CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
TẠO HỨNG THÚ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY PHÂN MƠN VĂN TRONG
CHƯƠNG TRÌNH VĂN THCS
Quảng Bình, tháng 11 năm 2017
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
TẠO HỨNG THÚ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY PHÂN MƠN VĂN TRONG
CHƯƠNG TRÌNH VĂN THCS
Họ và tên: Đỗ Đức Thuần
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Dương Thủy
Quảng Bình, tháng 11 năm 2017
2
1. PHẦN MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Vấn đề tạo hứng thú dạy học trong nhà trường để nâng cao hiệu quả đổi
mới phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh nhằm đào tạo
những người năng động và sáng tạo đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế
được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 1980. Vì vậy, bên cạnh nâng
cao chất lượng học sinh đại trà, phụ đạo học sinh yếu thì việc nâng cao chất
lượng giáo dục mũi nhọn có vai trị rất quan trọng. Đó là nhiệm vụ của tồn
ngành của mọi cơ sở giáo dục. Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu đó, giải pháp
quan trọng đặt ra cho cấp THCS là thực hiện đổi mới phương pháp dạy học.
Một trong những yếu tố dẫn đến thành cơng phải nói đến việc tạo ra hứng thú
học tập cho học sinh nói chung và mơn Văn nói riêng.
Vì vậy, chúng tơi phải ln trăn trở tìm tịi, hằng ngày phải đọc và xem
nhiều tài liệu để tìm được các giải pháp tối ưu nhất để tạo ra hứng thú học phân
môn Văn, trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng mơn Văn trong
tình hình hiện nay.
Trong những năm qua, bản thân tôi và học sinh phải trực tiếp giải quyết
rất nhiều dạng bài tập khác nhau, mỗi một dạng có nét đặc thù riêng biệt. Do
vậy, việc tạo hứng thú cho học sinh học phân môn Văn là một trong những
khâu trọng yếu, mang tính đột phá để giúp học sinh nhận ra được vị thế, vai trị
của mơn Văn trong chương trình giáo dục phổ thơng. Vì vậy, tơi chọn đề tài
“Tạo hứng thú nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy phân
môn Văn trong trong chương trình Văn THCS”.
1.2. Điểm mới của đề tài:
Văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, mà cuộc sống bao giờ cũng đa
dạng, đa chiều và vô cùng phong phú. Mỗi tác phẩm văn chương là một mảng
cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc, phản ánh. Vì vậy, mơn Văn trong nhà
trường có một vị trí rất quan trọng: Nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng
sâu sắc đến thẳm sâu trong tình cảm của con người, nó bồi đắp cho tâm hồn con
3
người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn. M.Goóc-ki khẳng định:
“Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản
thân mình và làm nảy nở con người khát vọng hướng tới chân lý”. Văn học
“Chắp đôi cánh” để các em đến với mọi thời đại văn minh, với mọi nền văn
hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, trang bị cho các em vốn
sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện, mỹ.
Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm là những suy nghĩ sâu sắc hơn về
việc dạy học của giáo viên với học sinh học phân mơn Văn, từ đó đưa ra những
giải pháp mang tính thiết thực, cụ thể để nâng cao hiệu quả dạy-học của phân
mơn Văn nói riêng cũng như bộ mơn Ngữ văn THCS nói chung.
1.3. Phạm vi áp dụng:
Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề
cơ bản về việc tạo hứng thú để nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy
phân mơn Văn trong chương trình THCS.
Chúng tơi vận dụng và dạy thể nghiệm trong quá trình dạy học ở đơn vị
mình cơng tác.
4
2. PHẦN NỘI DUNG:
2.1.Thực trạng vấn đề:
Mơn Văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn THCS,
chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp tục học lên ở bậc cao hơn. Đó là những con
người có ý thức tự tu dưỡng, biết u thương, q trọng gia đình, bạn bè, có
lịng yêu nước, yêu CNXH, biết hướng tới tương lai, tình cảm cao đẹp như:
lịng nhân ái, tinh thần tơn trọng lẽ phải, sự cơng bằng, lịng căm ghét cái xấu,
cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng
tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ cái giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật,
trước hết là trong Văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng
Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Trong thực hiện mục tiêu này thì phân mơn Văn học có ưu thế đặc biệt,
bởi lẽ “Văn học là nhân học”, là “Sản phẩm của trái tim” và người đọc tiếp
nhận nó cũng bắt đầu từ trái tim. “Thơ bắt đầu từ trái tim và kết thúc bằng trái
tim”. Để đạt được mục tiêu trên, vấn dề có ý nghĩa trên hết cho hiệu quả dạy và
học môn Văn là thầy (cơ) phải đổi mới cách dạy, trị đổi mới cách học.
Bản chất của đổi mới cách dạy và học Văn hiện nay là: Chuyển học sinh
từ nhân vật tiếp nhận thụ động sang vị trí đồng tiếp nhận, đồng sáng tạo;
chuyển thầy cơ giáo từ vị trí cảm thụ thay và truyền đạt kết quả cảm thụ cho
học sinh thơng qua thuyết giảng sang vị trí là người tổ chức, hướng dẫn học
sinh hoạt động cảm thụ, qua đó giúp các em có được những hứng thú, mê say
trong môn học.
2.1.1. Số liệu thống kê:
Thực trạng trước khi nghiên cứu đề tài, qua q trình dạy học mơn Văn
trong mấy năm gần đây tôi nhận thấy rằng các tiết dạy phân môn Văn đa số học
sinh tiếp thu được bài song chất lượng chưa cao, một số em còn chưa sáng tạo
và linh hoạt trong các dạng bài tập khó hay bài tập mới và lạ.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2017- 2018 các lớp ở đơn vị tôi
đang công tác khi chưa áp dụng sáng kiến có kết quả như sau:
5
Thống kê kết quả học tập của học sinh đầu năm học do chúng tôi khảo sát,
khi chưa áp dụng sáng kiến:
Điểm
Tổng số
HS
0
232/232
<2 2
<5 5
SL % SL %
0
0
90
39
SL
<6,5
6,5
%
<8
SL %
100 43,1
42
8
10
SL %
18,1
0
TB
SL
0
142
%
61,2
Thống kê kết quả trưng cầu ý kiến thái độ của học sinh đầu năm học do
chúng tôi khảo sát, khi chưa áp dụng sáng kiến:
Tổng số HS
Đam mê
Tỉ lệ %
Thích học
Tỉ lệ %
Bình thường
Tỉ lệ %
232/232
22
9,5
50
21,6
160
69
Về đổi mới phương pháp dạy Văn, Bộ Giáo dục đã đưa ra một số phương
pháp đặc thù như đọc sáng tạo, đọc- hiểu, vấn đáp gợi tìm với các dạng cấu trúc
câu hỏi như phát hiện, giảng, phân tích liên tưởng và bình để giúp học sinh tiếp
xúc văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa tường minh, nghĩa
hàm ẩn; cũng như thấy được vai trị, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ
thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết dần dần
học sinh sẽ tự đọc, hiểu tác phẩm văn học một cách đúng đắn, tránh sự thẩm
định lệch lạc.
Qua thăm dò khi điền vào phiếu trưng cầu ý kiến thái độ của các em với
môn Văn như thế nào. Số trả lời “Đam mê” là 22 em (9,5%) “Thích học” là 50
em (21,6%) “Bình thường” là 160 em (69%). Tất nhiên, việc học sinh ngại học
Văn do nhiều yếu tố chi phối sự tác động của xã hội là chọn ngành nghề sau
này, song có lẽ phần lớn là do giáo viên chưa có sức lơi cuốn học sinh, phương
pháp dạy còn cứng nhắc.
6
2.1.2 Tình hình trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài:
Qua thực tế một số năm giảng dạy cũng như tìm hiểu trao đổi với một số
đồng nghiệp khác cùng bộ môn, để tạo ra hứng thú cho phân mơn Văn nói riêng
và mơn Văn nói chung vẫn gặp nhiều trở ngại.
- Đối với học sinh: Học sinh vẫn cịn tiếp thu tri thức một cách thụ động,
khơng tự dành lấy kiến thức qua hoạt động học tập của mình thường thì khơng
rõ bản chất của vấn đề nên dễ qn, chưa có tính sáng tạo trong giải quyết các
dạng bài tập khác nhau đặc biệt là các dạng bài tập mới và lạ. Nhiều em tỏ ra lơ
là trong việc học Văn do khơng có hứng thú.
- Đối với giáo viên: Ở các đơn vị trường học, một số tiết dạy giáo viên
cịn nói nhiều, chưa tạo ra hứng thú cho học sinh trong việc học Văn nên áp đặt
trong q trình giảng dạy. Do đó, nhiều em cịn khó khăn trong việc tự dành lấy
kiến thức, hiệu quả của giờ dạy không cao.
2.1.3. Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên:
Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu tìm hiểu học sinh các lớp ở đơn vị,
tơi nhận thấy có các nguyên nhân sau:
- Một số giáo viên nghiêng hẳn và lạm dụng phương pháp dạy học hiện
đại, tổ chức cho học sinh hoạt động thông qua hệ thống câu hỏi và một số công
việc nên giờ dạy khô khan, thiếu hấp dẫn.
- Một số lạm dụng công nghệ thông tin đã biến giờ dạy Văn học như một
giờ xem phim... Cuối cùng cái đọng lại trong học sinh là “phim” chứ không
phải là Văn chương.
- Sách giáo khoa vẫn cịn đó một số tác phẩm khó, trong khi đó giáo viên
vẫn ơm đồm về kiến thức và chưa thực sự “thanh thoát” trong việc lựa chọn vấn
đề để trao đổi với học sinh.
- Mảng kiến thức về lý luận Văn học của học sinh còn thiếu nên các em
gặp khó khăn trong việc thẩm bình, đánh giá vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ
thuật.
- Nhiều tiết GV vẫn chưa đổi mới phương pháp nên làm cho tiết dạy trở
nên đơn điệu, học sinh khó hiểu bài.
7
- Một số học sinh chưa có khả năng tư duy tốt nên các em đã không tiếp
thu theo kịp các bạn.
Từ cách dạy trên, hiện nay trong trường THCS vẫn tồn tại tình trạng một
số học sinh học theo kiểu đối phó, các em lười đọc, lười suy nghĩ về tác phẩm
Văn học, ngại viết, ngại luyện kỹ năng diễn đạt.
Vì vậy, để học sinh thích học phân mơn Văn có lẽ giáo viên cần thực sự
hiểu và thực hiện việc “đổi mới phương pháp dạy học” một cách sáng tạo nhằm
tạo hứng thú cho học sinh và nâng cao hiệu quả dạy học.
2.2. Các giải pháp thực hiện:
2.2.1. Tính ưu việt của phương pháp dạy học mới
Nếu phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú ý đến hoạt động cơ bản
là thầy giảng, trị ghi thì phương pháp dạy học tích cực chú ý vào hoạt động lĩnh
hội tri thức, bắt đầu từ những hoạt động bên trong của con người. Vận dụng
phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm văn chương trong các
trường THCS mới có khả năng khơi dậy và phát huy những tiềm năng vẫn còn
ngủ quên trong mỗi HS. Phương pháp dạy học tích cực gõ mạnh vào trí thơng
minh, sở trường ở người học để phát huy tính tự giác. Phương pháp này thể
hiện sự vận động và có định hướng cần thiết của hoạt động trí tuệ trong việc
hình thành kiến thức. Q trình này cuốn HS vào cơng việc nhận thức tích cực,
kích thích sự ham hiểu biết của trí tuệ, có khả năng khơi dậy nội lực bên trong.
Từ đó, các em có cơ hội phát huy hết mức trí lực của mình. Như vậy, phương
pháp dạy học tích cực khác phương pháp dạy học truyền thống không phải ở
chỗ làm cho việc học tập trở nên khó khăn hơn với HS, mà ở chỗ trong q
trình học tập các em phải thực sự làm việc. Các em sẽ vượt qua được những
khó khăn nhận thức, hồn thành được những bài tập sáng tạo và rèn luyện được
ý chí nhận thức của mình, tạo tiền đề cho các em học sinh u và thích mơn
Văn trong nhà trường.
Phương pháp này sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trị theo hướng
tích cực. Người HS ở đây trở thành chủ thể tích cực trong q trình tiếp nhận và
8
đồng sáng tạo. Mà thầy giáo chính là người định hướng, dẫn dắt trong quá trình
phát triển tư duy và hoạt động học tập của các em.
2.2.2. Làm tốt công tác chuẩn bị để nâng cao đổi mới phương pháp
dạy học Văn
Trong dạy học Văn, công tác chuẩn bị rất quan trọng, trong đó đặc biệt là
vấn đề cảm thụ của thầy cô giáo trên cơ sở kết quả cảm thụ thiết kế một tiết dạy
khả thi.
+ Điều quan trong trong cảm thụ là giáo viên phải giải quyết những câu
hỏi sau:
- Tác phẩm được sinh thành trong hoàn cảnh nào? Tình hình xã hội?
Gia đình và bản thân nhà văn? Hồn cảnh này có tác động như thế nào
đối với nội dung tác phẩm?
- Phát hiện những đặc sắc về giá trị nội dung? Những đặc sắc nghệ thuật
của tác phẩm? (Trong đó lưu ý giọng điệu văn chương, hình ảnh, ngôn ngữ, các
biện pháp nghệ thuật...).
- Những kĩ năng văn chương cần rèn cho học sinh (đọc, phát hiện dấu
hiệu văn chương, trình bày kết quả cảm thụ qua ngơn ngữ nói, viết...).
Ví dụ 1: Trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương, GV cần giúp
HS:
- Cảm nhận được những xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành
kính, vừa tự hào, vừa đau xót của tác giả từ Miền Nam mới được giải phóng ra
viếng lăng Bác.
- Thấy được những đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: Giọng điệu trang
trọng và tha thiết phù hợp với tâm trạng và cảm xúc; nhiều hình ảnh ẩn dụ gợi
cảm, có giá trị súc tích. Lời thơ dung dị mà cô đọng, giàu cảm xúc mà sâu sắc,
lắng đọng.
- Rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ thơ (phát hiện, phân tích các hình ảnh,
biện pháp nghệ thuật), kĩ năng viết đoạn Văn phân tích...
Ví dụ 2: Cảm nhận về nét đẹp ân tình, chung thuỷ của con người Việt
Nam qua hai bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt) và Ánh trăng (Nguyễn Duy).
9
Giáo viên chuẩn bị các vấn đề để trao đổi với học sinh như:
1). Trong bài thơ Bếp lửa, truyền thống ân tình, chung thuỷ được thể hiện
trong tấm lịng của người cháu yêu thương và nhớ ơn bà khi đã khôn lớn trưởng
thành.
Khi đã trưởng thành, người cháu vẫn nhớ về những năm tháng tuổi thơ xa
cha mẹ, sống bên bà, trong tình u thương chăm sóc của bà:
Giờ cháu đã đi xa ….
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở…
Cháu (nhân vật trữ tình) xót xa, thương cảm, thấu hiểu cuộc đời bà nhiều
gian nan cơ cực:
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa….
Cháu khẳng định công lao to lớn của bà, ngọn lửa từ tay bà nhóm lên trở
thành ngọn lửa thiêng liêng kì diệu trong tâm hồn cháu, toả sáng và sưởi ấm
suốt cuộc đời cháu…
Nhóm dậy cả những tâm tình….
Ơi kì lạ và thiêng liêng…..
2). Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, truyền thống ân tình
chung thuỷ được thể hiện qua tâm tình người chiến sĩ:
Anh (nhân vật trữ tình) gắn bó với vầng trăng, với thiên nhiên nghĩa tình
khi là người chiến sĩ …
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Anh đau xót nghĩ tới những tháng ngày đầu tiên trở về thành phố, quen
dần với cuộc sống hào nhoáng, anh đã lãng quên và quay lưng với quá khứ, với
những năm tháng gian lao, sâu nặng ân nghĩa vừa trải qua…
Vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Anh giật mình, thức tỉnh lương tâm khi mặt người và mặt trăng đối diện
nhau, quá khứ ùa về trong tâm thức:
10
Có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Anh suy ngẫm và nhắn nhủ với mọi người: Nhân dân, đất nước ln độ
lượng vị tha, trịn đầy ân nghĩa. Hãy biết sống ân tình chung thuỷ với quá khứ,
với lịch sử, với nhân dân và đất nước:
Trăng cứ trịn vành vạnh….
… đủ cho ta giật mình.
Khái qt: Ân tình, chung thuỷ ln là truyền thống đẹp của dân tộc,
truyền thống ấy bao trùm cách sống, cách ứng xử của con người Việt Nam
trong mọi quan hệ. Từ mối quan hệ gia đình như tình bà cháu trong bài Bếp lửa
đến mối quan hệ với quá khứ, với lịch sử, với nhân dân và đất nước như người
chiến sĩ trong bài Ánh trăng (Có thể liên hệ: Việt Bắc của Tố Hữu... )
2.2.3. Thiết kế giáo án
- Đổi mới phương pháp dạy học trên lớp đòi hỏi giáo án cũng phải đổi
mới. Bản chất của giáo án đổi mới là thể hiện rõ từng hoạt động của thầy và trò.
Tất cả các hoạt động này nằm trong một chỉnh thể.
- Khác với giáo án cũ là tóm tắt nội dung bài giảng, kiến thức sách giáo
khoa, ở giáo án mới, thông qua các hoạt động, thầy giáo với vai trò dẫn dắt giúp
học sinh phát hiện và tiến đến cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tác phẩm về
nội dung và nghệ thuật.
Ví dụ: Thiết kế tiết dạy:
Tiết:114-115
MÙA XUÂN NHO NHỎ
Hướng dẫn đọc thêm: Con cò
(Theo phân phối chương trình của Sở GD-ĐT, bài thơ “Mùa xuân nho
nhỏ” và “Con cò” - Hướng dẫn đọc thêm trong hai tiết, ở đây chỉ xin dừng lại
tiết 1).
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
Giúp HS:
11
- Cảm nhận được những xúc cảm của tác giả trước mùa xuân của thiên
nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm “một mùa xuân nho nhỏ” dâng
hiến cho cuộc đời. Từ đó ta mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị của cuộc
sống của mỗi cá nhân là sống có ích, có cống hiến cho cuộc đời chung.
- Cảm nhận được vẻ đẹp và ý nghĩa của hình tượng con cị trong bài thơ
được phát triển từ những câu hát ru xưa để ngợi ca tình mẹ và những lời ru.
-Thấy được sự vận dụng sáng tạo ca dao của tác giả và những đặc điểm
về hình ảnh, thể thơ, giọng điệu của bài thơ.
- Rèn luyện kỹ năng cảm thụ và phân tích thơ, đặc biệt là những hình
tượng thơ được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng.
B. CHUẨN BỊ:
GV: Ảnh chân dung nhà thơ Thanh Hải.
HS: Đọc, soạn bài theo câu hỏi hướng dẫn SGK.
C. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
Hoạt động của thầy - trò
Nội dung thống nhất - Ghi bảng
1/ Ổn định tổ chức:
2/ Bài cũ:
? Qua Văn bản “Chó sói và
cừu” trong thơ ngụ ngơn của La
Phơng-ten, hãy nêu suy nghĩ của em
về sự sáng tạo nghệ thuật của người
nghệ sỹ?
3/ Bài mới: (Giới thiệu bài)
I. Đọc tìm hiểu chung.
GV đọc mẫu.
? Phát hiện cách đọc bài thơ?
(HS trung bình phát hiện)
GV gọi HS đọc bài, hướng
dẫn đọc bài thơ biến đổi theo mạch
cảm xúc, say sưa trìu mến (phần
đầu), nhịp nhanh, hối hả
12
? Nêu hiểu biết về nhà thơ
Thanh Hải?
+ Tác giả Thanh Hải, nhà thơ
cách mạng.
(HS trung bình phát hiện)
GV giới thiệu thêm về nhà
thơ Thanh Hải
- Giới thiệu xuất xứ của bài
thơ?
+ Bài thơ: Viết 1980 khi tác giả
đang nằm trên giường bệnh.
(HS yếu phát hiện)
? Xác định thể thơ?
+ Thể thơ 5 chữ.
(HS trung bình, yếu phát hiện)
(Các dịng thơ không ngắt nhịp, các
khổ không đều đặn)
Bài thơ bắt đầu từ những:
? Bài thơ được viết theo mạch
cảm xúc nào?
(Cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo
trước vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân
(Làm việc nhóm 2)
thiên nhiên - từ đó mở rộng ra thành
(Đại diện nhóm trình bày)
hình ảnh mùa xuân đất nước sau đó
chuyển sang biểu hiện những ý nghĩa,
ước nguyện của nhà thơ - sau đó trở về
với cảm xúc tự hào về quê hương, đất
nước...)
? Từ mạch cảm xúc hãy nêu
+ Bố cục: 4 phần.
bố cục của bài thơ?
(HS làm việc cá nhân)
Hướng dẫn HS phát hiện các
phần-GV thống nhất ở bảng phụ
Gọi HS đọc lại khổ thơ đầu
II. Phân tích:
Hoạt động nhóm 4:
1. Hình ảnh mùa xuân của thiên
* N1: Mùa xuân ở khổ thơ nhiên đất trời.
13
đầu được dùng với ý nghĩa gì?
(Nhóm phát hiện, trình bày)
- Dịng sơng xanh, bơng hoa tím
* N2: Hình ảnh mùa xuân của biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang
thiên nhiên được phác hoạ như thế trời.-> Không gian cao rộng, màu sắc
nào?
tươi thắm, âm thanh tươi vui.
(Nhóm phát hiện, trình bày)
-“Tơi đưa tay tơi hứng”
* N3: Khi dựng lại mùa xuân
Nghệ thuật tu từ: chuyển đổi cảm
xứ Huế, tác giả đã sử dụng biên giác ( ẩn dụ bổ sung)
pháp tu từ gì?
(Nhóm phát hiện, trình bày)?
Bức tranh xn xứ Huế thơ
* N4: Em có nhận xét gì về hình mộng, tươi vui, sống động...
ảnh của mùa xuân qua nét phác hoạ
của tác giả?
(Nhóm phát hiện, trình bày)
(GV chốt: Mùa xn với
khơng gian cao rộng, dịng sơng mặt
đất) cùng với sắc màu tươi vui, đặc
biệt với màu tím đặc trưng của xứ
Huế-hình ảnh đẹp, tươi vui)
? Cảm xúc của tác giả như thế
- Niềm say sưa ngây ngất, sự
nào trước cảnh đất nước trời và trân trọng trước vẽ đẹp của thiên nhiên,
xuân? Điều đó được diễn tả trong đất trời.
câu thơ nào?
( HS phát hiện , GV bình)
? Từ mùa xuân của thiên
2 Mùa xuân của đất nước.
nhiên đất trời, nhà thơ chuyển sang
cảm nhận về mùa xuân của đất
nước. Hãy đọc lại đoạn thơ nói về
mùa xuân của đất nước?
14
(HS làm việc cá nhân)
- Người cầm súng, người ra
? Mùa xuân của đất nước đồng.
được tác giả mô tả qua những hình
- Lộc giắt đầy… lộc trải dài….
ảnh nào? (HS làm việc cá nhân)
- Biểu tượng hai nhiệm vụ chiến
? Em có nhận xét gì về cách đấu và lao động xây dựng đất nước.
lựa chọn hình ảnh của tác giả?
(HS làm việc cá nhân)
- Lộc non - sức sống của mùa
xuân đất nước.
(Lộc non của mùa xuân gắn
với người cầm súng, người ra
đồng… tạo nên sức gợi cảm cho câu
thơ)
? Đọc thầm 2 câu thơ “Đất
- Nhịp thơ hối hả, âm thanh xơn
nước… phía trước” nhận xét về nhịp xao.
thơ, biện pháp nghệ thuật ? Em cảm
nhận được điều gì qua khổ thơ đó?
- Hình ảnh so sánh đẹp “Đất
nước.... phía trước” -> Sức sống của
? Trước sức sống của mùa mùa xuân đất nước: sôi nổi, khẩn
xuân, đất nước tác giả có cảm xúc trương...
như thế nào?
4. Củng cố tiết 1:
- Tự hào, tin tưởng.
GV cho HS nghe bài hát
“Mùa xuân nho nhỏ”
5. Hướng dẫn về nhà:
Tìm hiểu tiếp đoạn thơ còn lại.
Vấn đề cần lưu ý trong giáo án mới, mặc dầu thiết kế theo logic hoạt
động nhưng có một vấn đề khơng thể qn đó là hoạt động nào cần lời bình của
giáo viên. (Sẽ trình bày cụ thể ở mục 3.5).
2.2.4. Tổ chức hoạt động cảm thụ trên lớp:
15
Trên cơ sở thiết kế giáo án, giáo viên cần quan tâm đến tổ chức hoạt
động cảm thụ trên lớp cho học sinh ở tất cả các khâu: đọc - hiểu, chú thích,
phân tích tác phẩm. Tất cả đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa thầy và trò, trò với
trị, cá nhân với tập thể nhóm, lớp... tạo khơng khí văn chương trong q trình
cảm thụ.
- Đối với việc hướng dẫn học sinh đọc: giáo viên sau đọc mẫu cần cho
học sinh thảo luận rút ra cách đọc cho cả lớp... để vận dụng trong quá trình đọc
ở lớp hoặc ở nhà.
- Dạy tìm hiểu, giáo viên phải lưu ý đến hệ thống câu hỏi trong tất cả các
hoạt động. Điều đầu tiên cần quan tâm là câu hỏi phải nằm trong một hệ thống
chỉnh thể, câu hỏi vừa có tính logic, khoa học vừa mang tính Văn chương để tạo
được tâm thế cho học sinh.
- Quá trình tổ chức tìm hiểu lưu ý chọn điểm nhấn Văn chương trong giờ
dạy. Đó chính là những tình tiết nghệ thuật đắt giá, điểm sáng thẩm mỹ của tác
phẩm, là “con mắt của thơ” trong các bài thơ... Ở những tình tiết này, tập trung
gợi cho học sinh phân tích cảm thụ, giáo viên gia cơng lời bình sau khi học sinh
thảo luận, tạo sự thăng hoa cho tiết dạy.
Ví dụ: Ra-xum Ga-đa-top được mệnh danh là nhà thơ của mọi thời đại có
dành cho báo Nước Nga văn học một cuộc trị chuyện trong đó bày tỏ sâu sắc
suy nghĩ của mình về Văn học:
“... Nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lý được khắc họa
bằng tất cả tài nghệ của nhà văn. Cần phải hát đúng giai điệu về thời đại mình
và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không
một chút giả tạo.”
(Đọc hiểu Văn bản, SGK Văn 9, 2005, tr.160)
Em hiểu lời bàn trên như thế nào? Bằng sự hiểu biết của mình về hồn
cảnh lịch sử đất nước, con người Việt Nam hãy làm sáng tỏ lời bàn ấy qua tác
phẩm Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của Phạm
Tiến Duật.
Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh cảm thụ được các vấn đề sau:
16
- Văn học nghệ thuật bám rễ chặt chẽ vào đời sống hiện thực khách quan.
Đời sống hiện thực phản ánh vào tác phẩm thơng qua lăng kính của nhà văn.
- Khái quát hoàn ảnh đất nước Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX - đương đầu
với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Văn học cách mạng đã hướng ngòi bút vào
hiện thực ấy, ca hát về thời đại mình khổ đau mà vơ cùng vĩ đại, trong đó có
Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của Phạm Tiến
Duật.
* Giải thích khái niệm trong nhận định về mối quan hệ giữa cuộc
sống - tác giả - tác phẩm.
- Chân lí là sự phản ánh sự vật hiện tượng của hiện thực vào nhận thức
của con người đúng như chúng tồn tại.
- Văn học là thư kí của cuộc sống hiện thực, là tấm gương phản chiếu
hiện thực thơng qua lăng kính chủ quan và sự sáng tạo của người cầm bút.
- Văn học mang nội dung cụ thể của thời đại mình.
* Chứng minh nhận định của Ga-đa-tôp qua hai bài thơ
- Nền tảng chân lý qua hai tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về
tiểu đội xe khơng kính (Phạm Tiến Duật).
- Nền tảng chân lý của bài thơ Đồng chí là hiện thực của đất nước trong
cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp từ 1946 - 1954. Dân tộc ta
tiến hành cuộc kháng chiến với bao khó khăn, gian khổ và thiếu thốn. Lực
lượng chính là nơng dân. Họ sẵn sàng hi sinh tất cả sức người sức của để giành
lấy độc lập, tự do. Chính Hữu là một nhà thơ-chiến sĩ. Bài Đồng chí được sáng
tác năm 1948, là trải nghiệm cuộc sống giữa ông và những người đồng đội của
mình trong và sau chiến dịch Việt Bắc năm 1947.
- Nền tảng chân lý của Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính là hiện thực
của đất nước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1954 đến
1975. Miền Bắc vừa xây dựng đất nước, vừa làm hậu phương vững chắc cho
miền Nam.
Giặc Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranh hủy diệt, tàn khốc với dân tộc Việt
Nam. Song cả dân tộc với tinh thần độc lập, tự do đã đoàn kết đứng dậy đấu
17
tranh, quyết đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Đặc biệt là tinh thần của
lớp thanh niên quyết “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu). Phạm Tiến
Duật cũng là một nhà thơ-chiến sĩ có mặt trong đội ngũ trùng trùng điệp điệp
ấy. Ông đã sáng tác Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính năm 1969, khi ông trực
tiếp ngồi trên những chiếc xe không kính “hở hơng hốc” (lời tác giả) cùng đồn
xe tiến thẳng vào Miền Nam qua tuyến lửa khu Bốn.
=> Hai bài thơ đã phản ánh trung thực hiện thưc chiến tranh của đất
nước: khổ đau mà vĩ đại, bi tráng-hào hùng. Khẳng định chân lý bất biến của
dân tộc: Khơng có gì quý hơn độc lập, tự do! (Hồ Chí Minh).
* Giai điệu về thời đại được phản ánh một cách chân thực, sinh động,
hấp dẫn qua hai thi phẩm
- Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
+ Giai điệu về thời đại được nhà thơ Chính Hữu khai thác từ hiện thực
của cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ, hi sinh của người lính trong buổi
đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hệ thống hình ảnh trong bài
thơ từ hiện thực đó đi vào tác phẩm khơng hề tơ vẽ. Cũng nhờ vậy mà vẻ đẹp
Đồng chí được tỏa sáng.
+ Đồng chí - họ là những người lính nơng dân từ những vùng quê nghèo
khó hội tụ về thành Đồng chí đồng đội, Đồng chí hướng, đồng nhiệm vụ cầm
súng bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc. Buổi đầu xa lạ để rồi thành “tri kỉ”,
thành “đồng chí”, “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” vượt lên tất cả.
+ Họ cùng chung cuộc sống gian nan, thiếu thốn: “sốt run người vầng
trán ướt mồ hôi”, “áo rách”, "quần vá”, “miệng cười buốt giá”, “chân không
giầy”, “rừng hoang sương muối”.
+ Gian nan, thiếu thốn,hi sinh nhưng lí tưởng của người lính vơ cùng cao
đẹp. Đó là lí tưởng chiến đấu bảo vệ đất nước. Vẻ đẹp chân thực nhưng cũng rất
hào hoa của người lính được nhà thơ thể hiện bằng hình ảnh nghệ thuật đầy
sáng tạo “Đầu súng trăng treo”. Bút pháp lãng mạn bay bổng ở hình ảnh kết
thúc của bài thơ để lại ấn tượng, dư ba trong tâm hồn người đọc.
18
=> Hình ảnh người lính thể hiện lên chân thực, giản dị, gắn bó keo sơn
trong mọi hồn cảnh. Vất vả, gian nan nhưng họ vẫn lạc quan, vẫn tin ở thắng
lợi cuối cùng. Bài thơ Đồng chí trở thành biểu tượng cho thơ ca kháng chiến
chống Pháp.
- Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của Phạm Tiến Duật
+ Giai điệu về thời đại được nhà thơ khai thác từ hiện thực những chiếc
xe khơng kính và người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong
kháng chiến chống Mỹ. Giặc Mỹ bắn phá miền b.ắc ác liệt với âm mưu hủy
diệt, chặn đứng con đường huyết mạch nối liền hai miền Nam-Bắc. Dưới mưa
bom bão đạn của kẻ thù, những chiếc xe vận tải tiếp sức cho tiền tuyến đã biến
thành dị dạng: khơng kính, khơng đèn, không mui… Song chẳng kẻ thù nào
ngăn nổi bước ta đi, những chiếc xe vẫn ngày đêm băng qua bom đạn tiến thẳng
ra mặt trận, đã trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hung, phản ánh đúng
tính chất khốc liệt của cuộc chiến. Hình ảnh thơ trần trụi nhưng lại là hình ảnh
độc đáo, đầy sang tạo của nhà thơ. Nhờ đó mà bài thơ trở thành nổi tiếng, được
nhiều người ưa thích.
+ Song cái giai điệu về thời đại mà nhà thơ Phạm Tiến Duật muốn ca hát,
đó là vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ lái xe. Với tư thế ung dung, tinh thần lạc
quan, yêu đời, thái độ coi thường hiểm nguy, thử thách, trẻ trung hồn nhiên, ấm
ấp tinh thần đồng đội, ý chí quyết tâm giải phóng Miền Nam của người lính xế,
nhà thơ đã tạc nên chân dung người lính - tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ: hào
hùng, hào hoa, bi tráng.
=> Bài thơ vừa mang thanh khí của thời đại, vừa mang tầm vóc lịch sử.
Đó là tiếng nói của cuộc sống hiện thực hào hùng, oanh liệt thời chống Mỹ. Nó
là biểu tượng anh hùng tuyệt vời về người lính Trường Sơn. Bài thơ góp phần
làm sống mãi hình ảnh thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh gian khổ mà
oanh liệt, “Vang tự hào giữa thế kỉ hai mươi” (Tố Hữu).
- Hai bài thơ là hai giai điệu ca hát cho hai thời kì kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc. Là bài ca về người lính
19
giúp thế hệ sau thấy được họ đã sống, chiến đấu và chiến thắng oanh liệt như
thế nào.
- Chính Hữu và Phạm Tiến Duật là những nhà thơ tài hoa, có sự sáng tạo
độc đáo, tạo nên hai thi phẩm - hai bài ca hát mãi với thời gian làm rung động
lịng người. Vẻ đẹp của nó đã minh chứng cho nhận định của Ra-xum Ga-đatôp: “hát đúng giai điệu về thời đại của mình” và “miêu tả một cách trung thực
bằng hình ảnh hấp dẫn, khơng một chút giả tạo”
2.2.5. Bình văn vẫn là một biện pháp góp phần tăng hiệu quả hứng
thú giờ học Văn.
Bình Văn là biện pháp khó có thể vắng mặt trong mỗi giờ dạy Văn.
Bản chất của bình là sự cảm thụ và diễn đạt vẻ đẹp về tác phẩm. Nó khơng chỉ
là sự hiểu biết sâu sắc về tác phẩm mà còn là những tình cảm, những rung động,
những tiếng lịng đồng điệu của người bình với tác giả qua tác phẩm. Do vậy sử
dụng tốt bình văn sẽ tạo sự lơi cuốn, hấp dẫn đáng kể của một bài học về văn
bản nghệ thuật. Bình khơng những tác động đến trí tuệ mà cịn tác động sâu sắc
tới đời sống tình cảm thẩm mĩ của học sinh, đồng thời còn rèn các kĩ năng cảm
nhận, nghe, nói, viết của các em. Ngồi điều này cịn phải kể đến hiểu quả tích
cực cao khi sử dụng bình văn.
Chẳng hạn khi ta chọn cụm từ “ta với ta” trong văn bản “Qua đèo
Ngang” với lối bình so sánh, sẽ là cơ hội tạo sự tích hợp với văn bản “Bạn đến
chơi nhà”. Hay có thể liên hệ bình cái chết của lão Hạc với cái chết của Em bé
bán diêm, sự hi sinh lặng lẽ của cụ Bơ-men. Như vậy trục tích hợp sẽ được thực
hiện hiệu quả. Một giờ Văn gây ấn tượng tốt đẹp sẽ khó có thể thiếu những lời
bình thấm thía của cả thầy và trị.
- Bình văn phải là hoạt động của cả hai phía thầy và trị. Thầy có thể
bình khi cần thiết, nhưng phải ln chú trọng hướng dẫn trị bình. Thầy bình là
sự tổng hợp nâng cao cảm thụ thẩm mĩ của trò về nâng cao văn bản. Trị bình sẽ
là q trình tự rèn luyện nâng cao cảm thụ và kĩ năng diễn đạt văn chương cho
các em. Sự tương tác giữa thầy và trò trong cùng một hoạt động sẽ hạn chế đến
mức tối giản.
20
Theo tơi, có thể hình dung quy trình vận dụng biện pháp này như sau:
* Phát hiện điểm bình
Các văn bản nghệ thuật được đưa vào dạy học ở chương trình phổ thơng
đều là những tác phẩm có giá trị cao về nội dung và ẩn chứa nhiều điểm sáng về
nghệ thuật. Điểm sáng ấy chính là điểm bình. Đó là những chi tiết, những hình
ảnh, những từ ngữ, những cách diển đạt tinh tế chứa đựng những đặc sắc nghệ
thuật và chuyển tải những nội dung thơng tin có giá trị. Điểm bình chính là nơi
tụ hội tư tưởng, tình cảm, tài năng của tác giả mà mỗi bài học cần khai thác.
* Xây dựng lời bình
Lời bình là sự cụ thể hố những cảm nhận về điểm bình, do đó nó có vai
trị hết sức quan trọng. Người bình thơng qua ngơn ngữ của mình mà tác động
trực tiếp đến người nghe. Người nghe có cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của tác
phẩm cũng như những cung bậc tình cảm của người bình hay khơng phụ thuộc
rất lớn vào lời bình. Để có một lời bình hay, cần chú ý tới một số yêu cầu như
sau:
- Lời bình phải tương ứngvới nội dung được bình, nghĩa là phải trúng ý
tránh sự tản mạn, không ăn nhập với nội dung tác phẩm.
- Lời bình cần phải sử dụng hết sức mạnh của ngôn từ để tác động đến
người nghe một cách nhanh nhất, bền nhất. Về ngôn từ lời bình phải được xây
dựng bằng thứ ngơn ngữ chọn lọc, gọt giũa giàu sức biểu hình, biểu cảm. Về
câu, phải sử dụng đa dạng các kiểu câu để diễn tả đủ cái hay cái đẹp của điểm
bình và tình cảm của người bình. Lời bình cũng khơng nên q dài, quá cường
điệu mà phải ngắn gọn, súc tích vừa độ.
Ví dụ: Hình ảnh mặt trời trong bài thơ Viếng lăng Bác Viễn Phương.
Trong hai câu thơ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
là một sự phát hiện tinh tế của Viễn Phương. Mặt trời ở câu thơ thứ nhất là hình
ảnh tả thực: mặt trời của vạn vật mn lồi... được nhân hóa. Hình ảnh mặt trời
21
trong câu thứ hai là một ẩn dụ về sự vĩ đại, trường tồn của Bác. Lần đầu tiên
trong văn học có một sự phát hiện mới mẻ: Mặt trời của dương gian phải chấp
nhận mặt trời trong lăng “rất đỏ”... Đây chính là nét tài hoa của Viễn Phương.
Ngồi những yêu cầu trên, lời bình của giáo viên phải vừa đảm bảo được
định hướng tiếp nhận, vừa định hình kiến thức, tránh những liên tưởng tản mạn
không bản chất. Đồng thời tập trung mở rộng nâng cao những phát hiện cảm
nhận của học sinh về tác phẩm. Giúp các em khai thác đúng và sâu sắc những
phương diện bản chất của tác phẩm. Lời bình ấy phải vừa là yếu tố khoa học
vừa là yếu tố nghệ thuật của bài học.
* Chọn thời điểm bình
Thời điểm bình tức là lúc giáo viên, hoặc học sinh trình bày lời bình.
Thời điểm bình phụ thuộc vào sự có mặt của điểm bình và ý đồ khai thác các
điểm bình ấy của giáo viên. Tuy nhiên, việc lựa chọn thời điểm bình thích hợp
(bình đúng chỗ, đúng lúc) sẽ có tác dụng rất lớn. Theo chúng tơi, thời điểm
thích hợp để bình chính là lúc xảy ra tình huống có vấn đề trong sự cảm thụ của
học sinh về điểm bình. Bình ở thời điểm này sẽ giúp các em giải toả được
những khó khăn và thoả mãn nhu cầu cảm thụ, từ đó các em sẽ có sự nhận thức
sâu sắc phẩm, đồng thời khơi dậy hứng thú cho giờ học. Chọn thời điểm bình ở
lúc chuyển tiếp từng nội dung bài học, hay bình để kết thúc bài học cũng để
phát huy rất tốt hiệu quả của bình. Bởi ở thời điểm này bình vừa có tác dụng
nhấn sâu kiến thức về tác phẩm, vừa mở rộng hướng tiếp nhận, vừa tạo ra sự
chuyển tiếp nhịp nhàng, để lại dư âm sâu lắng cho mỗi bài học.
2.2.6. Thức dậy khát vọng trong mỗi giờ học Văn cũng là một hình
thức tạo hứng thú cho học sinh.
Dạy - học bất cứ môn nào quan trọng nhất là thức dậy khát vọng học tập
trong học sinh. Khi các em nguội tắt nhiệt huyết và lịng đam mê thì kết quả
khơng như mong muốn là một tất yếu. Có hàng loạt nghịch lý diễn ra: Thời gian
rất có hạn mà tri thức thì khơng cùng, mơn học thì q tải mà thời gian, sức học
của học sinh thì có hạn. Tác phẩm văn chương (đặc biệt là những tác phẩm xuất
sắc) khai thác mãi vẫn không hết ý nghĩ sâu xa, mà thời gian trên lớp lại rất hạn
22
hữu. Vì vậy, thắp sáng khát vọng cho học sinh qua mỗi giờ giảng là điều quan
trọng hơn là cung cấp, nhồi nhét cho học sinh một mớ kiến thức. Con đường
học tập là con đường suốt đời. Thắp sáng ngọn lửa cho học sinh là một cách để
các em đam mê, dấn thân vào con đường tri thức nhân loại. Có thể nói, tri thức
trong giờ giảng của thầy giáo là tri thức cơ bản, tri thức ban đầu để các em tự đi
tiếp trên con đường chông gai ấy.
Đối với mơn Văn trong nhà trường có điều kiện để thức dậy khát vọng
trong học sinh. Đó là khát vọng sống cao đẹp mà mỗi giờ giảng Văn từ vẻ đẹp
của hình tượng, của ngơn ngữ thầy giáo có thể tạo được một khơng khí văn
chương, khơng khí ngự trị của cái cao đẹp, thức dậy trong các em biết bao khát
vọng sống tuyệt vời.
Thức dậy khát vọng trong lịng học trị, thức dậy lịng u tiếng Việt, biết
nói lời hay, ý đẹp, biết tích luỹ làm giàu vốn ngơn ngữ phong phú của mình là
cơng việc khơng chỉ ngày một, ngày hai.
Thức dậy khát vọng học trò trong những giờ giảng Văn là tạo ra bầu
khơng khí văn chương. Đó là một bầu khơng khí cởi mở dân chủ, bầu khơng
khí đối thoại. Bước vào giờ giảng là bước vào một khơng khí được sẻ chia,
được trao đổi, tâm tư, ở đó, thầy và trị bình đẳng với nhau trong quá trình khám
phá và sáng tạo. Mọi áp đặt, mọi thiên kiến chủ quan, mọi bài xích và thố mạ
sẽ giết chết khơng khí văn chương. Bao nhiêu năm đi dạy, chúng tơi đã kiên
nhẫn, đã khuyến khích để lắng nghe được ý kiến từ học trò. Một câu hỏi đúng
lúc, đúng chỗ, vừa sức; một ánh mắt thiện cảm, một lời động viên khích lệ, một
sự chờ đợi khơng nơn nóng, một sự tranh thủ thêm nhiều ý kiến, một giả định,
một nhận xét thoả đáng, đó là những gì ngồi văn chương hết sức cần thiết để
nhen lên khát vọng từ học trò vốn dĩ đã nguội lạnh. Kể cả những lúc chấm bài
cho HS cần trân trọng từng sáng tạo của các em, sửa chữa những lỗi nhỏ bằng
những nét bút, con chữ hết sức cẩn trọng là một việc làm có ý nghĩa.
Để cho học sinh được nói lên những ý nghĩ chân thật tự sâu thẳm tâm
hồn mình là một điều cần thiết và kể cả những lúc các em vào cuộc tranh luận,
tôi lắng nghe, chưa bao giờ tôi đánh mất vị thế của mình là nhân vật “trung
23
tâm” của giờ lên lớp và tôi nhận thấy rằng đây cũng là một cách đổi mới
phương pháp dạy học.
* Kết quả đạt được:
Sau khi áp dụng phương pháp dạy học này, bước đầu tôi đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ. Qua điều tra cho thấy, các em học sinh đã có niềm
say mê, hứng thú trong việc học mơn Văn. Tơi thấy đây là một tín hiệu đáng
mừng nhằm góp phần nâng cao chất lượng mơn Văn trong trường tôi giảng dạy,
kết quả được thể hiện rất rõ ở bảng thống kê sau:
Thống kê kết quả học tập sau khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Điểm
Tổng số
HS
0
232/232
<2
SL %
0
0
2
SL
52
<5
5
%
<6,5
SL
%
6,5
<8 8
SL %
22,4 100 43,1 58
25
SL
22
10
TB
%
SL
9,5
180 77,6
%
Thống kê kết quả trưng cầu ý kiến thái độ của học sinh sau khi áp dụng
sáng kiến kinh nghiệm:
Tổng số HS
Đam mê
Tỉ lệ %
Thích học
232/232
41
17,7
85
Tỉ lệ % Bình thường
36,6
106
Tỉ lệ %
45,7
Rõ ràng, với việc áp dụng biện pháp dạy học mới này, chất lượng cũng
như niềm đam mê hứng thú của học sinh đối với phân mơn Văn nói riêng, với
bộ mơn Ngữ văn THCS nói chung được cải thiện đáng kể. Từ chất lượng ban
đầu khi chưa áp dụng sáng kiến, chỉ có 142 học sinh đạt điểm từ trung bình trở
lên, chiếm tỉ lệ 61.2%, sau nâng lên thành 180 em, chiếm tỉ lệ 77.6% khi áp
dụng phương pháp này.
24
Tương tự, số em học sinh khi được hỏi về niềm đam mê, hứng thú trả lời
“bình thường” lúc chưa áp dụng là 160 em, chiếm tỉ lệ 69% thì sau khi áp dụng
sáng kiến này, con số đó đã giảm rõ rệt, chỉ còn 106 (45,7%).
25