NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH
TRỊ THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ 1954 -1975.
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CƠNG TÁC ĐẢNG, CƠNG TÁC CHÍNH
TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Mở đầu
Công tác Đảng, cơng tác chính trị trong Qn đội nhân dân Việt Nam là
một bộ phận hoạt động lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, nhằm lãnh đạo, xây
dựng quân đội ngày càng vững mạnh, trung thành với Tổ quốc. Với nhân dân,
với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ mà Đảng
và Nhà nước giao cho. Ở đâu có sự lãnh đạo của Đảng đối với qn đội là có
hoạt động CTĐ, CTCT. Cơng tác Đảng, cơng tác chính trị gắn liền với sự
nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân đội ta. Công tác Đảng, cơng tác chính
trị trong Qn đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu
nước( 1954-1975) là sự kế thừa và phát triển lên một bước mới về nhiều mặt
những kinh nghiệm của quân đội trong những giai đoạn trước, góp phần nâng
cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo đảm để quân đội ta chiến đấu thắng
lợi và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong cuộc chiến tranh quy mô lớn, dài
ngày và ác liệt nhất trong lịch sử của dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước kết thúc thắng lợi, đây là một thắng lợi vĩ đại trong lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta, là bước ngoặt quyết định mở đường cho dân tộc Việt
Nam tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
chiến thắng lạc hậu và nghèo nàn, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Tổng kết CTĐ, CTCT trong kháng chiến chống Mỹ, quân đội đã rút ra
những bài học kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh hiệu quả hoạt động CTĐ,
CTCT của quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Phần 1
2
2
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CƠNG TÁC ĐẢNG, CƠNG
TÁC CHÍNH TRỊ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ THỜI
KỲ TỪ 1954-1975
Bài học thứ nhất: Quán triệt đường lối chính trị của Đảng, xây dựng
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Đây là bài học đúc kết từ sự thành công của hoạt động cơng tác Đảng,
cơng tác chính trị về cơng tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của bộ đội
trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1954-1975. Từ việc
nghiên cứu nguyên tắc và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội cho thấy:
Đảng Cộng sản Việt Nam người tổ chức và lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi
mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong
xây dựng quân đội, là bài học thành công được đúc rút từ thực tiễn cách mạng,
khẳng định vai trò, quyền lãnh đạo của Đảng đối với quân đội ta ở mọi lúc, mọi
nơi, mọi tình huống, ở đâu có hoạt động của quân đội, ở đó có hoạt động lãnh
đạo của Đảng, có hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác chính trị. Đảng Cộng sản
Việt Nam người tổ chức và lãnh đạo, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Quân đội ta do đảng và Bác Hồ sáng lập, lãnh đạo, sự lãnh đạo của Đảng đối
với quân đội là một quy luật, một nguyên tắc căn bản trong sự nghiệp xây dựng
quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, là nguồn gốc chủ yếu
quyết định mọi thắng lợi và trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam.
Hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác chính trị có chức năng cơ bản là quán
triệt, động viên và tổ chức cho bộ đội thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ
chính trị, qn sự của Đảng, vì thế để dành thắng lợi trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước địi hỏi hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác chính trị phải
quán triệt đầy đủ cho bộ đội về đường lối nhiệm vụ chính trị của Đảng, đồng
3
3
thời thường xuyên củng cố, xây dựng quyết tâm dám đánh và quyết đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược cho bộ đội.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta là cuộc chiến
tranh chính nghĩa, được chính nhân dân tiến bộ Mỹ và cả nhân loại tiến bộ ủng
hộ mạnh mẽ, chúng ta có ưu thế về chính trị, tinh thần vượt trội hơn hẳn so với
quân xâm lược Mỹ, nhận rõ sự bất lợi ấy nên trong cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam Đế quốc Mỹ đã ra sức bằng mọi âm mưu thủ đoạn, đặc biệt là sử
dụng đòn chiến tranh tâm lý để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm che đậy bản chất
hiếu chiến, xâm lược của chúng, nhiệm vụ của công tác Đảng, công tác chính
trị là vạch rõ âm mưu, thủ đoạn, bản chất ấy của địch, nâng cao nhận thức, tinh
thần căm thù giặc cao độ cho bộ đội, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân
địch ngay cả trên lĩnh vực chính trị tư tưởng.
Nội dung quán triệt đường lối chính trị của Đảng trong kháng chiến chống
Mỹ tập trung vào các nghị quyết Trung ương khoá II, III, các nghị quyết của
Quân uỷ Trung ương, chỉ thị hướng dẫn của Tổng cục Chính trị… chẳng hạn
NQTW6( xác định kẻ thù); Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954( về tình hình
mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới), NQTW15 tháng 1-1959( xác định con
đường cách mạng Miền Nam); đường lối ĐHĐIII(1960)…Trên cơ sở quán triệt
các quan điểm, tư tưởng và những nội dung cơ bản của đường lối mà nâng cao
giác ngộ chính trị, xây dựng, bồi dưỡng lập trường chính trị cho tồn qn, xây
dựng ý chí quyết tâm, động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chiến đấu hy
sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Trong suốt cuộc kháng
chiến chống Mỹ, hoạt động CTĐ, CTCT đã quan tâm giáo dục, giác ngộ, nâng
cao trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác- Lênin cho mọi đối tượng mà trước
hết là cho đội ngũ các cán bộ, đảng viên để làm cơ sở cho việc tiếp thu sâu sắc
đường lối của Đảng và củng cố vững chắc niềm tin của bộ đội, vì rằng chủ
nghĩa Mác-Lênin chính nền tảng tư tưởng, là thế giới quan, phương pháp luận
4
4
cách mạng và khoa học để giúp cho mỗi chúng ta trong xem xét, đánh giá mọi
vấn đề diễn ra trong cuộc sống, trong đó có việc xem xét, đánh giá tình hình,
chủ động khắc phục khó khăn, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chiến đấu, củng cố
quyết tâm cho bộ đội, giữ vững niềm tin vào sự tất thắng của cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác cần phải tiến hành tốt công tác tư tưởng
và công tác tổ chức đặc biệt là ở các thời điểm quan trọng, trong các bước
ngoặt cách mạng cả những khi cách mạng gặp thuận lợi, cũng như lúc khó
khăn, phải chủ động dự kiến các tình huống, chuẩn bị trước cho bộ đội về tinh
thần, tư tưởng để vượt qua những thử thách gay go, ác liệt nhất vì vậy trong
thực tế hoạt động có những thời điểm gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vào
những năm 1965-1968 Mỹ huy động lực lượng và các phương tiện chiến tranh
đến mức cao nhất (54 vạn quân Mỹ, 7,2 vạn quân chư hầu và hơn nữa triệu
quân nguỵ, cùng với một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh khổng
lồ) nhưng quân đội vẫn giữ vững niềm tin, vượt qua mọi khó khăn tiếp tục
chiến đấu thắng lợi. Trong suốt cuộc kháng chiến hoạt động CTĐ, CTCT trong
quân đội ta đã phối hợp tốt với các tổ chức trong bộ máy nhà nước, trên cơ sở ý
chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân mà giáo dục, xây dựng ý chí quyết tâm
của bộ đội do vậy dù đóng qn ở đâu bộ đội ta cũng được cấp uỷ, chính
quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương động viên, giúp đỡ tận tình. Cơng tác
hậu phương qn đội được cấp uỷ, chính quyền và nhân dân, địa phương quan
tâm chu đáo, huy động tốt sức người, sức của, tất cả để phục vụ cho cuộc
kháng chiến thắng lợi. Trong thực tế quân đội Mỹ đã huy động bộ máy tổng lực
để thực hiện đòn chiến tranh tâm lý, nhưng hoạt động CTĐ, CTCT trong qn
đơi đã vơ hiệu hố cuộc chiến tâm lý của địch, củng cố vững chắc trận địa tư
tưởng của bộ đội.
Bài học thứ hai: Phân tích rõ kẽ thù, đánh giá đúng so sánh lực lượng
địch ta
5
5
Đây là một thành công nổi bật về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược cách mạng
của Đảng trong các cuộc kháng chiến nói chung, đặc biệt là trong cuộc chiến
tranh chống Mỹ cứu nước, chỉ trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng kẻ thù, đánh
giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trên tinh thần “biết địch, biết ta trăm
trận, trăm thắng” mới đưa ra được chiến lược, sách lược, phương châm, cách
đánh đúng, từ đó mà xác định xây dựng quyết tâm chiến đấu của bộ đội.
Một thành công lớn của hoạt động CTĐ, CTCT trong kháng chiến chống
Mỹ là trên cơ sở nhận định đánh giá tình hình địch ta của Đảng. CTĐ, CTCT
trong quân đội đã kịp thời tuyên truyền, giáo dục để cho toàn quân nhận rõ kẻ
thù, đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa địch và ta; xây dựng quyết tâm, lòng
tin dám đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược., nắm vững đối tượng tác chiến,
thấu suốt quan điểm “Đế quốc Mỹ giàu nhưng không mạnh”. Tại Hội nghị lần
thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương(Khoá II) từ 15 đến 17-7-1954, Đảng ta đã
xác Định: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới, và nó
đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên
mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ” 1, đến Hội nghị lần thứ 12 Ban
chấp hành Trung ương khoá III(12-1965) nhận định, Mỹ đưa quân vào miền
Nam, nhưng tính chất cuộc chiến tranh không thay đổi. Quân Mỹ trực tiếp
tham chiến biểu hiện sự bị động về chiến lược, lực lượng so sánh giữa ta và
địch vẫn khơng thay đổi lớn. Vì thế, cuộc kháng chiến vẫn giữ vững và phát
triển thế chiến lược tiến công. và kết quả là sau Hội nghị lần thứ 12 của
BCHTW khoá III, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và toàn
dân, ở miền Nam đã làm thất bại 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 19651966 và 1966-1967 của Mỹ- nguỵ. Hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” bị
bẻ gãy, các cuộc hành quân chiến lược như Xêđaphôn, GianxơnXity, lần lượt bị
thất bại thảm hại.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, t.15, tr. 172
6
6
Bài học thứ ba: Quán triệt đường lối quân sự của Đảng, phát động quần
chúng sáng tạo cách đánh, vừa chiến đấu vừa xây dựng và phát triển lực
lượng.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nước ta tồn diện
trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội, quốc phịng-an ninh, đối
ngoại..như vậy đường lối quân sự là một bộ phận trong đường lối cách mạng của
Đảng, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với đường lối chính trị. Chính đường lối
chính trị và quân sự của Đảng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng vũ
trang và các lĩnh vực cơng tác của qn đội, đường lối chính trị và đường lối quân
sự quyết định cả về công tác tổ chức, biên chế xây dựng lực lượng, về vũ khí
trang bị, về phương hướng, mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của quân đội cả về cơ
bản lâu dài cũng như phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn
cách mạng cụ thể. Vì vậy để quân đội hoàn thành tốt các nội dung, yêu cầu, nhiệm
vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với việc quán triệt đường lối
chính trị, một chức năng, nhiệm vụ cơ bản tiếp theo của hoạt động công tác Đảng,
công tác chính trị trong chiến tranh chống Mỹ là phải thường xuyên làm tốt công
tác giáo dục để mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức đúng, đủ và tự giác
thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, nhiệm vụ quân sự của Đảng trong suốt cả thời
kỳ cũng như ở từng giai đoạn cụ thể của cuộc kháng chiến. Yêu cầu nội dung
quán triệt đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ là:
Một là: Giáo dục quán triệt những quan điểm cơ bản của Đảng trong đường
lối quân sự, xây dựng tư tưởng quân sự trong tồn qn biểu hiện như:
Hội nghị Bộ Chính trị(31 tháng 1 và 25 tháng 2-1961), ra nghị quyết về
nhiệm vụ quân sự trong 5 năm(1961-1965) trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại
Hội III của Đảng đã xác định nhiệm vụ của quân đội là: bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng miền Nam và làm
nghĩa vụ quốc tế...Tích cực xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại, củng
7
7
cố và phát triển dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng hậu bị, gắn liền xây dựng
kinh tế với cũng cố quốc phòng, bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và
chiến đấu thắng lợi- Bộ Chính trị quyết định: “Quân và dân ta phải được chuẩn
bị đầy đủ về tinh thần và thực lực bảo đảm cho cách mạng miền Nam giành
thắng lợi khi có thời cơ. Hết sức tranh thủ thời gian xây dựng, tăng cường thực
lực cách mạng- xây dựng lực lượng trong thời bình, đồng thời một bộ phận phải
xây dựng theo thời chiến…”2. Từ phương hướng chung đó, Bộ Chính trị xác
định rõ 4 nhiệm vụ phải thực hiện trong 5 năm 1961-1965 gồm: “Xây dựng lực
lượng vũ trang củng cố quốc phòng trên miền Bắc”; “Xây dựng ở miền Nam
một lực lượng vũ trang tập trung đủ mạnh, được bảo đảm tốt về trang bị kỹ
thuật, cung cấp vật chất và chỉ đạo tác chiến”; “Giúp đỡ lực lượng vũ trang cách
mạng Lào về chuyên gia, đào tạo cán bộ, củng cố xây dựng vùng giải phóng và
phát triển lực lượng vũ trang”; “Kiện toàn bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng,
bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng đối với lực lượng vũ trang”.
Trên miền Bắc, Bộ Chính trị xác định phải tiếp tục chấn chỉnh các cơ quan lãnh
đạo và chỉ huy Bộ Tổng tư lệnh và quân khu, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân
đội chính quy, hiện đại, yêu cầu chiến đấu ở miền Nam và Lào. Đồng thời tích
cực chuẩn bị cho việc lãnh đạo, chỉ huy khi xảy ra chiến tranh trên các hướng
chiến lược. Ở miền Nam, tổ chức hệ thống chỉ đạo quân sự từ trung ương cục
xuống tới chi bộ xã và xúc tiến thành lập các bộ tư lệnh quân khu..
Hai là: Giáo dục cho bộ đội nắm vững các mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ
của quân đội, của từng chiến trường, từng quân binh chủng và từng đơn vị trong
các giai đoạn chiến tranh
Ở các giai đoạn khác nhau của cuộc chiến, căn cứ vào sự phát triển của tình
hình, nhiệm vụ, sự tương quan so sánh lực lượng địch, ta mà Đảng đề ra các chủ
trương, yêu cầu, giải pháp cụ thể để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến đến
2 Hồ Chí Minh tồn tập, t.2, Nxb Sự thật, H, 1987, tr. 125-127
8
8
thắng lợi, do vậy hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị phải ln theo sát
mọi diễn biến tình hình, các yêu cầu và chủ trương của Đảng, để tuyên truyền,
giáo dục, cho bộ đội nhận thức được mục tiêu, nhiệm vụ, chiến đấu, yêu cầu
chiến đấu của từng chiến trường, từng quân chủng, binh chủng đặc biệt là nhiệm
vụ cụ thể của từng đơn vị, từ đó xác định quyết tâm, các hình thức chiến thuật,
cách đánh phù hợp với từng chiến dịch, từng địa bàn và trận đánh để nhanh
chóng dành thắng lợi trong chiến tranh.
Ba là : Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến, phát huy dân chủ quân sự,
sáng tạo cách đánh
Tư tưởng chỉ đạo tác chiến, phát huy dân chủ quân sự, sáng tạo trong cách
đánh là nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự của Đảng qua các thời kỳ kháng
chiến và phát triển đến đỉnh cao trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, thực tiễn
cho thấy trong suốt cả cuộc chiến tranh cũng như vào từng giai đoạn cụ thể
,Đảng ta đều xác định đúng đắn tư tưởng tác chiến, cụ thể như tại Hội nghị thành
lập Trung ương cục(10-1961), trên cơ sở chỉ thị của Bộ Chính trị về nhiệm vụ và
phương hướng trước mắt của cách mạng miền Nam, nhiệm vụ quân sự 5
năm(1961-1965) đã đề ra chủ trương thực hiện phương châm “hai chân, ba mũi,
ba vùng”, đẩy mạnh phá hoại ấp chiến lược và thực hiện chống càn quét, thực
hiện bám đất, bám làng “một tấc không đi, một ly không rời”. Hay như để đánh
thắng chiến lược“ chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam, Hội nghị
BCHTW11 khoá III (25-3-1965) chỉ thị: “Ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực
lượng của cả nước dành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương
đối ngắn, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc “chiến tranh
cục bộ” ở miền Nam nếu địch gây ra”3; Hội nghị BCHTW12 khoá III(12-1965),
chủ trương: kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị nhưng đấu tranh
quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp. Phương châm đánh lâu dài, dựa vào
3 ĐCSVN: Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật,H, 1965, t.1,
tr.218
9
9
sức mình là chính; tháng 12-1967 phát huy thắng lợi của hai cuộc phản cơng
chiến lược, Bộ Chính trị ra nghị quyết về “Tổng cơng kích, tổng khởi nghĩa”, và
để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, vào giai đoạn cuối của chiến dịch Hồ Chí
Minh Bộ Chính trị đưa ra chủ trương “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng”...Mặt
khác trong chiến đấu đòi hỏi phải phát huy dân chủ cao độ để khơi dậy, phát huy
trí tuệ, tinh thần của tập thể để sáng tạo ra cách đánh, lối đánh phù hợp cho từng
trận đánh cụ thể..để làm tốt những vấn đề đó là một trong những yêu cầu của
hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác chính trị trong qn đội.
Bài học thứ 4: Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội vững
mạnh trong sạch có sức chiến đấu cao và trình độ mọi mặt làm cơ sở để xây
dựng quân đội vững mạnh về chính trị
Đây là bài học thành công trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt
Nam, Đảng lãnh đạo quân đội thông qua hệ thống tổ chức Đảng, được tổ chức từ
Đảng uỷ Quân sự Trung ương đến cơ sở, hoạt động theo Cương lĩnh, Điều lệ
Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Các tổ chức cơ sở đảng trong các giai đoạn
phát triển là một trong những khâu quan trọng của hệ thống tổ chức và trong
thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, chính vai trị đó nói lên vị trí nền tảng của các tổ
chức cơ sở đảng, mà trên đó Đảng được xây dựng trưởng thành. Các tổ chức cơ
sở Đảng trong quân đội là tổ chức gắn bó mật thiết với mọi cán bộ, chiến sĩ và là
người trực tiếp bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tại các đơn vị cơ sở. Vai trị đó thể
hiện ở chỗ qn triệt và vận dụng sáng tạo đường lối nhiệm vụ quân sự của
Đảng phù hợp đặc điểm từng quân khu, quân binh chủng, từng đơn vị , trên cơ
sở đó đề ra chủ trương, phương hướng công tác của từng đảng bộ, chi bộ và
thơng qua một qua trình dân chủ, biến những chủ trương, phương hướng đó
10
10
thành nhiệm vụ, mục tiêu phấn đấu cụ thể của đơn vị cơ sở. Thực tiễn cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho thấy những tổn thất, hy sinh là khơng thể
tránh khỏi và do u cầu nhiệm vụ có bước phát triển, nhiều đơn vị mới được
thành lập, những vấn đề đó đặt ra yêu cầu tổ chức Đảng phải thường xuyên được
kiện toàn, bảo đảm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.
Nội dung xây dựng tổ chức đảng trong quân đội bao giờ cũng phải xây
dựng tồn diện cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao sức
chiến đấu và trình độ lãnh đạo về mọi mặt ngang tầm nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra là
thường xuyên có nhiều nội dung, biện pháp trong sạch vững mạnh cả về chính
trị tư tưởng và tổ chức, mở nhiều cuộc vận động xây dựng Đảng, rèn luyện đội
ngũ đảng viên, mở nhiều lớp bối dưỡng, nhiều hội nghị trao đổi kinh nghiệm cho
các đảng uỷ viên, bí thư chi bộ và mở lớp bồi dưỡng cho đảng viên mới..trong
nội dung các chỉ thị công tác và đề án hoạt động xây dựng quân đội về chính trị
hàng năm Tổng Quân ủy và Tổng cục chính trị đều nhấn mạnh: vấn đề có ý
nghĩa quyết định là tiếp tục tăng cường xây dựng Đảng, thường xuyên chăm lo
xây dựng và củng cố Đảng, nâng cao trình độ đảng viên, tăng cường lãnh đạo
tập thể, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, xây dựng đoàn kết thống nhất trong
Đảng, để tăng cường tác dụng lãnh đạo của Đảng, tăng cường công tác chính trị,
xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trong
toàn quân. Chống ảo tưởng hồ bình và mọi trì trệ tiêu cực trong quân đội. Từ
năm 1955 đến 1959, Tổng cục Chính trị đã kịp thời ra những chỉ thị, hướng dẫn
toàn quân: tăng cường công tác tư tưởng, chấn chỉnh tổ chức, động viên chỉnh
huấn chính trị, học tập quân sự, tích cực làm cơng tác vận động quần chúng,
tham gia sản xuất và khôi phục phát triển kinh tế..
Vấn đề cơ bản và có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để xây dựng Đảng về tư
tưởng và tổ chức là xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, bởi vì sự vững mạnh
về chính trị của Đảng là cơ sở để xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức. Công
11
11
tác xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thường xuyên quan
tâm củng cố , kiện toàn và nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng uỷ các cấp,
trọng tâm là xây dựng đảng uỷ theo năm tiêu chuẩn vững mạnh( có cơ cấu hợp
lý; trình độ lãnh đạo giỏi; đoàn kết tốt; gương mẫu; xây dựng chế độ lãnh đạo
tốt). Tiến hành Đại hội Đảng các cấp từ cơ sở đến cấp sư đồn, chú trọng cơng
tác xây dựng chi bộ, coi đây là khâu then chốt. Trong kháng chiến chống Mỹ chi
bộ được coi là tổ chức cơ sở đảng, chủ trương phấn đấu đại đội có chi bộ, chi bộ
có chi uỷ, trung đội có tổ đảng, tiểu đội có đảng viên, thực hiện cuộc vận động
xây dựng nhiều chi bộ điển hình như chi bộ 4 tốt(lãnh đạo cơng tác tốt; học tập
tốt; đồn kết nội bộ tốt và phát triển Đảng tốt). Đồng thời đẩy mạnh công tác
phát triển Đảng, nâng cao tỉ lệ lãnh đạo trong các đơn vị biểu hiện như mở cuộc
vận động nâng cao chất lượng đảng viên, kết nạp lớp đảng viên Hồ Chí Minh…
Bài học thứ năm: Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu chiến tranh
Xây dựng đội ngũ cán bộ là bài học thành cơng, là khâu then chốt trong xây
dựng Đảng vì cán bộ là cái “gốc” của mọi công việc, muôn việc thành công hay
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, trong mọi giai đoạn cách mạng vấn đề cán bộ
là vấn đề nổi lên hàng đầu và trọng yếu của cơng tác xây dựng Đảng, khi Đảng
đã có đường lối chính trị đúng đắn thì cơng tác tổ chức nói chung, cơng tác cán
bộ nói riêng là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của nhiệm vụ cách mạng.
xét riêng trong mối quan hệ giữa cán bộ qn sự với đường lối chính trị, qn
sự, thì cán bộ trong quân đội vừa là sản phẩm của đường lối chính trị, quân sự,
vừa là người xây dựng, bảo vệ, giữ vững và phát triển đường lối. Đường lối
chính trị, quân sự đúng là cơ sở, phương hướng đề xây dựng đội ngũ cán bộ
quân đội ngang tầm nhiệm vụ, là cơ sở để quyết định đường lối tổ chức cán bộ,
phương hướng bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, quyết định nội dung đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, ngược lại, có đội ngũ cán bộ tốt, vững mạnh, trong sạch,vừa trung
thành tận tuỵ với Đảng, vừa có phẩm chất đạo đức…thì Đảng mới lãnh đạo cách
12
12
mạng đi đến thành công. Trong chiến đấu cán bộ là người phát động phong trào
thi đua giết giặc lập công, sáng tạo cách đánh, lãnh đạo, tổ chức quần chúng tiến
hành các nhiệm vụ chiến đấu...và giữ vai trò quyết định thành công hay thất bại
của cuộc chiến đấu.Trong thực tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ
bản chất ngoan cố, hiếu chiến, xâm lược của kẽ thù vì thế quy mơ chiến tranh
ngày càng bị mở rộng, ác liệt và tổn thất ngày càng thêm nặng nề, đòi hỏi chúng
ta phải huy động một đội ngũ lớn cán bộ, do vậy thường xuyên quan tâm xây
dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu chiến tranh là một yêu cầu cao của hoạt
động công tác Đảng, cơng tác chính trị trong chiến đấu.
Nắm vững tầm quan trọng của công tác cán bộ, trong suốt cuộc kháng chiến
chống Mỹ, các tổ chức Đảng trong quân đội đã thường xuyên lãnh đạo chặt chẽ,
và phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành thực hiện theo chức trách, đã
xây dựng được đội ngũ cán bộ bảo đảm cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội ta. Một số nội dung kinh
nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ trong kháng chiến chống Mỹ là:
Xây dựng đội ngũ cán bộ ở các giai đoạn trong khi thời bình phải chuẩn bị
cho thời chiến để đánh thắng kẻ thù khi có chiến tranh, biểu hiện như: Do yêu
cầu huấn luyện bộ đội và công tác cán bộ thời bình địi hỏi phải huấn luyện, bồi
dưỡng và đào tạo khẩn trương mới đảm dương được nhiệm vụ, chức trách, ngày
17-5-1955, Tổng Quân uỷ chỉ thị: lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong toàn quân phải
nắm vững tiêu chuẩn đức, tài, mạnh dạn đề bạt công nông; đồng thời chú ý đề
bạt cất nhắc những cán bộ các thành phần khác đã được thử thách, biểu hiện tiến
bộ, trung thành với cách mạng, giữ các chức vụ theo yêu cầu mới. Trong cơng
tác cán bộ, đã tập trung kiện tồn tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy các chiến
trường, các quân binh chủng, các đơn vị mới xây dựng, nhất là các đơn vị phịng
khơng và vận tải chiến lược để đáp ứng với sự phát triển của chiến tranh. Có kế
hoạch dài hạn(5năm) với nhiệm vụ xây dựng một đội ngũ cán bộ cách mạng,
13
13
chính quy đáp ứng yêu cầu trước mắt và theo hướng lâu dài. Bằng nhiều biện
pháp, đi đôi với tăng nhanh về số lượng đã nâng được chất lượng và hoàn chỉnh
cơ cấu để áp ứng yêu cầu phát triển lực lượng và chi viện chiến trường(Năm
1964 số lượng cán bộ tăng gấp 3 lần 1960, đưa vào miền Nam hơn 8.000, Lào
hơn 1.000).Song song với việc chỉ đạo tăng cường công tác cán bộ tại đơn vị,
Tổng quân uỷ-Bộ tổng tư lệnh còn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác nhà
trường quân đội( từ tháng 11-1954 đến 9-1959) thành lập 14 trường bổ túc cán
bộ và đào tạo sĩ quan cơ bản, dài hạn về quân sự, chính trị, hậu cần, chuyên môn
kỹ thuật và gửi đi học tập đào tạo ở các nước bạn..Trong bài phát biểu cuối khóa
chỉnh huấn(5-1957), lớp đầu tiên gồm cán bộ cao cấp toàn quân và cán bộ trung
cấp ở cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, do Tổng Quân ủy và Tổng cục Chính trị trực
tiếp chỉ đạo Bác Hồ đã căn dặn: “..các chú cần tiếp tục học tập, uốn nắn tư tưởng
lệch lạc, nhất là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Mặt khác, phải đề cao trách nhiệm,
phân đấu hoàn thành nhiệm vụ xây dựng quân đội, trước mắt là hoàn thành
nhiệm vụ chỉnh huấn cán bộ sơ cấp và chiến sĩ, đồng thời cố gắng giúp Đảng,
Chính phủ và quân đội giải quyết khó khăn, phát huy thuận lợi”4.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời chiến còn cần phải tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng uỷ và trách nhiệm của thủ trưởng các cấp trong công tác cán bộ, chấp
hành nguyên tắc chặt chẽ, xây dựng nề nếp thống nhất, nắm vững và chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối, phương hướng giai cấp, tiêu chuẩn chính sách cán bộ của
Đảng, vận dụng đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng
Bài học thứ sáu: Thực hiện quân dân một ý chí ra sức xây dựng và phát
huy sức mạnh của hậu phương để đánh thắng giặc Mỹ
Với qn đội cách mạng thì khơng có căn cứ nào vững chắc hơn căn cứ lòng
dân, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, các đơn vị trong toàn quân thường
xuyên giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc: Đoàn kết quân dân là
4 . Xem “Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch”, tập IV, Nxb Sự thât, H, 1958, Tr. 76-79
14
14
một vấn đề thuộc về bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta. Quá trình xây
dựng chiến đấu, quân đội ta trên miền Bắc đã làm đúng chức năng, vị trí của mình,
tơn trọng các cơ quan Đảng, chính quyền và đồn thể địa phương, chấp hành
nghiêm pháp luật Nhà nước. Duy trì thành nề nếp các buổi họp mặt quân dân, các
hội nghị liên tịch giữa đại biểu đơn vị và đại biểu địa phương để kịp thời kiểm
điểm, rút kinh nghiệm về mối quan hệ quân dân và động viên giúp đỡ lẫn nhau, đặc
biệt đã coi trọng, phát huy sức mạnh đoàn kết quân với dân trong chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại của địch, tích cực xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân,
bảo vệ giao thơng vận tải, chấp hành chính sách hậu phương quân đội, duy trì trật tự
an ninh, kết hợp sản xuất và chiến đấu, đáp ứng mọi yêu cầu của tiền tuyến lớn
miền Nam. Trên chiến trường miền Nam, thực hiện đoàn kết quân dân là nhằm thực
hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch giành quyền làm chủ, làm thất bại mọi kế hoạch chiến
tranh của địch. Quân đội ta đã dựa vào dân chiến đấu để tiêu diệt địch, bảo vệ dân,
hỗ trợ nhân dân đấu tranh giành quyền làm chủ và cùng nhân dân củng cố, xây
dựng thực lực cách mạng, củng cố vùng giải phóng ngày càng vững mạnh, phát
triển các căn cứ hậu phương tại chỗ với nhiều hình thức khác nhau…do làm tốt
cơng tác dân vận, quân đội ta đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn của chiến tranh
nhân dân rộng khắp để đánh thắng địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước.
Hậu phương quân đội có ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xây dựng và
chiến đấu của quân đội, đến tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ ngồi mặt trận,
đến gia đình qn đội và nhân dân ở hậu phương góp phần tạo nên sức mạnh để
đánh thắng quân thù. Thấu suốt tầm quan trọng của vấn đề xây dựng căn cứ hậu
phương, công tác Đảng, công tác chính trị đã giáo dục, động viên các lực lượng vũ
trang bền bỉ, chịu đựng gian khổ, hy sinh, kiên trì bám đất, bám dân, cùng các tổ
chức đảng và cán bộ ở địa phương tiến hành xây dựng cơ sở chính trị và xây dựng
lực lượng vũ trang ngay trong vùng địch kiểm sốt, kết hợp tiến cơng địch và dành
15
15
quyền, làm chủ, chiến đấu chống khủng bố, càn quét, “bình định” của địch, để từng
bước hình thành hậu phương của ta ngay trong lòng địch, ở nhiều chiến trường đã
phải dành đi, giật lại với địch từng thôn, ấp, từng khóm dân để bảo tồn, duy trì và
khơi phục cơ sở chính trị, giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau. Để các lực
lượng vũ trang góp phần làm tốt nhiệm vụ xây dựng căn cứ hậu phương cơng tác
Đảng, cơng tác chính trị trên các chiến trường đã làm cho cán bộ và chiến sĩ nắm
vững Đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ở miền Nam, đấu tranh khác
phục quan điểm lệch lạc như: coi trọng đấu tranh quân sự, coi nhẹ đấu tranh chính
trị, coi trọng các vùng miền núi, nông thôn đồng bằng, coi nhẹ thành thị…thường
xuyên giáo dục cho toàn quân nhận thức sâu sắc vai trị, vị trí của hậu phương lớn
miền Bắc, liên tục động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, hết lịng, hết sức
vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc..Nhiệm vụ của hậu phương
trong kháng chiến chống Mỹ rất toàn diện, chiến đấu và sản xuất, phát triển tiềm lực
mọi mặt, làm giao thông vận tải, tiếp nhận sự chi viện quốc tế, tăng sức ngừơi, sức
của cho tiền tuyến. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta tiến
hành trong điều kiện có miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương lớn, đồng thời có
các căn cứ tại chỗ trên các chiến trường miền Nam, hậu phương vững chắc là một
trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, quân đội ta
đã phát huy trách nhiệm, góp phần tích cực vào việc xây dựng hậu phương, nhất là
đối với công tác quân sự địa phương.
Bài học thứ bảy: Nâng cao tinh thần quốc tế vô sản chân chính, đồn kết
liên minh chiến đấu với qn dân Lào và Căm pu chia anh em.
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Đảng
ta ln xác định đồn kết với giai cấp vơ sản quốc tế, với nhân dân các dân tộc bị áp
bức là một vấn đề có tính ngun tắc, một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi
của cách mạng nước ta. Đặt sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp cách
16
16
mạng thế giới, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ba nước trên bán đảo Đơng
Dương. Đồn kết liên minh chiến đấu đặc biệt với nhân dân Lào và Căm pu chia
anh em là một thành công lớn của đường lối quốc tế của Đảng ta, là một biểu tượng
tốt đẹp của việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần u nước chân chính và tinh
thần quốc tế vơ sản trong sáng, giữa nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trong
kháng chiến chống Mỹ để làm tốt nhiệm vụ quốc tế điều cơ bản nhất là: Thường
xuyên quán triệt đường lối, quan điểm quốc tế của Đảng, nâng cao lịng u nước
chân chính và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân
tộc và nhiệm vụ quốc tế. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ có nhiều lần,
nhiều đợt hoạt động theo yêu cầu của bạn Lào và Căm pu chia bộ đội Việt Nam đã
sang giúp bạn, phối hợp với bạn cùng chiến đấu, xây dựng, khi tình hình cách mạng
nước bạn phát triển thuận lợi, tự đảm đương được ta rút lực lượng về, khi bạn cần
bộ đội ta lại tiếp tục sang giúp đỡ, chẳng hạn từ sau năm 1954 Mỹ ra sức phá hoại
hiệp định Giơ-ne-vơ, phá vỡ chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ nhất của Lào và lấn
chiếm Sầm nưa, Xiêng khoảng. Tháng 6-1960 theo yêu cầu của bạn, quân tình
nguyện của ta sang phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào giải phóng hầu hết tỉnh Sầm
nưa..; Năm 1964 chính phủ Liên hiệp dân tộc lần thứ hai của Lào bị phá vỡ quân
tình nguyện Việt Nam lại sang giúp bạn. Năm 1970 bộ đội tình nguyện Việt Nam
phối hợp với quân và dân Lào đánh địch khỏi Cánh Đồng Chum -Xiêng Khoảng…
Ở Căm pu chia, năm 1970, Mỹ dùng Lon Non thực hiện cuộc đảo chính Xi-ha-núc
và trắng trợn đưa hàng vạn quân Mỹ, nguỵ Sài Gòn xâm lược Căm- pu-chia, theo
yêu cầu của Căm- pu- chia quân đội ta nhanh chóng sang làm nhiệm vụ quốc tế
giúp Căm-pu-chia đã đập tan nhiều cuộc tiến cơng của qn Mỹ, nguỵ Sài Gịn,
cùng với nhân dân Căm-pu-chia, biến cuộc đảo chính của địch thành cuộc nổi dậy
rộng lớn của nhân dân, đã giải phóng hồn toàn 5 tỉnh và nhiều vùng rộng lớn của 9
tỉnh khác, với 4,5 triệu dân.Năm 1971, cùng với quân và dân bạn đánh bại cuộc
hành quân “toàn thắng” của quân nguỵ Sài Gòn và chiến thắng ở Xnun. Cuối năm
17
17
1971, đánh bại cuộc hành quân Che-la 2 của quân nguỵ Lon Non. Trong quá trình
phát triển của cách mạng Lào và Căm-pu- chia, bộ đội ta đã sẵn sàng giúp bạn giải
quyết kịp thời những ván đề lớn cũng như những vấn đề cụ thể, với tát cả nhiệt tình,
trách nhiệm và khả năng của mình, giúp bạn cả trong chiến đấu và xây dựng lực
lượng vũ trang, xây dựng thực lực cách mạng về mọi mặt, theo sự địi hỏi của tình
hình, nhiệm vụ, theo chủ trương và yêu cầu của bạn. Giúp bạn xây dựng và bồi
dưỡng những nhân tố bên trong, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển và trưởng
thành vững chắc của bạn, đó là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng
của lực lượng vũ trang cách mạng, là một bảo đảm vững chắc cho sự tăng cường
đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa ta và bạn. Để giúp bạn có hiệu quả cần
hiểu rõ đặc điểm tình hình và đường lối, chủ trương của bạn, vận dụng kinh
nghiệm của ta một cách sáng tạo vào thực tiễn của bạn, bởi vì cách mạng Việt Nam,
Lào, Cam-pu-chia có chung một mục tiêu, một kẽ thù, đều chiến đấu cho độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhưng hồn cảnh và điều kiện mỗi nước có những đặc
điểm khác nhau, kinh nghiệm của ta rất phong phú nhưng khơng thể áp dụng một
cách máy móc mà phải biết vận dụng cụ thể vào tình hình cụ thể của nước bạn.
Trên thực tế có những cán bộ, chiến sĩ ta rất nhiệt tình với bạn, giúp bạn chân thành,
vơ tư, nhưng do khơng hiểu tình hình cụ thể của bạn, khơng có cách làm phù hợp
nên kết quả khơng cao, thậm chí có khi vấp váp, thất bại, do đó muốn giúp bạn có
kết quả, phải tích cực nghiên cứu, tìm hiểu, nắm vững đường lối, chủ trương, chính
sách của bạn, hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về đất nước, con người, trình độ kinh tếxã hội, phong tục, tập quán, truyền thống đấu tranh, quá khứ và hiện tại của bạn, về
mối quan hệ giữa ta và bạn, kể cả những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại, vì vậy
mỗi cán bơ chiến sĩ, mỗi đơn vị hoạt động ở các vùng khác nhau cần phải đi sâu
vào từng vùng, từng lĩnh vực, hiểu rõ những điều kiện khách quan và chủ quan của
bạn để vận dụng kinh nghiệm cảu ta một cách sáng tạo, đây cũng là cơ sở để đoàn
18
18
kết và thống nhất trong mọi hoạt đông liên minh chiến đấu với quân và dân nước
bạn.
Phần 2
Ý NGHĨA CỦA NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CƠNG TÁC ĐẢNG,
CƠNG TÁC CHÍNH TRỊ THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ 1954 -1975
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CƠNG TÁC ĐẢNG, CƠNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG
QN ĐỘI TA GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
2.1. Những nhân tố tác động đến hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác
chính trị trong quân đội ta giai đoạn hiện nay
2.1.1. Tình hình thế giới
*về thời cơ, thuận lợi: “ Trên thế giới, hồ bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu thế lớn. Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển…Tồn
cầu hố kinh tế tạo ra cơ hội phát triển cho các quốc gia, dân tộc”, Khoa học và
cơng nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn”; “Khu vực Châu ÁThái Bình Dương nói chung và Đơng Nam Á nói riêng, xu thế hồ bình, hợp
tác và phát triển tiếp tục gia tăng”5
*về khó khăn, thách thức: “Tồn cầu hố..chứa đựng nhiều yếu tố bất
bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước
đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế- thương mại, giành giật các nguồn tài
nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ.. giữa các nước ngày
càng gay gắt”, “Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột
dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng
bố,, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên
nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Các mâu
thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt. nhiều vấn đề tồn cầu bức xúc địi hỏi
các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giai quyết”6
2.1.2. Tình hình cách mạng Việt Nam:
5 ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐX, Nxb.CTQG, H, 2006, tr.73-74
6 Sđd, tr.73-74
19
19
* Thuân lợi: “ Hai mươi năm qua, sự nổ lực phấn đấu của tồn đảng, tồn
dân, tồn qn, cơng cuộc đổi mới ở đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước đã ra khỏi khủng kinh tế-xã hội, có sự thay đổi căn bản và toàn
diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố,
phát triển kinh tế thị trường định hường xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đồn kết
tồn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị-xã hội ổn định. Quốc
phồng và an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không
ngừng được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều,
tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”7
* Khó Khăn: “ cho đến nay nước ta vẫn trong tình trạng kém phát triển.
Kinh tế cịn lạc hậu hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.Các
lĩnh vực văn hoá, xã hội, xây dựng hệ thống chính trị, cịn nhiều yếu kém.Lý
luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta”8
2.1.3. Tình hình cơng tác xây dựng Đảng
* Ưu điểm: “ Đảng ta đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công
nhân, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ..kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ gnhĩa xã hội; kiên trì dường lối đổi mới; tiếp tục
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Đảng có bước phát triển về tư duy, đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới
đúng đắn, xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là
nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội…Việc
thực hiên dân chủ trong Đảng và trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc có nhiều tiến bộ…Đa số
cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo trong
công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực, có bước trưởng thành..Việc
thực hiện tự phê bình và phê bình, đẩy mạnh đấu tranh chống tệ quan liêu,
7 Sđd, tr. 67-68
8 Sđd, tr. 69
20
20
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm
pháp luật nghiêm trọng được nhân dân đồng tình…”9
* Hạn chế: “ Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng còn nhiều mặt
chưa đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới; Chậm làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý
luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta..Dân
chủ trong đảng và trong xã hội còn bi vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp,
nhiều lĩnh vực khơng nghiêm. Sự đồn kết nhất trí ở khơng ít cấp uỷ cịn yếu.
Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mịn…Bệnh cơ hội, chủ
nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng;
vẫn cịn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng
cấp”.Thoái hoá, biến chất về chính trị,tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bọ,
đảng viên diễn ra nghiêm trọng..”10
2.1.4. Tình hình quân đội:
Đại hội X xác định: “ Xây dựng Quân đội nhân dân và công an nhân dân
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng tổng
hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong
sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và
nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Đổi mới tổ chức, nội dung, phương
pháp huấn luyện, đào tạo đi đôi với cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị, phương
tiện phù hợp với yêu cầu tác chiến mới; phát triển khoa học quân sự, khoa học
công nghệ, nghệ thuật chiến tranh nhân dân; cải tiến phương thức hoạt động
của lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách, phối hợp với các tổ chức của
nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội”11
Qua nghiên cứu cho thấy, những bài học kinh nghiệm về hoạt động công
tác Đảng, cơng tác chính trị trong kháng chiến chống Mỹ, vẫn có giá trị thực
tiễn sâu sắc đối với hoạt động cơng tác Đảng, cơng tác chính trị của qn đội ta
trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và vận dụng một cách
đúng đắn, sáng tạo. Mặt khác do yêu cầu phát triển của tình hình, nhiệm vụ mới
9 Sđd, tr.260-261
10 Sđd, tr. 263-264
11 Sđd, tr. 110-111
21
21
từ đó đặt ra những u cầu địi hỏi mới ngày càng cao hơn đối với hoạt động
cong tác Đảng, cơng tác chính trị do đó để giữ vững nâng cao chất lượng, hiệu
quả cơng tác Đảng, cơng tác chính trị trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện tốt
một số nội dung yêu cầu sau đây:
2.2.Vận dụng những bài học kinh nghiệm cơng tác Đảng, cơng tác
chính trị thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đối với hoạt đông công tác Đảng,
cơng tác chính trị trong giai đoạn hiện nay
Chủ trương của Đại hội Đảng X: “ Xây dựng Quân đội nhân dân và Cơng
an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao
chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng
chính trị trong sách, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng,
Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến”, “xây dựng, bổ sung
cơ chế lãnh đạo của đảng và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quốc
phòng, an ninh. Thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ
chính uỷ, chính trị viên, tăng cường cơng tác Đảng, cơng tác chính trị trong
qn đội”12. Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ VIII cũng xác định: “ Xây
dựng Đảng bộ Quân đội thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 51/NQ của Bộ Chính trị khố IX
“về việc tiếp tục hồn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một
người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội
nhân dân Việt Nam”để tăng cường cơng tác Đảng, cơng tác chính trị trong quân
đội”
Từ chủ trương chung trên đây nôi dung hoạt động CTĐ, CTCT trong thời
gian tới cần tập trung làm tốt những vấn đề sau:
Một là cơng tác chính trị, tư tưởng: coi trọng xây dựng quân đội về chính
trị, bảo đảm có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng,
Nhà nước, chế độ và gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu,
mến phục. Tổ chức quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, gắn với
xây dựng và thực hiện các chương trình hành động. Tiếp tục đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp giáo dục chính trị, hướng mạnh về cơ sở. Kết hợp
12 Sđd, tr. 110-111
22
22
giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với giáo dục
truyền thống của quân đội, đơn vị và giáo dục pháp luật. Chú trọng giáo dục
cán bộ, chiến sĩ nâng cao và thống nhất nhận thức về đối tượng và đối tác; nắm
vững đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới. Nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần cảnh giác, ý thức tổ chức kỷ
luật. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, cơ hội; xây dựng ý chí
quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Huy động các lực lượng tích cực tham gia đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý
luận để bảo vệ nền tảng tư tưởng và đường lối, quan điểm của Đảng, chống
“phi chính trị hố qn đội”. Tăng cường và nâng cao chất lượng cơng tác bảo
vệ chính trị nội bộ, phịng gian giữ bí mật, xây dựng đơn vị an tồn, gắn với địa
bàn an toàn. tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận
và tuyên truyền đặc biệt. Phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền các địa
phương, các đồn thể chính trị, xã hội làm tốt cơng tác dân vận. Tích cực tham
gia xây dựng cơ sở chính trị,xố đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế -xã hội,
nhất là vùng biên giới, dân tộc, tôn giáo. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức
hoạt động, phát huy vai trị, sức mạnh hoạt động của các tổ chức quần chúng
trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị và xây dựng Đảng.
Hai là công tác tổ chức trong quân đội:
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội: Ngày
20-7- 2005 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 51/NQ-TW về việc tiếp tục hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với
thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam,
Nghị quyết khẳng định những vấn đề cơ bản nhất về bản chất cách mạng,
truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, nguyên tắc lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp
về mọi mặt” đối với quân đội và nội dung tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo
của Đảng, nhằm tăng cường sức mạnh lãnh đạo của tổ chức đảng, hiệu lực
công tác Đảng, cơng tác chính trị và hiệu lực của chế độ một người chỉ huy,
bảo đảm cho quân đội luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu
trung thành, tin cậy bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc và
nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
23
23
Sự phát triển của tình hình nhiệm vụ trong những năm tới đặt ra những yêu cầu
mới ngày càng cao đối với việc giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng đói với qn đội địi hỏi phải tiếp tục hồn thiện
và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp
và sức mạnh chiến đấu toàn diện của quân đội là một đòi hỏi khách quan và hết
sức cấp bách, là vấn đề sống còn của quân đội, liên quan trực tiếp đến sự mất
còn của độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thường vụ Đảng
uỷ quân sự trung ương xác định kế hoạch trong năm 2007 tiếp tục kiện tồn bố
trí, sắp xếp cơ bản đủ cán bộ chính uỷ, chính trị viên các cấp, tổ chức sơ kết rút
kinh nghiệm từ cấp cơ sở đến toàn quân, hoàn thành trong quý IV năm 2007,
để những năm tiếp theo tiếp tục hoàn thiện chế độ chính uỷ, chính trị viên đi
vào hoạt động có nề nếp, hiệu quả.
- Cơng tác xây đựng Đảng: Cần nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện,
sức chiến đấu của các cấp uỷ tổ chức đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong sinh hoạt và tổ chức thực hiện
nghị quyết. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ, trọng tâm là sinh
hoạt ra nghị quyết lãnh đạo, sinh hoạt tự phê bình và phê bình; đánh giá đúng
thực chất cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng tong sạch vững mạnh và nhận xét đảng
viên là cán bộ chủ trì lãnh đạo, chỉ huy từ cấp cơ sở đến cấp trực thuộc
ĐUQSTW; gắn xây dựng cấp uỷ trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị
vững mạnh toàn diện. Tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng chi bộ đại đội đủ
quân có chi uỷ, gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở Đảng. Đối với đơn vị phải coi trọng năng lực lãnh đạo quán
triệt, cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị cấp trên và tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả ở cấp mình, tập trung lãnh đạo khắc phục dứt điểm khâu yếu, mặt
yếu, các vụ việc vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Triển khai thực hiện tốt các quy
định của Trung ương về công tác đảng viên; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ địa
phương để quản lý đảng viên nơi cư trú; làm tốt công tác phát triển đảng viên
mới và phân công công tác cho đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, đúng thực
chất việc đánh giá chất lượng đảng viên hàng năm, gắn với đánh giá, nhận xét
24
24
cán bộ, cần coi trọng quan điểm, thái độ chính trị, năng lực hành động và phẩm
chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
- Công tác cán bộ: Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đường lối,
quan điểm, nguyên tắc công tác cán bộ của Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ có chất lượng, có tính kế thừa và phát triển.
Phát huy sức mạnh tổng hợp, trách nhiệm của các cấp, các ngành, xây
dựng đội ngũ cán bộ phải đồng bộ và có cơ cấu, số lượng hợp lý, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, co trình độ kiến thức ngày càng cao, xây dựng đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, chỉ huy kế tiếp các cấp vững vàng. Kết hợp chặt chẽ, cân đối giữa
tạo nguồn vào đội ngũ với chính sách chuyển ra để và giữ được số cán bộ qua
chiến đấu, vừa đạt được độ tuổi theo luật định. Khắc tình trạng hẫng hụt cán bộ
cấp chiến dịch, chiến lược và ùn tắc cán bộ cấp chiến thuật. Giải quyết đủ số
lượng cán bộ cấp cơ sở. Coi trọng bồi dưỡng năng lực hành động và tổ chức
thực tiễn, nhất là trình độ chỉ huy, quản lý, tổ chức huấn luyện, sẵn sàng chiến
đấu của cán bộ cơ sở. Thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, quy hoạch cán bộ
chủ trì các cấp, tạo nguồn cán bộ chủ trì có nhiều độ tuổi; mỗi nguồn có thể
quy hoạch nhiều chức danh. Nâng cao chất lượng tuyển sinh và đào tạo cán bộ
phân đội có trình độ đại học, giảm đào tạo ngắn hạn, đổi mới chương trình nội
dung, hồn thiện quy trình đào tạo, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ, thực
hiện đồng bộ các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ là chính và
có trình độ học vấn tương ứng…Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và thực hiện
đồng bộ các chính sách để giữ gìn, thu hút cán bộ, đổi mới và nâng cao chất
lượng, công tác cán bộ, cơ quan và đội ngũ những người làm công tác cán bộ.
Kết luận
Từ việc nghiên cứu nội dung các bài học kinh nghiệm hoạt động CTĐ,
CTCT trong kháng chiến chống Mỹ cho thấy hoạt động CTĐ, CTCT trong
quân đội ta thời kỳ này đã kế thừa và phát triển lên một bước mới về nhiều mặt
những kinh nghiệm hoạt động CTĐ, CTCT của các giai đoạn trước đó, đã phát
huy mạnh mẽ hiệu lực CTĐ, CTCT góp phần tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội ta. Những bài học
kinh nghiệm CTĐ, CTCT thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vẫn là những bài học
25
25
kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cao cho hoạt động CTĐ, CTCT trong giai đoạn
mới. Trong bối cảnh, tình hình nhiệm vụ cách mạng của Đảng, nhiệm vụ quân
đội hiện nay có những bước phát triển mới, với những u cầu địi hỏi cao hơn,
trong khi diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, trong nước và trong quân đội
tiếp tục có những diễn biến khó khăn, phức tạp do vậy để phát huy có hiệu quả
hoạt động CTĐ, CTCT một mặt cần biết kế thừa có chọn lọc những kinh
nghiệm CTĐ, CTCT trong các thời kỳ trước, đồng thời tích cực nghiên cứu, bổ
sung, đổi mới, phát triển đưa ra những nội dung, hình thức, biện pháp CTĐ,
CTCT đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới góp phần hồn
thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.