ĐẠI HỌC QC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TÉ - LUẬT
NGUYỀN ĐỨC ĐANG
GIẢI QUYẾT LY HÔN CĨ YẾU TỐ NUỚC NGỒI
TẠI TỊA ÁN
Ngành: Luật dân sự và tô tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUÂN VĂN THAC sĩ LUÀT HOC
NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NÀM 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kêt răng Luận văn này là kêt quả q trình nghiên cứu của bản thân
tơi. Kết quả của sự nghiên cứu này xuất phát từ thực tiễn giải quyết, xét xử vụ án ly hơn
có yếu tố nước ngồi tại Tịa án nêu trong Luận văn chưa được cơng bố. Các trích dẫn
trong Luận văn đạt tính chính xác và độ tin cậy cao. Bản thân tơi đã hồn thành chương
trình học và nghĩa vụ tài chính theo quy định của nhà trường.
Bằng lời cam đoan này, tơi xin được xem xét để có thể bảo vệ Luận văn.
Tác giả luận văn
__
Nguyên Đức Đang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
VIÉT TẤT
VIÉT ĐẦY ĐỦ
1
TAND
Tòa án nhân dân
2
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
3
VKSNDTC
Viên kiểm sát nhân dân tối cao
•
4
ƯBND
ủy ban nhân dân
5
BLDS
Bơ lt Dân sư
•••
6
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
7
LHNGĐ
Luật hơn nhân và gia đình
8
NĐ-CP
Nghị định của Chính phủ
9
NQ-HĐTP
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán
Tịa án nhân dân tối cao
10
ĐUQT
Điều ước quốc tế
11
HĐTTTP
Hiệp định tương trợ tư pháp
12
TTLT
Thông tư liên tịch
13
UTTP
ủy thác tư pháp
DANH MỤC BẢNG BIÊU
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIÊU
MỤC LỤC
DANH TÀI LIỆU THAM MỤC KHẢO
PHỤ LỤC
6
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển và hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vục của đời sống xã
hội, nuớc ta đã có quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia trên thế giới, do đó mối quan
hệ hơn nhân giữa người Việt Nam và người nước ngồi cũng vì đó mà tăng nhanh. Hệ
quả tất yếu cua quá trình này là bên cạnh những điềm tích cực thì các quan hệ tranh
chấp về hơn nhân phát sinh cũng nhiều không kém đặc biệt là những vụ án về vấn đề ly
hơn có yếu tố nước ngồi. Vì vậy, để giúp cho họ giải phóng khỏi sự ràng buộc khơng
cần thiểt khi tình cảm vợ chồng khơng cịn, đồng thời xóa bó sự ràng buộc về mặt pháp
lý thì ly hơn là việc cần thiết, bởi ly hơn là xóa bó mối quan hệ hơn nhân bằng phán
quyết của Tịa án.
Trong
hạn
chế.
bối
Điều
cảnh
này
hiện
được
nay,
thể
khi
hiện
Tịa
qua
án
thụ
các
lý,
số
liệu
giải
khi
quyết
giải
quyết
vụ
án
lygiải
ly
hơn
hơn
có
có
yếu
yếu
tố
tố
nước
nước
ngồi
ngồi
chất
vẫn
lượng
cịn
tồn
cịn
tại
thấp,
nhiều
án
bất
bị
hủy,
cập
và
sửa
cịn
văn
nhiều;
bản
pháp
thêm
luật
vào
trong
đó
q
hệ
trình
thống
giải
pháp
quyết
luật
quốc
cịn
chậm,
gia
mà
bởi
cịn
các
hệ
lý
thống
do
như:
pháp
Pháp
luật
luật
quốc
điều
tế
như:
chỉnh
Điều
mối
ước
quan
quốc
hệ
tế,
này
tập
khơng
qn
những
quốc
là
các
tế...v.v.
bộ
dẫn
đến
Các
khi
quy
áp
định
dụng
của
các
pháp
quy
định
luật
vào
vẫn
việc
chưa
giải
dự
liệu
quyết
đầy
các
đủ
vụ
các
án
trường
ly
hơn
hợp
có
xảy
yếu
ra
tố
trong
nước
ngồi
thực
tế,
cịn
hệ
nhiều
thống
quan
pháp
điểm
luật
trái
chưa
ngược
đồng
nhau,
nhằm
giúp
khơng
cho
thống
việc
nhất
giái
trong
quyết
cách
vụ
việc
giải
ly
quyết.
hơn
có
Thời
yếu
gian
tố
nước
qua
pháp
ngồi
luật
tại
Việt
Tịa
án
Nam
vừa
cũng
đạt
đã
được
tích
hiệu
cực
quả
xây
cao
dựng,
nhưng
cập
vẫn
nhật,
đảm
hồn
bảo
thiện
được
về
tại
tính
đồng
pháp
thời
lý.
Do
kiến
đó,
nghị
cần
đế
nghiên
tiếp
cứu
tục
sâu
hồn
hon
thiện
nữa
hơn
các
nữa
quy
các
định
quy
khi
định
về
quyết
giải
vấn
quyết
đề
ly
này,
hơn
nhằm
có
yếu
phát
tố
hiện
nước
ra
ngồi
những
là
hạn
cần
chế
thiết.
cịn
tồn
Bản thân tác giả lựa chọn đề tài “Giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại
Tịa án” làm đề tài luận văn với mong muốn tìm hiểu sâu hơn các quy định của pháp
luật áp dụng để giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án. Quá trình nghiên cứu
và viết luận văn sẽ giúp tác giả tích lũy được những kiến thức cần thiết phục vụ cơng
tác, hy vọng đóng góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện các quy
định pháp luật áp dụng khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại nn \ z __
Tịa án.
2.
Tình hình nghiên cún liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu các quy định khi giải quyết ly hơn có yếu tổ nước ngồi tại Tịa
án thật sự cần thiết, đã trở thành vấn đề đặc biệt mang tính chất của xã hội. Đã có nhiều
luận văn nghiên cứu về vấn đề này, cụ thế là một số cơng trình như sau:
Nguyễn Thanh Hoa (2012), “Thẩm quyển giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngồi
ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp ”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội. Luận
văn nghiên cứu, phân tích về thẩm quyền giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi nói
chung trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng.
Bùi Thị Minh Nhã (2012), “Vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, so sánh với pháp luật một số nước trên thế giói”,
Luận văn thạc sĩ, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn nghiên cứu những quy
định về ly hôn giữa đương sự là người Việt Nam với người nước ngoài, đồng thời so
sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới đế thấy rõ những điểm thành công và
hạn chế cùa pháp luật nước ta trong vấn đề ly hôn. Thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa
án.
Phạm Trung Hòa (2017), Giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi theo quy định
của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện plĩủp luật, Luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đi sâu nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về ly hơn có yếu tố
nước ngồi, qua đó tìm hiểu thực tiễn giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam.
Giải qut ly hơn có u tơ nước ngồi là một vân đê rộng, tuy các khía cạnh về
ly hơn có yểu tổ nước ngồi đã được tiếp cận, phân tích ở nhiều góc độ và mức độ khác
nhau, nhưng nhìn chung các đề tài trước đó chưa đề cập đến trình tự, thú tục khi giải
quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án. Hơn thế nữa, việc BLTTDS năm 2015 ra
đời có nhiều sự thay đổi về mặt thủ tục, trình tự áp dụng khi giải quyết ly hơn có yếu tố
nước ngồi. Do đó, luận văn sẽ phân tích ở góc nhìn sâu sắc và toàn diện về tố tụng
được quy định trong BLTTDS năm 2015, qua đó nêu ra thực trạng bất cập và một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về giải quyết ly hơn có
yếu tổ nước ngồi tại Tồ án.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún của đề tài
•••“
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm ra bất cập cúa pháp luật về trình tự, thủ
tục khi áp dụng để giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án, từ đó đề xuất kiến
nghị hồn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước
ngồi tại Tịa án.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên CÚ11
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn đưa một số nhiệm vụ sau đây:
Làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngồi
tại Tịa án.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn việc xét xử để xác định những khó khăn,
vướng mắc trong q trình giải quyết những vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi, qua đó
đề ra những phương hướng, giải pháp để tăng cường chất lượng giải quyết ly hơn có yếu
tố nước ngồi tại Tịa án.
4.
4.1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết ly hơn có yếu tổ nước ngoài tại Toà án.
4.2.
Phạm vi nghiên cún
Luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về thấm
quyền, trình tự, thủ tục khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án cấp sơ
thẩm.
Tìm ra thực trạng bất cập khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
thời gian từ khi BLTDS năm 2015 có hiệu lực cho đến nay.
Luận văn không đề cập đến các vấn đề khác về phân chia con cái và tài sản;
không đề cập đến “việc” ly hơn có yếu tố nước ngồi; cơng nhận và cho thi hành bản án,
quyết định về dân sự của tịa án nước ngồi tại Việt Nam; thi hành án dân sự các bán ly
hơn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
5.
Phuong pháp nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu:
Thứ nhãt, phương pháp lịch sử sử dụng đê viện dân các quy định trước đây về
giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngoài để làm rõ về những vấn đề bất cập so với quy
định mới của pháp luật hiện hành.
Thứ hai, phương pháp phân tích sử dụng đế khái quát quy định của pháp luật về
giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.
Thứ ba, phương pháp tống hợp sử dụng khái quát của nhiều nguồn các lý luận về
ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngồi, rồi từ đó đưa ra khái niệm về ly hơn, ly hơn có yếu
tố nước ngoài.
Thứ tư, phương pháp so sánh sử dụng để tìm ra điểm giống và khác nhau về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục cúa ly hơn, ly hơn có yếu tố nước ngoài.
6.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 2 chương.
Chương ỉ: Khái quát về ly hôn có yếu tố nước ngồi và quy định pháp luật về
giải quyết ly hỗn có yếu tố nước ngồi tại Tòa án
Nội dung chương này khái quát vê khái niệm vê ly hơn và ly hơn có u tơ nước
ngồi, qua đó phân tích đặc điểm quy định của pháp luật về giải quyết ly hơn có yếu tố
nước ngồi tại Tòa án.
Chương 2: Thực trạng hât cập và một sơ kiên nghị hồn thiện pháp luật vê giải
quyết ly hơn có yếu tổ nước ngồi tại Tịa án
Nội dung chương này đề cập sơ lược về tình hình giải quyết ly hơn có yếu tố
nước ngồi tại Tịa án ở một số địa phương điền hình về số liệu thụ lý, giải quyết, từ đó
nêu ra những vấn đề chưa hợp lý quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục, khó khăn vướng mắc khi thực hiện UTTP, qua đó kiến nghị để hồn thiện pháp luật
khi giải quyết ly hơn có yếu tổ nước ngồi tại Tòa án.
CHƯƠNG 1
KHÁI QT VÈ LY HƠN CĨ U TĨ NƯỚC NGỒI VÀ GIẢI QUT
LY HƠN CĨ U TỐ NƯỚC NGỒI TẠI TỊA ÁN
1.1.
Khái niệm ly hơn và ly hơn có yếu tố nc ngồi
1.1.1.
Khái niệm ly hơn
Quan hệ hơn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết các xã hội.
Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người
phụ nữ được gọi là vợ. về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hơn với cơ quan Nhà
nước. Trong cuộc sống hôn nhân, phát sinh những bế tắc, xung đột trong đời sống hôn
nhân thì “ly hơn” sẽ giải thốt cho họ, đó là quyền cơ bản của con người, được Nhà
nước bảo hộ.
về mặt ngữ nghĩa, “ly” nghĩa là rời bỏ, “hôn” nghĩa là hôn nhân, ly hôn (ly dị) là
vợ chồng rời bỏ nhau một cách hợp pháp; tại khoản 14 Điều 3 LHNGĐ năm 2014 quy
định “ly hôn” là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của tồ án. Ly hơn chính là biện pháp giải thoát cho nhau trong mối quan hệ
vợ chồng, là mặt tất yếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ cịn là hình thức.
về mặt pháp lý, quyền u cầu ly hơn phải do chính vợ chồng tự mình thực hiện,
là quyền khơng thể chuyển giao cho người khác, quyền này được đặt dưới sự giám sát
chặt chẽ của Nhà nước, mục đích nhằm ngăn chặn tình trạng vợ chồng lạm dụng gây
hậu quả xấu cho gia đình và xã hội, sự giám sát này cũng tránh việc giải quyết ly hơn
tuỳ tiện. Tồ án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc công nhận thuận tình ly
hơn của cả hai vợ chồng dựa vào tính chất thực tế mối quan hệ giữa họ nhưng phải phù
hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định.
Như vậy, ly hôn là chấm dứt quan hệ hơn nhân do Tịa án quyết định theo yêu
cầu của một bên hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý của hôn nhân và
các ràng buộc về quan hệ dân sự khác. Cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán quyết
chấm dứt mối quan hệ hơn nhân của vợ chồng là Tịa án. Phán quyết cùa Tịa án được
chia ra làm hai hình thức là Bản án hoặc quyêt định. Nêu hai bên vợ chồng thuận tình ly
hơn thì tồ án cơng nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định. Nếu vợ chồng có
tranh chấp thì Tịa án ra phán quyết dưới dạng bàn án.
1.1.2.
Khái niệm ly hơn có yếu tổ nước ngồi
Với sự phát triển của xã hội ngày nay, sự giao lưu hợp tác giữa Việt Nam và các
quốc gia trên thế giới càng phong phú, mớ rộng trên nhiều phương diện, người Việt
Nam có nhu cầu làm việc, sinh sống và kết hơn với người nước ngồi và ngược lại.
Trong bối cảnh đó, mối quan hệ hơn nhân giữa những người khác quốc tịch và khác nơi
cư trú ngày càng phong phú, kết hơn giữa vợ hoặc chồng là người nước ngồi hoặc cả
02 vợ chồng đều là người nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam hiện nay khơng
cịn là điều mới mẻ. Tuy nhiên, cũng như các mối quan hệ hơn nhân thơng thường, họ
cũng có những vấn đề mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân như: Bất đồng về ngơn ngữ,
về quan điểm sống, về nét văn hóa, về truyền thống cúa mỗi dân tộc dẫn đến việc ly
hơn.
Ví dụ một số trường họp ly hơn như sau: Vợ người Việt Nam đăng ký kết hôn tại
Việt Nam với chồng người Đức và cùng chồng đi nước ngoài sinh sống, nhưng thời gian
sau cuộc sống vợ chồng không cịn hạnh phúc, thời điểm người vợ muốn ly hơn nhưng
khơng có mặt ở Việt Nam; trường hợp vợ người Việt Nam lấy chồng người Đức và họ
cùng sinh sống tại Việt Nam; hoặc 02 vợ chồng là người Đức đăng ký kết hôn tại Đức
nhưng họ đã sinh sống làm việc lâu dài tại Việt Nam; trường hợp ly hơn giữa 02 người
Việt Nam hoặc có một bên là người Việt Nam nhưng có tài sản là bất động sản tại Đức.
Quy định của pháp luật hiện hành hiện chưa có một định nghĩa chi tiết về ly hơn
có yếu tố nước ngồi. Tuy nhiên, nó được khái qt tại một số văn bàn pháp luật nhất
định:
Tại khoản 2 Điều 663 cùa BLDS năm 2015 quy định về quan hệ dân sự “cớ yếu
tố nước ngoài ” là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)
Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài.
b)
Các bên tham gia đêu là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc
xác lập, thay đối, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngồi.
c)
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối
tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngồi.
Bên cạnh quy định của BLDS năm 2015, thì luật chuyên ngành cũng nêu định
nghĩa này, cụ thể tại Điều 25 khoán 3 LHNGĐ năm 2014: “Quan hệ hơn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngồi là quan hệ hơn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngồi; Quan hệ hơn nhân và gia
đình giữa các bên tham gia là cơng dân Việt Nam nhưng căn cứ đề xác lập, thay đồi,
chấm dứt quan hệ đó theo quy định của pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài
hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngồi”
Bên cạnh đó, tại Điều 127 LHNGĐ năm 2014 cũng quy định như sau: “Việc ly
hôn giữa một bên vợ hoặc chồng là cơng dân Việt Nam, bên cịn lại là người nước
ngoài; hoặc cả hai bên vợ chồng đều là người nước ngoài nhưng họ đang thường trú tại
Việt Nam; việc ly hôn một bên vợ chồng là công dân Việt Nam nhưng không cư trú tại
Việt Nam tại thời điểm u cầu ly hơn thì áp dụng pháp luật theo nơi mà vợ chồng đang
cư trú, nếu họ khơng có nơi cư trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết;
việc ly hơn trong đó tài sản là bất động sản của vợ chồng ở nước ngoài, thì phải áp dụng
pháp luật cúa nơi có bất động sản đó khi giải quyết”
Như vậy, ly hơn có yếu tố nước ngồi là một khía cạnh của quan hệ dân sự nên
qua sự phân tích các khái niệm nêu trên, có thế hiểu: Ly hơn có yếu tổ nước ngoài là
chấm dứt quan hệ vợ chồng theo phán quyết của Tịa án, trong đó có ít nhất một bên
tham gia là người nước ngồi; hoặc giữa cơng dân Việt nam với nhau mà căn cứ để xác
lập, thay đối, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước
ngoài; hoặc tài sản liên quan đến việc ly hơn ở nước ngồi được các đương sự khởi kiện
tại Tòa án.
Do đó, giải qut ly hơn có u tơ nước ngồi tại Tịa án có những đặc điêm
khác biệt về quy định của pháp luật so với giải quyết những vụ việc ly hơn thơng
thường.
1.2.
Giải quyết ly hơn có yếu tố nưóc ngồi tại Tịa án
1.2.1.
Khái niệm, đặc điếm về giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi
1.2.1.1. Khái niệm về giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 cùa Bộ chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra: “Tổ chức các cơ quan Tư pháp và các chế định Tư
pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện phương tiện làm việc,
trong đó xác định Tịa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.
Tại Điều 2 Luật Tổ chức TAND quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tịa án nhân
dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bào vệ chế
độ xã hội chù nghĩa, bào vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tố
chức, cá nhân....Tòa án nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, hành chính”
Như vậy, Tịa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, trong đó bao gồm xét xử các vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi. Phán quyết của
Tịa mang tính bắt buộc thi hành và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước. Giải quyết
ly hơn tại Tịa án giữ vai trị quan trọng đồng thời cũng là biện pháp hữu hiệu nhất khi
các bên khơng cịn tiếng nói chung trong cuộc sống hơn nhân.
về mặt ngữ nghĩa, có thể hiểu cụm từ “giải quyết” có nghĩa là việc cá nhân hay
tổ chức có thẩm quyền sử dụng những biện pháp phù hợp theo quy định của pháp luật
để xử lý những tranh chấp cùa các bên đương sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho
bên xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhât định do
hành vi của họ gây ra. Đôi với tranh châp vê ly hơn có u tơ nước ngồi thì Tịa án là
co quan có thẩm quyền đưa ra phán quyết buộc các đương sự có nghĩa vụ chấp hành.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại
Tòa án là việc Tòa án tiến hành các bước tố tụng theo quy trình được pháp luật quy
định, thơng qua các bước tố tụng tại tòa án từ thụ lý đơn khởi kiện, cơng khai chứng cứ
hịa giải và mở phiên tòa xét xử cho đến khi ra phán quyết để chấm dứt mối quan hệ hôn
nhân giữa vợ, chồng. Phán quyết ly hơn của Tịa án thế hiện dưới hai hình thức: Bản án
hoặc quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hơn thỏa thuận với nhau giải quyết
được tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án (về tình cảm, con cái, tài sản, án phí) khi ly
hơn thì Tồ án cơng nhận việc ly hơn bằng quyết định. Ngược lại, nếu có tranh chấp thì
ra một bản án cho ly hơn.
1.2.1.2. Đặc điểm về giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
Giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi đặc biệt và phức tạp hơn giải quyết ly
hơn thơng thường, khi có “yếu tố nước ngồi”. Như vậy, để xác định có hay khơng có
“yếu tố nước ngồi” trong quan hệ ly hôn cần phải xác định được một trong các yếu tố
sau đây: Nơi cư trá và quốc tịch và nơi cư trú của các bên; sự kiện pháp lý làm căn cứ
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hơn nhân xảy ra ở nước ngồi; tài sản trong quan
hệ hơn nhân ở nước ngồi.
Thứ nhất, nơi cư trú và quốc tịch và của các bên đương sự
Quan hệ ly hơn được xem là có yếu tố nước ngồi khi có ít nhất một trong các
bên đương sự trong quan hệ này là người nước ngoài. Trước hết, cần phải tìm hiều các
định nghĩa về người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hiện nay ở Việt Nam, định nghĩa về người nước ngoài được quy định ở nhiều
văn bản pháp luật. Tại khoản 1 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú có
thể định nghĩa “Người nước ngồi” là người có giấy tờ xác định quốc tịch nước ngồi,
họ có thể là người Việt Nam nhưng đã nhập quốc tịch nước ngồi và người khơng quốc
tịch cư trú, nhập cảnh, xuất cảnh, q cảnh tại Việt Nam.
“Ọc tịch nước ngồi” là quôc tịch của một nước khác không phải là quôc tịch
Việt Nam. “Người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng
khơng có quốc tịch nước ngoài/2 3
2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, khoản 1,2 Điều 3
3 BLTTDS năm 2015, khoản 1, Điều 470
Như vậy, một cách tổng quát, có thể hiểu rằng “người nước ngoài” là những
người bao gồm người mang quốc tịch nước ngồi và người khơng quốc tịch hoặc mang
nhiều quốc tịch nhưng họ không mang quốc tịch Việt Nam; người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam. Người nước ngoài có thể cư trá trên hoặc ngồi lãnh thổ Việt Nam.
Đối với trường hợp ly hôn giữa các bên đương sự là người nước ngồi nhưng họ
có nơi thường trú tại Việt Nam thì được giải quyết tại tịa án cúa Việt Nam. Trong
trường hợp này, việc giải quyết ly hôn phải đảm bảo điều kiện cả hai người hoặc một
trong hai người cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Ngoài ra, nếu như các
đương yêu cầu ly hơn thì Tịa án Việt Nam cũng có thấm quyền giải quyết vụ án ly hôn
giữa người nước ngoài với nhau 121
Đối với trường hợp các bên trong quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi đều là
công dân Việt Nam đăng ký kết hôn tại Việt Nam, nhưng nếu họ đều cư trú ở nước
ngồi thì quan hệ này cũng được xác định là ly hôn có yếu tố nước ngồi.
Đối với trường hợp ly hơn mà một bên đương sự là người Việt Nam không cư trú
tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hơn thì việc giải quyết ly hơn tn theo pháp luật
của nước nơi thường trú chung cùa vợ chồng; nếu họ khơng có nơi thường trú chung thì
giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
Ví dụ: Các bên đương sự đều là người Việt Nam đăng ký kết hôn và cùng chung
sống tại Pháp thì nay muốn ly hơn họ có thế xin ly hôn tại Pháp, nếu vợ chồng không
cùng chung sống với nhau tại Pháp thì vợ (chồng) có thể xin ly hôn tại Viêt Nam.
Thứ hai, sự kiện pháp lý làm căn cú' xác lập, thay đôi, châm dứt quan hệ hơn
nhân xảy ra ở nước ngồi
Đối với trường hợp này, yếu tố về nơi cư trú và quốc tịch không được xem là yếu
tố quyết định, xét trong trường hợp các bên đương sự đều là người Việt Nam nhưng sự
kiện pháp lý làm căn cứ đế xác lập, thay đối, hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở
nước ngồi, thì xác định đó là quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi.
Theo đó, sự kiện pháp lý là những vụ việc xảy ra trong đời sống thực tế được
pháp luật dự liệu các hậu quả pháp lý nhất định.
Sự kiện làm phát sinh mối quan hệ hôn nhân diễn ra ở nước ngoài là những sự
kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm phát sinh
quan hệ hơn nhân. Ví dụ: Anh A và chị B là cơng dân Việt Nam, sinh sống, làm việc và
đăng ký kết hôn tại ở nước ngoài.
Sự kiện pháp lý làm căn cứ thay đối mối quan hệ hôn nhân diễn ra ở nước ngoài
là những sự kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì
làm thay đổi quan hệ pháp luật hơn nhân.
Sự kiện pháp lý làm căn cứ chấm dứt quan hệ pháp hơn nhân diễn ra ở nước
ngồi là những sự kiện thực tế do pháp luật quy định mà khi xuất hiện những sự kiện đó
thì làm chấm dứt quan hệ hơn nhân. Ví dụ: Anh A và chị B đăng ký kết hơn tại nước
ngồi, khi những người này muốn thay đồi trạng thái đó thì quan hệ này sẽ chấm dứt
theo phán quyết của tồ án cho ly hơn.
Thứ ba, tài sản trong quan hệ ly hôn ở nước ngồi
Trong trường hợp ly hơn mà các đương sự đều là người Việt Nam hoặc một bên
là người Việt Nam một bên là người nước ngoài nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngồi
thì khi ly hơn mà đương sự có tranh chấp các bất động sản đó, việc giải quyết sẽ áp
dụng theo pháp luật nơi có bất động sản.
Điều 107 của BLDS năm 2015 quy định: “Bất động sản bao gồm đất đai, nhà ở,
cơng trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, cơng
trình xây dựng đó; các tài sản khác găn liên với đât đai; các tài sản khác do pháp luật
quy định ”
Khi giải quyết ly hơn mà các đương sự có tranh chấp về bất động sản ở nước
ngồi thì quan hệ ly hơn này cũng được xác định là ly hơn có yếu tố nước ngồi.
Như vậy từ những phân tích trên, đê xác định một quan lệ ly hơn có phải là quan
hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi cần xét đến một trong ba yếu tố đã nêu trên, nếu thỏa
mãn điều kiện đối với một yếu tố thì đã đủ cơ sở xác định quan hệ ly hơn đó “có yếu tố
nước ngồi”, khơng xét đến các yếu tố cịn lại.
ĩ.2.2. Cơ sở pháp lý vê giải quyêt ly hôn có u tơ nước ngồi tại Tịa án
Để giải quyết quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi khơng chi áp dụng hệ thống
pháp luật quốc gia là đú, mà còn phải áp dụng nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như
Điều ước và tập quán quốc tế v.v... vì mối quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi có liên
quan đến nơi cư trú, quốc tịch của đương sự, về nơi có bất động sản của vợ chồng không
nằm trên lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chì đề cập các quy định của pháp luật về thấm
quyền, trình tự, thủ tục tố tụng mà không đề cập đến quan hệ tài sản ở nước ngồi và
con cái. Do đó, cần phải xác định pháp luật áp dụng là hệ thống pháp luật quốc gia. Bên
cạnh đó, khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi, Tịa án cũng có thể xem xét áp
dụng Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tập quán quốc tế nhưng áp dụng
pháp luật quốc gia vẫn là chủ đạo.
Thứ nhât, pháp luật quôc gia
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất áp dụng khi giải quyết ly hơn có yếu tố
nước ngồi tại Tịa án. Trong đó, Hiến pháp là văn bản có giá trị cao nhất, quy định các
quyền cơ bản nhất của con người về quan hệ hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 36 Hiến pháp 2013: “Nam, nữ có quyển kết hơn, ly hơn. Hơn nhân theo
ngun tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tơn trọng lẫn
nhau. Nhà nước báo hộ hơn nhân và gia đình, báo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em
Trên cơ đó, các văn bản đã cụ thê hóa các nguyên tăc này trong quan hệ hôn nhân.
Trong giải quyết ly hôn chúng ta bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc hiến định này.
Ngoài ra, các văn bản pháp luật khác cũng là nguồn quan trọng như: Vãn bản
luật; văn bản dưới luật là các nghị định của Chính phủ, thơng tư, cơng văn của các bộ,
ban, ngành ban hành ....v.v
Các văn bản luật gồm: BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015; LHNGĐ năm
2014, Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh năm 2014, Luật quốc tịch Việt Nam năm
2014...v.v
Các văn bản dưới luật gồm: Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành luật hơn nhân và gia đình năm 2014; TTLT số: 01/2016
hướng dẫn thi hành một số điều của luật hôn nhân và gia đình; TTLT số 12/2016 ngày
19 tháng 10 năm 2016; TTLT số: 01/2019 ngày 05 tháng 12 năm 2019; các ĐUQT mà
Việt Nam là thành viên; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018;
Công văn số 33/TAND ngày 17 tháng 3 năm 2021; Công văn 64/TANDTC ngày 09
tháng 6 năm 2021; Công văn số 33/TANDTC ngày 21 tháng 02 năm 2017.
Bên cạnh đó, Luật HNGĐ năm 2014 đã quy định luật áp dụng để giải quyết quan
hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi, tùy từng trường hợp cụ thể trong thực tế mà chọn luật
áp dụng giải quyết cho phù hợp. Theo Điều 127 Luật HNGĐ 2014, việc áp dụng pháp
luật đề giải quyết quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi được quy định như sau:
Một là, việc ly hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài, giữa người nước
ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam thì sử dụng LHNGĐ của Việt Nam. Những điều
luật về ly hơn có yếu tố nước ngoài liên quan đến vấn đề này được xác định theo các
điều từ Điều 51 đến Điều 64 của LHNGĐ năm 2014.
Hai là, đương sự là người Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời
điểm yêu cầu ly hơn thì việc giải quyết ly hơn thì áp dụng pháp luật của nước nơi vợ
chồng thường trú; trường hợp nếu khơng cư trú cùng nơi thì theo pháp luật Việt
Nam.
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng áp dụng đê giải qut ly hơn có
yếu tố nước ngồi. Mặc dù, có nhiều nguồn pháp luật nhưng các quy định của pháp luật
vẫn chưa đáp ứng được với thực tiễn các tranh chấp xảy ra trên thực tế. Do đó, bên cạnh
việc xây dựng hệ thống pháp luật trong nước còn phải tham gia ký kết các HĐTTTP để
tăng cường cơ sở pháp lý nhằm giải quyết các quan hệ hơn nhân gia đình có yếu tố nước
ngoài kịp thời, đồng thời giúp củng cố và tăng cường các mối quan hệ hữu nghị giữa các
nước trên thế giới.
Thứ hai, Điều ước quốc tế
Quy định tại khoản 1 Điều 122 LHNGĐ năm 2014: Trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chú nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy
định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế. Giải quyết xung đột pháp
luật về ly hơn có yếu tố nước ngồi được đề cập trong các HĐTTTP mà Việt Nam kí
kết. Theo các hiệp định, vấn đề ly hôn giữa công dân các nước kí kết được xác định theo
nguyên tắc:
Nếu hai vợ chồng có cùng quốc tịch thì luật áp dụng để giải quyết ly hôn là luật
quốc tịch của cả hai vợ chồng.
Nếu hai vợ chồng khác quốc tịch thi cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nào
nhận đơn thì theo quy định của nước đó (Khoản 2 Điều 25 Hiệp định với Liên bang
Nga, Khoản 1, 2 Điều 25 Hiệp định với Cu ba, Điều 33 Hiệp định với Hungary, Khoản
1, 2 Hiệp định với Bungari)
Hiện nay, các Hiệp định/Thỏa thuận nêu trên được đăng tải tại Trang tin tương
trợ tư pháp theo từng lĩnh vực cụ thể tại địa chi sau: />webcenter/portal/tttp/home.
Thứ ba, Tập quán quốc tế
Tập quán quôc tê là những quy tăc xử sự được hình thành trong một thời gian
dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được thừa nhận cùa
đông đảo các quốc gia. Khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi thì tập quán quốc tế
thường áp dụng trong trường họp các văn bản pháp luật trong nước, ĐƯỌT mà chúng ta
ký kết hoặc gia nhập hoặc thành viên không quy định, nhưng việc áp dụng này cũng
không được trái với pháp luật trong nước.
Quy định tại Điều 666 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Các bên được lựa chọn
tập quán quốc tế trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 664 của Bộ luật này. Nếu
hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng”. Việc áp dụng tập quán quốc tế để
giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi cịn mang tính lý thuyết, chưa được vận dụng
nhiều vào thực tiễn.
1.2.3. Khái quát quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết ly hơn có yếu tố
nước ngồi tại Tịa án
Tịa án giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi theo những trình tự, thủ tục mà
BLTTDS năm 2015 quy định, dựa trên nguyên tắc vừa bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp
của các đương sự đồng thời đảm bảo thực hiện đúng chính sách, đường lối chủ trương
của Đảng và nhà nước, bảo đảm sự bang giao, hợp tác phát triển toàn diện giữa Việt
Nam và các nước trên thế giới.
BLTTDS năm 2015 dành hẳn phần riêng (phần VIII), để quy định chung về quy
trình tố tụng vụ việc dân sự có yếu tố nước ngồi; đồng thời được cụ thể hóa tại
LHNGĐ năm 2014, cũng dành một chương (chương VIII) quy định quan hệ hôn nhân
“có yếu tố nước ngồi”, cụ thể như sau:
1.2.3.1.
Thâm giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
Quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi là một phạm trù cúa quan hệ dân sự, do đó
thẩm quyền giải quyết được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tổ tụng dân sự. Do đó,
tại khoản 2 Điều 123 LHNGĐ năm 2014 quy định: “Thẩm quyền giải quyết
các vụ việc hơn nhân và gia đình có u tơ nước ngồi tại Tịa án được thực hiện theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự”
Một là, thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam khi giải quyết ly hơn có yếu
tố nước ngồi
Thẩm quyền chung được hiểu là việc Tịa án Việt Nam và cơ quan có thẩm
quyền nước ngồi đều có quyền giải quyết vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi, việc quy
định này tạo điều kiện thuận lợi cho người khởi kiện lựa chọn Tịa án có thể bảo vệ
quyền lợi của mình.
Tại điểm d khoản 1 Điều 469 quy định: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đom hoặc bị
đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài tại Việt Nam”
Các quy định tại Chương III BLTTDS năm 2015 quy định về cụ thể để xác định
thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn cúa nguyên đom,
thẩm quyền của Tòa án các cấp, chuyển chuyển vụ án cho Tịa án có thấm quyền.
Theo đó, thấm quyền giải quyết vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi được phân
cấp thành thẩm quyền thuộc Tịa án cấp tỉnh và Tịa án cấp huyện.
Vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp
tỉnh là những tranh chấp về ly hôn mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngồi hoặc cần
phải ƯTTP cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngồi, cơ quan có thấm quyền
của nước ngoài được quy định tại Điều 123 của LHNGĐ năm 2014 và khoản 3 Điều 35,
điềm c khoản 1 Điều 37 của BLTTDS năm 2015.
Có thể khái quát rằng đương sự ở nước ngồi là cá nhân khơng phân biệt là
người nước ngồi hay người Việt Nam mà khơng có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà
án thụ lý vụ án ly hôn; đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, cơng tác ở
nước ngồi hoặc người nước ngồi khơng ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn
khởi kiện ly hôn tại Toà án.
Cân UTTP cho cơ quan đại diện của Việt Nam, cho cơ quan có thâm quyên nước
ngồi: Là trường hợp trong q trình giải quyết vụ án ly hôn cần phải tiến hành các hoạt
động tố tụng ở nước ngồi mà Tồ án Việt Nam khơng thể thực hiện được, cần phải yêu
cầu cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị cơ quan có
thẩm quyền của nước ngồi thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
Vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi thuộc thẩm quyền của TAND huyện, thì tịa
án cấp huyện nơi cư trú của người Việt Nam yêu cầu giải quyết ly hôn ở khu vực biên
giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam
theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Khu vực biên
giới quy định ở khoản 3 Điều 123 của LHNGĐ năm 2014 nêu trên là các xã, phường, thị
trấn giáp biên giới. Hiện tại cần xác định theo danh sách các xã, phường, thị trấn thuộc
khu vực biên giới đất liền kèm theo Thông tư 179/2001/TT- BQP ngày 22/01/2001 của
Bộ Quốc phòng. Theo danh sách này thì có 400 đơn vị cấp xã thuộc 93 huyện của 23
tỉnh biên giới đất liền.
Ví dụ: Vợ người Việt Nam, chồng người Campuchia, cùng sinh sống tại xã Tân
Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (xã Tân Bình thuộc khu vực biên giới theo Thơng
tư 179 trên) thì vợ người Việt Nam khởi kiện tại Tòa án nhân huyện Tan Biên đê giải
quyêt ly hôn.
Sau khi phân định thẩm quyền thuộc Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện, tiếp
theo cần phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, nghĩa là xác định tịa án có thẩm quyền
giải quyết là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc các bên có thể thỏa thuận với nhau
lựa chọn nơi làm việc, cư trú của nguyên đơn nhưng phải lập thành bằng văn bản. Thẩm
quyền của Tòa án theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn, được quy định tại các
Điều 39, Điều 40 của BLTTDS năm 2015.
Hai là, thẩm quyền riêng hiệt của Tòa án Việt Nam khỉ giải quyết ly hơn có
yếu tố nước ngồi
Tại điêm b khoản 1 Điêu 470 của BLTTDS năm 2015 quy định: “Vụ án ly hôn
giữa công dân Việt Nam và người nước ngồi hoặc người khơng quốc tịch, nếu cả hai vợ
chồng cùng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam”
“Thẩm quyền riêng biệt’’ được hiểu là chỉ Tịa án Việt Nam mới có thẩm quyền
giải quyết khi phát sinh những điều kiện nêu trên, những vụ việc ly hơn thuộc thẩm
quyền riêng biệt thì nếu Tịa án nước ngồi có giải quyết thì phán quyết của họ cũng
không được công nhận giá trị pháp lý tại Việt Nam.
Ba là, chuyến vụ án cho Tòa án khác khi giải quyết ly hơn có yếu tố nước
ngồi
Sau khi Tịa án vào sơ thụ lý vụ án thì mới biêt khơng thuộc thâm qun, thì
Điều 41 BLTTDS năm 2015 đã có quy định cụ thể việc xử lý trường hợp thụ lý sai thẩm
quyền; theo đó Tịa án đã thụ lý sẽ ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tịa án có thẩm
quyền, đồng thời xóa sổ thụ lý mà không được tiếp tục giải quyết.
Bốn là, trường hợp khơng thay đồi thẩm quyền của Tịa án Việt Nam khi giải
quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi
Trường hợp Tịa án thụ lý theo thấm quyền nhưng trong q trình đó có sự thay
đổi về các yếu tố như nơi cư trú hoặc quốc tịch của các đương sự thì Tịa án đó vẫn giải
quyết, Điều 471 BLTTDS năm 2015 quy định về trường hợp không thay đổi thẩm quyền
này, điều này cũng hợp lý bởi lẽ việc thay đổi các điều kiện về thẩm quyền sau khi tòa
án thụ lý là yếu tố khách quan.
Các quy định về thẩm quyền của Tịa án đã phân tích ở phần trên cho thấy được
quyền tài phán của Tòa án được nâng cao, mở rộng hơn, điều này là phù hợp với xu thế
phát triển của xã hội. Tuy nhiên, các quy định vẫn còn khiếm khuyết, cần được tiếp tục
xây dựng để hoàn thiện về thẩm quyền giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi của Tịa
án Việt Nam.
1.2.3.2.
Trình tự, thủ tục giải qut ly hơn có u tơ nước ngồi tại Tịa án cấp
sơ thẩm
Tương tự như giải quyết các vụ án khác, trình tự, thủ tục giải quyết ly hơn có yếu
tổ nước ngồi tại Tịa án cấp sơ thẩm theo một trình tự nhất định, gồm các giai đoạn:
Khởi kiện và thụ lý vụ án, hòa giái và chuẩn bị xét xứ, phiên tòa sơ thấm và thủ tục sau
phiên tòa. Hiện nay, theo quy định mới tại Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020
thì trước khi Tịa án thụ lý vụ án ly hơn có yếu tổ nước ngồi, điều kiện cần là phái qua
bước tiền tố tụng “Hòa giải” trước khi thụ lý.
Thứ nhất, khởi kiện và thụ lý vụ án ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
Quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án được cụ thể hóa tại chương XII của
BLTTDS năm 2015, cụ thể như sau:
về hình thức đơn khởi kiện: Đơn khởi kiện vụ án ly hơn có yếu tố nước ngoài
phải được lập thành văn bản, về nội dung và hình thức thì tuân theo quy định tại Điều
189 BLTTDS năm 2015.
Các bên đương sự khởi kiện ly hơn (có thế là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ
chồng) thì phải làm đơn và do chính mình ký vào đơn khởi kiện, do chính mình hoặc
nhờ người khác (là đại diện họp pháp) nộp đơn tại Tòa án.
Đơn khởi kiện và các giấy tờ tài liệu kèm theo (Giấy chứng nhận đăng ký kết
hôn, tài liệu xác định họ tên, địa chỉ của đương sự ở nước ngoài...) thể hiện bằng ngơn
ngữ tiếng Việt, nếu là tiếng nước ngồi phải được dịch ra tiếng Việt có cơng chứng,
chứng thực hợp pháp; nếu một bên ở nước ngồi thì các tài liệu liên quan phải được hợp
pháp hóa lãnh sự 4; nếu cơng dân Việt Nam đang ở nước ngồi thì phải được xác nhận
của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam.
Ví dụ: Người Việt Nam ở tại Nhật Bản, u câu ly hơn với người Việt Nam thì
đơn khởi kiện và các bản tự khai, giấy chứng nhận kết hôn, giấy tờ tùy thân của họ v.v...
4 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014, Điều 124 “Hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu là những giấy tờ
do cơ quan có thẩm quyền nước ngồi lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giãi quyết các vụ việc hơn nhân và gia
đình, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo
nguyên tắc có đi có lại”