Tải bản đầy đủ (.docx) (115 trang)

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện ba tri tỉnh bến tre

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 115 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ - LUẬT

NGUYÊN VĂN THĂM

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH TIẾP TỤC
THAM GIA BẢO HIẾM XÃ HỘI Tự NGUYỆN TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BA TRI TỈNH BÉN TRE

Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340Ỉ0Ỉ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HẢI QUANG

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp
tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre” chính là
cơng trình nghiên cứu của tôi . Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác

TÁC GIẢ

NGUYỄN VĂN THÀM


••


11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASXH: An sinh xã hội
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiềm y tế
EFA (Exploration Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
UBND: ủy ban nhân dân
NLĐ: Người lao động
SPSS: (Statistical Package for Social Sciences): Phần mềm xử lý thống kê dùng
trong các ngành khoa học xã hội


•••
ill

DANH MỤC CAC BANG

iv


DANH MỤC CAC HINH


vi
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC

MỤC LỤC......................................................................................................................
CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN VỀ NGHIÊN cúu

1.1......................................................................................................................................
2.1.1.1..............................................................................................................................
1.2
vil• •

2.1.1.2..............................................................................................................................
2.1.1.3.................................................................................................................................
2.1.1.4• • •
2.1.1.5vili

1.3.1.1Thái độ của người lao động ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham gia
BHXH tự
2.1.1.6............................................................................................................................


5.3.1.................................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢƠ
PHỤ LỤC


8

CHƯƠNG 1
TÔNG QUAN VÈ NGHIÊN cứu
1.1

Lý do chọn đề tài
Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập sâu vào

nền kinh tế thế giới thì hệ thống an sinh xã hội nhất là bảo hiểm xã hội phải được phát

triến và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu cua người dân. Bảo đảm nhu cầu về an sinh xã hội,
là mục tiêu thề hiện tính ưu việt của xã hội văn minh, phù hợp với xu thế chung của
cộng đồng quốc tế. Mặt khác, mức độ đảm bảo quyền an sinh là một tiêu chí rất quan
trọng đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia. Bên cạnh việc ban hành các chính
sách thúc đẩy sản xuất kinh doanh, Nhà nước luôn coi trọng thực hiện các chính sách xã
hội đối với người lao động.
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách quan trọng
trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới. Nó là một trong
những cơng cụ hữu ích của nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, ổn
định và công bằng trong quản lý kinh tế vĩ mô. Ớ Việt Nam, Đảng và Nhà nước hết sức
quan tâm tới lĩnh vực an sinh xã hội nói chung và lĩnh vực BHXH nói riêng. Các chính
sách BHXH ln được đổi mới phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
góp phần đảm bảo đời sống của người lao động, ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát
triển.
Chính sách BHXH góp phần đảm bảo về mặt thu nhập cho người lao động, khi
họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động. Chính sách BHXH cũng có tác dụng
động viên cơng nhân, viên chức, quân nhân và người lao động thuộc các thành phần
kinh tế khác yên tâm công tác sản xuất, chiến đấu góp phần thắng lợi vào cơng cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
Luật Bảo hiểm xã hội ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007. Chế độ bảo hiếm
xã hội tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Người lao động ở mọi khu vực có quyền
lợi trong tham gia bảo hiểm xã hội và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội. Việc triển
khai bào hiểm xã hội tự nguyện rất thuận lợi giúp người lao động có thể tiêp cận đê


9

tham gia. Tuy nhiên cho đên nay theo sô liệu tơng hợp thu tại BHXH tỉnh Ben Tre thì sổ
lượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn rất thấp, chưa đáp ứng
được nhu cầu cùa ngành BHXH nói chung và BHXH tỉnh Ben Tre nói riêng.

Tại huyện Ba Tri, từ khi triển khai thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện năm
2007, tính đến cuối năm 2018 huyện Ba Tri có 395 người tham gia (Theo báo cáo tổng
hợp thu - BHXH huyện Ba Tri), chủ yếu những người đã có thời gian cơng tác tham gia
bảo hiếm xã hội bắt buộc muốn đóng thêm để đù điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Số này
còn quá thấp so với tiềm năng và kỳ vọng của ngành chức năng. Nguyên nhân liên quan
đến nhiều vấn đề như trình độ học vấn, nhận thức xã hội, việc làm bấp bênh, thu nhập
thấp. Từ đó người dân chưa xem bảo hiềm xã hội là một nhu cầu cấp thiết.
Mặt khác, với chính sách xã hội mới, khuyến khích tính tự nguyện cùa tất cá các
đối tượng tham gia bảo hiếm xã hội trong khi chưa quen với việc tích lũy, tiết kiệm, dự
phịng cho tương lai. Ngồi ra, công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động nhân dân tham
gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của ngành cũng là một yếu tố quan trọng. Chính vì vậy,
việc tìm hiểu yếu tổ ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện
của người lao động cần thiết và quan trọng đế làm cơ sở ban hành và thực thi chính
sách. Đó là lý do thực hiện đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng ý định tiếp tục tham gia bảo
hiếm xã hội tự nguyện tại huyện Ba Tri tỉnh Ben Tre”.
1.2

Tổng quan các nghiên cún có liên quan
Theo Lin (2006) nghiên cứu xác định nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia

bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Trung Quốc là “nhận thức về tính an sinh xã hội khi tham
gia bảo hiểm xã hội tự nguyện” và “hiểu biết về bảo hiểm xã hội tự nguyện”.
Min-Sun Homg & Yung-Wang Chang (2007), chứng minh rằng nhân tố “thu
nhập” có ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Tại Việt Nam có các nghiên cứu như:


Trân Qc Tồn & Lê Trường Giang (2001), nghiên cứu giải pháp thực hiện bảo
hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động thuộc khu vực nông, ngư và tiểu thủ cơng
nghiệp trên địa bàn cả nước. Cơng trình có ý nghĩa khoa học và xã hội rất lớn, phù hợp

với xu thế mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, cụ thể tác giả xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện như đặc điếm lao
động và tiêu thụ sản phấm làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu, xây
dựng cơ chế, chính sách.
Đặng Thị Ngọc Diễm (2010), nghiên cứu về các yếu tố tác động đến việc tiếp
cận và sử dụng bảo hiềm y tế tự nguyện của người dân nông thôn hiện nay. Tác giả
khẳng định vai trò của yếu tố tâm lý của người dân tác động đến việc tiếp cận và tham
gia BHYT tự nguyện. Nếu người dân được ngành bảo hiềm xã hội, cơ sở y tế và chính
quyền địa phương quan tâm cung cấp đầy đủ thơng tin, nắm rõ các chế độ quy định về
chi trả BHYT thì rất có thể họ sẽ tham gia mua bảo hiểm này tích cực hơn.
Lưu Thị Thu Thủy (2011), tác giả kết luận rằng phần đông người lao động mong
muốn tham gia bảo hiểm xã hội. bảo hiểm y tế tự nguyện nhưng khơng thể tham gia vì
điều kiện tài chính của họ. Khả năng tham gia cịn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình
độ học vấn, tính chất nghề nghiệp, hình thức làm việc, hiểu biết, thu nhập và mức độ ổn
định về thu nhập.
Nguyễn Xuân Cường et al (2014) nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sự
quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động buôn bán nhỏ lẻ tại
tỉnh Nghệ An. Kết quà nghiên cứu chỉ ra rằng có 7 biến tác động có ý nghĩa thống kê lên
sự quan tâm tham gia báo hiềm xã hội tự nguyện với tầm quan trọng lần lượt là: Tuyên
truyền về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Ý thức sức khỏe, Kiến thức về bảo hiểm xã hội tự
nguyện, Thái độ, Kỳ vọng gia đình, Trách nhiệm đạo lý và Kiểm soát hành vi. Từ đây,
tác giả đề xuất các hàm ý ứng dụng nhằm gia tăng sự quan tâm của những người buôn
bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đối với bảo hiếm xã hội tự nguyện.


Nguyên Tiên Dũng et al (2015), nghiên cứu tiên hành xác định các yêu tô ảnh
hưởng đến ý định mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện của cư dân Thành Phố Hồ Chí Minh.
Bảo hiềm hưu trí tự nguyện là sản phấm mới giúp đảm bảo thu nhập cùa người hưu trí
và giảm áp lực ngân sách. Mơ hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi hoạch định
của Ajzen và xét thêm hai yếu tố tâm lý là tính phịng xa và mức độ chấp nhận rúi ro tài

chính. Phương pháp PLS-SEM được dùng đế phân tích dữ liệu khảo sát trên địa bàn
Thành Phố Hồ Chí Minh với kích thước mẫu 323. Kết quả nghiên cứu đã xác định các
yếu tố tác động đến ý định mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Trong đó, thái độ đổi với
việc mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, chuẩn chủ quan, kiểm sốt hành vi cám nhận, tính
phịng xa có tác động tích cực và mức độ chấp nhận rúi ro tài chính tác động tiêu cực
đến ý định.
Hồng Thu thủy & Bùi Hoàng Minh Thư (2018), nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Tác
giả khẳng định 5 biển: “ Hiểu biết về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thái độ với
việc tham gia, Cảm nhận rủi ro, Thú tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Trách
nhiệm đạo lý” có yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của
nông dân.
Qua nghiên cứu tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy cũng
đã có một số nghiên cứu liên quan đến Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham
gia bảo hiếm xã hội, các nghiên cứu này giúp luận văn bố sung thêm cơ sở lý thuyết và
làm cơ sở xây dựng mơ hình nghiên cứu. Mặt khác qua nghiên cứu cho thây chưa có
nghiên cứu nào tại tỉnh Bến Tre. Đây chính là khoảng trống cho đề tài. Vì vậy đề tài sẽ
nghiên cứu Các yếu tổ ảnh hưởng đến ý định tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện của người lao động tại địa bàn huyện Ba Tri tinh Ben Tre
1.3
1.3.1

Mục tiêu nghiên cún
Mục tiêu chung
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội

tự nguyện của người lao động tại huyện Ba Tri.


1.3.2Mục tiêu cụ thể

Xác định các yếu tố ảnh hưởng ý định tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện của người lao động tại huyện Ba Tri.
Đo lường tác động của các yêu tô ảnh hưởng ý định tiêp tục tham gia bảo hiêm
xã hội tự nguyện của người lao động tại huyện Ba Tri
Xác định mức độ ảnh hưởng ý định tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
và đề xuất kiến nghị nhằm phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại
huyện Ba Tri.
1.4

Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào tác động và ảnh hưởng ý định tham tiếp tục gia bảo hiểm xã

hội tự nguyện của người lao động tại huyện Ba Tri?
Để tăng số lượng đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại huyện Ba
Tri thì cần có những giải pháp gì?
1.5

Đơi tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1

Đôi tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Bảo hiềm xã hội tự nguyện của người lao động tại huyện
Ba Tri.
Đối tượng khảo sát: Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện
tại huyện Ba Tri.
1.5.2

Phạm vi nghiên cứu


Không gian: Đồ tài được thực hiện trên cơ sở thu thập các thông tin thông qua
phiếu khảo sát người lao động trên địa bàn huyện Ba Tri.
Thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến
năm 2018 và nguồn tài liệu sơ cấp điều tra người lao động được thực hiện trong năm
2019.


Nội dung: Đề tài là tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng quyết định tham
gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện Ba Tri.
1.6

Phương pháp nghiên cún
Nghiên cứu sơ bộ định tính:
Sử dụng phương pháp thảo luận tay đơi và phương pháp thảo luận nhóm giúp

cho việc xây dựng các biến tiềm ẩn (Latent Variable), biến quan sát (Observed Variable)
làm cơ sở cho việc hình thành bảng câu hởi và thiết kế mơ hình nghiên.
Nghiên cứu định lượng:
Được tiến hành thơng qua bảng câu hởi khảo sát chính thức. Kết quả khảo sát sẽ
được mã hóa và xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê chuyên ngành (SPSS). Thang đo
được đánh giá sơ bộ qua hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá
EFA. Tiếp theo, kiểm định sự phù hợp của mơ hình nghiên cứu thơng qua phân tích hồi
tuyến tính, ANOVA.
1.7

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Kết quá khảo sát và nghiên cứu trong đề tài này, để NLĐ có ý định tiếp tục tham

gia BHXH tự nguyện thì cần có những giải pháp phù họp, hiệu quả, thiết thực phát triển

và nâng cao vai trò của các yếu tố ảnh hưởng như đã nêu trên cụ thể:
Đối với yếu tố “ Thái độ” cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, mình vì mọi người,
mọi người vì mình vì mục đích chung là an sinh xã hội.
Đối với nhân tố “truyền thông” cần phát triển, nâng cao chất lượng các hình thức
truyền thơng (kênh truyền thông).
Đối với nhân tố “Ảnh hường xã hội” cần hồ trợ kinh tế để cải thiện thu nhập, ổn
định cuộc sống NLĐ từ đó họ có cơ hội được gia nhập vào lưới ASXH.
Đối với các nhân tố “Nhận thức về tính ASXH của BHXH tự nguyện”, “Thái
độ” cần nâng cao nhận thức của NLĐ thông qua tăng cường công tác tuyên truyền về
BHXH tự nguyện.


Đôi với nhân tô “Hiêu biêt vê BHXH tự nguyện” vê mặt luật pháp là hồn thiện
chính sách pháp luật về chế độ BHXH tự nguyện.
1.8

Kết cấu đề tài nghiên cún
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mơ hình nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị


CHƯƠNG 2
CO SỞ LÝ THUYẾT VÀ MƠ HÌNH NGHIÊN cứu
2.1

Lý thuyết về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện


2.1.1

An sinh xã hội

2.1.1.1

Khái niệm về an sinh xã hội

Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): An sinh xã hội (ASXH) là
hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thơng qua một số
biện pháp được áp dụng rộng rãi đế đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh
tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sàn, thương
tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho
các gia đình nạn nhân có trẻ em.
Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách
cơng liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ khơng chỉ
có cơng nhân. Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm
sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phịng chống
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội.
Ớ Việt Nam: An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bàng các
biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong
cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, thất nghiệp, thương tật, tuối già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và
trợ cấp cho các gia đình đơng con.
Dựa trên cơ sở những quan niệm cùa các nghiên cứu trên, chúng ta có thể hiếu
ASXH là sự báo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với những người “Yếu
thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhàm hồ trợ cho các đối tượng khi họ bị
suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc là bị rủi ro, bất hạnh, hoặc là trong
tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề



nghiệp, thât nghiệp, mât sức lao động, già yêu... động viên, khuyên khích tự lực vươn
lên giái quyết vấn đề của chính họ.
2.1. ỉ.2 Bản chất của An sinh xã hội
Bản chất cùa ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả
các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã
hội khác. Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản cua Nhà nước nhằm thực
hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và
cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã
hội và nhân văn sâu sắc, vì con người, vì sự tiến bộ và cơng bằng xã hội.
2.7.1.3 Vai trị của An sinh xã hội
Khi đánh giá về vai trò cua ASXH, Ngân hàng Thế giới cho rằng, một hệ thống
ASXH được thiết kế tốt sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mồi quốc gia.
Thông qua hệ thống ASXH, Nhà nước tiến hành phân phối lại thu nhập cho người
nghèo và những người dễ bị tổn thương, nhanh chóng tác động lên nghèo đói và bất
bình đẳng xã hội. Trên cơ sở phân tích vị trí của ASXH trong hệ thống chính sách kinh
tế - xã hội, chúng tơi cho rằng ASXH có những vai trị cơ bản sau:
r
a. Đôi vol xa hội



Hệ thống ASXH là một trong những cấu phần quan trọng trong các chương trình
xã hội cùa một quốc gia và là công cụ quản lý của nhà nước thơng qua hệ thống luật
pháp, chính sách và các chương trình ASXH. Mục đích của nó là giữ gìn sự ồn định về
xã hội - kinh tế - chính trị cùa đất nước, đặc biệt là ồn định xã hội, giảm bất bình đẳng,
phân hố giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các
nhóm xã hội trong q trình phát triển.
ASXH còn là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách xã hội. Nó
hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân, bảo vệ giá trị cơ bản và là thước

đo trình độ phát triển cùa một nước trong quá trình phát triển và hội nhập


ASXH là nên tảng phát triên kinh tê - xã hội của đât nước. Thông qua việc áp
dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng
kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH có thể được coi như là một giá đỡ đảm bảo thu nhập
cho người dân.
Hệ thống chính sách ASXH được thiết kế trên cơ sở các nguyên tắc cơng bằng,
đồn kết ở các mức độ khác nhau còn thể hiện giá trị và định hướng phát triển của một
quốc gia. Cách thức thiết kế hệ thống ASXH chính là sự thể hiện mơ hình phát triển xã
hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con người.
Hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thơng
qua việc "điều hồ” các "mâu thuẫn xã hội", đàm bảo xã hội khơng có sự loại trừ, điều
tiết tốt hơn và hạn chế các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và bất ổn định xã hội.
Nhà nước thơng qua chính sách ASXH để cân đối, điều chỉnh nguồn lực cho các
vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hịa, giảm bót sự chênh lệch
giữa các vùng; mở rộng chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hạn chế bất
bình đắng giữa các nhóm dân cư.
Thơng qua việc hoạch định và thực hiện chính sách ASXH, cho phép các Chính
phú tiến hành lựa chọn mục tiêu tăng trưởng hiệu quả và bền vững. Một hệ thống ASXH
lâu dài, đầy đủ có thể thực hiện mọi mục tiêu tái phân phối của xã hội, giải phóng các
nguồn lực trong dân cư.
b. Đối vói các gia đình
Nếu một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho các gia
đình đầu tư tốt hơn cho tương lai. Trong vai trò này, hệ thống ASXH cơ bản là khắc
phục các rúi ro trong tương lai, cho phép các gia đình tiếp cận đến được các cơ hội để
phát triển.


Hệ thơng ASXH cịn góp phân hơ trợ cho các gia đình quản lý được rủi ro.

Thơng qua các chương trình ASXH, ít nhất nó cũng giúp cho các gia đình đương đầu
được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống.
ASXH còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa chọn sinh kế
để phát triển. Như vậy, hệ thống ASXH vừa bảo vệ cho các thành viên trong xã hội vừa
nâng cao khả năng tồn tại độc lập của họ trong cuộc sống.
2.1.2

Bảo hiếm xã hội tự nguyện
2.1.2. ĩ Khái niệm
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, lựa

chọn mức đóng và phương thức đóng (phù hợp với thu nhập của người tham gia) để
hưởng bảo hiếm xã hội. Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2006) quy định BHXH tự
nguyện bao gồm hai chế độ hưu trí và tử tuất.
2.7.2.2

Đối tượng, phương thức đóng và mức đóng BHXH tự nguyện

Đối tượng tham gia: Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ
đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.
Phương thức đóng: Người tham gia BHXH tự nguyện được chọn đóng hằng
tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng hoặc một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5
năm 1 lần. Người tham gia BHXH tự nguyện được thay đổi phương thức đóng hoặc
mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện sau khi thực hiện xong phương
thức đóng đã chọn trước đó.
Mức đóng hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH
tự nguyện lựa chọn.
2.1.2.3

Quyền lọi khi tham gia


Người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng các chế độ như: Lương hưu và
Bảo hiểm y tế, điều chinh lương hưu, hưởng trợ cấp 1 lần khi nghi hưu, trợ cấp BHXH 1
lần, chế độ mai táng phí và trợ cấp tuất một lần.


2.2

Lý thuyết về hành vi ngưòi tiêu dùng

2.2.1

Hành vi người tiêu dùng

2.2.1.1

Khái niệm hành vi người tiêu dùng

Hành vi người tiêu dùng là một loạt các quyết định về việc mua cái gì, tại sao,
khi nào, noi nào, bao nhiêu. Người tiêu dùng phải có quyết định qua thời gian về việc
chọn dùng sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc các hoạt động (Wayne & Deborah 2008).
Hành vi mua sắm của người tiêu dùng thề hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử
dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn như cầu cá nhân của
họ (Peter 1995)
Hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng
đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đối đó con người thay đối cuộc
sống của họ (Leon et al 2005). Người tiêu dùng là những người mua hoặc sử dụng các
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cung ứng trên thị trường. Người tiêu dùng nói chung
được phân chia thành hai nhóm cơ bản: Người tiêu dùng cá nhân và người tiêu dùng tố
chức. Người tiêu dùng cá nhân là những người mua hàng hoá, dịch vụ đế sử dụng cho cá

nhân họ, cho gia đình, cho người thân, bạn bè. Những người tiêu dùng này được gọi là
“người tiêu dùng cuối cùng”. Người tiêu dùng tổ chức bao gồm các tổ chức kinh doanh
(doanh nghiệp), đơn vị hành chính sự nghiệp..., họ là những người mua sản phẩm, dịch
vụ phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tồ chức. Trong nghiên cứu hành vi người tiêu
dùng, chủ yếu thường tập trung vào người tiêu dùng các nhân, bởi vì tiêu dùng cuối
cùng là yếu tố bao trùm lên tất cả các dạng khác nhau cùa hành vi người tiêu dùng và
liên quan đến mọi người với vai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai.
Theo Philip Kotler (2004), nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với
mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen cùa họ, cụ thể là xem người tiêu dùng
muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ
mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược
marketing thúc đấy người tiêu dùng mua sắm sản phấm, dịch vụ của mình.
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng hiện nay cịn vượt xa hơn các khía cạnh nói


trên. Các doanh nghiệp tìm hiểu xem người tiêu dùng có nhận thức được các lợi ích của
sản phấm, dịch vụ họ đã mua hay không và cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi sử
dụng sản phẩm, dịch vụ. Điều này tác động đến những lần mua hàng sau đó của người
tiêu dùng và tác động đến việc thông tin về sản phẩm của họ đến những người tiêu dùng
khác.
Do vậy, các doanh nghiệp, các nhà tiếp thị phải hiểu được những nhu cầu và các
yếu tố ảnh hưởng, chi phối hành vi mua sắm của khách hàng. Philip Kotler hệ thống các
yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu dùng qua mơ hình sau:
Đặc điểm
Q trình ra
người
quyết
mua

Kích thích

marketing

Kích thích
khác

Sản phẩm

Kinh tế -Cơng

Văn hóa

Giá

nghệ

Xã hội

Địa điểm

Chính tri

Tâm lý

- Chiêu thi


- Văn hóa

-Cá
tính




-Nhân thức
•À 4 Ã
vân đê
Tìm kiếm
thơng tin
Đánh giá
Quyết định

Quyết
dinh của

người mua



- Hâu mãi


Chọn sản
phẩm Chon
• nhãn hiêu

Chọn đại
lý Định
thời gian
- Đinh


số lượng

Hình 2.1. Mơ hình hành vi của ngưịi mua săm
(Nguồn: Philip Kotler, 2001, tr.198)
Từ mơ hình này cho thây, các u tơ tiêp thị như sản phâm, giá cả, địa diêm,
chiêu thị và các tác nhân bên ngồi như: kinh tế, cơng nghệ, chính trị, văn hóa đều ảnh
hưởng đến ý thức của người tiêu dùng. Người tiếp thị phải hiểu được điều gì đang xảy
ra trong ý thức của người tiêu dùng giữa lúc các kích thích bên ngồi tác động và lúc
quyết định mua sắm. Hai câu hởi quan trọng:


Đặc điểm của người tiêu dùng như văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý ảnh hưởng
như thế nào đến hành vi mua sắm?
Người tiêu dùng quyết định mua sắm ra sao?
Tóm lại, hành vi người tiêu dùng là những suy nghĩ, cảm nhận và hành động
diễn ra trong q trình thơng qua quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ của người tiêu
dùng dưới sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích cùa mơi trường bên ngồi và
q trình tâm lý bên trong của họ.
2.2.7.2

Ỷ nghĩa của việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng

Philip Kotler (2001), nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là một
nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong quy trình ra quyết định về chiến lược
tiếp thị của các doanh nghiệp. Trước đây, những người làm tiếp thị có thể hiểu được
người tiêu dùng thơng qua những kinh nghiệm tiếp xúc, giao dịch và bán hàng của họ
hàng ngày. Tuy nhiên, sự phát triển về quy mô và thị trường của các doanh nghiệp đã
làm cho nhiều nhà quản trị tiếp thị khơng cịn điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng nữa và thông tin từ bộ phận bán hàng cịn mang nhiều tính chủ quan. Do đó, ngày
càng nhiều nhà quản trị đã phải đưa việc nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng thuộc

lĩnh vực cúa mình giúp cơng ty có được quyết định phù hợp, chính xác và có thể xây
dựng được một kế hoạch marketing hiệu quả nhằm thu hút, tạo ra khách hàng theo Peter
Drucker, người được xem là “cha đẻ” của quản trị kinh doanh hiện đại từng nói rằng:
“Mục tiêu cuối cùng cúa mọi hoạt động kinh doanh là tạo ra khách hàng. Và chỉ có hai
chức năng trong doanh nghiệp có thể làm được điều này, đó là marketing và sáng tạo”
(Vneconomy, 2012).
Trong hoạt động thực tiễn, đế xây dựng các chiến lược marketing kích thích việc
mua hàng hiệu quả đối với sản phẩm đang bán, cũng như các sản phẩm mới đang triển
khai thì doanh nghiệp phải nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, ứng dụng nguyên lý
hành vi người tiêu dùng trong thiết kế chiến lược marketing. Từ những kiên thức và sự
hiêu biêt vê người tiêu dùng này giúp doanh nghiệp xây dựng các chiến lược marketing
ảnh hưởng, tác động trở lại người tiêu dùng.


Hơn nữa, việc tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng và quá trình mua sắm của
họ là một vấn đề quan trọng để công ty thiết lập các chiến lược marketing hữu hiệu.
Bằng cách tìm hiếu người mua sắm thông qua các giai đoạn như thế nào, người tiếp thị
có thể khám phá ra mình phải làm thế nào để đáp ứng người tiêu dùng. Từ đó, doanh
nghiệp có thề hoạch định các chương trình tiếp thị hữu hiệu cho các thị trường mục tiêu
cúa doanh nghiệp.
2.2.2

Lý thuyết thái độ
Thái độ là một sự biểu lộ về cảm giác tinh thần mà nó phản ánh những đánh giá

tiêu cực hay tích cực đối với một đối tượng nào đó, ví dụ nhãn hiệu, sản phẩm, dịch vụ,
v.v... Thái độ khơng thể quan sát một cách trực tiếp nhưng nó có thể được suy ra từ
những lời nói hoặc hành vi của con người.
Có nhiều quan điểm về thái độ, Gordon Allport (1970) định nghĩa: “Thái độ là
một trạng thái thiên về nhận thức (learned) để phản ánh việc thích hay khơng thích một

đối tượng cụ thể nào đó”.
Trong nghiên cứu này, đối tượng chính là dịch vụ BHXH tự nguyện. Nhận thức
chính là kiến thức hay sự hiểu biết của khách hàng có được thơng qua những kinh
nghiệm đã sử dụng qua dịch vụ hoặc từ việc tiếp nhận và phân tích những thơng tin thu
thập được có liên quan đến dịch vụ BHXH tự nguyện. Từ đó, người dân biểu lộ việc
thích hay khơng thích đối với dịch vụ BHXH tự nguyện.
Việc nhận biết được thái độ của khách hàng đối với một sản phẩm cụ thể sẽ giúp
chúng ta suy ra được phản ứng của khách hàng đối với sản phẩm đó trong tương lai.
Chẳng hạn như, nểu một người khơng thích dịch vụ BHXH tự nguyện thì chúng ta cũng
khơng mong đợi rằng người đó sẽ tham gia sử dụng dịch vụ BHXH tự nguyện. Và
ngược lại, nếu một khi đã thích dịch vụ BHXH tự nguyện thì người đó sẽ hình thành ý
định tham gia dịch vụ này.
2.2.2.7 Mơ hình thái độ ba thành phân (tricomponent attitude model)
Theo Schiffman & Kanuk (1987), thái độ được miêu tả gồm ba thành phần:
Nhận thức (cognitive), cảm xúc hay sự ưa thích (affective) và xu hướng hành vi


(conative).
Thành phần nhận thức liên quan đến sự hiểu biết (knowledge) và niềm tin
(belief) của một cá nhân về đối tượng. Nhận thức dựa trên kiến thức hay sự hiểu biết của
khách hàng về dịch vụ thông qua những thông tin nhận được liên quan đến dịch vụ và
kinh nghiệm của khách hàng có được khi sử dụng dịch vụ, từ đó hình thành niềm tin của
khách hàng đối với dịch vụ. (Ví dụ, tham gia BHXH tự nguyện mang lại sự an tâm về
tài chính để ốn định khi tuồi già, giảm bớt gánh nặng cho con cháu, bù đắp phần nào
những rủi ro hay tuổi già cho bản thân và gia đình người tham gia).
Thành phần cảm xúc hay sự ưa thích đại diện cho cảm giác chung của khách
hàng về việc thích hay khơng thích một đối tượng. Thành phần này thể hiện sự ưa thích
nói chung về đối tượng chứ khơng phân biệt từng thuộc tính của đối tượng. (Ví dụ, tơi
thích BHXH tự nguyện). Sự đánh giá một cách chung chung này có thể chỉ là mơ hồ,
hoặc có thế chỉ là kết quả cùa việc đánh giá chung về sản phẩm dựa trên vài thuộc tính.

Cảm xúc thường được đề cập đến như là một thành phần chủ yếu của thái độ. Vậy, một
số nhà nghiên cứu xem thành phần này chính là thái độ và hai thành phần còn lại mang
chức năng hồ trợ hoặc phục vụ cho thành phần cảm xúc.
Thành phần xu hướng hành vi hay còn gọi là ý định tham gia được thể hiện qua
xu hướng tham gia của người dân. Họ có thế có xu hướng tham gia hay không tham gia
BHXH tự nguyện. Xu hướng tham gia là một yếu tố quyết định hành vi tham gia BHXH
tự nguyện. (Ví dụ, tơi sẽ tham gia BHXH tự nguyện).
Như vậy, thái độ của người dân đối với dịch vụ BHXH tự nguyện bao gồm ba
thành phần chính: nhận thức về dịch vụ. thích thú về dịch vụ và xu hướng sử dụng dịch
vụ BHXH tự nguyện.


2.2.2.2

Mơ hình thái độ đa thuộc tính (multi-attitude model)

Mơ hình thái độ đa thuộc tính được Fishbein & Ajzen xây dựng năm 1975.
Trong mơ hình này, thái độ của khách hàng được định nghĩa như là việc đo lường nhận
thức (hay còn gọi là niềm tin) của khách hàng đối với một dịch vụ đặc biệt hoặc đo
lường nhận thức của khách hàng về các thuộc tính cùa dịch vụ. Khách hàng có thái độ
ưa thích nói chung đối với những dịch vụ mà họ đánh giá dương tính và họ có thái độ
khơng thích đối với những dịch vụ mà họ đánh giá âm tính. Mơ hình này tập trung vào
nhận thức cúa khách hàng đối với các thuộc tính cùa dịch vụ. Mức độ nhận thức về dịch
vụ nói lên khả năng người tiêu dùng có thể nhận biết và phân biệt đặc điểm các thuộc
tính của dịch vụ. Khi một người tiêu dùng quyết định tiêu dùng một dịch vụ nào đó,
trước tiên họ phải nhận biết được dịch vụ đó. Nhận biết dịch vụ là điều cần thiết nhưng
chưa đủ, người tiêu dùng còn thế hiện sự thích thú của mình đối với dịch vụ thơng qua
việc đánh giá các thuộc tính của dịch vụ. Kết quả của sự đánh giá được thể hiện qua
cảm xúc của con người như thích thú, cảm mến. Người tiêu dùng có thái độ dương tính
hay âm tính về dịch vụ có thể chi dựa vào một hoặc vài đặc điếm nào đó mà họ cho là

quan trọng đối với việc tiêu dùng.
Mơ hình thái độ đa thuộc tính đã làm sáng tó mối tương quan giữa nhận thức và
sự thích thú. Sự ưa thích về dịch vụ là kết quả cùa quá trình đo lường niềm tin của người
tiêu dùng đối với các thuộc tính của dịch vụ. Khi đó, họ thường có xu hướng tiêu dùng
dịch vụ mà mình thích thú. Mồi một niềm tin gắn liền với một thuộc tính của sản phấm.
Thái độ của người dân đối với dịch vụ BHXH tự nguyện sẽ phụ thuộc vào những niềm
tin mà người dân có được đối với từng thuộc tính của dịch vụ BHXH tự nguyện.
Như vậy, nhận thức là thành phần đầu tiên của thái độ. Nếu một người thể hiện
sự ưa thích đối với dịch vụ BHXH tự nguyện thì trước tiên họ phải nhận biết được
BHXH tự nguyện và các thuộc tính cốt lõi cùa BHXH tự nguyện. Sự ưa thích chính là
kết quả các đánh giá dương tính cùa người dân về các thuộc tính của BHXH tự


nguyện. Từ đây sẽ hình thành ý định tham gia, hay nói cách khác họ sẽ tham gia BHXH
tự nguyện trong thời gian tới.
Lợi ích của mơ hình đa thuộc tính này là mơ tả được những điểm mạnh và điểm
yếu của dịch vụ từ việc đánh giá những thuộc tính của dịch vụ. Từ đó, đưa ra những
thay đối cụ thể đối với dịch vụ và hoạch định những chiến lược marketing hay kế hoạch
phát triển để hồ trợ nó.
2.2.2.3

Mơ hình học thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of reasoned action

model)
Thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) được phát triển
bởi Martin Fishbein & leek Ajzen (1975, 1980) bắt nguồn từ một số nghiên cứu có trước
liên quan đến thái độ của người tiêu dùng.
Theo Thuyết hành động họp lý thì dự định hành vi của một người chịu ảnh
hưởng hay bị tác động bởi thái độ về phía hành vi (attitude toward the behavior), hay
gọi tắt là thái độ (attitude) và chuấn chủ quan (subjective norms). Và hệ quả là dự định

hành vi sẽ quyết định hành vi theo sau của một người.
Thái độ: Tập hợp các niềm tin (beliefs) có gán trọng số về phía một hành vi cụ
thể.
Chuân chủ quan: Đê cập mức độ ảnh hưởng của những người xung quanh lên dự
định hành vi của một cá nhân. Những người khác nhau cũng có mức độ ảnh hưởng khác
nhau lên một cá nhân nào đó.
9

Dự định hành vi: Dự định thực hiện một hành vi cụ thê nào đó. Nó là một hàm
• • ••••• • •

9

phụ thuộc vào thái độ và chuân chú quan.
Theo Martin & Ajzen thì thái độ vê phía hành vi và chn chủ quan khơng đóng
vai trị ngang bằng nhau trong việc dự đốn hành vi. Thay vào đó mức độ cúa hai yếu tố
này sẽ có sự khác biệt tùy thuộc vào mỗi cá nhân và tình huống cụ thể.


×