế ngăn chặn được.
về tính chất
Khoản 1 Điều 604. Căn Khoản 1 Điều 584. Căn cứ phát
bắt bưôc của cứ phát sinh trách nhiệm sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
• yếu tố lồi
bồi thường thiệt hại
hai
•
trong xác
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc
đinh trách
lồi vô ý xâm phạm tính mạng, 1. Người nào có hành vi xâm phạm tính
sức khoẻ, danh dự, nhân mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
•
nhiêm bồi
• thường
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác
lợi ích hợp pháp khác của cá của người khác mà gây thiệt hại thì phải
nhân, xâm phạm danh dự, uy bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này,
tín, tài sản của pháp nhân hoặc luật khác có liên quan quy định khác.
chủ thể khác mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường.
Vai trò của
r
r
Điều 605. Nguyên tắc bồi Điều 585. Nguyên tắc bồi thường
u tơ lơi
thưịng thiệt hại
trong việc
2. Người gây thiệt hại có thể
xác đinh
thỉêt hai
••
được giảm mức bồi thường, 2. Người chịu trách nhiệm bồi thường
nếu do lồi vô ý mà gây thiệt thiệt hại có thể được giảm mức bồi
•
trách nhiêm
hại quá lớn so với khả năng thường nếu khơng có lồi hoặc có lồi vơ ý
bồi
kinh tế trước mắt và lâu dài và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
•
thường thiêt
hai
••
ngồi hợp
đồng
của mình.
tế của mình.
4.
Khi bên bị thiệt hại có lồi trong
việc gây thiệt hại thì khơng được bồi
thường phần thiệt hại do lồi của mình
gây ra.
5.Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm
khơng được bồi thường nếu thiệt hại
xảy ra do không áp dụng các biện
pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn,
hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Thứ hai: Điểm mới trong quy định về yếu tố lồi ở Bộ luật hiện hành
Nêu như trong BLDS 2005, yêu tô lôi (kê cả lôi cô ý hoặc lôi vô ý) được sử dụng
như là căn cứ đầu tiên để xác định TNBTTH ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có "lồi cố ý hoặc lỗi vơ ý". Với
quy định trên, ngồi việc chứng minh người gây thiệt hại có "hành vi trái pháp luật", cần
phải chứng minh thêm rằng người gây thiệt hại phải có "lồi vơ ý hay cố ý", tức phải có lỗi
thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi họp đơng. Trong BLDS 2015,
căn cứ xác định TNBTTH đâu tiên lại là hành vi xâm phạm cúa người gây thiệt hại
Trách nhiệm chứng minh lồi giờ đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường
hợp muốn được miễn trách nhiệm BTTH (Khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được
giảm mức bồi thường (Khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015).
về mặt vai trò cua yếu tố lỗi, khơng triệt tiêu đi vai trị của yếu tố lồi mà theo quy
định tại Điều 585 BLDS 2015 có xem xét yếu tố lỗi để giảm mức bồi thường hay xác định
trong một số trường hợp cụ thể: Người phải bồi thường thiệt hại hoàn toàn có lồi, người bị
thiệt hại khơng có lồi thì trách nhiệm bồi thường sẽ phát sinh; người phài bồi thường thiệt
hại có một phần lỗi, người bị thiệt hại cũng có một phần lồi đối với thiệt hại xảy ra, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh. Tuy nhiên, phần thiệt hại do lồi của người bị thiệt
hại gây ra sẽ không được bồi thường; người phải bồi thường thiệt hại khơng có lồi, người
bị thiệt hại hồn tồn có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được loại trừ theo khoản 2
Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Và xét về mặt định nghĩa yếu tố lồi, Bộ luật Dân sự 2015 đã có một vài thay đồi so
với cách xác định yếu tố lồi tại Điều 308 Bộ luật Dân sự 2005. Quy định hiện hành đã
thay đổi cụm từ “Cố ý gây thiệt hại”, “vô ý gây thiệt hại” thành “lồi cố ý” và “lồi vô ý”,
tuy bàn chất vẫn không thay đổi nhiều nhưng bộ luật mới đã định nghĩa một cách rõ ràng
đồng thời tách quy định “Người không thực hiện hoặc thực hiện khơng đủng nghĩa vụ dân
sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vơ ý, trừ trường hợp có thoả
thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác ” khơng nằm trong quy định về lồi trong
trách nhiệm dân sự như trước đây nữa.