BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÁO CÁO TỔNG KẾT
CƠNG TRÌNH/ ĐỀ TÀI THAM GIA XÉT TẶNG GIẢI THƯỞNG KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ DÀNH CHO GIẢNG VIÊN TRẺ/ SINH VIÊN
TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC NĂM 2022
TÊN CƠNG TRÌNH/ ĐỀ TÀI:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI PHÂN LOẠI RÁC THẢI
SINH HOẠT TẠI NGUỒN CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Khoa học xã hội
Chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ: Khoa học xã hội khác
2
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
5
DANH MỤC BẢNG
6
DANH MỤC HÌNH
8
LỜI MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
4. Phương pháp nghiên cứu
4
5. Kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHOẢNG TRỐNG
NGHIÊN CỨU
4
1.1. Tổng quan nghiên cứu về phân loại rác thải sinh hoạt
6
6
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt
7
1.3. Tổng quan nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn
9
1.4. Khoảng trống nghiên cứu
10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI RÁC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HÀNH VI PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN CỦA HỘ GIA ĐÌNH
11
2.1. Tổng quan về rác thải sinh hoạt và phân loại rác tại nguồn
11
2.2. Thuyết hành vi có kế hoạch
11
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn
13
2.3.1. Thái độ
13
2.3.2. Chuẩn chủ quan
14
2.3.3. Nhận thức kiểm sốt hành vi
14
2.3.4. Chính sách của chính phủ
15
2.3.5. Nhận thức về kinh tế tuần hồn
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÂN LOẠI RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KINH KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA MỘT SỐ QUỐC
GIA TRÊN THẾ GIỚI
15
3.1. Quy định pháp luật của Việt Nam về phân loại rác thải sinh hoạt
3.2. Thực trạng phân loại rác thải sinh hoạt và các biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt
tại Hà Nội
3.3. Kinh nghiệm quản lý phân loại rác thải sinh hoạt của các nước trên thế giới
17
17
18
20
3.3.1. Nhật Bản
20
3.3.2. Hàn Quốc
21
3
3.3.3. Đài Loan
22
3.3.4. Đức
24
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
4.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu
27
4.2. Thiết kế nghiên cứu
29
4.2.1. Phương pháp đo lường và thiết kế bảng hỏi
29
4.2.2. Phương pháp chọn mẫu và kích thước mẫu
32
4.2.2.1. Phương pháp chọn mẫu
32
4.2.2.2. Kích thước mẫu
32
4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
33
4.3.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha
33
4.3.2. Phân tích nhân tố khám phá - EFA
33
4.3.3. Phân tích tương quan Pearson
34
4.3.4. Phân tích hồi quy tuyến tính bội
34
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
35
5.1. Thống kê mô tả mẫu
35
5.2 Thống kê mô tả thang đo
36
5.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
40
5.3.1. Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo “Thái độ”
40
5.3.2. Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo “Chuẩn chủ quan”
41
5.3.4 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo “Chính sách của chính phủ”
42
5.3.5. Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo “Nhận thức về kinh tế tuần hoàn”
43
5.3.6 Kiểm định độ tin cậy đối với thang đo “Hành vi phân loại rác”
44
5.4. Phân tích nhân tố khám phá
45
5.4.1. Phân tích EFA lần thứ 1 đối với các biến độc lập
45
5.4.2. Phân tích EFA lần thứ 2 đối với các biến độc lập
47
5.4.3. Phân tích EFA đối với các biến phụ thuộc
Kết luận: Sau khi phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập và biến phụ thuộc,
mơ hình nghiên cứu chính thức khơng thay đổi so với mơ hình nghiên cứu ban đầu
5.5. Phân tích tương quan Pearson
5.6. Phân tích hồi quy tuyến tính
49
50
50
51
5.6.1. Phân tích hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mơ hình
51
5.6.2. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
52
5.6.3. Dị tìm các vi phạm giả định cần thiết
56
5.6.3.1. Giả định về phân phối chuẩn của phần dư
56
4
5.6.3.2. Giả định liên hệ tuyến tính cũng như hiện tượng phương sai của sai số không đổi
57
5.6.3.3. Giả định khơng có mối tương quan giữa các biến độc lập (đo lường đa cộng
tuyến)
58
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
6.1. Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
60
60
6.1.1. Kết quả bài nghiên cứu
60
6.1.2. Đóng góp về mặt lý thuyết
60
6.1.3. Đóng góp về mặt thực tiễn
61
6.2. Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn
61
6.2.1. Giải pháp về khía cạnh chính sách nhằm thúc đẩy phân loại rá
c thải sinh hoạt tại
nguồn
62
6.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao nhận thức kinh tế tuần hoàn từ đó thúc đẩy phân loại rác
thải sinh hoạt tại nguồn
64
6.3. Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai
66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
67
PHỤ LỤC 1: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT
75
PHỤ LỤC 2: BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU
80
PHỤ LỤC 3: BẢNG MÔ TẢ CÁC BIẾN ĐO BẰNG THANG ĐO LIKERT
83
PHỤ LỤC 4: KIỂM ĐỊNH THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ CRONBACH’S ALPHA
85
1. Kết quả phân tích EFA lần chạy thứ nhất đối với biến độc lập
88
2. Kết quả phân tích EFA lần chạy thứ hai đối với biến độc lập
90
3. Kết quả phân tích EFA đối với biến phụ thuộc
93
PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH PEARSON
94
PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY
95
1. Phân tích hồi quy
95
2. Dị tìm các vi phạm giả thuyết mơ hình
96
a. Biểu đồ Histogram
96
b. Biểu đồ phân tán giữa phần dư và giá trị dự đoán
97
c. Biểu Nomarl P-P Plot
97
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ANOVA
Tiếng Anh
Analysis of variance
CTRSH
EFA
KTTH
SEM
SPSS
TPB
TRA
VIF
Tiếng Việt
Phân tích phương sai
Chất thải rắn sinh hoạt
Exploratory Fator Analysis
Phân tích khám phá nhân tố
Structural Equation Modeling
Kinh tế tuần hồn
Mơ hình cấu trúc tuyến tính
Statistical Package for the Social
Phần mềm thông kê cho khoa học xã
Sciences
Theory of Planned Behavior
Theory of Reasoned Action
Variance Inflation Factor
hội
Thuyết hành vi có kế hoạch
Thuyết hành động hợp lý
Hệ số phóng đại phương sai
6
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Các nhân tố và biến quan sát trong mơ hình
28
Bảng 5.1 Đặc điểm nhân khẩu học
34
Bảng 5.2 Bảng thống kê mô tả thang đo nhân tố thái độ ̣
36
Bảng 5.3 Bảng thống kê mô tả thang đo nhân tố chuẩn chủ quan
36
Bảng 5.4 Bảng thống kê mơ tả thang đo nhân tố nhận thức kiểm sốt hành vi
37
Bảng 5.5 Bảng thống kê mô tả thang đo nhân tố chính sách chính phủ
37
Bảng 5.6 Bảng thống kê mô tả thang đo nhân tố nhận thức về kinh tế tuần hồn
38
Bảng 5.7 Bảng thống kê mơ tả thang đo nhân tố hành vi phân loại rác
39
Bảng 5.8 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Thái độ”
39
Bảng 5. 9 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Chuẩn chủ quan”
40
Bảng 5.10 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi”
40
Bảng 5.11 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” hiệu
chỉnh
41
Bảng 5.12 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Chính sách của chính phủ”
41
Bảng 5.13 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Chính sách của chính phủ” hiệu
chỉnh
42
Bảng 5.14 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Nhận thức về kinh tế tuần hoàn”43
Bảng 5.15 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Nhận thức về kinh tế tuần hoàn”
hiệu chỉnh
43
Bảng 5.16 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo “Hành vi phân loại rác”
44
Bảng 5.17 Tổng hợp kết quả các hệ số trong phân tích nhân tố EFA đối với các biến độc
lập lần thứ 1
44
Bảng 5.18 Bảng kết quả phân tích xoay các nhân tố trong lần phân tích thứ nhất
44
Bảng 5.19 Tổng hợp kết quả các hệ số trong phân tích nhân tố EFA đối với các biến độc
lập lần thứ 1
46
Bảng 5.20 Bảng kết quả phân tích xoay các nhân tố trong lần phân tích thứ hai
47
7
Bảng 5.21 Tổng hợp kết quả các hệ số trong phân tích nhân tố EFA đối với biến phụ
thuộc
48
Bảng 5.22 Kết quả phân tích tương quan Pearson
49
Bảng 5.23 Các chỉ số chạy hồi quy
51
Bảng 5.24 Kết quả phân tích ANOVA
51
Bảng 5.25 Bảng kết quả phân tích hồi quy
51
8
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch
11
Hình 2.2 Mơ hình “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại
nguồn của hộ gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội”
12
Hình 4.1 Quy trình nghiên cứu 26
Hình 5.1 Biểu đồ tần số Histogram
55
Hình 5.2. Đồ thị phân tán giữa phần dư và giá trị dự đốn
56
Hình 5.3 Kết quả mơ hình nghiên cứu
57
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam khơng ngừng phát triển trong nhiều năm
qua đã thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt là ở những khu đô thị lớn nơi người dân có
thu nhập cao. Theo đánh giá của World Bank, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng, khối lượng rác thải sinh hoạt không ngừng tăng chủ yếu là do tăng trưởng
kinh tế, tỷ lệ gia tăng dân số cao và q trình đơ thị hóa mạnh mẽ trong những năm vừa
qua. Tại Việt Nam, giai đoạn 2016-2020, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tiếp tục gia
tăng trên phạm vi cả nước. Ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ở các đô thị trên
tồn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, cũng trong giai đoạn này, tổng khối lượng
phát sinh tại khu vực đô thị trong cả nước là 35.624 tấn/ngày (13.002.592 tấn/năm),
chiếm khoảng 55% tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh của cả nước. Các địa
phương có khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên 1.000 tấn/ngày chiếm 25% (Bộ tài
nguyên và môi trường, 2021).
Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Vì thế mà tốc độ
phát triển đơ thị cao, dân cư tập trung đông đúc. Theo kết quả sơ bộ tổng điều tra, tổng số
dân của thành phố Hà Nội tại thời điểm ngày 1/4/2019 là 8.053.663 triệu người, đông xếp
thứ 2 cả nước chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh. Điều này dẫn đến khối lượng CTRSH trên
địa bàn Hà Nội không ngừng tăng cao. Theo số liệu từ Sở Xây dựng Hà Nội ước tính tổng
khối lượng CTRSH trung bình trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay khoảng 7.000
tấn/ngày. Một con số “đỏ” đáng báo động khi mà thành phố vẫn chưa quyết liệt trong vấn
đề xử lý rác thải. Việt Nam vẫn chưa tận dụng được những lợi ích của việc phân loại, tái
chế rác thải sinh hoạt mang lại để góp phần giảm lượng rác thải.
Một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay đó là việc xử lý rác thải
sinh hoạt một cách hợp lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ở các nước có thu nhập thấp,
trên 90% rác thải thường được xử lý bằng cách chôn lấp hoặc đốt (World Bank, 2022).
Chơn lấp mà khơng có phân loại rác thải thích hợp đặt ra mối đe dọa về ô nhiễm đất và
nguồn nước ngầm; thiêu hủy rác thải mà khơng phân loại có khả năng gây ơ nhiễm khơng
khí trầm trọng.
2
Do đó, phân loại rác thải đã trở thành một phương án khả thi để thúc đẩy tái chế và
giảm chôn lấp rác thải sinh hoạt. Phân loại rác thải có thể giúp giảm 30% –40% tổng
lượng rác thải sinh hoạt bởi một phần trong số đó được tái chế để tái sử dụng và tái sản
xuất hàng hóa mới. Ví dụ, 1 tấn giấy phế liệu từ việc phân loại rác có thể tái chế ra 0,75
tấn bột giấy từ cắt gỗ. Hơn nữa, việc phân loại rác sinh hoạt cũng dự kiến sẽ giảm tỷ lệ
chôn lấp và tạo ra nhiều công việc liên quan đến phân loại rác thải. Phân loại rác là một
vấn đề quan trọng được nhiều học giả quan tâm trên thế giới. Phân loại rác thải tại nguồn
là một cách tiếp cận phổ biến để quản lý hệ thống xử lý chất thải ở nhiều quốc gia. Hộ gia
đình là một trong những nguồn phát sinh chất thải rắn chính của thành phố. Sự thành công
của việc phân loại chất thải tại nguồn phụ thuộc vào sự tham gia tích cực, hiệu quả ở cấp
hộ gia đình (Rada và cộng sự, 2013). Các nghiên cứu cũng cho rằng việc thiếu phân loại
rác là do thiếu sự tham gia của các hộ gia đình (Robinson và Read, 2005). Vì vậy, làm thế
nào để thúc đẩy phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn là một vấn đề vô cùng quan trọng
nhằm đảm bảo môi trường sạch đẹp, vệ sinh trong thành phố.
Nghiên cứu trước đây đã kiểm tra tính áp dụng của lý thuyết về hành vi có kế hoạch
(TPB) trong việc đánh giá hành vi phân loại hoặc tái chế rác thải. Có nhiều nghiên cứu
trên thế giới đã đưа rа những phân tích về hành vi phân loại rác như là Bin Zhang và các
cộng sự (2018), Xin Shen và các cộng sự (2022), Bing Chen và cộng sự (2020). Tuy
nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chưа xеm xét đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến ý
định và hành vi phân loại rác. Ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu phân tích các yếu tố tác
động đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn. Trong bài “Nghiên cứu việc thực
hiện phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn tổ 1, 2, 3 - phường Hoàng Văn
Thụ, thành phố Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Hồng Viên và các cộng sự (2021), mặc dù
đã đề cập đến vấn đề phân loại rác thải nhưng bài nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở thực
trạng, kết luận cải thiện so với năm 2018 chứ chưa chỉ ra được các yếu tố tác động đến
hành vi phân loại rác thải. Hiện nay, chỉ có một số nhóm tác giả nghiên cứu làm về ý định
phân loại rác tại nguồn của người dân như nghiên cứu Trần Phạm Khánh Toàn (2020) về
“Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi phân loại rác của người dân trên địa bàn
thành phố Hồ Chính Minh, Việt Nam”, áp dụng mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch mở
rộng để phân tích đánh giá nhưng lại chỉ tập trung cụ thể chỉ xem xét bối cảnh của kiến
3
thức, luật và các quy định. Đặc biệt là chưа có một nghiên cứu cụ thể nàо nghiên cứu tác
động của kinh tế tuần hoàn đến hành vi phân loại rác tại nguồn của người dân ở địa bàn
thành phố Hà Nội.
Trong thời đại ngày nay, việc chuyển dịch kinh tế theo hướng kinh tế tuần hoàn
đang là xu thế tất yếu không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước trên thế giới. Trong phiên
thảo luận với chủ đề “Từ tuyến tính tới tuần hồn - điều gì sẽ xảy ra?” Bộ trưởng Trần
Hồng Hà nhấn mạnh sâu sắc tầm quan trọng của việc thay đổi theo hướng kinh tế tuần
hồn hướng đến phát triển bền vững vì sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường và Trái
Đất trong đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã tác động đến mọi mặt của đời sống
kinh tế-xã hội toàn cầu. Việc chuyển đổi sang mơ hình kinh tế tuần hồn vừa là cách thức
để Việt Nam thực hiện trách nhiệm quốc tế trong việc thực hiện các cam kết về bảo vệ
môi trường, vừa hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro cũng như tạo ra thị trường mới,
đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.
Vì lẽ đó, nhóm tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của hộ gia đình trên địa bàn thành
phố Hà Nội” để nghiên cứu. Nhóm tác giả giới thiệu một mơ hình khái niệm, dựa trên
một mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch mở rộng, được sử dụng làm cơ sở để điều tra tác
động của kinh tế tuần hoàn cùng với các yếu tố thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức
kiểm soát hành vi, chính sách của chính phủ lên hành vi phân loại rác thải sinh hoạt. Phân
tích thực nghiệm dựa trên một mẫu cư dân trên địa bàn Hà Nội. Dựa trên những phát hiện
của mình, nhóm tác giả đưa ra các khuyến nghị chính sách để hiểu rõ hơn về hành vi phân
loại rác thải sinh hoạt của người dân.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến hành vi phân loại
rác thải sinh hoạt tại nguồn của các hộ gia đình, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc
đẩy hành vi phân loại rác của người dân.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
4
−
Làm rõ được cơ sở lý luận về phân loại rác thải tại nguồn, các yếu tố ảnh hưởng và
mô hình đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải tại nguồn của
các hộ gia đình.
−
Đo lường và đánh giá từng yếu tố tác động tới hành vi phân loại rác tại nguồn của
người dân
−
Đề xuất các giải pháp cho các cơ quan quản lý nhà nước để thúc đẩy hành vi phân
loại rác của các hộ gia đình.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài: Hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của các
hộ gia đình và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn
của các hộ gia đình.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu thực trạng phân loại rác thải sinh hoạt tại
nguồn của các hộ gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ tháng 12/2021
đến tháng 5/2022.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đầu tiên nhóm tác giả áp dụng phương pháp
nghiên cứu tại bàn, tổng hợp, thống kê và phân tích các nghiên cứu đi trước về các yếu tố
ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác, chính sách quản lý phân loại rác của các nước trên
thế giới. Sau đó dựa theo mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch và các nghiên cứu, nhóm
xây dựng mơ hình “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác thải sinh hoạt tại
nguồn của hộ gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Sau khi lựa chọn ra 5 yếu tố then
chốt, phù hợp với bối cảnh và phạm vi nghiên cứu, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra tại
các hộ gia đình, mẫu khảo sát được thu thập bằng phương pháp thuận tiện thơng qua hình
thức trực tuyến và trực tiếp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Sau quá trình gạn lọc, nhóm
đã thu được 304 mẫu và tiến hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS: kiểm định độ
tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, thực hiện phân tích nhân tố khám
phá EFA, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội.
5
5. Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu bao gồm 6 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lí luận về phân loại rác và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân
loại rác tại nguồn của hộ gia đình
Chương 3: Tình hình phân loại rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hà Nội và
kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trên thế giới
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu
Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 6: Kết luận và đề xuất giải pháp
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
Trong q trình thực hiện nghiên cứu, nhóm đã tiến hành tổng hợp và phân tích
những nghiên cứu liên quan tới phân loại rác tại nguồn, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
phân loại rác tại nguồn và các nghiên cứu liên quan đến kinh tế tuần hoàn trên thế giới và
Việt Nam. Từ đó đưa ra những đánh giá tồn diện và đúng đắn về tình hình nghiên cứu
liên quan đến đề tài.
1.1. Tổng quan nghiên cứu về phân loại rác thải sinh hoạt
Theo Chung & Poon (2001), phân loại rác là một hoạt động trong nguyên tắc 3R
(tái sử dụng, tái chế, giảm thiểu rác thải) cũng như kinh tế tuần hồn bởi vì phân loại rác
thúc đẩy quá trình tái chế và giảm thiểu lượng rác thải thải ra, còn theo Boldero (1995)
trong bài viết về dự đốn tái chế báo trong gia đình cho rằng phân loại rác là một hoạt
động cần thiết, nên được thực hiện trước khi rác thải được đưa vào tái chế. Đồng thời,
theo Maletz, Dornack & Ziyang (2018) trong sách “phân loại rác thải tại nguồn và tái
chế” của mình đưa ra lợi ích của phân loại rác, cụ thể hơn đối với các nước đang phát
triển, trên 4 khía cạnh như sau:
Động lực xã hội: tại các nước phát triển, nhiều người khơng có cơng ăn việc làm,
họ kiếm sống bằng thu mua phế liệu. Điều kiện tại những nơi thu mua này thường khơng
tốt có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe. Trên quan điểm kinh tế thì điều này sẽ ảnh hưởng
đến xã hội trong lâu dài. Nếu rác đã được phân loại thì quá trình thu gom này sẽ diễn ra
hiệu quả hơn. Điều này ám chỉ rằng phân loại rác sẽ tiết kiệm cho xã hội một khoản từ
phúc lợi xã hội.
Động lực kinh tế: thuế từ người dân sẽ giảm xuống. Điều này có thể được giải
thích bởi chi phí rác thải được phân loại, thu gom và tái chế, thậm chí là xuât khẩu sẽ
giảm xuống và bù đắp cho phần thuế mà người dân phải nộp.
Động lực về chiến lược: khi rác thải được thu chung, việc xử lý như tái chế hay đốt
rác để tạo ra nhiệt lượng không hiệu quả, vơ hình chung quốc gia bị lãng phí một lượng
lớn nguồn tài nguyên. Ngoài ra, rác thải chưa phân loại thường có độ ẩm cao hơn làm cho
chi phí dùng để xử lý chất thải cũng cao hơn. Tất cả gây ra chi phí khơng đáng có cho nền
kinh tế quốc gia.
7
Động lực sinh thái: rác thải thường chứa các chất nguy hại. Các chất nguy hại này
là mối nguy hại cho người dân đặc biệt là người thu gom rác, có thể gây ra tai nạn bất ngờ
tại các nơi xử lý như tự cháy và là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Tuy nhiên, phân loại rác đang gặp phải một số rào cản nhất định. Theo bài nghiên
cứu của Babazadeh, Nadrian, Mosaferi & Allahverdipour (2018) về các rào cản ảnh
hưởng đến sự tham gia vào quá trình phân loại rác của người dân Tabriz, Tây Bắc Iran sử
dụng phương pháp nghiên cứu định tính cho thấy các rào cản chính đó là thiếu hệ thống
phân loại, thu gom rác thải như chính quyền địa phương khơng có kế hoạch cụ thể, khơng
có các phương tiện thu gom hợp lý; người dân thiếu trách nhiệm, không cảm thấy cần
thiết đối với việc phân phân loại rác; thiếu chính sách thưởng; thiếu kiến thức phân loại
cũng như nhận thức về các kế hoạch của địa phương nên họ ít tham gia vào các chương
trình. Cịn theo bài nghiên cứu về các rào cản ảnh hưởng đến quản lý rác thải trước tốc độ
đơ thị hóa nhanh chóng tại Thái Lan của Yukalang, Clarke & Ross (2017) thực hiện tại
thành phố Tha Khon Yang, kết luận các rào cản xuất phát từ bên trong, nằm trong tầm
kiểm soát của thành phố bao gồm thiếu cơ sở vật chất; thiếu thông tin và sự tuyên truyền
đến người dân; thiếu tài chính; thiếu chính sách để các quy định hoạt động hiệu quả.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi phân loại rác
thải sinh hoạt
Trên thế giới đã có những nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hành vi phân loại
rác thải. Nghiên cứu của (Lin Xu và các cộng sự, 2017), “Những tác động bên ngoài ảnh
hưởng đến việc phân loại rác của các hộ gia đình ở Hàng Châu, Trung Quốc” đã xem xét
hành vi phân loại rác thải sinh hoạt có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngồi như thị
trường tái chế, các chính sách của chính phủ và yếu tố nhân khẩu học xã hội. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách chính phủ là yếu tố tác động mạnh nhất đến hành vi của
người dân. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu đã thảo luận về tác động của biến nhân khẩu học
xã hội như ảnh hưởng xã hội, giới tính và thu nhập từ ý định tái chế và hành vi phân loại
chất thải. Qua đó là cơ sở, cung cấp thơng tin cần thiết để chính phủ xem xét lại chính
sách khuyến khích phân loại rác, tái chế của họ. Nghiên cứu của Wan Azlina Wan Ab.
Karim Ghani và các cộng sự (2012) với nội dung “Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế
hoạch vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia vào quá trình phân loại rác
8
thực phẩm tại nguồn”. Bài báo nghiên cứu hành vi dựa trên 4 biến: thái độ, chuẩn chủ
quan, nhận thức kiểm sốt hành vi và các yếu tố tình huống. Nghiên cứu này được thực
hiện tại khu dân cư của Đại học Putra Malaysia (UPM), Serdang, Selangor. Dựa trên kết
quả của cuộc khảo sát được tiến hành, bài nghiên cứu khẳng định thái độ đối với việc
phân loại chất thải được xác định như là các yếu tố chính đối với ý định phân loại rác thực
phẩm. Các tác giả cho rằng các hộ gia đình sẽ khơng tham gia vào các chương trình phân
loại vì họ chưa nhận thức được lợi ích từ việc phân loại rác. Do đó, chính quyền địa
phương cần đưa ra những chính sách để thúc đẩy phân loại rác để củng cố thái độ tích cực
của những người sẵn sàng phân loại rác và thay đổi thái độ của những người chưa có ý
định phân loại rác. Nghiên cứu của Xin Shen và các cộng sự (2022), “Hiệu quả điều chỉnh
chính sách nhận thức trong ý định phân loại chất thải của cư dân ở Bengbu, Trung Quốc”.
Mục tiêu của nghiên cứu này là khám phá cơ chế mà hiệu quả nhận thức được các chính
sách (PPE) tác động đến hành vi phân loại rác của cư dân. Nhóm tác giả đã giới thiệu một
mơ hình khái niệm, dựa trên một mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch mở rộng, sau đó
được sử dụng làm cơ sở để điều tra tác động của PPE lên các mối quan hệ giữa thái độ,
chuẩn mực chủ quan , kiểm soát hành vi nhận thức , nhận thức về hệ quả và ý định phân
loại chất thải.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về phân loại rác đã được tiến hành tại một số địa
phương cụ thể. Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Loan; Nomura, Hisako; Takahashi, Yoshifumi;
Yabe, Mitsuyasu (2017) tại 357 hộ gia đình ở Hội An sử dụng mơ hình cấu trúc tuyến tính
SEM nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý như thái độ, chuẩn mực đạo đức, các
yếu tố bên ngồi và lịng tin vào chính sách của người dân đối với chương trình phân loại rác
thải sinh hoạt hữu cơ tại nguồn. Nhóm tác giả nhận thấy yếu tố chuẩn mực đạo đức (moral
norm) đóng vai trị quan trọng trong việc tham gia chương trình phân loại rác, vì thế cần phải
có những chiến dịch tun truyền, giáo dục người dân để nâng cao nhận thức, chuẩn mực đạo
đức của người dân đối với môi trường và vấn đề phân loại rác. Một nghiên cứu khác thực
hiện trên phạm vi 487 hộ dân TP Hồ Chí Minh của Trần Phạm Khánh Toàn (2020) của Đại
học Mở TP Hồ Chí Minh sử dụng thuyết hành
vi
có kế hoạch (TPB) mở rộng tìm hiểu về tác động kết hợp của các yếu tố thái độ, chuẩn
chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; kiến thức; luật và các quy định; sự tuyên truyền
9
đến hành vi phân loại rác để tăng khả năng dự đốn của mơ hình. Trong đó, kiến thức của
người dân đóng vai trị quyết định trong việc thúc đẩy hành vi phân loại rác. Còn tại Hà
Nội, niềm tin của người dân đối với quy định thể chế và khả năng xử lý rác của các công
ty môi trường đóng vai trị quan trọng nhất theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Phương;
Zhu, Dajian; Lê Nam Phong (2015) về “Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại rác
của người dân ở những nước đang phát triển”.
1.3. Tổng quan nghiên cứu về kinh tế tuần hoàn
Nghiên cứu của Qian Liu và cộng sự (2008), “Một cuộc khảo sát và phân tích về
nhận thức và hoạt động của cộng đồng đối với việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Thiên
Tân, Trung Quốc” có mục tiêu là nhằm gia tăng nhận thức và hoạt động của cộng đồng
trong việc phổ biến mơ hình kinh tế tuần hồn đến cho người dân ở Thiên Tân, Trung
Quốc. Dữ liệu và thông tin được sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập bằng cách
khảo sát 600 người ở 6 quận nội thành bằng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn liên quan đến
kinh tế tuần hoàn. Kết quả cho thấy người dân có nhận thức hạn chế và hiểu biết kém về
chương trình kinh tế tuần hồn. Ngun nhân là do người dân khơng có những thơng tin
cơ bản về kinh tế tuần hồn trong khi chính phủ đặt ra một mục tiêu đầy tham vọng trong
việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Dù vậy, bài nghiên cứu cũng là một cơ sở trong việc thúc
đẩy các nghiên cứu sau này liên quan đến kinh tế tuần hoàn và cung cấp các thông tin cho
những cơ quan quản lý nhà nước, nhà môi trường, giáo dục và doanh nghiệp trong việc
lập kế hoạch cho sự phát triển tổng thể của kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.
Nghiên cứu của Bin Guo và cộng sự (2016) “Điều tra nhận thức cộng đồng về nền
kinh tế tuần hồn ở Mễ Đơng, Trung Quốc” điều tra nhận thức và hành vi của cộng đồng về
kinh tế tuần hồn, từ đó rút ra những rào cản và đưa ra chính sách đúng đắn để thúc đẩy kinh
tế tuần hoàn. Nghiên cứu được thực hiện trên 418 người thông qua 2 lần khảo sát vào năm
2008 và 2013. Kết quả cho thấy tỷ lệ người hiểu biết về phát triển bền vững tăng từ 10,1%
vào năm 2008 lên 57,5% vào năm 2013. Hiểu biết của người được khảo sát về kinh tế tuần
hồn cịn hạn chế với 41% người được hỏi biết về kinh tế tuần hoàn vào năm 2013. Về hành
vi liên quan đến kinh tế tuần hồn, đáp viên có tỷ lệ phân loại rác năm 2013 tăng so với năm
2008 và phần lớn rác thải có giá trị cao đều được phân loại. Nghiên cứu cũng đề ra một số
giải pháp dành cho chính phủ nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn
10
gồm: (1) giới thiệu kiến thức về kinh tế tuần hoàn và thực hành cho cộng đồng, (2) mở
trang web về kinh tế tuần hồn hoặc nền tảng thơng tin cho cộng đồng, (3) hồn thiện
chính sách liên quan và (4) có chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp sản xuất sản
phẩm xanh.
1.4. Khoảng trống nghiên cứu
Thực tế lượng rác thải của TP Hà Nội ngày càng tăng, trong khi công nghệ, hạ
tầng, quy mô xử lý rác thì dường như vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, các bãi rác thường
xuyên trong tình trạng quá tải, rác bị bỏ lại trong nội thành gây ra ách tắc giao thông và
nhiều hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe người dân. Vì thế, những năm
gần đây nhiều quy định, chính sách nhà nước được ban hành nhằm bảo vệ môi trường,
phân loại rác tại nguồn và hướng tới phát triển bền vững với nền kinh tế tuần hồn . Nhờ
có sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin nên phương thức truyền thông thông tin
về ô nhiễm môi trường, các quy định, chủ trương và phân loại rác tiếp cận ngày càng sâu
rộng đến người dân làm gia tăng ý thức của họ về tầm quan trọng của việc phân loại rác.
Mặc dù vậy, phần lớn các bài nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích những yếu tố bên
ngồi này trong bối cảnh mới hiện nay.
Như vậy tại Việt Nam, cịn ít nghiên cứu sử dụng mơ hình thuyết hành vi có kế
hoạch để phân tích các yếu tố tác động đến hành vi phân loại rác; phạm vi nghiên cứu còn
hạn chế và chưa xét đến xu hướng phát triển của kinh tế tuần hồn; tính đến thời điểm
hiện tại, chưa có nghiên cứu nào phân tích tác động của yếu tố nhận thức về kinh tế tuần
hoàn đến hành vi phân loại rác của người dân dựa trên thuyết hành vi có kế hoạch (TPB).
Từ những khoảng trống của các bài nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, bài
viết này sử dụng thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) mở rộng để phân tích tổng thể những
tác động của yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm sốt hành vi, chính sách
chính phủ và nhận thức về kinh tế tuần hoàn đến hành vi phân loại rác của người dân từ
đó có thể đưa ra các giải pháp để thúc đẩy người dân và nâng cao hiệu quả phân loại rác.
11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI RÁC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN CỦA HỘ GIA ĐÌNH
2.1. Tổng quan về rác thải sinh hoạt và phân loại rác tại nguồn
Dựa trên Chương trình định cư con người của Liên Hợp Quốc (UN-HABITAT),
rác thải sinh hoạt được xem là “rác thải do các hộ gia đình tạo ra và rác thải có tính chất
tương tự từ các hoạt động thương mại và công nghiệp, từ các tổ chức như trường học,
bệnh viện, nhà chăm sóc và nhà tù, và từ các khu cơng cộng như đường phố, chợ, lị mổ,
nhà vệ sinh công cộng, bến xe buýt, công viên”.
Phân loại rác thải sinh hoạt là việc phân loại rác được thải ra trong dân cư thành
các thành phần khác nhau trước khi được đưa vào quá trình xử lý (Yang, Li & Fu, 2011).
Theo Lemann (2008) rác thông thường được phân loại thành các nhóm như sau: giấy, bìa
các tơng, thủy tinh, nhựa, vải, gỗ, da, cao su, kim loại phế liệu, rác thải hữu cơ, chất thải
nguy hại và các chất thải cịn lại. Tùy theo từng nước thì rác lại được phân theo các cách
khác nhau như tại Nhật Bản phân theo rác đốt được, rác không đốt được, rác có thể tái chế
và rác thải kích thước lớn; tại Đức rác được phân theo các loại loại là nhựa và bao bì, giấy
và giấy bìa, thùng các tơng, chứa vào thùng màu xanh dương, thủy tinh có hai thùng, chất
thải hữu cơ, các loại rác đặc biệt như máy móc hết hạn sử dụng, thiết bị điện, điện tử,... Ở
Việt Nam, điều 75 Luật bảo vệ môi trường 2020 quy định, rác thải sinh hoạt phát sinh từ
hộ gia đình phải được phân loại theo ba nhóm: CTRSH có khả năng tái sử dụng, tái chế;
chất thải thực phẩm; và CTRSH khác.
Vấn đề rác thải trên thế giới đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia khi
lượng rác ngày một tăng lên gây ảnh hưởng đến kinh tế và môi trường. Trong hoạt động
quản lý rác thải nói chung, phân loại rác thải sinh hoạt nói riêng, các quốc gia trên thế giới
đã và đang đưa ra các luật lệ, chính sách, ứng dụng cơng nghệ vào phân loại rác. Mặc dù
còn khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng hoạt động này lại mang tính chất bắt buộc và đã trở
thành thói quen sinh hoạt của nhiều quốc gia trên thế giới.
2.2. Thuyết hành vi có kế hoạch
Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) được phát triển và cải tiến từ
lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) (Ajzen và Fishbein, 1975). Lý thuyết này được sử dụng để
dự đoán các hành vi đã có kế hoạch và chủ đích. Trong lý thuyết này, tác giả cho rằng ý
12
định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố bao gồm: thái độ đối với hành vi,
chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm sốt hành vi.
Hình 2.1 Mơ hình thuyết hành vi có kế hoạch
Nguồn: Ajzen, 1991
Lý thuyết này được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu để dự đoán hành vi của con
người như dự đoán hành vi tiêu dùng thực phẩm hữu cơ (Scalco, Noventa, Sartori &
Ceschi, 2017), dự đoán hành vi ủng hộ bảo vệ môi trường (Yuriev, Dahmen, Paillé, Boiral
&
Guillaumie, 2020),... Nhằm cải thiện khả năng dự đốn của thuyết hành vi có kế hoạch,
các nghiên cứu gần đây về hành vi phân loại rác thải thường mở rộng lý thuyết này bằng
cách thêm các biến mới như: kiến thức về môi trường, đạo đức, các yếu tố tình huống
(Zhang, Huang, Yin & Gong, 2015), chính sách của chính phủ (Wan, Shen & Yu, 2014).
Dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen, bài nghiên cứu này bổ sung thêm 2 biến
tiềm ẩn để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi phân loại rác thải của người dân
trên địa bàn Hà Nội. 2 biến tiềm ẩn gồm có: nhận thức về kinh tế tuần hồn và chính sách
của chính phủ.