SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN BÁI
TRƯỜNG THPT HỒNG QUANG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ
(Lĩnh vực: Ngữ văn)
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT ĐOẠN TRÍCH VĂN XI BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY VIẾT DỰA TRÊN TIẾN TRÌNH
Tác giả: NGUYỄN THỊ LAN HUỆ
Trình độ chun mơn: Cử nhân sư phạm Ngữ văn
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác: Trường THPT Hồng Quang, Lục Yên, Yên Bái
Yên Bái, ngày 28 tháng 01 năm 2022
2
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:“Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một đoạn
trích văn xi bằng phương pháp dạy viết dựa trên tiến trình”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn
3. Phạm vi áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 11,12 trường THPT Hồng
Quang, Lục Yên, Yên Bái
4. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến ngày 30 tháng 01 năm 2022
5. Tác giả:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ LAN HUỆ
Năm sinh: 10/10/1977
Trình độ chun mơn: Cử nhân sư phạm Ngữ văn
Chức vụ công tác: Tổ trưởng chuyên môn
Nơi làm việc: Trường THPT Hồng Quang, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT Hồng Quang, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Điện thoại: 0388704993
6. Đồng tác giả (Nếu có) Khơng
II. MƠ TẢ SÁNG KIẾN
1. Tình trạng các giải pháp đã biết
Để tiếp cận một tác phẩm, đoạn trích khơng chỉ là sự cảm thụ mà còn cần
đến một số các kĩ năng. Hiện nay tiếp cận tác phẩm theo đặc trưng thể loại là xu
hướng phổ biến và cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ
văn giúp học sinh khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác
phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của nó. Cùng với rèn luyện kĩ
năng đọc, nói, nghe thì việc dạy kĩ năng viết cho học sinh trung học phổ thông
như thế nào để giúp học sinh phát triển được năng lực viết là một vấn đề được chú
trọng trong dạy học Ngữ văn. Thông qua việc được tập huấn, bồi dưỡng học tập
Mô đun 2: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng
lực học sinh THPT, tôi nhận thấy để phát triển năng lực viết thì sử dụng phương
pháp dạy viết theo tiến trình sẽ góp phần xác định rõ các bước người học cần được
trải nghiệm trong tiến trình viết. Bởi nếu như cách dạy viết truyền thống chú trọng
vào sản phẩm của HS, tức văn bản mà các em tạo lập thì dạy viết dựa trên tiến
trình chú trọng vào việc hướng dẫn HS trong suốt tiến trình tạo ra sản phẩm. Và
điều này thực sự rất cần thiết trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tạo
lập văn bản cho HS.
3
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới kiểm tra, đánh giá các đề
kiểm tra định kì theo Hướng dẫn xây dựng đề kiểm tra, đánh giá định kì lớp 11,12
của Bộ Giáo dục và Đào tạo và và đề thi tốt nghiệp THPT câu nghị luận văn học
(chiếm 50% tổng số điểm bài thi) đã có sự thay đổi. Với văn bản văn xuôi đề thi
thường yêu cầu học sinh phân tích/cảm nhận vẻ đẹp/tâm trạng/diễn biến tâm lí
của nhân vật A trong đoạn trích văn bản văn xi. Từ đó nhận xét về một đặc
điểm nội dung/nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm/tác giả hoặc phân tích/cảm nhận
một đoạn trích văn bản văn xi. Từ đó nhận xét về một đặc điểm nội dung/nghệ
thuật tiêu biểu của tác phẩm/tác giả. Đứng trước một đề văn như vậy nhiều học
sinh còn cảm thấy lạ lẫm, băn khoăn không biết làm dạng đề này như thế nào mới
đúng, trúng, đủ và đạt điểm cao. Trong quá trình giảng dạy, dự giờ, chấm bài của
học sinh tôi nhận thấy:
- Đối với GV: Do phân phối chương trình và thời gian trên lớp hạn chế, nên
hầu hết giáo viên chủ yếu dành thời gian để dạy cách viết bằng truyền đạt lí thuyết
chưa chú trọng vào việc hướng dẫn học sinh trong suốt tiến trình tạo ra sản phẩm
làm cho học sinh khó hình dung cần phải viết gì? Viết như thế nào?
- Đối với HS: Một bộ phận không nhỏ học sinh không hứng thú với việc
viết văn. Nguyên nhân, do kiến thức của học sinh chưa vững, năng lực tạo lập văn
bản nói chung và viết văn nghị luận văn học của học sinh vẫn còn yếu dẫn một số
lỗi thường gặp như không đảm bảo bố cục, bài viết rời rạc, không xác định đúng
đối tượng nghị luận dẫn đến lạc đề, xa đề; luận điểm không rõ ràng, lập luận không
chặt chẽ; diễn xuôi viết lan man; chỉ liệt kê dẫn chứng, khơng phân tích dẫn chứng.
Có những học sinh cịn kể lại tác phẩm, chép lại nguyên văn đoạn trích… ( bài
viết của học sinh )
4
Để đánh giá thực trạng trên, tôi đã thống kê kết quả bài kiểm tra cuối học
kì I năm học 2020 - 2021 khi chưa áp dụng giải pháp ở 2 lớp 12A4, 12A5. Kết
quả đạt được như sau:
Bảng kết quả bài kiểm tra cuối học kì I năm học 2020 - 2021
Khi chưa áp dụng biện pháp
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Yếu
Tb
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Tỷ lệ (%) từ 5
điểm trở lên
12A4
44
1
2,3
13
29,5
19
43,2
11
25
75
12A5
40
2
5
7
17,5
22
55
9
22,5
77,5
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy:
- Lớp 12A4: Số học sinh đạt điểm Giỏi: 01, Khá: 13, Yếu: 11 chiếm tới
25%; Tỉ lệ (%) điểm từ 5 trở lên chỉ đạt 75%.
- Lớp 12A5: Số học sinh đạt điểm Giỏi: 02, Khá: 07, Yếu: 09 chiếm tới
22,5 %; Tỉ lệ (%) từ 5 điểm trở lên chỉ đạt 77,5 %.
5
- Số HS đạt điểm Khá, Giỏi chưa cao chỉ đạt 27,3%
- Số học sinh điểm Yếu của 2 lớp là 20/84 chiếm tới 23,8%.
Từ kết quả trên, nếu như GV khơng có phương pháp dạy viết phù hợp với
việc đổi mới kiểm tra, đánh giá thì chất lượng bộ mơn Ngữ văn nói chung và kết
quả thi tốt nghiệp THPT của trường THPT Hồng Quang sẽ không khả quan, không
đạt được như mong đợi bởi môn Ngữ văn là một trong những môn giúp HS nâng
cao hơn kết quả thi tốt nghiệp. Mặt khác, với số HS đạt điểm Khá, Giỏi chưa cao
chỉ đạt 27,3% các em sẽ rất khó khăn trong việc xét điểm vào các trường Đại học.
Xuất phát từ thực trạng trên và với tính khả thi của phương pháp dạy viết
theo tiến trình nhằm phát triển năng lực tạo lập văn bản cho học sinh tôi đã lựa
chọn sáng kiến“Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận về một đoạn trích văn
xi bằng phương pháp dạy viết dựa trên tiến trình”
2. Nội dung giải pháp đề nghị cơng nhận là sáng kiến
2.1 Mục đích của giải pháp
- Nâng cao chất lượng dạy và học bộ mơn Ngữ văn THPT nói chung và lớp
12 nói riêng; nâng cao kết quả thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn.
- Đổi mới, đa dạng hoá các phương pháp dạy học trong dạy Làm văn
- Phát triển phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm.
- Phát triển năng lực:
+ Giải quyết vấn đề, tự học, sáng tạo, tạo lập văn bản
+ Viết một đoạn văn, bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xi theo tiến
trình. Từ đó, giúp học sinh biết vận dụng vào tất cả các dạng đề nghị luận văn học.
2.2. Nội dung giải pháp
2.2.1. Củng cố kiến thức, kĩ năng viết bài văn nghị luận về một đoạn trích
văn xi theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực
a. Khái niệm: Thế nào là nghị luận về một đoạn trích văn xi?
Nghị luận về một tác phẩm văn xi là việc dùng lí lẽ, lập luận, kết hợp sử
dụng các thao tác nghị luận (giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận...) để
làm rõ một vấn đề nào đó của một đoạn trích văn xi, qua đó thuyết phục người
đọc, người nghe về nội dung cần nghị luận.
b. Các dạng câu hỏi về một đoạn trích văn xi thường gặp
Dạng 1: Phân tích/Cảm nhận vẻ đẹp/tâm trạng/diễn biến tâm lí của nhân vật
A trong đoạn trích văn bản văn xi. Từ đó nhận xét về một đặc điểm nội
dung/nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm/tác giả.
Dạng 2: Phân tích/Cảm nhận đoạn trích văn bản văn xi. Từ đó nhận xét
về một đặc điểm nội dung/nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm/tác giả
6
So sánh 2 dạng đề phân tích/ cảm nhận một đoạn trích văn xi
Bố cục
Phân tích đoạn trích
Phân tích nhân vật trong đoạn trích
Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác - Giới thiệu tác giả, tác phẩm
phẩm
- Giới thiệu nhân vật
- Giới thiệu đoạn trích - Nhấn mạnh điều cần bàn luận về nhân
(nội dung, trích dẫn đoạn) vật trong đoạn trích và trích dẫn đoạn.
Thân bài
Giới thiệu khái quát: Xuất Giới thiệu khái quát: Xuất xứ, hoàn cảnh
xứ, hoàn cảnh sáng tác,.. sáng tác, tóm lược về nhân vật, vị trí
tóm lược nội dung, vị trí đoạn trích.
đoạn trích.
Các đoạn phân tích:
Các đoạn phân tích:
- Tập trung khai thác các - Tập trung khai thác các đặc điểm/diễn
yêu tố nội dung của đoạn biến tâm lí/ phẩm chất nhân vật bộc lộ
trích
trong đoạn trích,
- Phân tích giá trị nghệ - Nghệ thuật xây dựng nhân vật
thuật của đoạn trích.
- Đánh giá nhận xét về vai - Đánh giá nhận xét về vai trị vị trí, sự
trị vị trí, sự thành công thành công của nhân vật trong đoạn văn
của đoạn văn bản trong tp. bản.
- Nhận xét bổ sung theo - Nhận xét bổ sung theo yêu cầu của đề
yêu cầu của đề
Kết bài
- Khẳng định thành công - Khẳng định thành công của tác giả qua
của tác giả qua đoạn trích việc xây dựng nhân vật trong đoạn trích
- Thơng điệp rút ra từ - Thơng điệp rút ra từ nhân vật/hình
đoạn trích, văn bản
tượng vừa phân tích
c. Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xi thường gặp
Bước 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu đề
- HS nhận diện đề
- HS cần xác định: Yêu cầu của đề bài
+ Về nội dung: Phân tích/Cảm nhận vẻ đẹp/tâm trạng/diễn biến tâm lí của
nhân vật hay phân tích/Cảm nhận đoạn trích văn bản văn xi.
+ Về phương pháp, thao tác nghị luận: Sử dụng đa dạng các thao tác lập
luận phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ.
7
+ Về phạm vi tư liệu, dẫn chứng: phân tích/cảm nhận là đoạn trích dẫn trong
đề bài.
Bước 2: GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho bài viết.
- GV dựa vào Đáp án - Thang điểm chấm của Bộ Giáo dục hướng dẫn HS
lập dàn ý để tránh bỏ sót ý dẫn đến mất điểm.
8
- GV hướng dẫn HS lập dàn ý phân tích một đoạn trích văn xi theo sơ đồ
Bố cục
Nội dung
Mở bài
1. Giới thiệu vị trí của tác giả hoặc một nhận định của một nhà
nghiên cứu về tác giả
2. Nêu một đặc điểm sáng tác riêng (phong cách sáng tác) có liên
quan trực tiếp đến vấn đề cần nghị luận
Lưu ý: Liên kết đến tác phẩm
3. Giới thiệu tác phẩm, vấn đề cần nghị luận (nêu đúng, đủ, chính
xác và trích dẫn đoạn văn bản cần nghị luận, lưu ý cách trích dẫn
khơng cần viết hết đoạn trích)
(Đối với HS khá giỏi có thể mở bài gián tiếp)
Thân bài
1. Khái quát về tác phẩm, đoạn trích
- Khái quát về tác phẩm (xuất xứ, hồn cảnh sáng tác, nhan đề, tình
huống truyện…).
- Nếu đề u cầu phân tích nhân vật/hình tượng (giới thiệu sơ lược
về nhân vật/ hình tượng).
- Vị trí/ nội dung đoạn trích.
2. Phân tích/ cảm nhận đoạn văn (vấn đề trọng tâm ) Cần tập trung
vào xác định kiểu bài phân tích nhân vật/ diến biến tâm lí nhân vật
hay phân tích đoạn trích dựa vào đó để lập dàn ý cho phù hợp.
* Về nội dung
- Xác lập các luận điểm (dựa trên các ý của đoạn văn, hoặc nhóm
câu có cùng chung nội dung): Đoạn văn tả cảnh gì? kể sự việc gì?
sự việc ấy diễn ra như thế nào? có những nhân vật nào tham gia?...
- Yêu cầu trình bày theo luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng
+ Luận điểm 1: Cần làm rõ luận điểm bằng hệ thống luận cứ. Nêu
luận cứ đến đâu thì phải trích dẫn dẫn chứng tới đó. Khi trích dẫn
phải phân tích, làm rõ dẫn chứng đã nêu. Chú ý phân tích khai thác
từ yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật giá trị nội dung. Sau đó đánh giá
luận điểm 1 chuyến sang luận điểm 2.
+ Luận điểm 2,3,4… triển khai tương tự như luận điểm 1.
Chú ý:
- Cảm nhận trong mối tương quan với đoạn trước đó và đoạn sau
(nếu có).
9
- Phải bám sát văn bản, chỉ ra và phân tích được tác dụng của các
hình thức nghệ thuật, biện pháp tu từ trong đoạn trích
+ Các hình thức nghệ thuật:Tình huống truyện, nghệ thuật trần thuật,
nhịp điệu câu văn (câu văn ngắn dài), sử dụng nhiều động từ, …
+ Chi tiết nghệ thuật.
+ Các biện pháp tu từ.
- Mở rộng, liên tưởng, so sánh trong cùng tác phẩm, hoặc với tác
phẩm khác (dành cho học sinh Khá, Giỏi).
+ Kết hợp kiến thức lí luận văn học, văn học sử với cảm xúc (dành
cho học sinh Khá, Giỏi).
* Về nghệ thuật (viết thành 01 đoạn văn)
3. Từ đó nhận xét/ bình luận/ nêu…( vấn đề nâng cao)
Kết bài
- Khẳng định thành cơng của tác giả qua đoạn trích/ qua nhân vật/
hình tượng.
- Bài học rút ra từ đoạn trích/ nhân vật.
Lưu ý
-Thời gian làm bài: 70 - 80 phút
- Dung lượng: Từ 4 - 5 trang giấy thi. Đối với hs Khá, Giỏi khoảng
6 - 8 trang giấy thi.
Bước 3: Viết bài
Bước 4: Kiểm tra, chỉnh sửa
2.2.2. Cách thức tiến hành phương pháp dạy viết dựa trên tiến trình
a. Khái niệm
Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam và Trần Nguyên Hương Thảo (2017),
khái niệm về dạy viết dựa trên tiến trình được định nghĩa như sau: Dạy viết dựa
trên trên tiến trình là phương pháp “tổ chức hoạt động dạy viết dựa trên các bước
của quá trình tạo lập văn bản và hoạt động tư duy xảy ra trong tiến trình đó”.
Như vậy, phương pháp dạy viết dựa trên trên tiến trình chú trọng vào các
hoạt động của HS trong từng bước của quy trình viết. Theo đó, HS được trải
nghiệm tồn bộ q trình hồn thành một văn bản, học hỏi kinh nghiệm để hình
thàng các kĩ năng cần thiết ở từng bước.
b. Cách thức tiến hành
Để sử dụng phương pháp dạy viết dựa trên tiến trình, GV tiến hành các
bước như sau:
Bước 1: GV xác định mục tiêu, nội dung dạy viết
Bước 2: Chuẩn bị
10
- GV xây dựng các hoạt động hướng dẫn HS viết theo từng bước của quy
trình viết: Chuẩn bị trước khi viết, tìm ý và lập dàn ý; viết bài; xem lại, chỉnh sửa
và rút kinh nghiệm.
- GV thiết kế các công cụ dạy học cần thiết như: Hệ thống câu hỏi, các
phiếu học tập…Tuỳ theo yêu cầu của bài tập thực hành mà giáo viên điều chỉnh
hệ thống câu hỏi hướng dẫn, tiêu chí đánh giá.
Bước 3: Hướng dẫn học sinh viết theo quy trình
- GV hướng dẫn học sinh viết theo tiến trình. Đảm bảo ở mỗi bước trong
quy trình viết đều được hướng dẫn một cách chi tiết, cụ thể song phải phù hợp với
từng đối tượng HS.
- GV cần linh hoạt, không nhất thiết yêu cầu HS thực hiện tất cả trên lớp.
HS có thể chọn một luận điểm để viết thành đoạn văn. Các ý cịn lại về nhà tiếp
tục hồn thành. GV sẽ kiểm tra, đánh giá vào tiết học sau.
- GV nêu đề bài và tổ chức hoạt động để hướng dẫn HS viết theo từng bước
của quy trình viết có thể viết đoạn hoặc trọn vẹn một bài văn.
- HS thực hiện các hoạt động theo từng bước của quy trình viết
Bước 4: Trình bày sản phẩm học tập và đánh giá
- HS trình bày sản phẩm học tập: GV lựa chọn tổ chức trình bày sao cho
phù hợp với điều kiện học tập.
- GV tiến hành đánh giá và phản hồi kịp thời trong suốt tiến trình.
2.2.3. Ví dụ minh hoạ cho cách thức tiến hành hướng dẫn học sinh viết
bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xi bằng phương pháp dạy viết theo
tiến trình.
Lớp dạy: Lớp 12
Phần: Viết
Ngữ liệu chọn: Đoạn trích trong tác phẩm “Người lái đị Sông Đà” của
Nguyễn Tuân
Hoạt động sử dụng phương pháp: Hoạt động thực hành viết theo tiến trình
Mục tiêu hoạt động: Viết được bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xi
theo tiến trình.
Cách thức tổ chức hoạt động: Sử dụng phương pháp dạy viết theo tiến trình
kết hợp với phương pháp dạy theo mẫu, kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”, HS làm việc cá
nhân, thảo luận cặp đôi.
Bước 1: GV xác định mục tiêu, nội dung dạy viết: HS viết được bài văn
nghị luận về một đoạn trích văn xuôi.
Bước 2: Chuẩn bị
- GV nêu đề bài để hướng dẫn học sinh thực hành viết theo quy trình.
11
Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà trong đoạn trích sau:
“Con Sơng Đà tn dài tn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc
ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai va cuồn cuộn
mù khói núi Mèo đốt nương xuân…. chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bắn tính và
gắt gỏng thác lũ ngay đấy…”
(Trích Người lái đị sơng Đà - Nguyễn Tn, Ngữ văn 12, tập một, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.190 -191)
- GV xây dựng các hoạt động và thiết kế các công cụ cần thiết để hướng
dẫn HS viết theo từng bước của quy trình viết.
+ Chuẩn bị trước khi viết:
++ GV giao nhiệm vụ: Hoàn thành phiếu học tập 1
Phiếu học tập 1: Câu hỏi hướng chuẩn bị trước khi viết bài nghị luận về
một đoạn trích văn xi.
++ HS thực hiện nhiệm vụ: Cá nhân
+ GV hướng dẫn HS tìm hiểu đề; tìm ý và lập dàn ý
++ GV giao nhiệm vụ: HS hoàn thành phiếu học tập 2
Phiếu học tập 2: Hồn thiện bảng kiến thức phân tích vẻ đẹp trữ tình của
Sơng Đà theo u cầu của đề bài.
Đọc đoạn văn: “Con Sông Đà tuôn dài… vào bản đồ lai chữ.”. Hồn thành
bảng kiến thức sau:
Điểm
nhìn
Từ trên
cao nhìn
xuống
Vẻ đẹp
trữ tình
Câu văn/ hình
ảnh/ chi tiết
Nghệ thuật
Hình
dáng
Sơng
Đà
- Con Sơng Đà
tn dài tn dài
như một áng tóc
trữ tình … Mèo
đốt nương xn.
- Nhân hố, so sánh
Màu
nước
Sơng
Đà
- Mùa xn dịng So sánh, liên tưởng,
xanh ngọc bích, tưởng tượng phong
…..Sơng Lơ
phú
- Câu văn rất dài chỉ
có một dấu ngắt kết
hợp với điệp ngữ “
tuôn dài”
- Mùa thu nước So sánh, liên tưởng,
Sông Đà lừ lừ tưởng tượng phong
chín đỏ… bực bội phú
mỗi độ thu về.
Cảm nhận
12
- Chưa hề bao giờ - Câu khẳng định
tôi thấy dịng
Sơng Đà là đen
như thực…bản đồ
lai chữ
Đọc đoạn văn :“ Con Sông Đà gợi cảm…. gắt gỏng thác lũ ngay đấy”.
Hồn thành bảng kiến thức sau:
Điểm
nhìn
Vẻ đẹp trữ
tình
Từ trong Sơng
Đà
rừng đi
như
một
ra (con
“cố nhân”.
Sơng Đà
gợi cảm)
Câu văn/ Hình ảnh/ chi
tiết
Nghệ thuật
- Con Sông Đà gợi cảm. So sánh
Đối với mỗi người, Sơng nhân hố
Đà lại gợi một cách. Đã
có lần tơi nhìn Sơng Đà
như một cố nhân
Vẻ đẹp của - Trước mắt thấy loang So sánh
mặt nước loáng như trẻ con nghịch
lịng sơng
chiếu gương vào mắt
mình rồi bỏ chạy
- Tơi nhìn cái miếng Tả, liên tưởng,
sáng loé lên một màu tưởng tượng
nắng tháng ba Đường - So sánh
thi “ Yên hoa tam nguyệt
há Dương Châu
Cảnh đẹp - Bờ Sông Đà, bãi Sơng
thơ mộng, Đà. Chuồn chuồn bươm
n bình ở bướm trên Sông Đà
hai bên bờ
Cảm xúc,
cảm giác
gặp
lại
Sông Đà
- Câu văn chỉ
nối tiếp các
chủ ngữ
- Hai chữ
“Sông
Đà"
điệp lại cuối
mỗi vế…
- Chao ôi, trơng con So sánh, nhân
sơng,…bao đứt qng.
hố
- Nó đằm đằm ấm ấm
như gặp lại cố nhân.
Cảm nhận
13
++ GV dựa vào Đáp án- Thang điểm chấm của Bộ Giáo dục hướng dẫn HS
lập dàn ý để tránh bỏ sót ý dẫn đến mất điểm.
++ GV xây dựng dàn ý cho đề bài thực hiện hoạt động viết.
+ Chuẩn bị sau khi viết
++ GV giao nhiệm vụ: Hoàn thành phiếu học tập 3,4.
Phiếu học tập 3: Câu hỏi hướng dẫn tự kiểm tra bài viết
Phiếu học tập 4: Câu hỏi trao đổi cặp đôi (cùng bàn) để nhận xét, chỉnh sửa
đoạn văn của nhau dựa vào Phiếu học tập.
++ HS thực hiện nhiệm vụ.
++ GV chuẩn bị đáp án, thang điểm đánh giá .
Bước 3: Hướng dẫn học sinh viết theo quy trình
- GV nêu đề bàì và cung cấp các câu hỏi, phiếu học tập để hướng dẫn HS
viết theo từng bước của quy trình viết.
- GV kết hợp phương pháp dạy học theo mẫu hướng dẫn học sinh thực hành
viết bài văn theo cấu theo cấu trúc tổng - phân - hợp.
- HS lần lượt thực hiện các hoạt động từng bước quy trình viết
- HS thực hiện nhiệm vụ:
(1) Tìm hiểu đề, lập dàn ý
- Tìm hiểu đề:
Với đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà trong đoạn trích
+ Vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà
+ Thao tác lập luận: Vận dụng kết hợp đa dạng các thao tác lập luận. Kết
hợp nghị luận với biểu cảm.
+ Phạm vi bàn luận: Đoạn trích trong đề bài
(2) Lập dàn ý
Mở
bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm “Người lái đị Sơng Đà”
- Giới thiệu hình tượng con Sông Đà
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận: vẻ đẹp trữ tình của con Sơng Đà trong
đoạn trích: “Con Sông Đà tuôn dài .. thác lũ ngay đấy”
Thân 1. Giới thiệu khái quát
bài
- Hoàn cảnh sáng tác: chuyến đi thực tế lên vùng cao Tây Bắc
- Tóm lược về đặc điểm hình tượng con Sơng Đà trong tác phẩm: nét
hung bạo, hùng vĩ và thơ mộng trữ tình.
14
- Vị trí đoạn trích: thuộc phần khắc họa vẻ đẹp trữ tình của con Sơng Đà
ở góc nhìn từ trên tàu bay và đi từ rừng ra.
2. Cảm nhận vẻ đẹp trữ tình của con sơng Đà qua đoạn trích
2.1. Vẻ đẹp ở góc nhìn từ trên máy bay
- Hình dáng mềm mại, dun dáng như mái tóc dài bồng bềnh của thiếu
nữ (áng tóc trữ tình…)
- Màu nước thay đổi theo mùa, mang nét đẹp đặc trưng của Sơng Đà
Mùa xn dịng xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ…
-> Góc nhìn bao qt, khống đạt đem đến những trải nghiệm cảm xúc
đặc biệt cho tác giả: quen thuộc, say sưa, u mến…
2.2. Ở góc nhìn đi từ rừng ra
- Sông Đà như một “cố nhân”
- Vẻ đẹp của mặt nước lịng sơng: Ấn tượng mạnh về sự lung linh của
mặt nước Sơng Đà loang lống như trẻ con nghịch gương, sáng lóe lên
màu nắng tháng ba Đường thi.
- Cảnh đẹp thơ mộng, thanh bình ở hai bên bờ: Khung cảnh lãng mạn,
đầy thi vị chuồn chuồn, bươm bướm trên sông.
- Cảm xúc, cảm giác gặp lại Sông Đà: vui tươi, ấm áp, …
2.3. Nghệ thuật: Sử dụng các hình ảnh so sánh giàu sức gợi; kiểu câu
dài, giọng văn mềm mại, uyển chuyển; điểm nhìn miêu tả phong phú,
độc đáo; sử dụng kiến thức văn học, địa lí; sử dụng ngơn từ điêu luyện…
Kết
bài
- Khẳng định vẻ đẹp trữ tình của con Sơng Đà ở góc nhìn từ trên tàu bay
và đi từ rừng ra; khẳng định tài năng và tâm hồn của nhà văn;
- Rút ra bài học về tình yêu thiên nhiên, trân trọng những vẻ đẹp quê
hương, nâng niu những xúc cảm tinh tế trong lòng người.
(3) Viết:
- Dựa theo dàn bài đã xây dựng, viết bài văn theo tiến trình
- Chú ý viết đoạn văn phần thân bài phải thể hiện được nổi bật các luận
điểm và chứng minh bằng những luận cứ rõ ràng
- Các đoạn trong bài văn phải có sự liên kết, chuyển ý
* Viết Mở bài: Đảm bảo yêu cầu của mở bài
Với đề bài yêu cầu có thể viết mở bài như sau:
MB1: Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn của nền văn học hiện đại
Việt Nam, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Các tác phẩm văn xuôi, đặc biệt
là tuỳ bút của ơng mang phong cách phóng túng, tài hoa, un bác; ln nhìn
15
sự vật ở phương diện văn hóa và thẩm mĩ, nhìn con người ở phẩm chất nghệ sĩ
và tài hoa. "Người lái đị Sơng Đà" là một áng văn tiêu biểu cho phong cách
của Nguyễn Tuân. Đọc tuý bút này, người đọc không thể quên một Sông Đà thật
sống động với đầy đủ diện mạo, tính cách như một cơ thể sống: vừa hung bạo
đến hãi hùng lại vừa lãng mạn trữ tình đến say đắm. Đoạn văn sau đã khắc họa
thật ấn tượng vẻ đẹp trữ tình mềm mại của dịng sơng “Con Sơng Đà tn dài
tn dài… thác lũ ngay đấy…”
MB2 (Dành cho HS Khá, Giỏi) Nếu phải tìm bản nhạc hay nhất, có lẽ tơi
sẽ chọn văn chương. Bởi chỉ khi đến với văn chương, người nghệ sĩ mới được
bày tỏ nỗi niềm, thể hiện tư tưởng của chính mình qua từng câu thơ, trang văn
nghệ thuật và rồi mang đến cho người đọc biết bao giai điệu cảm xúc với nhiều
cung bậc. Và tuỳ bút “Người lái đị Sơng Đà” của Nguyễn Tn được xem như
nốt ngân đầy sáng tạo trong bản hòa tấu của văn học. Sức hấp dẫn của tuỳ bút
là nhà văn bộc lộ năng lực miêu tả Sông Đà thật sống động với đầy đủ diện
mạo, tính cách như một cơ thể sống: vừa hung bạo đến hãi hùng lại vừa lãng
mạn trữ tình đến say đắm. Đoạn văn sau đã khắc họa thật ấn tượng vẻ đẹp trữ
tình mềm mại của dịng sơng“Con Sơng Đà tn dài tn dài… thác lũ ngay
đấy” ( Bài viết của HS)
* Viết thân bài: Triển khai vấn đề cần nghị luận
(1) Đoạn giới thiệu khái quát về tác phẩm, đoạn trích. Yêu cầu HS bám
sát dàn ý hồn thành đoạn văn. Có thể viết như sau:
“ Người lái đị Sơng Đà” là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của
tập kí “Sơng Đà”. Tác phẩm là kết quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân đã
thu hoạch được trong chuyến đi thực tế đầy hào hứng và gian khổ khi lên mảnh
đất Tây Bắc rộng lớn và xa xôi, không chỉ để thỏa mãn thú xê dịch mà chủ yếu
là tìm chất vàng của thiên nhiên và chất vàng mười đã qua thử lửa của con
người lao động và chiến đấu của miền đất này. Sơng Đà là dịng sơng bắt nguồn
từ Trung Quốc chảy qua vùng núi cao hiểm trở, tốc độ dòng sơng chảy xiết
mạnh mẽ. Dưới ngịi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, Sông Đà được miêu tả như
một sinh thể sống động, có diện mạo, tính cách, nội tâm, hoạt động như con
người, hiện lên như một nhân vật văn học với hai tính cách nổi bật: vừa hung
bạo, dữ dội, hùng vĩ vừa trữ tình, dịu dàng, nên thơ. Đoạn trích thuộc phần cuối
khắc họa vẻ đẹp trữ tình của con sơng Đà ở góc nhìn từ trên tàu bay và đi từ
rừng ra.
(2) Cảm nhận vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà trong đoạn trích
* Nội dung
- HS hoàn thiện phiếu học tập.
16
+ Cảm nhận về vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà nhìn từ trên tàu bay nhìn xuống
trong đoạn:“Con Sơng Đà tuôn dài… vào bản đồ lai chữ”.
+ Cảm nhận về vẻ đẹp trữ tình, gợi cảm của Sơng Đà ở góc nhìn từ trong
rừng đi ra trong đoạn 2:“ Con Sông Đà gợi cảm…. gắt gỏng thác lũ ngay đấy”.
- HS viết bài văn (HS có thể chọn một luận điểm để viết thành đoạn văn.
Các ý còn lại về nhà tiếp tục hoàn thành. Giáo viên sẽ kiểm tra, đánh giá vào tiết
học sau).
- GV hướng dẫn HS viết theo tiến trình phù hợp với từng đối tượng HS.
- Dựa vào dàn ý đã xây dựng, phiếu học tập có thể hình thành các đoạn văn.
- GV cung cấp từng đoạn văn mẫu giúp học sinh dễ hình dung cách viết,
tạo một sản phẩm mới tương tự như mẫu
- HS nối các ý để hoàn thành đoạn văn tương ứng (Tham khảo)
* Luận điểm 1: Vẻ đẹp trữ tình của Sơng Đà nhìn từ trên máy bay
- Hình dáng Sông Đà: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ
tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo
tháng hai va cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”
+ Với câu văn dài chỉ có một dấu ngắt duy nhất kết hợp với điệp ngữ “tuôn dài”
đem đến cảm giác về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh dịng sơng uốn lượn
tn chảy từ những dãy núi hùng vĩ của biên giới Tây Bắc, miên man chảy
xuống đồng bằng, lặng lẽ hịa vào sơng Hồng rồi tha thiết đổ ra biển...
+ Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự n ả, êm
đềm, bình lặng cho dịng sơng.
+ Cách so sánh độc đáo, mới lạ dịng sơng như một áng tóc trữ tình của Nguyễn
Tn đã đem đến cho Sơng Đà nét mềm mại đằm thắm, vẻ duyên dáng đầy nữ
tính, và cũng khơng hề làm mất đi sự hùng vĩ của dịng sơng.
+ Sơng Đà đã nhận thêm vào dịng chảy của mình nét thơ mộng huyền ảo của
mây trời, sự tươi tắn rực rỡ của hoa ban hoa gạo tháng hai, và đặc biệt là cái
ấm áp thật gần gũi thân yêu của làn khói núi Mèo đốt nương xuân.
- GV hướng dẫn HS chuyển ý : Nhìn ngắm Sông Đà từ nhiều thời gian, không
gian nhà văn đã phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của dịng sơng.
Nhà văn đã thấy màu nước Sơng Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có vẻ đẹp riêng
đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu.
+ Mùa xuân “dịng xanh ngọc bích”, Nguyễn Tn tả sắc xanh của nước Sơng
Đà cũng lạ lẫm, màu xanh ngọc bích, sắc xanh trong vắt như pha lê, ngọc thạch
mà mắt người có thể nhìn thấu đáy. Để làm nổi bật cái màu xanh tươi sáng, lấp
lánh của nước Sông Đà, nhà văn đã đã so sánh với màu xanh canh hến của Sông
Gâm và Sông Lô.
17
+ Mùa thu, nước Sơng Đà “lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì…… bất mãn
bực bội gì mỗi độ thu về” với biện pháp so sánh, liên tưởng, tưởng tượng phong
phú, tác giả gợi tả dòng êm đềm, chậm rãi của con sông chở nặng phù sa thượng
nguồn Sơng Đà.
-> Góc nhìn bao qt, khống đạt đem đến những trải nghiệm cảm xúc đặc biệt
cho tác giả: quen thuộc, say sưa, yêu mến…
- GV hướng dẫn HS Khá,Giỏi viết đoạn văn liên hệ, so sánh, mở rộng khi miêu
tả màu nước Sông Đà vào mùa thu. Mùa thu, nước Sơng Đà “lừ lừ chín đỏ như
da người bầm đi vì…… bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về” với biện pháp so
sánh, liên tưởng, tưởng tượng phong phú, tác giả gợi tả dòng êm đềm, chậm rãi
của con sông chở nặng phù sa thượng nguồn. Nhà văn luôn lấy con người làm
chuẩn mực để kéo thiên nhiên về với con người. Sông Đà hiện lên như một cơ
thể sống dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân. Vẻ đẹp màu nước thay đổi theo mùa
của Sông Đà khiến ta liên tưởng đến sắc màu đổi thay của Sông Hương trên
trang văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường “sáng xanh, trưa vàng, chiều tím ”. Như
vậy, ta thấy Sơng Đà khơng chỉ có tính cách đa dạng mà cịn hiện lên như một
cô gái biết trưng diện, biết điệu đà bởi mỗi mùa cô ấy tự thay tấm áo đã cũ màu,
khốc cho mình tấm áo mới, ln ln thay đổi, ln tự làm mới mình để đẹp
hơn, hấp dẫn hơn.
- GV hướng dẫn HS Khá, Giỏi nhận xét, đánh giá, bình luận: Cách miêu tả của
Nguyễn Tuân dẫn tới sự khẳng định: vẻ đẹp của Sông Đà làm say mê trái tim
người nghệ sĩ trước hết vì nó là vẻ đẹp của “đất nước Tổ quốc bao la”, sau nữa
là vì nó gắn bó gần gũi thân thiết với cuộc sống con người. Nhà văn của những
vẻ đẹp “vang bóng một thời” nay đã có sự thay đổi cơ bản trong quan điểm thẩm
mĩ. Cái đẹp khơng cịn cơ đơn lạc lõng xa xôi, cái đẹp hiện ra ấm áp giữa cuộc
đời bình dị, cái đẹp hiện diện ngay trong cuộc sống đời thường.
+ Câu khẳng định“chưa bao giờ con sơng lại có màu đen như thực dân Pháp
đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào và gọi bằng một cái tên lếu láo là sông
Đen ” khơng chỉ muốn tơn vinh vẻ đẹp của dịng sơng mà cịn trực tiếp bày tỏ
tình cảm u mến đối với Sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở.
* Luận điểm 2: Vẻ đẹp trữ tình, gợi cảm của Sơng Đà ở góc nhìn từ trong rừng
đi ra
- Sông Đà như một “cố nhân”: Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông
Đà lại gợi một cách. Đã có lần tơi nhìn Sơng Đà như một cố nhân. Hai chữ “cố
nhân” vừa là hình ảnh nhân hóa, so sánh dịng sơng như một người bạn cũ xa
nhớ gần yêu, vừa đưa đến cho dòng sơng chút vương vấn, cổ kính, xưa cũ của
Đường thi.
- Vẻ đẹp lấp lánh mặt nước lịng sơng
18
+ Nó sáng lóe lên niềm vui, như thức tỉnh, như bừng sáng “Mặt nước loang
loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt rồi bỏ chạy”. Hình ảnh so sánh
sinh động khiến Sơng Đà hiện ra thật nhí nhảnh hồn nhiên đến ngỡ ngàng.
+ Khi liên tưởng mặt sông giống như cái miếng sáng lóe lên một màu nắng
tháng ba Đường thi, Nguyễn Tuân đã đem đến cho Sông Đà vẻ lãng mạn của
hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân, tỏa ra từ câu thơ vời vợi nhớ nhung
của Lí Bạch: Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
- GV hướng dẫn HS Khá, Giỏi nhận xét, đánh giá, bình luận: Liên tưởng của
nhà văn đã làm xao xuyến những tâm hồn chưa hề nguôi nỗi tiếc nuối, nhớ
nhung với những phong vị Đường thi cổ điển, để rồi nỗi xao xuyến ấy mơ hồ
lan tỏa trên dịng sơng gợi cảm, khiến Sơng Đà khơng chỉ chảy trong khơng
gian, mà như cịn tha thiết trong dịng thời gian miên viễn xa xăm.
- Khung cảnh đẹp lãng mạn, thơ mộng, yên bình đầy thi vị ở hai bên bờ
+ Câu văn chỉ nối tiếp các chủ ngữ: Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn
bươm bướm trên Sông Đà.
+ Hai chữ “Sông Đà” điệp lại cuối mỗi vế câu đẳng lập như nhịp lên niềm say
mê phấn khích, như nhân lên những khoảng khơng gian phóng khống của bến
bãi Đà giang
- Cảm xúc, cảm giác gặp lại Sông Đà
+ Cảm xúc, cảm giác gặp lại Sông Đà được cụ thể hóa trong những so sánh bất
ngờ thú vị: “Chao ơi, trơng con sơng vui như thấy nắng giịn tan sau kì mưa
dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”;
+ Nắng “giòn tan” là một ẩn dụ đẹp gợi tả cái nắng thật trong, thật sáng, thật
mỏng và thật nhẹ; nó vừa mong manh, vừa quý giá, nó tương phản hoàn toàn
với cái u ám trĩu nặng của bầu trời những ngày “mưa dầm”, giúp người đọc dễ
dàng hình dung cảm giác trìu mến, nâng niu của nhà văn khi gặp lại con sông;
+ So sánh vui như nối lại chiêm bao đứt quãng có thể thấy cảm giác khi gặp lại
dịng sơng lần nào cũng tươi mới kì diệu như được nối lại một giấc mơ đẹp, lần
nào cũng như được tận hưởng niềm vui chưa từng có trong đời, lần nào cũng
như lần đầu tiên, cuối cùng và duy nhất;
+ Và cuối cùng, trong hình ảnh so sánh về cảm giác gặp lại sơng Đà, nó đằm
đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, Sông Đà đã thực sự trở thành người bạn cũ,
một tri âm với bao kỉ niệm gắn bó trong quá khứ, bao nhớ thương trong hiện
tại, bao chung thủy trong tương lai, đến một cố nhân trái tính mà vẫn có sức hấp
dẫn đến lạ kì.
* Viết đoạn đánh giá nghệ thuật
Bằng nghệ thuật miêu tả thiện nhiên, cảnh vật tài tình, trí tưởng tượng
phong phú, sử dụng các biện pháp tư từ so sánh, nhân hoá, ẩn dụ sinh động,
giàu sức gợi; kiểu câu dài, ngắn; giọng văn mềm mại, uyển chuyển; điểm nhìn
19
miêu tả phong phú, độc đáo; sử dụng kiến thức văn học, địa lí; sử dụng ngơn từ
điêu luyện…tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp con Sông Đà qua góc nhìn từ trên cao
đến đi từ rừng ra thật độc đáo, ấn tượng.
- GV hướng dẫn HS Khá, Giỏi nhận xét, đánh giá: Bằng nghệ thuật miêu
tả thiện nhiên, cảnh vật tài tình, trí tưởng tượng phong phú, sử dụng các biện
pháp tư từ so sánh, nhân hoá, ẩn dụ sinh động, giàu sức gợi; kiểu câu dài, ngắn;
giọng văn mềm mại, uyển chuyển; điểm nhìn miêu tả phong phú, độc đáo; sử
dụng kiến thức văn học, địa lí; sử dụng ngôn từ điêu luyện… Nguyễn Tuân đã
cho người đọc thấy vẻ đẹp độc đáo của dịng sơng Đà qua đôi mắt người nghệ
sĩ đầy tài hoa, uyên bác mà phóng túng đa tình. Một Sơng Đà biến ảo đa tính
cách, đem đến những, cảm xúc phong phú và sâu sắc cho người đọc. Quả thực,
cái đẹp của Sông Đà là cái đẹp tuyệt đỉnh khiến lòng người say đắm và khát
khao khám phá.
(3) Viết đoạn nâng cao (nếu có)
Ví dụ: Đề ra ...từ đó nhận xét chất thơ thể hiện trong đoạn trích
Có thể hình thành các ý, HS nối các ý viết thành đoạn văn
- Biểu hiện: chất thơ trong đoạn trích thể hiện:
+ Cảm nhận của tác giả về vẻ đẹp trữ tình của dịng sơng: Sông Đà như một
người gái đẹp của núi rừng Tây Bắc với mái tóc dài mượt mà, thướt tha; những
bơng hoa ban trắng hay những bông gạo đỏ rực, thấp thống ẩn hiện giữa núi
rừng mùa xn mù sương khói.
+ Ở xúc cảm tinh tế của tác giả trước dòng sơng thơ mộng, trữ tình: cảm giác
đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân sau chuỗi ngày chia biệt;
+ Ở những so sánh, liên tưởng thú vị độc đáo của Nguyễn Tuân: Sông Đà như
một người con gái đẹp, như một cố nhân, nước Sông Đà đổi màu liên tục qua
mỗi mùa trong năm.
- Ý nghĩa: Chất thơ trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân là một phần trong nội dung
phong cách tài hoa, un bác của ơng. Ơng để lại ấn tượng đặc biệt về một con
sông đầy cá tính, mang tính cách của con người với hai nét độc đáo, đối lập mà
thống nhất: hung bạo và trữ tình. Qua đó, ta thấy nhà văn cố cơng đi tìm cái đẹp
- chất vàng thiên nhiên Tây Bắc để ca ngợi. Thiên nhiên là sản phẩm nghệ thuật
vô giá, là cơng trình mĩ thuật của tạo hố đã ban tặng cho con người. Đó cũng
chính là tình u Tổ quốc mà nhà văn cách mạng Nguyễn Tuân đã gửi gắm qua
trang tuỳ bút của mình.
* Viết kết bài
Đoạn trích là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sơng Đà. Đó
là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiêt tha của
một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con
20
người Tây Bắc. Đọc những dòng tùy bút của Nguyễn Tuân, ta vừa trân quý chất
tài hoa nghệ sĩ của nhà văn, vừa thêm yêu mến những cảnh đẹp của mọi miền
đất nước thân yêu.
Bước 4: Trình bày sản phẩm học tập và đánh giá
- HS trình bày kết quả: Giáo viên gọi 2-3 học sinh trình bày kết quả từng
đoạn văn/ bài văn.
- Đánh giá
+ HS tự kiểm tra, đánh giá bài viết thông qua phiếu học tập.
+ GV gọi học sinh nhận xét, đánh giá bài của bạn học (Phiếu học tập).
+ GV nhận xét, hướng dẫn những nội dung cần điều chỉnh, bổ sung.
+ GV chốt lại ý cần đạt, cung cấp từng đoạn văn mẫu giúp học sinh dễ hình
dung cách viết, tạo một sản phẩm mới tương tự như mẫu.
+ GV thu toàn bộ sản phẩm của HS và tiến hành phân tích đánh giá bài viết
HS bằng điểm số dựa trên Đáp án, thang điểm, Hướng dẫn chấm.
2.3. Chỉ ra tính mới của giải pháp
- Tạo được sự hứng thú với môn Ngữ văn. Cơ bản đã khắc phục hiện tượng
nghĩ gì viết đấy cũng như tâm lý ngại viết, ngại đọc của học sinh;
- Nếu như cách dạy viết truyền thống GV chỉ chú trọng vào sản phẩm của
HS, tức văn bản mà các em tạo lập thì dạy viết dựa trên tiến trình GV đã chú trọng
vào việc hướng dẫn HS trong suốt tiến trình tạo ra sản phẩm tạo điều kiện phát
triển năng lực đọc, viết, nói, nghe; năng lực tư duy;
- HS được trải nghiệm tồn bộ q trình hồn thành một văn bản, học hỏi
kinh nghiệm để hình thành các kĩ năng cần thiết ở từng bước;
- HS có cơ hội tham gia vào tiến trình tự nhận thức và nhận ra những tiến
bộ của bản thân, từ đó sẽ cải thiện được chất lượng bài viết của mình.
3. Khả năng áp dụng của giải pháp
- Giải pháp có thể áp dụng cho tất cả các dạng câu hỏi nghị luận văn học.
- GV sử dụng giải pháp này trong các giờ dạy Làm văn ở trường THPT.
- Áp dụng cho các đối tượng học sinh đặc biệt hiệu quả với những học sinh
có học lực Trung bình, Yếu các em đã biết cần phải viết những gì, viết như thế
nào để đạt điểm từ 3,0 điểm trở lên (trên thang điểm 5,0).
4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp
Qua kết quả quan sát, dạy thực nghiệm trên các lớp mình giảng dạy, tơi
nhận thấy học sinh khơng chỉ hứng thú hơn với với việc viết văn mà chất lượng
bài viết của HS tốt hơn cả về nội dung và hình thức. Đặc biệt kĩ năng viết đoạn,
bài văn nghị luận văn học của các em nhuần nhuyễn hơn nhiều so với cách dạy
21
truyền thống. Kết quả được thể hiện trong bảng so sánh kết quả bài kiểm tra cuối
học kì I năm học 2020 - 2021 (khi chưa áp dụng) và kết quả bài kiểm tra giữa học
kì II ở lớp 12A4,12A5 (sau khi áp dụng) như sau:
Bảng 1: Kết quả bài kiểm tra cuối học kì I khi chưa áp dụng sáng kiến.
Tổng số 84 học sinh lớp 12A4,12A5
Khi chưa áp dụng giải pháp
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Tỷ lệ (%) từ 5
điểm trở lên
Yếu
Tb
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12A4
44
1
2,3
13
29,5
19
43,2
11
25
75
12A5
40
2
5
7
17,5
22
55
9
22,5
77,5
Bảng 2: Kết quả bài kiểm tra giữa học kì II năm học 2020 - 2021. Tổng số
84 học sinh lớp 12A4,12A5 ( sau khi chưa áp dụng sáng kiến)
Sau khi áp dụng giải pháp
Lớp
Sĩ số
Giỏi
SL
%
Khá
Tỷ lệ (%) từ 5
điểm trở lên
Yếu
Tb
SL
%
SL
%
SL
%
12A4
44
14 31,8
19
43,2
10
22,7
1
2,3
97,7
12A5
40
7
15
37,5
18
45
0
0
100
17,5
So sánh số liệu bảng 1 (khi chưa áp dụng) với số liệu bảng 2 (sau khi áp
dụng) ta thấy:
- Tỷ lệ (%) từ 5 điểm trở lên ở hai lớp sau khi áp dụng đã tăng đáng kể: lớp
12A4 đạt 97,7 % (tăng 22,7%), lớp 12A5 đạt 100% (tăng 22,5%).
- Đặc biệt số học sinh điểm Yếu của 2 lớp giảm từ 20/84 học sinh xuống
chỉ còn 1/84 học sinh.
- Số HS đạt điểm Khá, Giỏi đạt 65,5% (tăng 38,2%) khi chưa áp dụng giải
pháp chỉ đạt 27,3%.
Kết quả được thể hiện trong biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi áp
dụng sáng kiến:
22
25
22
19
20
15
13
11
9
10
7
5
2
1
0
12A4
12A5
Giỏi
Khá
Trung Bình
Yếu
25
19
20
15
10
18
15
14
10
7
5
1
0
0
12A4
12A5
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
23
Biểu đồ so sánh tỷ lệ (%) từ 5 điểm trở lên trước và sau khi áp dụng
120
80
100
97,7
100
77.5
75
60
40
20
0
12A4
Khi chưa áp dụng
12A5
Sau khi áp dụng
Năm học 2020 - 2021, tôi đã chia sẻ giải pháp này trong sinh hoạt chuyên
môn với nhóm giáo viên dạy mơn Ngữ văn trường THPT Hồng Quang. Qua dự
giờ, rút kinh nghiệm, sự phản hồi tích cực đặc biệt là sự vận dụng hiệu quả, linh
hoạt trong đổi mới phương pháp dạy viết văn nghị luận văn học về một đoạn thơ,
đoạn trích văn xi của giáo viên đã góp phần nâng cao điểm trung bình trong kỳ
thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn năm 2021 đạt 6,44 tăng 0,65 (năm 2020 là
6,08); tỷ lệ (%) từ 5 điểm trở lên năm 2021 đạt 93,27 (so với năm 2020 tăng
10,11%). Kết quả được thể hiện trong bảng/ biểu đồ so sánh kết quả trước và sau
khi áp dụng biện pháp:
24
93.27
83.16
6.73
6.08
2020
83.16
6.08
Tỷ lệ từ 5đ trở lên
Điểm trung bình
2021
93.27
6.73
Năm học 2021 - 2022, tôi tiếp tục áp dụng sáng kiến dạy thực nghiệm trong
dạy học chính khố và ơn thi Tốt nghiệp THPT tại lớp 12A1.
Kết quả bài kiểm tra cuối học kì I - lớp 12A1 sau khi thực nghiệm
Tổng số HS
45
Điểm từ 8-> 9
Điểm từ 6,25 -> 7,75
Điểm dưới 6
Số lượng
%
Số lượng
%
Số lượng
%
35
77,8
10
22,2
0
0
Từ kết quả đạt được như bảng số liệu, ta thấy HS đã thực hiện tương đối
tốt các yêu cầu của bài văn nghị luận văn học; vận dụng nhuần nhuyễn, hiệu quả
các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ, so sánh. Lí lẽ sắc
sảo và dẫn chứng lựa chọn tiêu biểu; phân tích dẫn chứng sâu sắc, chặt chẽ, logic
làm sáng tỏ vấn đề nghị luận, tạo tính thuyết phục cao.
Với hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến, tơi nhận thấy việc“Hướng dẫn
học sinh làm bài văn nghị luận về một đoạn trích văn xi bằng phương pháp dạy
viết dựa trên tiến trình” thực sự rất cần thiết. Đã tạo được một khơng khí học tập
sơi nổi, khơi gợi được hứng thú, khắc phục được tâm lý ngại viết, ngại đọc, nghĩ
gì viết đấy. Đồng thời, HS có cơ hội tham gia vào tiến trình tự nhận thức và nhận
ra những tiến bộ của bản thân, phát triển năng lực tạo lập văn bản, đáp ứng được
các yêu cầu cần đạt theo Hướng dẫn chấm của Bộ Giáo dục từ đó sẽ cải thiện được
chất lượng bài viết của mình.
25
5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có)
STT
Họ và tên
1
Nguyễn Thị
Hồ
2
Đào Thu
Hiền
Chức
danh
Trình
độ
chun
mơn
Nội dung
cơng việc
Năm
sinh
Đơn vị
1981
Trường
THPT
Hoàng Văn
Thụ
Giáo
viên
Đại học
Học liệu
dạy học
1981
Trường
THPT Hồng
Quang
Giáo
viên
Đại học
Học liệu
dạy học
hỗ trợ
(Có xác nhận của người tham gia áp dụng, áp dụng thử sáng kiến và thủ
trưởng đơn vị có người áp dụng, áp dụng thử sáng kiến của tác giả )
6. Các thông tin cần được bảo mật: Không
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
- Khác với cách dạy viết truyền thống, dạy cách viết bằng truyền đạt lí
thuyết, dạy viết dựa trên tiến trình địi hỏi GV phải chú trọng vào từng cá nhân
người học để phát triển quan điểm, cách nhìn của học sinh về chủ đề bài viết;
- GV cần tổ chức cho HS học cách viết trong suốt tiến trình tạo lập văn bản
với sự hướng dẫn, trợ giúp của GV, sự tương tác với các bạn học;
- GV phải kích thích ý tưởng của HS qua các giai đoạn trước, trong và sau
khi viết. Cũng trong tiến trình này, HS đóng vai trò là người đọc để đọc lại sản
phẩm của mình và tự điều chỉnh để phù hợp hơn;
- GV cần tạo ra môi trường để các HS tương tác lẫn nhau thơng qua hình
thức thảo luận nhóm để năng lực tư duy phản biện cũng như giúp các em học hỏi
lẫn nhau;
- Cần có thời gian phù hợp để thực hiện;
- Xây dựng kế hoạch dạy học: Phải xác định rõ mục tiêu bài học, sử dụng
linh hoạt, kết hợp phương pháp và kĩ thuật day học hợp lí, phù hợp với đối tượng
học sinh;
- Phương tiện thực hiện: Máy chiếu, phiếu học tập, bài viết của học sinh…
8. Tài liệu gửi kèm
- Dạng câu hỏi nghị luận về một đoạn trích văn xi trong đề thi;
- Sản phẩm một số đoạn văn của HS khi chưa áp dụng giải pháp;