ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHĨ HỊ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
NGUYỄN ANH vũ
ICT, ĐA DẠNG HOA KINH DOANH VA HIẸU QUA
KỸ THUẬT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 80.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ANH PHONG
TP.HỊ CHÍ MINH - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Kính thưa Q Thây/Cơ,
Em tên là: Nguyễn Anh Vũ, học viên cao học Khố 18, Khoa Tài chính Ngân
hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật, tác giả cùa luận văn này xin cam đoan rằng: Luận
văn Thạc Sĩ với đề tài ‘TCT, đa dạng hóa kinh doanh và hiệu quả kỹ thuật của các
doanh nghiệp tại Việt Nam” là do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện theo sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Anh Phong.
Các thông tin, số liệu, kết quả trong nghiên cứu là hồn tồn trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Em xin cam kết lời cam đoan này là hoàn toàn sự thật.
TÁC GIẢ
NGUYỄN ANH vũ
DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT
TT
Viết tắt
Cụm từ tiếng Anh
Cụm từ tiếng Việt
1
CRS
Constant Returns to Scale
Lợi suất không đối theo quy mơ
2
DEA
Data Envelopment Analysis
Phân tích bao dừ liêu
•
3
DRS
Decrease Returns to Scale
Hiệu quả giảm theo quy mô
Information and Communication
Công nghệ thông tin và truyền thông
Technology
4
ICT
5
IRS
Increase Returns to Scale
Hiệu quả tăng theo quy mô
6
LP
Labor Productivity
Năng suất lao động
7
ROA
Return on Assets
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
8
ROE
Return on Equity
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu
9
SMEs
Small and Medium-sized
Enterprises
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
10
TE
Technical Efficiency
Hiệu quả kỳ thuật
11
VRS
Variable Returns to Scale
12
TSCĐ
Tài sản cố đinh
•
13
TSVH
Tài san vơ hình
14
TPHCM
Thành phổ Hồ Chí Minh
Hiệu quả biến đối theo quy mô
DANH MỤC BẢNG B1ÉU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIÉU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
MỤC LỤC
Trang
5.1.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
8
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1.
Lý do nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ra đời đã thúc đẩy sự
thay đổi mọi lình vực đời sống xã hội, từ sản xuất, thưong mại, đầu tư cho đến tiêu
dùng. Sự phát triển mạnh mẽ nó dựa trên nền tảng số hóa và các ứng dụng cơng nghệ trí
tuệ nhân tạo hay máy móc đã giúp cải thiện đáng kế tính hiệu quả kinh tế, xã hội bởi
tính chính xác cao, an tồn và chi phí thấp. Phát triển kinh tế số, kinh doanh số, đầu tư
sổ... là các thuật ngữ khơng cịn xa lạ đổi với chúng ta, chúng xuất phát từ số hóa trong
mọi lĩnh vực, kết hợp khoa học máy tính, khoa học dữ liệu mà đặc biệt là sự phát triền
mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông - 1CT (Information and
Communication Technology). Chính sự ra đời của máy tính cá nhân, internet và số hóa
đã thúc đẩy sự phát triền của các ngành cơng nghiệp khác (Eden, 2018), nó làm thay đổi
cách thức sản xuất, quản lý từ thủ công sang bán thủ cơng và tự động hóa tạo ra những
sản phẩm dịch vụ nhanh chóng, chuẩn xác, đồng nhất, số lượng lớn, có chất lượng cao
mà cách thức thủ cơng khơng đạt được và nó thu hẹp về khoảng cách địa lý trong hoạt
động quản lý, giúp cho hệ thống được vận hành được tron tru, linh hoạt hơn, tiết kiệm
thời gian và công sức của con người. Công nghệ thông tin và truyền thông đã dẫn đến
mọi thay đổi từ quy trình sản xuất, cách thức kinh doanh, đầu tư và phương cách quản lý
tư nhân hay quản trị ở khu vực cơng. Từ đó có thế nhận định rằng sự phát triển mạnh mẽ
của mạng xã hội, của kinh tế số đã làm thay đổi phương pháp và cách thức sản xuất kinh
doanh trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề khác nhau của doanh nghiệp và thể hiện
sức ảnh hưởng của ICT tới các hoạt động kinh tế. Công nghệ thông tin và truyền thông
đang len lỏi trong mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ những hoạt động thiết
thực của đời sống xã hội đến những hoạt động phức tạp nhất. Ngày nay, không thể phủ
nhận việc các ngành cơng nghiệp áp dụng ICT và sự đóng góp tích cực của ICT trong
các ngành. Phần lớn việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông được áp dụng bởi
các cơng ty lớn, thậm chí cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc phát triển ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông không tránh khỏi ở bất kỳ tổ chức kinh doanh nào,
9
chẳng hạn như hoạt động kinh doanh có xu hướng áp dụng cơng nghệ thơng tin và
truyền thơng thì nó tác động đến quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(Chairoel và cộng sự, 2015).
Xét trên khía cạnh vĩ mô, một số nghiên cứu gần đây đã chi ra rằng ICT sẽ đem
lại những giá trị tích cực đóng góp cho tăng trưởng kinh tế (Vũ Minh Khương, 2019).
Xét trên góc độ vi mơ, các nghiên cứu hiện nay cũng tranh luận theo 2 hướng, một
hướng cho rằng ICT giúp tạo lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu suất hoạt động của các
doanh nghiệp (như Apulu, Latham, & Moreton, 2011; Yunis et al., 2018 hay
Brynjolfsson and Hitt, 1993); một số nghiên cứu khác cho rằng đầu tư vào ICT không
giúp tăng năng suất và gia tăng hiệu quả doanh nghiệp như Roach (1991); Loveman
(1998),... Nghiên cứu trên khía cạnh khác điến hình như Brooke (1991) thì cho rằng tác
động ban đầu và mục tiêu của ICT là làm tăng sự đa dạng của sản phẩm. León và cộng
sự (2016) cho thấy những tiến bộ trong công nghệ thông tin và truyền thông đã mở
đường cho một loại cơ hội mới cho các công ty mở rộng tầm nhìn đế khám phá các thị
trường mới và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh (đa dạng hóa kinh doanh tác động đến
hoạt động của doanh nghiệp, góp phần gia tăng giá trị cho doanh nghiệp Việt Nam Nguyễn Thị Kim Đức, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Trần Vũ Quỳnh Như, 2017). Tại Việt
Nam cũng đã có các cơng trình nghiên cứu tác động của ICT đến nền kinh tế Việt Nam
như các nghiên cứu của Bùi Trinh (2020), Đặng Thị Việt Đức (2019),... tuy nhiên, các
nghiên cứu chù yếu đánh giá tác động của ICT đến kinh tế Việt Nam và các nghiên cứu
chưa đi vào phân tích tác động của ICT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong quá trình chuyến đổi số và có nhiều cơ hội thu hút vốn đầu
tư vào cơng nghệ, bên cạnh các chính sách hồ trợ và thúc đẩy các ứng dụng công nghệ
trong kinh tế và quản lý. Các Tinh/Thành trong cả nước cũng đang thực hiện chuyển đổi
số theo định hướng cứa Chính phù, nhưng dưới nguồn lực khác nhau, khả năng phát
triển ĨCT cũng khác nhau và chúng cũng ảnh hưởng lên hiệu quả doanh nghiệp tại từng
Tỉnh/Thành cũng khác nhau; và trong thời đại kinh tế phát triên hiện nay, với sự đóng
góp của khoa học công nghệ, giao thông, công nghệ thông tin truyền thơng đã góp phần
thúc đẩy phạm vi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khơng chí ở địa phương
10
mà được mở rộng ra các vùng miền - các quốc gia để mở rộng thị trường, bên cạnh đó
lĩnh vực ngành nghề của các doanh nghiệp được mở rộng làm cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp được linh động, đa dạng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, gia tăng
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, tuy nhiên, với nguồn lực khác nhau, việc đa
dạng hóa kinh doanh giữa doanh nghiệp ở các Tỉnh/Thành khác nhau và mang lại hiệu
quả khác nhau. Do vậy, đề tài: “ICT, đa dạng hóa kinh doanh và hiệu quả kỹ thuật
của các doanh nghiệp tại Việt Nam” là hết sức cấp thiết và có ý nghĩa với các doanh
nghiệp tại từng Tỉnh/Thành khác nhau và có đóng góp cho chính quyền từng địa phương
trong cải biên chính sách cho riêng mình, vừa đáp ứng xu thế cũng vừa có những đóng
góp giúp doanh nghiệp tăng năng suất, gia tăng hiệu quả.
1.2.
Tổng lược các nghiên cún có iiên quan
Có nhiều cách hiểu về Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT - Information
& Communication Technology), theo Blurton (2002) thì “ICT được định nghĩa là một
tập hợp các công cụ và tài nguyên công nghệ đa dạng được sử dụng để giao tiếp, tạo ra,
phổ biến, lưu trữ và quản lý thông tin. Những cơng nghệ này bao gồm máy tính,
internet, cơng nghệ phát sóng (đài phát thanh và truyền hình) và điện thoại”. Từ trước
đến nay, ICT ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự thay đồi của các mặt đời
sống, kinh tế, xã hội, nó tác động đến hầu hết các lĩnh vực, các đối tượng trong xã hội,
nó tác động làm thay đổi cách thức, phương thức hoạt động của doanh nghiệp. Trong
thực tế cuộc sống hiện nay ICT đã đóng góp phần rất quan trọng trong cuộc sống và
trong phát triền kinh tế xã hội, đặc biệt là sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó, để
thống kê, đo lường sự tác động của ICT, từ cuối thế kỷ trước đến nay trên thế giới đã có
nhiều cơng trình nghiên cứu về sự tác động của ICT đối với xã hội, đặc biệt trong hoạt
động của doanh nghiệp, nó mang lại hiệu quả, tính đa dạng dạng trong hoạt động và chất
lượng của sản phẩm dịch vụ thay đổi như thế nào khi có ICT ra đời,... sau đây là những
nghiên cứu tiêu biêu của các nhà kinh tê học vê ICT đôi với doanh nghiệp ở Việt Nam
và trên thế giới. Các nghiên cứu về tác động của ICT, đa dạng hóa lên hiệu quả và hiệu
quả kỹ thuật các doanh nghiệp có hai xu hướng rõ nét:
Các nghiên cứu chứng tở ICT có tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp,
11
điển hình các nghiên cứu như: Alvarez và cộng sự (2001) phân tích và đánh giá hiệu quả
kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng việc sử dụng phương pháp DEA, trong
đó biến đầu vào sừ dụng là lao động, vốn cố định và biến đầu ra là tống doanh số. Kết
quả cho thấy hiệu quả phản ánh tích cực bởi yếu tố con người (trình độ, kinh nghiệm của
người lao động), đầu tư gia tăng sản xuất và đổi mới sản phẩm (Công ty sáng tạo hơn,
phát triển hàng hóa mới, có hiệu quả cao hơn các công ty truyền thống); nghiên cứu của
Gholami và cộng sự (2004) sử dụng dữ liệu của 22 ngành sản xuất ở Iran trong giai đoạn
1993-1999 để đánh giá về tác động giữa ICT đến năng suất, kết quả nghiên cứu chỉ ra
ICT góp phần làm tăng năng suất từ các yếu tố đầu vào như tài sản vơ hình và tài sản
hữu hình từ việc đầu tư vào ICT; Cùng quan điểm Koellinger (2006) cho rằng đổi mới
ICT có liên quan tích cực đến việc tăng trưởng doanh thu và năng suất tại các doanh
nghiệp; Tarutẻ & Gatautis (2013) nghiên cứu tác động của ICT đến doanh nghiệp vừa và
nhỏ, kết quá thấy rằng ICT có thể cải thiện hiệu quả hoạt động tổng thể, tài chính và
hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhở nếu nó được sử dụng một cách thích hợp. Ai
cũng biết rằng tiếp thị, truyền thông, mạng lưới và lập kế hoạch nguồn lực là những lĩnh
vực mà ICT tác động nhiều nhất và để đạt được hiệu quả tốt nhất, điều quan trọng là
phải gắn các khoản đầu tư ICT với các năng lực nội bộ và các quy trình cùa doanh
nghiệp; Chairoel và cộng sự (2015) nghiên cứu tác động của ICT đến hoạt động tổ chức
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Indonesia, kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng
ICT cũng có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu suất cúa doanh
nghiệp được đề cập đến bởi những đóng góp của ICT, bao gồm tiết kiệm chi phí, mở
rộng thị trường, bán hàng bổ sung, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, năng suất, lợi nhuận
và giá trị thị trường; Samwel và cộng sự (2019), tác giả đã chỉ ra rằng đổi mới công
nghệ có ảnh hưởng tích cực đên hoạt động của cơng ty. Tuy nhiên, nhược điêm của
nghiên cứu chính là giới hạn phạm vi chọn mẫu, khơng mang tính tổng qt. Từ đó, đề
xuất chính phú cần có nhiều chính sách liên quan để thúc đẩy xây dựng cơ sở hạ tầng
phát triển công nghệ thông tin tốt hơn; Daoping Wang và cộng sự (2020) nghiên cứu
240 doanh nghiệp ở Kenya cho thấy ICT đang thúc đẩy tạo ra việc làm hiện đại với các
trang mạng cho phép mọi người tương tác thông qua đối mới và chỉ ra rằng đổi mới
cơng nghệ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của cơng ty; và ICT góp phần
12
trong tăng trưởng kinh tế, chẳng hạn như Sam, Hoshino (2013) nghiên cứu về tăng
trưởng doanh số bán hàng với ngành công nghệ thông tin truyền thông cua Nhật và 3
nước Asean, với 24 công ty ICT trong khu vực ASEAN bao gồm Thái Lan, Malaysia và
Philippines; và 69 công ty ICT ở Nhật Bản, kết quả cho thấy phát triển hơn nữa ngành
công nghệ thông tin và truyền thông sẽ trở thành một nhân tố chính cho tăng trưởng kinh
tế; Tarhini và cộng sự (2017) cho rằng công nghệ thông tin và truyền thông rất quan
trọng đối với tăng trưởng kinh tế, công nghệ thông tin và truyền thông và đổi mới là
những nguồn lực chiến lược và có thể tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của doanh
nghiệp ở hiện tại và tương lai.
Các nghiên cứu của Menendez và cộng sự (2009) đã sử dụng phương pháp phân
tích bao dữ liệu (DEA) trong việc tính tốn và ước lượng hiệu quả kỹ thuật cùa các
doanh nghiệp, kết quả của nghiên cứu cho thấy ĨCT tác động tích cực lên hiệu quả kỳ
thuật; Yusof & cộng sự (2010) cũng dùng DEA nhằm phân tích và đánh giá hiệu quả của
các công ty tại Malaysia trong giai đoạn năm 2004-2008. Kết quả cho thấy sự kém hiệu
quả chủ yếu là do các doanh nghiệp bị kém hiệu quả theo quy mô chứ không phải là
kém hiệu quả về mặt kỳ thuật thuần túy; Higón (2011) đã đưa ra vai trị của cơng nghệ
thơng tin và truyền thơng (ICT) đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và
nhở (SMEs). Nghiên cứu này sử dụng số liệu thu nhập được từ các doanh nghiệp vừa và
nhỏ hàng năm. Trong đó, tác giả sử dụng biến đầu vào là ICT, biến đầu ra là việc đổi
mới quy trình và sản phẩm. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng có tác động của ICT
và yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến cơng ty.JPhan tích cho thây răng ICT chủ u đóng
vai trị là cơng nghệ giảm chi phí hoặc nâng cao hiệu quả, tiềm năng tạo ra lợi thế cạnh
tranh thông qua đổi mới sản phẩm mới; Yu & cộng sự (2014) sứ dụng phương pháp
phân tích tý số tài chính kết họp với DEA cùng với dữ liệu của 24 công ty niêm yết tại
Đài Loan, kết quả cho thấy hầu hết các công ty đều đạt được mức hiệu quả trong khoảng
0,94 đến 1,00.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Ashrafi và cộng sự (2008) cho rằng chỉ một số ít
doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy những lợi ích từ việc áp dụng ICT vào hoạt động kinh
doanh cúa mình; Nghiên cứu của Đặng Thành Ngơ (2012) áp dụng phương pháp DEA
13
để phân tích sự thay đổi hiệu quả hoạt động theo thời gian của hệ thống ngân hàng Việt
Nam trong giai đoạn 1990-2010. Kết quả cho thấy hiệu suất giảm dần theo thời gian khi
quy mô tăng lên, thị trường tài chính tự do hơn và khi nền kinh tế trên thế giới và khu
vực có vấn đề.
Trong hoạt động của doanh nghiệp thì có rất nhiều yếu tố tác động đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của họ, như: vốn, đầu tư, thị trường, áp dụng công nghệ thông tin
như đã nói ở trên, đa dạng hóa kinh doanh, ...
về đa dạng hóa kinh doanh thì hiện nay được các doanh nghiệp tận dụng, khai
thác triệt để nhằm mở rộng thị trường, chiếm lĩnh thị phần, quảng bá thương hiệu để
mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Sự tác động của đa dạng hóa kinh doanh
đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới đã minh
chứng bằng rất nhiều đề tài nghiên cứu về đa dạng hóa. Các nghiên cứu tiếp cận chỉ số
đa dạng theo hai phương pháp như sau:
Phương
này
baopháp
gồm
dùng
các
các
giả
chi
như:
sốyếu
đo
Berger
lường
và
mức
ềck
độđến
đa
(1995);
dạngchung
hóa
Tailman
chỉ
và
Li
sốthu
Entropy,
(1996);
Shen,
trên
thế
Wang
và
thì
(2011),...
một
sốđồng
nghiên
cịn
tại
cứu
Việt
dùng
Nam
phương
thì gần
pháp
tác
đây
nhất
giá
Long
có nghiên
Hautác
LE
cứu
and
các
Tan
Nghiêm
tố
tác
LE
động
(2020).
Nhìn
mức
độ
đanhư
dạng
các
nghiên
hóa
cứu
nhập
trên
của
cho
các
thấy
hộgiới
giaSu
đình
vùng
bàng
sơng
Cửu
Long
của
hướng tiêp cận và chỉ sô đánh giá đa dạng hóa là rât đa dạng, từ đa dạng hóa ngành
nghề, lình vực, sản phẩm, doanh thu, thu nhập, đầu tư cho đến đa dạng địa lý.
Phương pháp chia thang đo bằng khảo sát, một số nghiên cứu dùng phương
pháp này gồm các tác giả Santarelli và Hien Tran (2013), Pandya và Rao (1998) tác giả
đã phân loại công ty thành 3 nhóm đa dạng hóa; P.G Berger và E.Ofek (1995) tác giả đã
tiến hành phân loại doanh nghiệp theo hai nhóm: nhóm đơn ngành (Single- segment
firms) và nhóm đa ngành (multi- segment firms);
Tóm lại, các nghiên cứu trên đa phần sử dụng hai mơ hình đánh giá gồm mơ
hình đánh giá hiệu quả kỳ thuật, sau đó dùng kết quả đó đánh giá các yếu tố tác động
đến hiệu quả kỹ thuật bằng các phương pháp khác nhau như logit, tobit,... các kết q
cho thấy có sự khơng thống nhất trong việc 1CT tác động lên hiệu quả, các nghiên cứu
đa phần cho thấy ICT tác động tích cực lên hiệu quả, nhưng mặc khác một số cũng cho
rằng nó có tác động tiêu cực. Bên cạnh đó giữa ICT và đa dạng hóa kinh doanh sán
phấm lại có mối quan hệ gián tiếp, đa dạng hóa giúp gia tăng hiệu quả nhưng đôi khi
cũng làm giảm hiệu quả. Các nghiên cứu chủ yếu dùng dừ liệu doanh nghiệp nói chung,
không phân chia theo vùng miền hay địa phương Tinh/Thành.
1.3.
Mục tiêu của nghiên cứu
7.3.7.
Mục tiêu chung
Xem xét tác động của ICT và đa dạng hóa kinh doanh đến hiệu quả kỳ thuật các
doanh nghiệp tại 63 Tỉnh/Thành khác nhau, tìm các yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ
thuật từ đó giúp gia tăng hiệu quả, trong đó xem xét vai trị của yếu tổ ICT và tính đa
dạng cúa các doanh nghiệp.
1.3.2.
Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, phân tích hiệu quả kỳ thuật của các doanh nghiệp phân theo 63
Tỉnh/Thành;
Thứ hai, phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả, trong đó xem xét
vai trị của ICT và tính đa dạng kinh doanh các doanh nghiệp;
Thứ ha, đưa ra một số khuyến nghị và hàm ý từ việc phân tích và đánh giá tác
động của ICT và tính đa dạng hóa đến hiệu quả kỳ thuật của doanh nghiệp.
1.4.
Câu hỏi nghiên cứu - Đôi tượng nghiên và phạm vi nghiên cứu + Câu
hỏi nghiên cứu:
Đe giải quyết các mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu
như sau:
Câu hỏi 1: Hiệu quả kỳ thuật của các doanh nghiệp tại các Tỉnh/Thành trong
thời gian qua như thế nào?
Câu hỏi 2: 1CT, đa dạng hóa và những yếu tố khác có tác động đến hiệu quà
kỹ thuật của các doanh nghiệp Việt Nam như thê nào?
Câu hỏi 3: Đê gia tăng hiệu quả các doanh nghiệp cân làm gì?
r
+ Đơi tượng nghiên cứu:
Tác động ICT, đa dạng hóa đến hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp tại
Việt Nam.
+ Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành dựa trên dừ liệu trung bình giai
đoạn năm 2011-2015, năm 2016, năm 2017 và năm 2018.
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên 63 Tỉnh/Thành tại Việt Nam.
1.5.
Phuong pháp nghiên cứu, số liệu thu thập
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng,
trong đó cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu định tính: lược khảo các nghiên cứu các liên quan,
phân tích tổng hợp, so sánh. Phương pháp này giúp giải quyết Mục tiêu 1, 3 và trả lời
Câu hỏi 1 và 3.
Phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng phương pháp DEA đê ước lượng
hiệu quả kỳ thuật cúa 63 Tinh/Thành, dùng kết quả đánh giá mơ hình hồi quy các yếu tố
tác động bằng phương pháp GMM, phương pháp này giúp giải quyết Mục tiêu 2, 3 và
trả lời Câu hỏi 2, 3 nêu trên.
Số liệu thu thập: số liệu thứ cấp được lấy từ Báo cáo chỉ số cho sẵn sàng phát
triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam của Bộ Thông tin và
Truyền thông tại cổng thông tin điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông
(); và Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2019 và 2020 của
Bộ Ke hoạch và Đầu tư tại cống thông tin điện tử của Tống cục thống kê
().
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên định lượng được sử dụng: Phần mềm
STATA 14 được sử dụng để phân tích, xử lý dừ liệu và tiến hành các kiểm định.
1.6.
Điểm mói nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứu về hiệu quả kỳ thuật đa phần các nghiên cứu đang tập
trung vào mảng ngân hàng, các nghiên cửu về doanh nghiệp cũng có, tuy nhiên việc
nghiên cứu tác động của ICT, đa dạng hóa đến hiệu quả kỹ thuật tồn bộ các doanh
nghiệp tại 63 Tỉnh/Thành phố cả nước là chưa có. Vì vậy nghiên cứu này có giá trị đóng
góp về phía các doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý từng địa phương để có phương thức
quản lý, thúc đấy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đáp ứng xu thế công nghệ.
1.7.
Cấu trúc luận văn
* Luận văn được cấu trúc thành 5 Chương, bao gồm:
Chương 1: Giói thiệu
Chương này sẽ trình bày các vấn đề về thực tiễn, tính cần thiết đế nghiên cứu,
các mục tiêu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là gì cũng sẽ trình bày
trong chương.
Chương 2: Co’ sỏ' lý thuyết
Chương này sẽ trình bày tồn bộ các khái niệm, các lý thuyết nền tảng áp dụng
trong nghiên cứu, lược khảo chi tiết các nghiên cứu trước giúp trong q trình xây dựng
mơ hình nghiên cứu.
Chương 3: Phuong pháp, dữ liệu và mơ hình nghiên cún
Chương này sẽ trình bày về mơ hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ
liệu và mơ hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý
Từ cơ sở kết quả nghiên cứu, Chương 5 sẽ trình bày những kết luận chung và
các gợi ý chính sách góp phần gia tăng hiệu quả doanh nghiệp nhất là vấn đề đa dạng và
ĨCT.
CHƯƠNG 2
CO SỞ LÝ THUYẾT VÈ HIỆU QUẢ VÀ TÁC ĐÔNG CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG ĐÉN
HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP
Trong Chương này tác giả trình bày các khái niệm và các lý thuyết nền tàng có
liên quan về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cũng như tác động của 1CT đến hiệu quà
hoạt động của doanh nghiệp. Các cơ sở lý thuyết và các khái niệm là cơ sở để tác giả
xây dựng mơ hình nghiên cứu phục vụ trong Chương kế tiếp.
2.1.
Các khái niệm
2.1.1.
Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong các lĩnh vực
kinh tế, kỳ thuật, xã hội. Hiện nay, các nghiên cứu vần chưa có khái niệm thống nhất về
hiệu quả. Vì vậy, ở góc độ nghiên cứu khác nhau, phương diện tiếp cận khác nhau thì
người ta có nhìn nhận khác nhau về hiệu quả.
Theo P.Samerelson và W.Nordhasu “Hiệu quả là một mối quan tâm trung tâm
của kinh tế học. Hiệu quả nghĩa là khơng có lãng phỉ. ” Theo quan điếm này thì hiệu
quả sản xuất diễn ra khi tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà khơng cắt giảm sản
lượng của một loại hàng hóa khác. Nó đề cập khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn
lực cùa nền sản xuất xã hội.
Theo Manfred Kuhn, tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo
đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh. Với cách xác định hiệu quả như trên của
Manfred Kuhn đã được nhiều nhà kinh tế và quản trị đồng tình và áp dụng vào tính hiệu
quả kinh tế của các quá trình kinh tế.
Theo Diewert, W.E hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật (năng suất lao
động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư) và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị
giá trị (hiệu quả cùa hoạt động quán trị chi phí).
Một sơ định nghĩa có liên quan cân phân biệt bao gơm: Hiệu quả (Efficiency);
Năng suất (Productivity); Có hiệu quả (Effectiveness); Hiệu suất (Performance).
+ Hiệu quả (Efficiency): là thành tích trên mỗi đơn vị đầu vào. Nếu đầu vào là
nguyên liệu thơ thì hiệu quả được quan tâm đến vật liệu bị tiêu hao. Nếu đầu vào là lao
động thì hiệu quả được quan tâm đến đầu vào lao động. Nếu đầu vào là chi phí thì hiệu
quả quan tâm đến chi phí.
+ Năng suất (Productivity): chỉ đơn giản là thành tích trên mồi đơn vị thời gian.
Năng suất khơng quan tâm đến việc bạn dành bao nhiêu thời gian để làm. Nó cũng
khơng quan tâm đến sự gián đoạn, lỗi thiết bị hoặc các vấn đề khác - nó chỉ là đầu ra
theo thời gian.
+ Có hiệu quả (Effectiveness): xác suất đạt được thành tích. Một cái gì đó hoặc
ai đó có hiệu quả khi họ có xác suất cao để đạt được thành công trong một số nồ lực.
Hiệu quả giống như một đội chiến thắng kỷ lục. Nó là dự đốn, với giả định rằng thành
tích trong q khứ là một chí báo tốt về thành cơng trong tương lai.
+ Hiệu suất (Performance): là thành tích so với một số điểm chuẩn. Bạn khơng
thể có một cuộc trị chuyện về hiệu suất, mà khơng hiểu các quy chuẩn về hạn ngạch, hồ
sơ, khoảng cách, trung bình, v.v ... Hiệu suất ln tương đối. Khi chúng ta nói rằng ai đó
hoạt động khơng tốt, thì tiêu chuẩn về hiệu suất là điều bạn đang nói đến.
Ngoại trừ năng suất (Productivity) thì các từ về hiệu quả (Efficiency), hiệu suất
(Performance) và có hiệu quả (Effectiveness) thường được dùng chung là “Hiệu quả”,
tùy vào bối cảnh và giới hạn mà có thề hiếu theo các nội hàm khác nhau.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau tuy nhiên khái niệm hiệu quả nếu được
hiếu theo góc độ hoạt động của doanh nghiệp, thì hiệu quả của bất kỳ một hoạt động
kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất vù chi phí bơ ra’’
(Chanh, 2013). Vì vậy hiệu quả thường được đo lường theo công thức (2.1) bên dưới
Hiệu quà kinh doanh
(2.1)
Chi phi đâu vào
Như vậy, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phải đạt được sự cân bằng của 4
yếu tố: (1) hiệu quả của quá trình sản xuất, (2) thỏa mãn các cổ đông, đảm háo thỏa
mãn nhu cầu khách hàng và (3) tăng trưởng của doanh nghiệp và (4) cuối cùng là năng
lực phát triển, cải cách, tận dụng cơ hội (Lê Đức Hoàng, 2015).
Theo Farrell (1957) hiệu quả chi phí (Cost efficiency) hay hiệu quả kinh tế
(Economic efficiency) bao gồm:
+ Hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency): Phản ánh khả năng sản xuất tối đa
đơn vị đầu ra với các đầu vào có sằn hoặc khả năng cực tiếu hoá sử dụng đầu vào để sàn
xuất một véctơ đầu ra cho trước. Mục tiêu của các nhà sản xuất là làm mọi cách để tránh
lãng phí các yếu tố đầu vào, bằng việc cực tiểu hoá sử dụng yếu tổ đầu vào trong sản
xuất các đầu ra đã cho hoặc bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn.
Hiệu quả kỹ thuật bao gồm hiệu quả kỳ thuật thuần túy (Pure Technical Efficiency - PE)
và hiệu quả quy mô (Scale Efficiency - SE).
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được đánh giá dựa trên các thước ROA
(lợi nhuận trên tài sản, dùng 2 chỉ tiêu lợi nhuận và tài sản đánh đánh giá), ROE (lợi
nhuận trên vổn chù sở hữu, dùng 2 chì tiêu lợi nhuận và vốn chủ sở hữu) nếu xét chung
về hiệu quả thì có thế hiệu quả, tuy nhiên hiệu quả có tối ưu hay khơng thì chưa xác
định được. Trong khi đó hiệu quả kỳ thuật thì dựa trên cơ sở việc sử dụng tối ưu các yếu
tố đầu vào (chi phí thấp nhất, sử dụng tối ưu yếu tố đầu khi đầu ra cho trước) hoặc tạo
đầu ra tối ưu (sản phẩm dịch vụ cao nhất, tạo ra sản phấm dịch vụ tối ưu khi các yếu tố
đầu vào xác định) hay nói cách khác là khai thác triệt để tiềm năng của sẵn có của doanh
nghiệp, tránh lãng phí tài sản để đạt được kết quả đầu ra cao nhất, mang lại hiệu quả lớn
nhất cho doanh nghiệp. Rahmah Ismail và cộng sự (2014), Hiệu quả kỹ thuật là khả
năng doanh nghiệp tạo ra đầu ra tối đa bằng cách sừ dụng một tập hợp các đầu vào hoặc
giảm thiểu việc sử dụng đầu vào để tạo ra một mức đầu ra nhất định. Khi doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả nhất thì chi phí hoạt động có thể được giảm xuống và tăng lợi nhuận.
Một doanh nghiệp khi xét trên phương diện chung (ROA, ROE) thì có hiệu quả,
tuy nhiên khi đánh giá về hiệu quả kỹ thuật (TE) thì chưa hẳn là đạt hiệu quả, điều này
cho thấy hiệu quả kỹ thuật phản ảnh chính xác việc khai thác các yếu tố đầu vào cùa
doanh nghiệp, hiệu quả kỳ thuật là mục tiêu mà các doanh nghiệp mong muốn đạt được.
Do hiệu quả kỳ thuật là chỉ tiêu quan trọng, phản ảnh chính xác về hiệu quả của
doanh nghiệp trong sử dụng tài sân, vốn nên trong đề tài này, tác giả chọn Hiệu quả kỹ
thuật để phân tích đánh giá về hiệu quả của doanh nghiệp của các Tình/Thành.
Để đo lường Hiệu quả kỹ thuật trong đề tài này, tác giả dùng Phương pháp DEA
(là một kỹ thuật quy hoạch tuyến tính để đánh giá một đơn vị ra quyết định hoạt động
tương đối so với các đơn vị khác trong mẫu như thế nào), các đơn vị hiệu quả thì chúng
nằm trên đường giới hạn, điểm hiệu quả kỳ thuật (TE) cúa chúng bằng 1; ngược lại các
kém hiệu quả điểm hiệu quả nằm trong đường giới hạn, điểm hiệu quả của chúng sẽ nhở
hơn 1. Hiệu quả được tính bằng cách chiếu các đơn vị này lên biên hiệu quả. Các đơn vị
phi hiệu quả, DEA đều đưa ra một tập các điểm chuẩn của các đơn vị khác để đơn vị
được đánh giá có thể so sánh giá trị, do đó, giúp nhà quản lý thấy được thực tế hoạt
động của đơn vị mình so với các đơn vị khác, từ đó xác định các mục tiêu cần phải cải
thiện có biện pháp cải thiện hoạt động cúa đơn vị.
2.1.2.
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Có nhiều cách định nghĩa về Cơng nghệ thơng tin và truyền thơng (ICT -
Information & Communication Technology), nhìn chung có những cách hiểu như sau:
Theo trang thơng tin điện tử của Trường Đại học FPT thì “Cơng nghệ thơng tin
& truyền thông thường được gọi là ICT (viết tắt cùa Information & Communication
Technology), là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông
tin (IT), nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trị của truyền thơng
họp nhất và sự kết họp của viễn thơng (đường dãy điện thoại và tín hiệu khơng dây), hệ
thơng quản lý tịa nhà thơng minh và hệ thơng nghe-nhìn trong cơng nghệ thơng tin hiện
đại”, ( va-truyen-thong-la-gi-co-hoi-vieclam).
Theo Blurton (2002) thì “ICT được định nghĩa là một tập hợp các công cụ và tài
nguyên công nghệ đa dạng được sử dụng đê giao tiếp, tạo ra, phô biến, lưu trừ và quản
lý thông tin. Những công nghệ này bao gồm máy tính, internet, cơng nghệ phát sóng
(đài phát thanh và truyền hình) và điện thoại”.
Theo nghiên cứu của Tinio (2003) trong Nhóm cơng tác e-ASEAN UNDPAPDIP tại bài viết “Cổng nghệ thông tin và truyền thơng (ICT) trong giáo dục” thì “ICT
là chữ viết tắt cúa Information and Communication Technologies (Công nghệ thông tin
và truyền thơng), được định nghĩa cho mục đích của bài viết này là một tập hợp đa dạng
các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng đề giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ
và quán lý thông tin. Các cơng nghệ này bao gồm máy tính, Internet, công nghệ truyền
thông (đài và vô tuyến) và điện thoại”.
ICT là sự kết hợp giữa truyền thông và viễn thông, các hệ thống quản lý tịa nhà
thơng minh, hệ thống nghe nhìn trong cơng nghệ thơng tin hiện đại. Ngồi ra, ICT còn
bao gồm các mảng ĨT khác như: điều khiển dựa trên truyền tải mạng, phương tiện
truyền thông, xử lý âm thanh, điện thoại, chức năng giám sát... ICT bao gồm bất kỳ sản
phẩm nào sẽ lưu trừ, truy xuất, thao tác, truyền tải hoặc nhận thông tin điện tử dưới dạng
kỳ thuật số. (Ví dụ: máy tính cá nhân, truyền hình kỳ thuật số, email, robot. Vì vậy, ICT
liên quan đến việc lưu trữ, truy xuất, thao tác, truyền tải hoặc nhận dữ liệu kỹ thuật số).
Trong kinh doanh, ICT thường được phân loại thành hai loại:
+ Công nghệ dựa trên máy tính truyền thống: những điều bạn thường có thể làm
trên máy tính cá nhân hoặc sử dụng máy tính ở nhà hoặc tại nơi làm việc.
+ Công nghệ truyền thông kỹ thuật số: cho phép mọi người và tổ chức giao tiếp
và chia sẻ thông tin kỹ thuật số.
2.1.3.
Đa dạng hóa kinh doanh
Đa dạng hóa kinh doanh có thể hiếu là sự mở rộng sản phấm - lĩnh vực ngành
nghề và mở rộng thị trường sang các vùng miền, quốc gia khác với mục tiêu tăng sức
ảnh hưởng, gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Theo Grant and Jordan ( 2015), đa dạng hóa được hiểu là sự mở rộng hoạt động
kinh doanh chính cúa doanh nghiệp sang dòng sản phâm khác hoặc lĩnh vực hoạt động
khác. Rumelt (1974) và Teece (1980) chỉ ra rằng, dù lĩnh vực kinh doanh chính của
cơng ty gặp khó khăn hay thuận lợi thì đa dạng hóa vần ln được các nhà quản lý thực
hiện nhằm cải thiện (hoặc gia tăng) tình hình hoạt động kinh doanh cúa mình.
Đa dạng hóa là một phương tiện mà một doanh nghiệp mở rộng từ kinh doanh
cốt lõi sang các thị trường sản phẩm khác (Aaker 1980, Andrews 1980, Berry 1975,
Chandler 1962). Đa dạng hóa có thể cải thiện khả năng nợ, nguy cơ phá sản giảm bằng
cách tham gia vào sản phẩm hay thị trường mới (Higgins và Schall 1975, Lewllen
1971).
Trong thời đại công nghệ số, khoa học kỳ thuật phát triển mạnh mẽ, giúp con
người gần nhau hơn, việc đi lại được thuận lợi nhanh chóng, việc quản lý được dễ dàng,
tiếp nhận và xử lý thơng tin nhanh chóng thơng qua các mạng xã hội. Đó là một cơ hội
thuận lợi để các doanh nghiệp mở rộng thị trường sang các vùng miền khác của quốc gia
hay các quốc gia khác (gọi là đa dạng hóa địa lý) nhằm chiếm lĩnh thị trường, tạo nên
thương hiệu quốc tế, mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp, đặc biệt là hiệu quả kỳ
thuật (sử dụng chi phí một cách tối ưu).
Phương pháp đo lường đa dạng hóa bằng chỉ số Entropy (DR và DT)
Chỉ số Entropy được lựa chọn đề đo lường đa dạng hóa trong nghiên cứu này do
những ưu điếm của phương pháp này và điều kiện về dừ liệu có thể thu thập. Phương
pháp Entropy đã được sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế học công nghiệp (Palepu,
1985) và tài chính, đó là phép đo thường dựa trên hệ thống Phân loại ngành nghề chuẩn
S1C. Chỉ số Entropy được dựa trên ba yếu tố liên quan đến sự đa dạng của các hoạt
động của một doanh nghiệp: i) sô lượng các lĩnh vực/phân khúc sản phẩm mà trong đó
các doanh nghiệp hoạt động; ii) sự phân bố của tồng doanh số thông qua phân khúc sản
phẩm; iii) mức độ của mối quan hệ giữa các phân khúc sản phâm khác nhau (Palepu,
1985).
Đê đo lường đa dạng hóa của công ty, cân sử dụng báng phân ngành công nghiệp
chuẩn (SIC) và các dừ liệu về tỷ trọng các hoạt động kinh doanh của công ty, căn cứ vào
doanh thu của từng lĩnh vực hay đơn vị kinh doanh.
Công thức tính mức độ đa dạng hóa băng chỉ sơ Entropy, được sử dụng rộng
rãi bởi các học giả trong những năm gân đây (Hitt, Ireland & Hoskisson, 2011).
Tông đa dạng hóa (DT): chì tiêu này được chia thành hai phần: i) một thành
phần không liên quan để đo mức độ mà các kết quả đầu ra được phân phối trong các sản
phâm thơng qua các nhóm của các ngành cơng nghiệp không liên quan (DU), và ii) một
thành phần liên quan, đo lường đầu ra được phân phối trong các sản phẩm có liên quan
trong nội bộ các nhóm ngành (DR).
Chỉ sơ Entropy tơng đa dạng hóa (DTit) của doanh nghiệp i trong thời gian t
được tính như sau:
n
Trong đó:
Ln là logarit tự nhiên.
Pi là tỷ lệ doanh thu của phân khúc (segment) i được xác định bởi mã ngành
4 chừ sô trong bảng phân loại ngành nghê chuân SIC.
n là số phân khúc (segment) (ngành 4 chừ số) mà doanh nghiệp tham gia hoạt
động (Palepu, 1985; Markindes và Williamason, 1996).
Như vậy, chỉ sơ Entropy tơng đa dạng hóa (DTit) là sơ bình qn gia qun
(weighted avarage) các thành phần đóng góp của các phân khúc hoặc các hoạt động
khác nhau trong doanh nghiệp.
2.2. Các lý thuyết nền tảng
- Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource based theory- RB): Lý thuyết này
cho rằng cơng ty đang tìm cách có được những nguồn lực và năng lực có giá trị khó bắt
chước (Andreu và Ciborra 1996). Nó nhấn mạnh vào sự lựa chọn kết họp đúng đắn các
nguồn lực của một cơng ty, có thể định vị lại cơng ty và nâng cao nó để đạt được lợi thế
cạnh tranh. Đe đạt được lợi thế cạnh tranh, một công ty cần sờ hữu các nguồn lực, năng
lực và khả năng cụ thế có giá trị, khan hiếm và lâu bền (Spender 1996). Theo công ty, lý
thuyết dựa trên tri thức là một hệ thống sản xuất và ứng dụng tri thức năng động, phát
triển, bán tự động (Spender 1996). Lý thuyết này đặc biệt là hữu ích cho việc nghiên
cứu cơng nghệ thông tin cua Wade. Quan điểm này phổ biến ở các nhà lý thuyết chiến
lược doanh nghiệp, những người coi công ty như một khối kiến thức (Spender 1996).
Quan điểm này là sự mở rộng của quan điểm dựa trên nguồn lực trong đó các nguồn lực
của doanh nghiệp được coi là tri thức. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức về
việc kết hợp các nguồn lực khác nhau của cơng ty. Do đó, theo quan điếm này, kiến thức
hiện có khơng quan trọng và đúng hon là khả năng của doanh nghiệp trong việc áp dụng
kiến thức hiện có để đạt được sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực là quan trọng (Alavi
và Leidner 2001). Trước khi quan điếm này được đưa ra, vai trị chính của cơng ty được
coi là tạo ra tri thức nhưng theo lý thuyết này, vai trị chính của công ty là ứng dụng tri
thức (Kogut và Zander 1992). Đây là nơi mà cơng nghệ thơng tin có thể đóng một vai
trị quan trọng bằng cách áp dụng hiệu quả kiến thức hiện có để tạo ra kiến thức và thực
hiện những bước đầu tiên đế hình thành lợi thế cạnh tranh (Alavi và Leidner 2001).
“Các công ty đầu tư vào những tài sản đó tương ứng với sự kết hợp của khả năng hiện
tại và kỳ vọng về các cơ hội trong tương lai. Hay nói cách khác, kiến thức về một cơng
ty có thế được coi là sở hữu một danh mục các quyền chọn, hoặc các nền tảng, trên các
phát triền trong tương lai” (Kogut và Zander 1992).