Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Đề tài mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (382.36 KB, 22 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài: Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
và vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trong q trình Cơng
nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Nhóm: 7B

Giảng viên hướng dẫn :TS.Nguyễn Thị Thúy Cường
Hồ Chí Minh, 11 tháng 1 năm 2022

1


DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHĨM 7B
STT

Họ và Tên

MSSV

Lớp

131

Vũ Quang Khơi



2116073056

DM21DH-DM4

132

Lưu Phạm Như Khương

2114180806

LE21DH-LE1

133

Nguyễn Thượng Trung Kiên

2114210552

LA21DH-LA1

134

Tạ Lê Diễm Kiều

2116071075

DM21DH-DM1

135


Dương Tuấn Kiệt

2116070290

DM21DH-DM2

136

Đặng Thanh Kiệt

2116071077

DM21DH-DM2

137

Nguyễn Tuấn Kiệt

2116072641

DM21DH-DM4

139

Hồng Lai

2116072647

DM21DH-DM3


140

Huỳnh Nguyễn Hồng Lân

2116072994

DM21DH-DM1

353

Ngơ Trần Hoàng Việt

2116073107

DM21DH-DM4

2


MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU............................................................................................................4
B. NỘI DUNG........................................................................................................6
I. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA .........................................................6
1.1. Lực lượng sản xuất.........................................................................................6
1.2. Quan hệ sản xuất............................................................................................7
1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 8
II. VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT
TRONG QUÁ TRÌNH CƠNG NGHIỆP HĨA – HIỆN ĐẠI HĨA Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY...................................................................................................12

2.1. Sơ lược về cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa..................................................12
2.2. Thực trạng lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Việt Nam hiện nay 12
2.3. Giải pháp nhằm đổi mới, phát triển lực lượng sản xuất.............................15
2.4. Giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất...............................18

III. TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC ĐỔI MỚI LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT.............................................19
C. KẾT LUẬN.......................................................................................................22
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................23

3


A.MỞ ĐẦU
Q trình phát triển của lịch sử lồi người ln gắn liền với các hình thái
kinh tế xã hội khác nhau: từ công xã nguyên thủy cho đến chiếm hữu nô lệ, chế
độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa rồi cuối cùng là xã hội chủ nghĩa Vì
thế việc các hình thái kinh tế xã hội phát triển sau hơn hình thái kinh tế xã hội
trước là điều tất yếu. Trong đó phải kể đến vai trị vô cùng quan trọng của lực
lượng sản xuất. Bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định hình thành,
phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, đồng thời nó
cũng dẫn đến sự thay đổi quan hệ sản xuất. Ở Việt Nam hiện nay lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất và vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất trong q trình
Cơng nghiệp hố – Hiện đại hố , đầu tư phát triển là bộ phận không thể thiếu
trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế vững mạnh của các quốc
gia . Và đặc biệt nhất chính là Việt Nam – một quốc gia cần rất nhiều vốn để
phát triển tất cả các mặt của đời sống xã hội . Trong công cuộc xây dựng và
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần , vận hành theo cơ chế thị trường , có
sự quản lí của nhà nước , theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
, lý luận nhận thức , vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan

tâm của nhiều đối tượng .
Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều
có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế . Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát
triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển . Chúng ta biết rằng , triết học là
một bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy
vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác . Mặc dù có những ưu
điểm không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực
tiễn , phát triển kinh tế , từng bước đưa đất nước ta bắt kịp trình độ các nước
trong khu vực và thế giới về mọi mặt . Chính những thành tưu của xây dựng chủ
nghĩa xã hội và qua mười năm đổi mới là minh chứng chân thật nhất cho vấn đề
4


nêu trên . Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các qui
luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều
xem xét và tranh cãi , nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay .
Nhận thức được tầm quan trọng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
đối với sự tồn vong và phát triển đất nước nên nhóm chúng em xin chọn đề tài:
“Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và vấn
đề đổi mới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất trong q trình Cơng nghiệp
hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”

5


B. NỘI DUNG
I. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ
QUAN HỆ SẢN XUẤT
1.1. Lực lượng sản xuất

1.1.1. Khái niệm
Lực lượng sản xuất được dùng để chỉ tổng thể các nhân tố vật chất, kỹ thuật
cần để tiến hành sản xuất, góp phần tạo thành năng lực thực tiễn để cải biến giới
tự nhiên của con người. Với ý nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai
trị phản ánh khái qt trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người
1.1.2. Nội dung
Cấu thành nên lực lượng sản xuất gồm hai thành phần tối quan trọng nhất là
người lao động và tư liệu sản xuất. Trong đó:
Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành quá trình sản xuất và tái sản
xuất, gồm có tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó tư liệu lao động
bao gồm 2 yếu tố cơ bản: cơng cụ lao động (máy móc, trang thiết bị, hóa chất,
…)và các đối tượng lao động khác (phương tiện vận chuyển, bảo quản,tài
ngun khống sản). Cịn đối tượng lao động gồm hai bộ phận chính là những
yếu tố nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên (đất đai, than đá,…) và một bộ
phận phái trải qua sự cải tạo của con người hay còn gọi là nhân tạo ví dụ: nhựa,
gỗ ép… Thế nhưng trong bất kỳ một nền sản xuất nào thì cơng cụ sản xuất bao
giờ cũng đóng vai trị là then chốt và là tiêu chí quan trọng nhất. Hiện nay cơng
cụ sản xuất của con người đang không ngừng được cải tiến, cải thiện và dẫn
đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động
công nghiệp máy móc hiện đại dần dần thay thế lao động của con người. Do đó
cơng cụ lao động ln là độc nhất, là “vũ khí” cách mạng nhất của lực lượng
sản xuất. Trong q trình sản xuất cơng cụ lao động tác động vào đối tượng lao
động để từ đó tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm
6


nâng cao năng suất lao động .. Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến
đâu nhưng nếu tách khỏi con người thì nó cũng khơng thể nào phát huy tồn
vẹn tác dụng của chính bản thân. Chính vì lẽ đó Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản
xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người

lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, biết cách sử dụng tư liệu
sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất tồn tại với tư cách là khách
thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tối đa tác dụng khi nó được kết hợp với lao
động sống của con người. Người lao động trong lực lượng sản xuất không chỉ
gồm người lao động chân tay mà cịn có cả kĩ thuật viên, kĩ sư và cán bộ khoa
học phục vụ trực tiếp, gián tiếp quá trình sản xuất. Vì thế Lê-Nin đã khẳng định
rằng: “Lực lượng sản

xuất hàng đầu của tồn thể nhân loại là cơng nhân,

người lao động” có thể coi yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất
chính là con người.
1.2. Quan hệ sản xuất
1.2.1. Khái niệm
Trong phạm trù Triết học, thì quan hệ sản xuất là một trong những khái
niệm cơ bản dùng để phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Đây là mối quan hệ kinh tế cơ bản, đại
diện cho một chế độ xã hội nhất định. Quan hệ sản xuất gồm ba mặt chính :
quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản
xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm làm ra.
1.2.2. Nội dung
Cấu thành nên quan hệ sản xuất là 3 thành tố cơ bản sau:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa người với tư liệu sản
xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất được quy định bởi thành phần cốt lõi là
quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Từ đó hình thành chế độ sở hữu.

7


Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất là quan hệ giữa người với

người trong quá trình sản xuất và trong trao đổi, lưu thông vật chất của cải.
Trong hệ thống tất cả các quan hệ sản xuất thì

các quan hệ về mặt tổ chức

quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định, đo lường quy mơ, tốc
độ, tính hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất. Vì thế việc đi ngược lại các
quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng
tiêu cực đến kinh tế xã hội.
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm là quan hệ có tính liên kết chặt chẽ
với nhau. Bởi chúng cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư
liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản
xuất mở rộng qua đó nâng cao phúc lợi, lợi ích cho người lao động. Bên cạnh
đó, các quan hệ về mặt tổ chức quản lý thì trong hệ thống quan hệ sản xuất, các
quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng đóng vai trị hết sức to lớn
đối với sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy
tốc độ và tiến độ của sản xuất nhưng nếu đi ngược lại nó cũng có khả năng kìm
hãm sản xuất kìm hãm sự phát triển của xã hội. Các mặt của quan hệ sản xuất
ln có sự liên kết chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Trong ba mặt của
quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan
hệ cơ bản, đặc trưng, hạt nhận cho quan hệ sản xuất trong từng hình thái kinh
tế xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất được quyết định quan hệ trong tổ
chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã
hội khác.

1.3.Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.3.1.Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

8



Trong quá trình sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trị quyết định và
tác động sâu sắc tới quan hệ sản xuất. Có sự tác động vơ cùng sâu sắc thơng
qua ba mặt sau:
Thứ nhất, tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
được thể hiện qua hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan
hệ sản xuất. Cho nên khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu địi hỏi
phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất. Đễ nâng cao, thúc
đẩy tính hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng thì con người
khơng ngừng phát minh cải tiến, hồn thiện và chế tạo ra những cơng cụ sản
xuất mới vô cùng tinh xảo và hiện đại với những tính vượt trội hơn so với thế
hệ trước. Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của cơng cụ thì tri thức khoa học trình
độ chun mơn kỹ thuật và mọi kỹ năng kỹ xảo của người lao động cũng theo
đó ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất ấy, quan
hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, sự phù hợp đó là động lực thúc đẩy. Qua đó
góp phần làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
Thứ hai, lực lượng sản xuất vốn dược xem là yếu tố động nhất, cách mạng
nhất, nó ln ln vận động và biến đổi khơng ngừng theo tiến trình lịch sử.
Lực lượng sản xuất đại diện cho nội dung còn quan hệ sản xuất đại diện hình
thức xã hội của quá trình sản xuất. Trong mối quan hệ mật thiết, khơng thể tách
rời giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định, mang lại giá trị cho
hình thức, hình thức phụ thuộc và nâng cao tính thẩm mỹ cho nội dung, nội
dung thay đổi trước sau đó hình thức thay đổi theo.
Thứ ba, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến trình độ nhất định nào đó
sẽ khiến cho quan hệ sản xuất trở nên không phù hợp với trình độ của lực
lượng sản xuất nữa. Khi ấy, xuất hiện càng nhiều mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất. Mâu thuẫn này tích tụ theo thời gian sẽ dẫn đến đấu
tranh giai cấp mà đỉnh cao của mâu thuãn là hình thành cách mạng xã hội nhằm
9



chống đối và phá bỏ "xiềng xích trói buộc" lực lượng sản xuất để tái thiết lập
quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Chính vì thế cần khẳng định lực lượng sản xuất có tác động khơng nhỏ trong
việc hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất. lao động, ở trình
độ kỹ năng, kinh nghiệm của người lao động.
1.3.2.Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất lên lực lượng sản xuất
Như trên ta có thể thấy được lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên
biến đổi, phát triển không ngừng theo thời gian trong khi đó quan hệ sản xuất
mà đặc biệt là nhân tố sở hữu về tư liệu sản xuất lại có tính ổn định lâu dài và
khá bảo thủ. Nhờ đó, quan hệ sản xuất ln có khả năng tác động ngược trở lại,
đối với việc bảo tồn, khai thác, sử dụng, triển khai và phát triển một cách toàn
diện lực lượng sản xuất. Quá trình tác động ngược trở lại của quan hệ sản xuất
đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra theo hai khả năng, hai xác suất và hai
tỉ lệ: tác động tích cực hoặc tiêu cực. Điều đó thể hiện qua hai điều kiện tiên
quyết sau:
Thứ nhất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng thì sẽ
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển theo chiều hướng tích cực.Từ đó thúc
đẩy nền kinh tế đi lên
Thứ hai, nếu quan hệ sản xuất khơng phù hợp với trình độ của lực lượng
sản xuất (một là lạc hậu,hai là vượt trước quá xa so với trình độ của lực lượng
sản xuất) thì sẽ sản sinh ra sự kìm hãm đối với sự phát triển của lực lượng sản
xuất.
Quan hệ sản xuất khi một khi đã được xác lập thì nó tồn tại độc lập và
tương đối với lực lượng sản xuất, trở thành những cơ sở và những thể chế xã
hội không thể thay thế và không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản
xuất thì thường có xu hướng lạc hậu hơn so với lực lượng sản xuất. Khi đó nó
sẽ tác động trở lại đối với sự phát triển lực lượng sản xuât, có thể thúc đấy hoặc
10



kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ngay cả trong trường hợp quan
hệ sản xuất đi quá xa hay phát triển quá nhanh so với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất thì nó cũng sẽ hình thành thế kìm hãm sư phát triển của lực
lượng sån xuất. Sở dĩ, quan hệ sản xuất có thể tác động sâu sắc trở lại đối với
lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ
chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối và
phần của cải vật chất qua đó ảnh hưởng đến thái độ của người lao động - lực
lượng sán xuất trọng yếu của xã hội. Từ đó tác động tới lực lượng sản xuất. Bởi
nếu mục đích của nền sản xuất xã hội là vì lợi nhuận thì sớm hay muộn người
lao động cũng khơng tích cực lao động. Nếu mục đích của nền sản xuất là vì
phục vụ cho con người và xã hội thì quần chúng nhân dân lao động thì chắc
chắn, người lao động sẽ lao động với một thái độ tích cực, nhiệt huyết. Đồng
thời nó cũng góp phần tạo ra nhũng điều kiện kích thích hoặc han chế việc cải
tiến công cụ lao động, áp dụng những thảnh tựu khoa khọc và kỹ thuật vào sản
xuất, hợp tác và phân phối lao động.Vì thế mỗi kiều quan hệ sản xuất là một hệ
thống một chỉnh thê hữu cơ hoàn chỉnh gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chinh thể đó, quan hệ sản xuất mới trở
thành động lực thúc đẫy con người hành động nhằm phát triển sản xuất.
Qua đó có thể thấy được lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai tồn
tại thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Mỗi phương
thức sản xuất hay quá trình sản xuất xã hội khơng thể vận hành tốt được nếu
thiếu một trong hai thành tố trên. Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội
dung vật chất, kỹ thuật, cơng nghệ của q trình sản xuất cịn quan hệ sản xuất
đóng vai trị là nền tảng hình thức kinh tế của q trình đó. Sự phát triển của
lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh, biến đổi sao
cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thế nên
việc đổi mới lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất ln là ưu tiên trong q
trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.

11


II.VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT
TRONG Q TRÌNH CƠNG NGHIỆP HĨA – HIỆN ĐẠI HĨA Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1. Sơ lược về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.1.Khái niệm cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơng nghiệp hóa hiện đại hóa là một q trình chuyển đổi tất yếu mang tính
chất căn bản và tồn diện về những hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế, xã hội
hòng bắt kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và thế giới. Thông
qua việc sử dụng sức lao động thủ cơng là chính sẽ được chuyển sang sử dụng
sức lao động máy móc, trợ lực với công nghệ, phương tiện bằng các phương
pháp hiện đại, tiên tiến để nâng cao năng suất lao động làm cho quá trình sản
xuất diễn ra hiệu quả và sn sẻ nhất.
2.1.2.Tác dụng của q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa
Tạo điều kiện biến đổi qua đó nâng cao chất lượng sản xuất, tăng năng suất
lao động, tăng sức chế ngự thiên nhiên, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và phát triển kinh tế, qua đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân
dân; góp phần quyết định chiến thắng của chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi
mới.
Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cường vai trò kinh tế của Nhà
nước; nâng cao năng lực tích lũy, tạo cơng ăn việc làm cho người dân, nhờ đó
làm tăng tính tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế, sản xuất của con
người-hạt nhân của nền sản xuất xã hội. Tạo điều kiện vật chất cho tăng cường
củng cố nền an ninh và quốc phịng tồn dân. Qua đó giúp tạo nển móng vật
chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, tự cường, đủ sức thực hiện
sự phân công và hợp tác quốc tế.
2.2. Thực trang lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất Việt Nam hiện nay
2.2.1.Thực trạng lực lượng sản xuất Việt Nam hiện nay

12


Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam được cải thiện trên nhiều mặt. Tỷ lệ
lao động qua đào tạo (có bằng cấp, chứng chỉ) tăng từ 10,3% năm 2000 lên
14,6% năm 2010 và đạt 21,4% năm 2017. Tỷ lệ lao động có trình độ từ đại học
trở lên của lực lượng lao động tăng từ 5,7% năm 2010 lên 9,3% năm 2017 đã
bước đầu đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại. Năng
suất lao động của tồn nền kinh tế tăng bình qn 4,9%/năm trong giai đoạn
2011-2018 . Tổng diện tích đất sử dụng vào các mục đích nơng nghiệp, phi
nơng nghiệp của cả nước tăng nhanh, từ 18.881,3 nghìn ha năm 2000 (chiếm
57% tổng diện tích đất tự nhiên) lên 29.931,4 nghìn ha năm 2010 (chiếm
90,4%) và đạt 31.010,2 nghìn ha năm 2017 (chiếm 96,6%). Giai đoạn 20112018, tổng sản lượng than khai thác đạt 331,3 triệu tấn; sản lượng dầu thô khai
thác đạt 118,5 triệu tấn.Cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển
mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Mạng lưới đường bộ dài 364,0 nghìn km
với 14 tuyến cao tốc và 145 tuyến quốc lộ. Mạng lưới đường thủy nội địa
khoảng 17,2 nghìn km với 32 cảng biển. Mạng lưới đường sắt có 3159,9 km.
Bên cạnh đó cịn có 21 cảng, sân bay. Hạ tầng cung cấp điện được đầu tư phát
triển nhanh. Tổng cơng suất lắp đặt nguồn điện năm 2016 tồn hệ thống đạt
42.341 MW, gấp 3,4 lần năm 2005. Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin được xây
dựng rộng khắp, tương đối hiện đại; hệ thống mạng viễn thông bao phủ khắp cả
nước, kết nối với các nước trong khu vực và thế giới. Tính đến ngày
31/12/2015, cả nước có 305 khu công nghiệp, 16 khu kinh tế ven biển, 26 khu
kinh tế cửa khẩu đã được thành lập. Về khoa học và cơng nghệ đã có sự phát
triển đáng kể cả về năng lực và khả năng ứng dụng vào thực tiễn; đã hình thành
hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ bao quát trên nhiều lĩnh vực bao gồm. 3
khu công nghệ cao; 13 khu nông nghiệp ứng dụng cơng nghệ cao và 16 phịng
thí nghiệm trọng điểm được thành lập. Với

tổng số nhân lực nghiên cứu và


phát triển của cả nước năm 2015 là 167,7 nghìn người, tăng 24,5% so với năm
2011. Năm 2017-2018, chúng ta có 320,578 sinh viên tốt nghiệp đại học và
38,021 người tốt nghiệp thạc sỹ và tiến sỹ. Nhìn vào những con số này, chúng
13


ta có thể dễ dàng nhận thấy trình độ người lao động nước ta ngày một được
nâng cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: tâm lí coi trọng tấm bằng đại
học, đào tạo sinh viên, thạc sĩ một cách tràn lan. Trong nông nghiệp, các loại
máy cấy, máy gặt đập liên hợp, máy tuốt,… đã xuất hiện và được đưa vào sử
dụng rộng rãi. Với hơn 90 cây trồng được chọn tạo, đưa tỷ trọng áp dụng giống
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp lên 35%. Trong công nghiệp, việc
ứng dụng công nghệ kỉ thuật mới cũng được đẩy mạnh như việc ứng dụng các
hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng máy tính; ứng dụng sử dụng các
nguyên liệu sinh học, hạt nhân vào quá trình sản xuất, sử dụng các nguồn năng
lượng mới như năng lượng gió, năng lượng mặt trời,…Ngồi ra, các phương
tiện máy móc hiện đại cũng được nước ta sản xuất như máy tính, máy gặt, các
loại máy móc trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tư liệu
sản xuất ở nước ta vẫn còn kém phát triến so với nhiều nước khác xung quanh
như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,… Nước ta còn phải nhập khẩu nhiều
máy móc trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu từ nước khác. Như vậy, lực
lượng sản xuất ở nước ta tuy vẫn còn nhiều hạn chế nhất định nhưng đã có sự
phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước đổi mới. Sự phát triển không đồng
đều của lực lượng sản xuất dẫn tới sự sở hữu không đồng đều về tư liệu sản
xuất của mọi người trong xã hội.
2.2.2.Thực trạng quan hệ sản xuất Việt Nam hiện nay
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Đảng và Nhà nước đã xác định
lại các quan hệ sản xuất ở nước ta. Bằng đường lối, chính sách pháp luật đúng

đắn bước đầu nhà nước ta đã cho phép tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác
nhau “ Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa

14


dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tâp thể, sở hữu tư nhân, trong đó
sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (Điều 15, Hiến pháp năm 1992).
Như vậy, sau giai đoạn đổi mới nhà nước ta đã thừa nhận nhiều loại quan
hệ sản xuất với nhiều trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất: quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Việc thừa nhận này
của Đảng và nhà nước là hoàn toàn phù hợp thực trạng của lực lượng sản xuất
nước ta hiện nay: trình độ cịn thấp lại khơng đồng đều giữa các vùng miền, các
ngành nghề; ở nhiều người dân vẫn sử dụng cái cuốc, cái cày để lao động trong
khi đó ở nhiều nơi thì người lao động lại làm việc trong các phịng thí nghiệm,
các khu cơng nghệ cao. Đảng và Nhà nước ta đã có cái nhìn đúng đắn và vận
dụng một cách sáng suốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển
của lực lượng ở nước ta.
2.3. Giải pháp đổi mới, phát triển lực lượng sản xuất
2.3.1. Giáo dục và đào tạo
Trong quá trình xây dựng đường lối phát triển kinh tế và xã hội, cần ưu tiên,
để có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển; đặc biệt là ưu tiên phát
triển con người bằng các giải pháp hữu hiệu sau:
Định hướng mơ hình phát triển kinh tế dựa trên cơ sở tiếp thu công nghệ
tân tiến, hiện đại của các nước phát triển hàng đầu như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,
Nhật, sẽ là một trong những yếu tố quyết định phương hướng và nội cải cách
giáo dục.
Cải cách căn bản chương trình giáo dục, đào tạo các cấp: tiểu học, THCS,

THPT theo chuẩn quốc tế. Chương trình giáo dục mới phải đáp ứng, hiện thực
hóa được mục tiêu tạo nền tảng tri thức, đạo đức để thực hiện mô hình cơng
nghiệp hố, hiện đại hố rút ngắn, phù hợp với u cầu của thời đại tồn cầu
hố và kinh tế tri thức

15


Phổ cập ngoại ngữ ( tiếng Anh) và tin học căn bản phải là tiêu chuẩn trong
hệ phổ cập giáo dục. Có chương trình ưu tiên thiết lập rộng khắp cơ sở hạ
tầng phù hợp cho hệ thống giáo dục, đào tạo với chi phí tiếp cận rẻ, trên
những nguyên tắc và nội dung mới cải cách.Cách dạy và học cần chuyển
mạnh sang hướng trang bị các phương pháp thu nhận, sử lý thông tin và tri
thức, phát triển năng lực xác định và giải quyết vấn đề. Mối liên hệ cần thiết
giữa việc cung cấp nhân lực được đào tạo với nhu cầu sử dụng nhân lực sẽ
được thiết lập thông qua việc phát triển thị trường lao động và thị trường sản
phẩm khoa học, cơng nghệ.
Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong việc củng cố vững chắc kết quả xóa
mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hàng phổ cập trung học cơ sở trong
cả nước …, giúp đơng đảo người nghèo có cơ hội tiếp cận tri thức cơ bản.
Tích cực thực hiện chủ trương “xã hội hố cơng tác giáo dục, đào tạo”.Vai trị
của trường bán cơng, dân lập và các cách thức truyền tải giáo dục khác nhau
cần được tiếp tục phát huy. Việc lôi cuốn khu vực doanh nghiệp tham gia vào
việc phát triển hệ thống đào tạo nghề cần dược khuyến khích.
=> Đẩy mạnh giáo dục đào tạo để nâng cao trình độ sản xuất của người
lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là ưu tiên hàng đầu trong vấn
đề đổi mới và phát triển lực lượng sản xuất.
2.3.2.Khoa học – Công nghệ
Hệ thống khoa học- công nghệ của nước ta hiện còn bất cập so với yêu cầu
phát triển. Nó cần được đổi mới căn bản và toàn diện. Năm nhiệm vụ lớn cần

ưu tiên xử lý trong chiến lược phát triển khao học-công nghệ giai đoạn tới là:
-Lựa chọn hướng phát triển khoa học-công nghệ ưu tiên. Tuy nhiên, vấn đề đặt
ra là bước đi và thứ tự ưu tiên trong triển khai các chương trình công nghệ này.
Đồng thời, trong giai đoạn trước mắt, cần đặc biệt coi trọng phát triển và áp
dụng công nghệ thích hợp, có khả năng thu hút nhiều lao động.

16


Tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất, chuyển
giao công nghệ để nâng cao năng suất lao động, kết hợp những bước tiến tuần
tự về cônh nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt , đón đầu , hìhn thành
những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học cơng nghệ thế
giới.
Tiếp thu có chọn lọc nhưng tiến bộ sản xuất từ bên ngoài, kết hợp với cơ sở
vật chất và lực lượng sản xuất trong nước nhằm đẩy nhanh thời gian phát triển
tự nhiên, vươn kịp với sự phát triển của thế giới.
Đây là khâu quyết định triển vọng phát triển của nền khoa học, cơng nghệ
nói riêng và của Việt Nam nói chung. Tạo dựng sự gắn kết có hiệu quả giữa
hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học- công nghệ với các nhu cầu kinh tếxã hội
Qua đó ta có thể thấy được phát triển cơng nghiệp hóa,hiện đại hóa là cơng
cuộc chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động kinh tế -xã hội từ sử dụng
sức lao động thủ cơng là chính sang việc sử dụng một cách phổ biến sức lao
động với khoa học và công nghệ hiện đại,tiên tiến, tạo ra năng suất lao động
cao.
2.3.3.Kinh tế đối ngoại
Nhà nước cần đề ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tăng cường,
mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ chức đa
phương, như ASEAN, APEC, ASEM, WTO..., thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư
nước ngoài (FDI, ODA...), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị

trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các
nguồn lực về vốn, khoa học - cơng nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến. Đẩy mạnh thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời xúc tiến việc ký hiệp định thương
mại song phương.
17


2.4.Giải pháp đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất
2.4.1.Sở hữu
Muốn lực lượng sản xuất phát triển nhằm nâng cao năng suất lao động, thì
địi hỏi phải tích cực cải tạo những quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, lạc hậu kìm
hãm,trói buộc lực lượng sản xuất phát triển:
Nhà nước cần xác định rõ chủ sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước.Qua đó,
nhà nước cần giảm sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào
những ngành, lĩnh vực thiết yếu, quan trọng.Nhà nước đẩy mạnh cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước nhằm xã hội hóa sở hữu nhà nước. Đồng thời tăng
cường liên kết, liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước với các thành phần
kinh tế khác để hình thành sở hữu hỗn hợp.
Tơn trọng ngun tắc bình đẳng, đồng sở hữu trong hợp tác xã. Phân biệt rõ
hai loại tài sản trong hợp tác xã để tránh chồng chéo là: tài sản được chia và tài
sản không được chia.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo d ục để nhân dân
hiểu rõ về quyền lợi, lợi ích khi tham gia hợp tác xã.
2.4.2. Tổ chức quản lý

Nhà nước cần xóa bỏ bao cấp trong doanh nghiệp nhà nước, các doanh
nghiệp nhà nước chuyển hoàn toàn sang cơ chế thị trường bình đẳng với các
thành phần kinh tế khác. Nhà nước cần phân định rõ hai loại hình doanh nghiệp
nhà nước: doanh nghiệp nhà nước hoạt động vì mục tiêu chính trị - xã hội và
doanh nghiệp nhà nước vì mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước nên phân định rõ chức

năng chủ sở hữu và chức năng quản lý kinh doanh của nhà nước trong các
doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước cần xây dựng đội ngũ quản trị giỏi trong các
doanh nghiệp nhà nước.
Xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã đa dạng với nhiều hình thức từ
thấp đến cao, nịng cốt là các Hợp tác xã kiểu mới.Nhà nước tạo điều kiện về
mọi mặt và quản lý Hợp tác xã bằng pháp lý, cơ chế, chính sách; tài chính, đào
18


tạo đội ngũ cán bộ quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ... nhằm giúp cho
kinh tế hợp tác. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của tổ chức Liên minh Hợp
tác xã, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, hội, hiệp hội trong phát triển
kinh tế Hợp tác xã
2.4.3. Phân phối sản phẩm

Doanh nghiệp nhà nước phải triệt để tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao
động, xóa bỏ bao cấp trong doanh nghiệp nhà nước.Nhà nước nên bỏ chế độ
kiêm nhiệm, phân phối theo công chức, viên chức trong doanh nghiệp nhà
nước. Doanh nghiệp nhà nước ngoài phân phối theo lao động phải đa dạng hóa
các hình thức phân phối
Phân phối thu nhập trong hợp tác xã phải theo mức độ sử dụng sản phẩm,
dịch vụ của các thành viên hợp tác xã. Cần phân bổ phân phối theo vốn góp để
tạo cơng bằng trong phân phối thu nhập và khuyến khích các thành viên góp
vốn vào hợp tác xã.
=>Trong quan hệ sản xuất cần thực hiện đa dạng hố các hình thức sở hữu,
tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm nhằm thu hút, kích thích người lao động
thamgia tích cực vào q trình sản xuất, tạo ra năng suất lao động, góp phần
thúc đẩyxã hội phát triển.
III) TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC ĐỔI MỚI LỰC
LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

Thời đại “Công nghiệp 4.0”, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu rộng.Bên cạnh đó xu thế cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đang diễn ra rầm rộ và phát triển một cách nhanh chóng trên tồn lãnh thổ Việt
Nam nói riêng và tồn cầu nói chung. Điều này dẫn đến sự chuyển biến sâu sắc
về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi các ngành, các lĩnh vực kinh tế
- xã hội khơng ngừng phát triển, thay đổi tồn diện từ tư duy nhận thức đến
hành động Để có thế “đi tắt- đón đầu” trước làn sóng cơng nghiệp hóa- hiện đại
19


hóa đang diễn ra vơ cùng mạnh mẽ thì thì sinh viên là lực lượng sản xuất chính
trong tương lai cần phải liên tục trau dồi bản thân trên nhiều khía cạnh
Để trở thành người có đầy đủ trình độ tri thức khoa học, tri thức chuyên
ngành, có phẩm chất, lối sống trong sáng, đúng mực, tư cách đạo đức nghề
nghiệp, có lý tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa thì bắt buộc sinh viên phải nhận
thức rõ nhiệm vụ, chức năng của mình khi cịn ngồi trên ghế nhà trường. Bản
thân sinh viên phải nỗ lực học tập tích lũy, phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn
kiến thức khoa học cơ bản, phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức đó
vào giải quyết vấn đề hiệu quả trong học tập và trong cuộc sống, phải tự giác tu
dưỡng, rèn luyện để vững vàng về tư duy khoa học, phát triển tư duy cá nhân
của bản thân.
Trong học tập , sự tác động của giảng viên chỉ là điều kiện cần, còn nỗ lực
của bản thân sinh viên là điều kiện đủ để phát triển năng lực tư duy cá nhân
mỗi em. Chỉ khi sinh viên tự giác, chủ động tìm tịi, đam mê khám phá, lĩnh
hội tri thức, vốn sống, tư duy logic và năng lực giải quyết hiệu quả tình huống
nghề nghiệp trong thực tiễn thì sinh viên mới thực sự nâng cao trình độ và năng
lực tư duy của bản thân. Không dừng lại ở đó để phát huy năng lực tư duy, sinh
viên phải nghiên cứu nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận biện chứng
duy vật, phải tự trang bị cho mình vốn tri thức logic học, phải không ngừng rèn
luyện thực tiễn, phải tích cực tự học tập rút ra những bài học kinh nghiệm cho

bản thân để từng bước hoàn thành và phát triển hoàn thành nhân cách nghề
nghiệp tương lai. Ngoài ra sinh viên phải đổi mới phương pháp tự học, tự tìm
tịi khám phá đạt hiệu quả. Song song với việc nâng cao trí lực sinh viên cũng
phải chú trọng nâng cao thể lực. Bởi có trí tuệ mà khơng có sức khỏe thì rất
khó để cống hiến và phát huy tài năng của mình. Với vị thế là những sinh viên
quốc tế, chúng ta cần không ngừng trau dồi hồn thiện bản thân về mặt trí tuệ,
thể lực, đạo đức và phong cách sống. Chỉ có như thế nền kinh tế nước nhà mới
có cơ hội sánh vai với “cường quốc năm châu”.
20


C. KẾT LUẬN
Tóm lại, việc đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong q trình cơng
nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường đúng đắn và tất yếu đã đạt nhiều thành tựu quan
trọng, vượt qua nhiều giai đoạn lịch sử khó khăn. Đại hội XIII là sự kế thừa và phát
triển, đã có bước đột phá về tư duy lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hố
đất nước trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng và nhà nước ta đã tiếp tục vận dụng sáng
tạo mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng hoàn thiện,
từng bước quan hệ sản xuất, làm cho phương thức sản xuất phát triển bền vững, xây
dựng được kinh tế giàu mạnh, đất nước phát triển phồn vinh. Song, với sự phát triển lực
lượng sản xuất như đã xác định, chúng ta phải xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ và phù
hợp. Chúng ta cần nhận thức rõ quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thì mới có thể xây
dựng và phát huy trong thực tế. Như thế nào là quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ lực lượng sản xuất hiện đại cũng cần được nghiên cứu và xác định rõ. Qua đó ta
thấy được nguồn tài ngun trí tuệ này là nền tảng cốt lõi, đồng thời là phương tiện hữu
hiệu để nền kinh tế vững mạnh, đất nước phồn vinh, cường thịnh, nhân dân có cuộc
sống ấm no và hạnh phúc.

21



D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc
Gia sự thật, Hà Nội 2021.
2.V.I.Lê-Nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1973.
3.C.Mác và Ăngghen tồn tập, NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội, 1994.
4. TS.Lê Minh Nghĩa(2019).Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan

hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hội đồng Lý luận trung ương.
5. TS.Phạm Thị Kiên (2020).Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa với q trình phát

triển lực lượng sản xuất trong cách mạng công nghiệp 4.0 ở việt nam hiện nay,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
6. GS, TS. Nguyễn Hùng Hậu(2015).Mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản

xuất với xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ,
Học viện Chính trị-Hành chính Quốc Gia.
7. PGS, TS Nguyễn Trọng Phú, ThS Nguyễn Thị Thanh Hà (2020). Nhận thức rõ

hơn mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ thực tiễn Việt
Nam,Học viện lý luận Chính trị.
8. Sinh hoạt lí luận (2001 - Học viện Chính trị Quốc Gia HCM – Phân hiệu Đà

Nẵng).

9. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành

Trung ương khóa XII.


11. Lí luận chính trị (Tạp chí nghiên cứu – Học viện chính trị quốc gia HCM.

12.Tạp chí Cộng Sản.
13.. .

22



×