GIUN
•
•
•
•
•
•
•
Giun ký sinh đường ruột:
Giun đũa: Ascaris lumbricoides
Giun tóc : Trichuris trichiura
Giun móc: Ancylostoma duodenale và Necator americanus
Giun lươn: Strongyloides stercoralis
Giun kim: Enterobius vermicularis
Giun xoắn: Trichinella spiralis (ruột và mô)
Giun chỉ ký sinh mạch bạch huyết:
- Wuchereria bancrofti
- Brugia malayi
Giun đũa Ascaris lumbricoides
Trưởng thành: Giun đực : 15 - 20 cm, đi cong, có 2 gai giao hợp.
Giun cái : 25 - 30 cm, đi thẳng.
Trứng
Trứng giun đũa có hình bầu dục. hình cầu hơi trịn. Vỏ trong suốt gồm 3 lớp: bên ngồi là lớp
albumin dầy, xù xì; lớp giữa dầy trơn láng, lớp trong mỏng. Bên trong trứng là phôi bào chưa phân
chia khi trứng mới được đẻ ra.
Trứng giun đũa có hai loại:
Trứng thụ tinh hay cịn gọi là trứng chắc: có hình bầu dục, lớp vỏ albumin dầy đều, kích thước
trứng khoảng 50 – 75 µm x 45 – 60 µm. Lớp vỏ albumin có thể bị tróc mất đi làm cho nhầm
lẫn với trứng của một vài loại giun, sán khác.
Trứng không thụ tinh hay trứng lép: có hình bầu dục dài và hẹp hơn, kích thước từ 88 – 94 µm
x 39 – 44 µm. Lớp vỏ albumin ít dày hơn và độ dầy mỏng không đều, bên trong trứng là
những hạt trịn khơng đều, rất chiết quang. Trứng khơng thụ tinh khơng phát triển và sẽ bị
thối hóa.
Trứng thụ tinh và trứng khơng thụ tinh có thể mất lớp vỏ ngồi sần sùi, trở nên trơn láng.
DỊCH TỄ
• Giun đũa là 1 loại giun phổ biến nhất và có phân bố rộng nhất trong các loại ký sinh trùng gây
bệnh ở người.
1
•
•
Trứng đề kháng được với lạnh và các chất tẩy ở các nồng độ thường dùng. Bị giết bởi ánh
sáng mặt trời trực tiếp và nhiệt độ trên 450C. Có thể tồn tại được trong nước đến 5 năm và 7
năm trong đất vườn có bóng mát.
Tình hình nhiễm giun đũa ở Việt Nam: các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn các tỉnh phía
Nam. Nơng thơn nhiễm cao hơn thành thị.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun đũa cái đẻ trứng ở ruột non, một giun cái đẻ trung bình 200.000 trứng mỗi ngày. Trứng
theo phân ra bên ngoài. Tùy theo điều kiện nhiệt độ, phôi bào bên trong trứng sẽ phân chia và phát
triển thành ấu trùng nằm trong trứng từ khoảng 9 đến 43 ngày. Trứng có ấu trùng sẽ trở thành trứng
có khả năng gây nhiễm. Khi người nuốt phải trứng có ấu trùng, trứng theo thực quản xuống dạ dày.
Tại dạ dày, ấu trùng được thoát ra khỏi trứng ở phần đầu ruột non, sau đó, ấu trùng xuyên qua thành
ruột theo các tĩnh mạch đến gan, đến tim phải và lên phổi. Tại phổi, ấu trùng lột xác 2 lần và làm vỡ
mao quản phổi để thoát vào phế nang. Từ phế nang, ấu trùng theo tiểu phế quản, phế quản đến khí
quản lên yết hầu. Từ yết hầu, ấu trùng được nuốt trở lại thực quản, xuống dạ dày, ruột non, lột xác lần
cuối để trở thành giun trưởng thành.
Từ lúc trứng có ấu trùng được nuốt vào cho đến khi có giun đũa trưởng thành trong ruột, thời
gian của chu trình mất khoảng từ 2 - 2,5 tháng.
Tuổi thọ của giun đũa khoảng 12 - 18 tháng.
Vì giun đũa thực hiện chu trình phát triển bắt đầu từ ruột non, đi qua các cơ quan khác rồi trở
lại kết thúc ở ruột non nên cịn gọi là chu trình chu du của giun đũa.
BỆNH HỌC
Giai đoạn ấu trùng di chuyển đến phổi:
–
–
–
Bạch cầu toan tính tăng
Triệu chứng lâm sàng : bệnh nhân ho khan
X-quang : hình ảnh thâm nhiễm phổi
HỘI CHỨNG LOEFFLER
–
–
Hội chứng Loeffler nặng nhẹ tùy thuộc vào cơ địa mỗi người.
Các triệu chứng này mất sau 1 tuần.
Giai đoạn ở ruột :
–
–
Giun ở ruột chiếm đoạt thực phẩm làm bệnh nhân suy yếu
Giun ký sinh nhiều :
2
-
Bệnh nhân đau bụng
Ói ra giun
Tắc ruột
Viêm ruột thừa
Trẻ em nhiễm giun : suy dinh dưỡng, bụng to, chậm lớn.
CHẨN ĐỐN
• Ở PHỔI :
– Tìm AT trong đàm
– X-quang : thấy bóng mờ, mất sau 1 tuần
– Bạch cầu toan tính tăng 20 - 40%.
•
Ở RUỘT:
– Tìm trứng trong phân.
– X-quang thấy hình ảnh giun đũa
ĐIỀU TRỊ
–
–
–
–
Mebendazole uống 100mg x 2 lần /ngày x 1ngày hoặc Mebendazole uống 500mg liều
duy nhất.
Albendazole:
- trẻ em từ 2-5 tuổi: uống 200 mg, liều duy nhất
- người lớn: 400mg liều duy nhất.
Levamisol: 5mg/kg, liều duy nhất.
Pyrantel pamoate (Combantrin): 10mg/kg, liều duy nhất.
PHÒNG BỆNH
– Vệ sinh cá nhân trong ăn uống.
– Vệ sinh môi trường.
– Điều trị hàng loạt trong từng thời gian cố định.
Giun móc
Ancylostoma duodenale
Necator americanus
3
Có 2 loại giun móc, khác nhau ở miệng:
Ancylostoma duodenale : miệng có răng
Necator americanus : miệng có bản dao
HÌNH THỂ
Con đực :
Dài : 8 - 11 mm. Đuôi con đực xịe.
Con cái:
Dài : 10 - 13mm. Đi con cái cùn.
Trứng giun móc có hình bầu dục, vỏ mỏng trong suốt. Trứng mới đẻ phôi bào phân chia thành từ 2
- 8 thùy.
Ấu trùng thực quản ụ phình (Rhabditiform):
Kích thước: 250 x 17 m
Miệng mỡ, bao miệng dài và hẹp
Thực quản phình ra ở phía sau
Đi thon dài và nhọn.
Ấu trùng thực quản hình ốnG (Filariform):
Kích thước : dài 500 - 600 m
Miệng đóng
Thực quản hình ống
Đi thon dài và nhọn.
DỊCH TỄ
• Bệnh nhiễm giun móc phổ biến ở những người trồng hoa màu, trồng cây ăn trái, vườn cà phê,
công nhân cạo mủ cao su, công nhân nông trường mía.
• Ấu trùng khơng thể sống được nếu gặp mơi trường nước. Nếu gặp mơi trường ẩm, chúng có
thể sống đến 2 năm.
• Tình hình nhiễm giun móc ở Việt Nam: các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn các tỉnh phía
Nam. Các tỉnh thuộc miền Đơng Nam bộ có tỷ lệ nhiễm cao.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun móc cái đẻ trứng ở trong ruột của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài và khoảng 24
giờ , trứng nở ra ấu trùng giai đoạn 1 có thực quản ụ phình, kích thước khoảng 200 – 300 m
x 14 - 18m,. Ấu trùng có xoang miệng dài, ăn các chất hữu cơ ở ngoại cảnh và phát triển
thành ấu trùng giai đoạn 2 có thực quản hình ống, đi nhọn dài khoảng 400 -500m x 20m
4
trong vịng 2 - 3 ngày. Sau đó, ấu trùng lột xác lần thứ 2 chuyển qua giai đoạn 3, có khả năng
xâm nhiễm vào ký chủ. Ấu trùng giai đoạn 3 xâm nhập vào ký chủ qua da, vào các mạch bạch
huyết hoặc tĩnh mạch và vào máu đến tim, phổi. Ở phổi, ấu trùng thoát ra khỏi mao quản và
vào phế nang.Từ phế nang, ấu trùng theo các tiểu phế quản đến phế quản, lên khí quản, yết
hầu và được nuốt trở lại thực quản, xuống dạ dày và đến tá tràng, lột xác thứ tư và trưởng
thành.
Tuổi thọ của Ancylostoma duodenale từ 6 - 8 năm hoặc hơn; Necator americanus
khoảng 2 năm, có khi đến 4 -5 năm.
BỆNH HỌC
Có 3 giai đoạn.
1. Giai đoạn ở da:
Khi ấu trùng chui qua da chúng gây ra những nốt mẫn đỏ, ngứa, có khi bội nhiễm.
Triệu chứng này kéo dài trong 3 - 4 ngày rồi tự hết.
2 . Giai đoạn di chuyển của ấu trùng
Bạch cầu toan tính tăng
Triệu chứng lâm sàng : AT ở phế nang làm bệnh nhân ho
X-quang : hình ảnh thâm nhiễm phổi
Các triệu chứng này mất sau 1 tuần.
Có hội chứng Loeffler nhưng không
rõ như trong trường hợp giun đũa
3. Giai đoạn ruột
Rối loạn tiêu hóa
Rồi loạn thần kinh
Nhiễm nặng : thiếu máu.
CHẨN ĐOÁN
̶̶ Xét nghiệm phân tìm trứng.
ĐIỀU TRỊ
Mebendazole 100mg x 2 lần / ngày / 3 ngày liên tiếp hoặc
Mebendazole 500mg liều duy nhất
5
Albendazole 400mg, uống liều duy nhất.
PHÒNG BỆNH
Phát hiện bệnh và điều trị.
Giữ vệ sinh ngoại cảnh, quản lý tốt phân.
Không nên đi chân đất để tránh AT chui qua da.
GIUN LƯƠN Strongyloides stercoralis
Có giai đoạn ký sinh bên trong cơ thể người.
Có giai đoạn sống tự do khơng ký sinh, ở ngoại cảnh.
Hình thể giun do vậy cũng khác nhau tùy theo giai đoạn ký sinh hay khơng ký sinh.
Hình thể : Giun trưởng thành
Hầu hết giun lươn ký sinh là giun cái:
- Kích thước 2 mm x 50 m
- Đường kính khơng thay đổi, nhỏ như sợi chỉ, màu trắng, gần như trong suốt
- Thực quản hình ống
- Đi nhọn
- Âm hộ cách đầu một khoảng dài hơn 1/3 thân
- Trứng xếp thành từng dãy trong tử cung.
Ấu trùng thực quản ụ phình (Rhabditiform):
Kích thước: 200 - 380 x 16 - 20 m
Phần sau thực quản phình
Bao miệng ngắn.
Đi thon dài và nhọn
Ấu trùng thực quản hình ống( Filariform ) :
Kích thước: 500 - 630 x 16 m
Thực quản hình ống
Đi chẻ hai.
6
DỊCH TỄ
̶̶ Ấu trùng không thể sống ở nhiệt độ dưới 80C và trên 400C và không chịu được sự khô hạn .
̶̶ Một số yếu tố tạo thuận lợi cho bệnh giun lươn phát triển: sử dụng thuốc ức chế MD, các
bệnh máu ác tính, điều trị bằng Corticoide…
̶̶ Tình hình nhiễm giun lươn ở Việt Nam khoảng 2%.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun lươn có 3 kiểu chu trình phát triển.
1. Chu trình trực tiếp
Ấu trùng (AT) có thực quản ụ phình theo phân ra ngồi. Ở ngoại cảnh, ấu trùng phát triển
nhanh chóng thành AT có thực quản hình ống trong khoảng từ 2 - 3 ngày trong điều kiện không thuận
lợi như nhiệt độ và ẩm độ thấp. Ấu trùng có thực quản hình ống chui qua da người vào tĩnh mạch đến
tim phải, lên phổi, khí quản, thực quản, dạ dày và xuống phần đầu ruột non định vị và ký sinh ở đó.
Trứng giun được đẻ sau khi bị nhiễm 28 ngày. Trứng nở, cho ra AT có thực quản ụ phình ngay trong
ruột và AT được thải ra ngồi theo phân.
2. Chu trình gián tiếp
Ấu trùng có thực quản phình từ trong ruột theo phân ra bên ngồi. Trong điều kiện khí hậu
thuận lợi như nhiệt độ cao, ẩm độ đủ, AT có thực quản phình sẽ phát triển thành giun lươn dạng sống
tự do ở ngoại cảnh. Giun cái dạng sống tự do sau khi thụ tinh, đẻ trứng và trứng nở ra AT có thực
quản phình (thế hệ sau). Phần lớn trường hợp AT có thực quản phình sẽ lập lại chu trình ở ngoại cảnh
để trở thành giun lươn không ký sinh. Nhưng cũng có một số trường hợp, có thể do thay đổi khí hậu,
AT thực quản phình lột xác để trở thành AT có thực quản hình ống và xâm nhập qua da vào cơ thể ký
chủ để trở thành giun lươn ký sinh giống như chu trình trên.
3. Chu trình tự nhiễm
Trong trường hợp người bị táo bón, khơng đi cầu được, AT có thực quản phình nở ra trong
ruột khơng bị thải ra ngồi sẽ phát triển thành AT có thực quản hình ống ngay trong ruột của ký chủ.
Ấu trùng xuyên qua thành ruột vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch đến gan, tim và tiếp tục chu trình để ký
sinh ở ruột non giống như các chu trình trên.
Chu trình tự nhiễm xảy ra trên chính bản thân người bệnh và điều này giải thích vì sao một
người bệnh tuy đã ra khỏi vùng dịch tễ, hoàn tồn khơng bị tái nhiễm từ bên ngồi nữa nhưng vẫn
mang bệnh dai dẳng, có trường hợp bệnh kéo dài đến 36 năm.
7
BỆNH HỌC
Có 3 giai đoạn:
1. Giai đoạn ở da:
Khi ấu trùng chui qua da chúng gây ra những nốt mẫn đỏ, ngứa ngáy rất khó chịu, có khi
thành nốt bội nhiễm.
Triệu chứng này kéo dài trong 3 - 4 ngày rồi tự hết.
2 . Giai đoạn di chuyển của ấu trùng
Bạch cầu toan tính tăng cao đến 80%
Triệu chứng lâm sàng : AT ở phế nang làm bệnh nhân sốt, ho khan, đau ngực.
X-quang : hình ảnh thâm nhiễm phổi.
Ở phổi gây nên hội chứng Loeffler.
3. Giai đoạn ruột
- Bệnh nhân hay đau bụng dễ lầm với đau dạ dày, đi ngồi phân lỏng, phân có nhày máu đơi khi
táo bón.
- Giun có thể đi các cơ quan khác ngồi ruột.
CHẨN ĐỐN
̶̶ Xét nghiệm phân thấy AT giun lươn
̶̶ Làm kỹ thuật tập trung Baermann tìm AT trong phân
̶̶ Xét nghiệm máu tìm kháng thể của giun lươn.
ĐIỀU TRỊ
Thiabendazole: thuốc dùng trong điều trị bệnh giun lươn có hiệu quả cao
Albendazole
Ivermectin.
PHỊNG BỆNH
̶̶ Giống giun móc.
̶̶
Tự nhiễm phía ngồi : vệ sinh cá nhân sạch sẽ.
̶̶
Tự nhiễm phía trong : tránh táo bón.
Giun tóc Trichuris trichiura
8
HÌNH THỂ
Phần đầu : mảnh như sợi tóc (3/5 cơ thể)
Phần đi : phình to
Giun đực :
- Chiều dài 30-45 mm
- đi cong có gai giao hợp
Giun cái :
- Chiều dài: 35 -50 mm
- đi thẳng.
Trứng
-
hình thoi dài, giống trái cau
kích thước 50 – 54 x 20- 22 µm
vỏ dày, trơn láng
ở 2 đầu có nút trong
bên trong chứa 1 phơi bào khi mới được đẻ ra.
DỊCH TỄ
• Bệnh nhiễm giun tóc phổ biến khắp thế giới, đứng hàng thứ ba sau giun đũa và giun móc.
• Trứng chịu được nhiệt độ thấp, nhưng sẽ chết nếu gặp khô. Trứng giun tóc có sức đề kháng
cao với ngoại cảnh, trứng có ấu trùng có thể tồn tại đến 5 năm.
• Tình hình nhiễm giun tóc ở Việt Nam: các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn các tỉnh phía
Nam. Tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở lứa tuổi học sinh tiểu học.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun tóc ký sinh ở ruột già. Giun tóc cắm đầu sâu vào niêm mạc ruột và hút máu. Giun cái đẻ
trứng trong ruột. Trứng theo phân ra ngoài và phát triển thành trứng có ấu trùng . Người nuốt phải
trứng có ấu trùng vào đến ruột non, ấu trùng thoát ra khỏi trứng ở phần đầu ruột non và ấu trùng đi
dần xuống manh tràng rồi trưởng thành. Từ lúc người nuốt trứng cho đến lúc giun trưởng thành
khoảng 30 - 45 ngày. Giun tóc có thể sống đến 6 năm hoặc có thể lâu hơn.
BỆNH HỌC
– Nhiễm ít: hầu như khơng có triệu chứng.
– Khi bị nhiễm nhiều:
9
Tiêu chảy
Thiếu máu
Sa trực tràng
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng : khó xác định.
Xét nghiệm :
Tìm trứng trong phân.
ĐIỀU TRỊ
–
–
Mebendazole 100mg x 2 lần / 3 ngày hoặc
Mebendazole 500mg liền duy nhất.
Albendazole 400mg liều duy nhất.
PHÒNG BỆNH
– Vệ sinh cá nhân trong ăn uống.
– Vệ sinh môi trường.
– Điều trị hàng loạt trong từng thời gian cố định.
Giun kim Enterobius vermicularis
Giun kim có kích thước nhỏ, hình dạng giống cây kim may với đuôi giun cái nhọn như mũi
kim. Giun kim nhiễm và gây bệnh chủ yếu ở trẻ em.
I. HÌNH THỂ
Giun trưởng thành màu trắng ngà. Dọc theo 2 bên thân, lớp vỏ dày lên tạo thành 2 gờ chạy dài
theo thân. Thực quản giun có phần cuối phình to, chiếm gần hết xoang cơ thể.
Giun kim cái dài từ 8 – 13 mm x 0,4 mm, đuôi thẳng và nhọn. Tử cung chứa khoảng 11.000
trứng. Giun kim đực dài 2 – 5 mm, đuôi cong và có 1 gai sinh dục.
Trứng giun kim có kích thước 50 m x 30 m, vỏ mỏng, trong suốt, hình bầu dục, hơi lép
một bên. Trứng mới đẻ đã có sẵn ấu trùng bên trong trứng.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Giun kim ký sinh ở ruột già. Sau khi thụ tinh, giun cái với tử cung chứa đầy trứng, không đẻ
trứng ở trong ruột mà di chuyển theo khung đại tràng ra đến rìa hậu mơn, tại các nếp niêm mạc hậu
10
môn để đẻ trứng. Giun kim đẻ trứng thường vào ban đêm. Trứng được bám dính quanh hậu mơn và
do đã có sẵn ấu trùng trong trứng nên có thể gây nhiễm cho người khác ngay sau vài giờ. Khi người
nuốt phải trứng giun kim, ấu trùng giun thoát ra khỏi trứng ở tá tràng và trải qua 2 lần lột xác, giun
trưởng thành ở ruột non, sau đó, di chuyển xuống manh tràng trưởng thành và đẻ trứng. Thời gian từ
lúc nuốt trứng cho đến khi giun trưởng thành khoảng từ 2 - 4 tuần, có khi lâu hơn.
DỊCH TỄ
̶̶ Bệnh thường tập trung ở trẻ em
̶̶ Bệnh lây nhiễm vào người qua đường miệng
̶̶ Bệnh lây lan do vệ sinh cá nhân
̶̶ Trứng đề kháng rất yếu ở ngoại cảnh, dễ chết ở nhiệt độ cao hơn 360C và nhiệt độ dưới 240C
̶̶ Tình hình nhiễm giun kim ở Việt Nam: tỉ lệ nhiễm cao ở trẻ em mẫu giáo, nhà trẻ.
BỆNH HỌC
Giun ở ruột : ngứa hậu mơn,
rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh
Biến chứng: giun đi lạc chỗ:
Ở trẻ em : viêm ruột, tiêu chảy.
Ở phụ nữ : viêm âm hộ.
CHẨN ĐOÁN
Lâm sàng : ngứa hậu môn
Xét nghiệm :
- XN phân : ít có kết quả ( vì giun kim khơng đẻ trứng trong ruột).
- Dùng phương pháp GRAHAM: dùng băng keo trong áp vào hậu môn để thu thập trứng.
ĐIỀU TRỊ
–
–
–
Mebendazole 100mg, uống liều duy nhất
Albendazole 400mg, uống liều duy nhất.
Pyrantel pamoate 10 mg/kg, uống liều duy nhất.
PHÒNG BỆNH
Vệ sinh cá nhân trong ăn uống.
Vệ sinh môi trường .
Điều trị hàng loạt, trong từng thời gian cố định .
11
Vệ sinh chăn màn, giường chiếu.
Trẻ em : rửa tay, cắt móng tay, khơng cho trẻ mút tay.
GIUN XOẮN Trichinella spiralis
Giun xoắn gây bệnh cấp tính và có thể gây thành dịch. Đây là loại giun ký sinh và gây bệnh ở
cả hai giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trên một ký chủ.
HÌNH THỂ
Giun trưởng thành có kích thước nhỏ, giun đực dài 1,5 x 0,04 mm; giun cái dài 3,5 x 0,06 mm, trong
tử cung chứa trứng có kích thước khoảng 20 m. Ấu trùng có kích thước khoảng 80 - 120 x 5,6 m
lúc mới đẻ. Nang giun xoắn có hình bầu dục dài 200 – 400 µm.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
- Giun trưởng thành sống ở ruột non của người, heo, chuột
- Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ phôi tại niêm mạc ruột
- Phôi theo máu/mạch bạch huyết đến tim, khắp nơi trong cơ thể, nhiều nhất là cơ hoành, cơ
mắt
- Ở cơ, ấu trùng hóa nang, ấu trùng cuộn lại như hình lị-xo
- Khi người ăn phải, ấu trùng vào dạ dày, thoát khỏi nang, đi xuống ruột non và trưởng thành
Giun cái đẻ phôi sau 7 ngày, từ 1500 -2000 phôi
- Giun cái có thể sống được 6 tuần.
DỊCH TỄ
- Giun xoắn có thể ký sinh trên nhiều động vật: gấu, sóc, cáo, cừu, hải cẩu, heo, chuột, chó,
mèo.
- Bệnh thường gặp ở Mỹ, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, dân Eskimo.
- Bệnh có thể gây thành dịch khi địa phương có sẵn thú mắc bệnh và có tập quán ăn thịt sống.
- Ở Việt Nam, bệnh giun xoắn được phát hiện ổ dịch năm 1968 ở Tây Bắc.
- Người bị nhiễm do ăn thịt heo, chuột có nang ấu trùng khơng được nấu chín
- Ấu trùng trong nang sống 5 - 12 năm.
- Nếu không chuyển sang ký chủ khác, ấu trùng sẽ hóa vơi tại chỗ.
- Nang có thể sống 10 ngày trong thịt đông lạnh (-10°C).
- Ấu trùng chết khi bị đun sôi trong 30 phút.
BỆNH HỌC
12
Tổn thương do giun trưởng thành ở ruột không trầm trọng.
Tổn thương chủ yếu do ấu trùng khi di chuyển vào mơ và hóa nang trong cơ và phủ tạng.
Thời kỳ ủ bệnh: 1-2 ngày, tương ứng với thời gian ấu trùng trưởng thành trong ruột non.
Biểu hiện lâm sàng qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn viêm ruột = giun trưởng thành di chuyển vào thành ruột và đẻ phôi :
- rối loạn tiêu hóa: đau bụng, tiêu chảy
- nhức đầu, buồn nơn
- sốt 40 – 41°C
Giai đoạn tồn phát = ấu trùng di chuyển trong mô:
- sốt cao, suy nhược nhanh
- phù ở mặt, mí mắt, cổ, có thể lan rộng
- xuất huyết ở da, ngứa.
Giai đoạn ấu trùng hóa nang:
- sốt giảm
- đau ở các cơ khớp, nhai khó, nuốt khó
- dị ứng giảm.
Trường hợp nhiễm nặng:
- đau cơ, liệt hơ hấp, suy nhược tăng
- có thể đưa đến tử vong.
CHẨN ĐỐN
Ở giai đoạn khởi phát:
- có thể tìm thấy giun trưởng thành trong phân
Thời kỳ tồn phát:
- xét nghiệm máu: có thể tìm thấy ấu trùng trong máu, bạch cầu toan tính tăng
- kỹ thuật miễn dịch
Thời kỳ hóa nang:
-sinh thiết cơ : ấu trùng cuộn trịn trong nang.
ĐIỀU TRỊ VÀ PHỊNG BỆNH
Điều trị:
- Mebendazole: 20 mg/kg, uống mỗi 6 giờ trong 2 tuần, có tác dụng tốt đối với ấu trùng.
- Thiabendazol (Mintezol®) : 25 mg/kg x 2 lần/ngày, uống trong 1 tuần đối với giun trưởng
thành trong ruột
- Albendazole (Zentel®): 800 mg/ngày, chia làm 2 lần, uống trong 14 ngày.
13
- điều trị triệu chứng: giảm đau, chống viêm, chống phù.
Phịng bệnh:
- Khơng ăn thịt heo tái sống.
- Quản lý tốt khâu kiểm dịch.
GIUN CHỈ
Giun chỉ gồm nhiều loài ký sinh và gây bệnh với những triệu chứng và dịch tễ học khác nhau
- Giun chỉ có 3 đặc điểm:
- giun trưởng thành sống ở mô
- giun cái đẻ phôi, sống ở hệ bạch huyết hay ở mô
- bệnh giun chỉ được truyền qua ruồi, muỗi
- Tùy theo nơi ký sinh, giun chỉ được chia làm 2 nhóm:
- nhóm sống trong mạch bạch huyết: Wuchereria bancrofti, Brugia malayi
- nhóm sống ở dưới da: Loa loa, Onchocerca volvulus, Dracunculus medinensis…
Hình thể
Giun trưởng thành:
Wuchereria bancrofti
- kích thước: con đực dài 3 -4 cm, con cái dài 8 -10 cm
- giun trưởng thành mảnh, có màu trắng sữa.
- có vỏ bọc trơn láng.
- giun đực và cái sống cuộn vào nhau như một mớ chỉ trong mạch bạch huyết.
Brugia malayi
Con trưởng thành giống W. bancrofti về hình thể, nhưng mảnh và ngắn hơn.
- Giun cái dài 4,3 - 5,5 cm.
- Giun đực dài 1,3 - 2,3 cm.
Phơi giun chỉ
Wuchereria bancrofti
•
Kích thước: 161 - 305 m
•
•
•
•
Thân có những chỗ uốn cong, mềm mại, đều.
Bao bọc ngoai dài hơn thân ít
Nhân dinh dưỡng nhỏ, ít, tách biệt rõ, không đi tới cuối đuôi.
Đuôi nhọn, thon, khơng có nhân.
14
Brugia malayi
•
Kích thước: 180 - 230 m.
•
•
•
•
Thân có những chỗ uốn cong, không đều, đuôi xoắn.
Bao bọc ngoai dài hơn thân nhiều
Nhân dinh dưỡng nhỏ, nhiều, sát nhau, không rõ.
Đuôi nhon, thon, có 2 nhân.
Phân bố giun chỉ trên thế giới (TCYTTG)
Khoảng 90,2 triệu người mắc bệnh:
–
81,6 triệu trường hợp là do W. bancrofti
–
8,6 triệu ca do B. malayi và B. timori
Khoảng hai phần ba số người bị nhiễm là ở Trung Quốc, Ấn Độ hoặc Indonesia.
•
Bệnh giun chỉ bạch huyết hiện nay đã biến mất khỏi Bắc Mỹ, Nhật Bản, Úc, và một số nước
đã khống chế được bệnh này như Trung Quốc.
DỊCH TỄ
• Bệnh giun chỉ có tính chất khu trú rõ rệt.
- Trước 2000: Nam Định,Hà Nam,Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương
- 2000-2005: Hà Nam, Hưng n, Thái Bình, Hịa Bình, Quảng Bình, Khánh Hịa, Ninh Thuận
- Tỷ lệ nhiễm giun: 1 – 5%
• Lồi giun chỉ ở miền Bắc: Brugia malayi
chiếm 90-95% các trường hợp bệnh giun chỉ.
• Ở miền Nam : Wuchereria bancrofti
• Cả 2 loại đều mới phát hiện được chủng có chu kỳ đêm, mật độ phôi trong máu ngoại biên
cao nhất từ 20 giờ - 3 giờ.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
• Chu trình phát triển của giun chỉ qua 2 ký chủ: người và muỗi.
• Chu trình phát triển của các loài giun chỉ hệ bạch huyết khác nhau về chu kỳ 24 giờ của phơi
giun chỉ ở máu ngoại biên.
• 3 loại chu kỳ:
- Chu kỳ đêm: mật độ phôi giun chỉ trong máu ngoại biên cao nhất về đêm.
- Bán chu kỳ đêm: phơi giun chỉ có thể tìm thấy bất cứ lúc nào trong máu ngoại biên,
nhưng mật độ hơi tăng cao hơn về đêm.
15
- Bán chu kỳ ngày: phôi giun chỉ xuất hiện cả 24 giờ, nhưng mật độ hơi cao hơn về ban
ngày.
Giun cái đẻ phôi, phôi di chuyển từ hệ bạch huyết sang hệ tuần hoàn, nhưng chỉ xuất hiện trong máu
ngoại biên vào những giờ nhất định.
Khi muỗi hút máu người bệnh, phơi được hút vào dạ dày muỗi.
Sau đó tiến đến vịi của muỗi, từ đó vào người qua vết đốt của muỗi.
Ở người, phôi từ máu ngoại biên vào hệ bạch huyết, sinh sống và trưởng thành, từ 2 - 6 tuần.
Nếu không được chuyển qua muỗi, phôi sẽ chết sau 2 tháng.
Muỗi truyền bệnh ở Việt Nam: Culex fatigans và Anopheles hyrcanus.
BỆNH HỌC
• Bệnh giun chỉ âm thầm, mạn tính có nhiều người mang ấu trùng nhưng khơng có triệu chứng
trong nhiều năm.
• Giun chỉ có thể gây một số tác hại: làm viêm cục bộ, làm tắc nghẽn mạch bạch huyết, tiết độc
tố gây dị ứng.
• Bệnh giun chỉ tiến triển qua 4 thời kỳ:
Thời gian nung bệnh: 3 tháng hoặc hơn, khơng có triệu chứng.
Thời kỳ khởi phát: giun trưởng thành ở trong hệ bạch huyết. Bệnh nhân khó chịu, mệt mỏi
chi, đau ở nách, háng bìu. Sốt nhẹ (38,5°C). Nổi mẩn, ngứa, đau khớp.
Thời kỳ toàn phát: viêm và vỡ mạch bạch huyết.
Các mạch bạch huyết giãn nở ở bụng, chân, tay, nách, cơ quan sinh dục.
Viêm ở bàng quang tiểu ra dưỡng trấp
Viêm ở đường tiêu hóa tiêu ra dưỡng trấp
Thời kỳ mạn tính: di chứng
•
Viêm ngày càng nặng, xen kẽ viêm cấp tính
•
Giun làm tắc nghẽn các mạch bạch huyết phù voi, tràn dịch màng tinh, đái dưỡng trấp.
•
Phù voi thường gặp ở chi, ngực và cơ quan sinh dục ngồi.
CHẨN ĐỐN
• Chẩn đốn dựa vào dịch tể, lâm sàng và xét nghiệm.
• 1. Dịch tễ.
• 2. Lâm sàng: đái dưỡng trấp hoặc phù voi.
• 3. Xét nghiệm:
– Xét nghiệm máu ngoại biên để tìm phơi giun chỉ.
16
–
–
Kỹ thuật miễn dịch với kháng nguyên tái tổ hợp hoặc kháng thể đơn dòng.
Kỹ thuật PCR cho kết quả rất tốt và đạt hiểu quả rất cao (98%).
PHÒNG BỆNH
1. Phòng chống muỗi đốt:
- mặc quần áo dài tay…., ở những vùng còn lưu hành bệnh giun chỉ, dùng màn tẩm Permethrin
- diệt ấu trùng, diệt muỗi,
- cải tạo môi trường: phá bỏ những nên sinh sản của muỗi, dọn sạch ao bèo, cống rãnh quanh
nhà.
2. Phát hiện và điều trị người mang giun chỉ:
- cho uống Diethylcarbamazin diệt phôi giun chỉ trong máu để cắt đứt đường di truyền của
giun chỉ.
17