Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Môn luật tố tụng dân sự bài tập thảo luận tuần 2 chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (301.59 KB, 16 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
---

  

---

Môn: Luật Tố tụng dân sự

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2:
CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Lớp: 127-DS46B

Nhóm 9

DANH SÁCH CÁC SINH VIÊN THỰC HIỆN
1

Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh

2153801012185

2

Lò Thụy Hồng Nhung

2153801012160

3


Bạch Thị Hà Phương

2153801012173

4

Đặng Tú Quyên

2153801012180

5

Trịnh Thị Thúy Quỳnh

2153801012191

Niên khóa: 2022 – 2023


MỤC LỤC
DANH SÁCH PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM..........3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.............................................................................. 3
PHẦN 1. NHẬN ĐỊNH................................................................................................. 4
1.
Chánh án Tịa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng
khi có căn cứ rõ ràng cho rằng người tiến hành tố tụng có thể không vô tư trong khi
làm nhiệm vụ............................................................................................................... 4
2.
3.


Chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên đơn trong vụ
án dân sự...................................................................................................................... 4
Người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự không thể trở thành

bị đơn trong vụ án dân sự............................................................................................ 5
4. Tất cả các đương sự đều có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng....5
5.

Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự
thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự................6
PHẦN 2. BÀI TẬP........................................................................................................ 7
Bài tập 1....................................................................................................................... 7
Bài tập 2....................................................................................................................... 8
PHẦN 3. PHÂN TÍCH ÁN......................................................................................... 12

1.

Tịa án các cấp xác định tư cách đương sự như thế nào? Cơ sở để các Tòa án xác
định?.......................................................................................................................... 12

2.

Nhận xét về nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm về việc xác định tư cách

đương sự theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý. (Lưu ý nêu rõ luận cứ cho

các nhận xét).............................................................................................................. 13
3.

Từ các phân tích trên, tóm tắt vụ án xoay quanh vấn đề pháp lý được xác định. ..

............................................................................................................................. 14

2


DANH SÁCH PHÂN CƠNG NHIỆM VỤ THÀNH VIÊN TRONG NHĨM
STT

HỌ TÊN

MSSV

NHIỆM VỤ

1

Nguyễn Ngọc Diễm Quỳnh

2153801012186

2

Lò Thụy Hồng Nhung

2153801012160

3

Bạch Thị Hà Phương


2153801012173

Phần 2 bài tập 1.

4

Đặng Tú Quyên

2153801012180

Nhận định câu 1, 2, 5.

5

Trịnh Thị Thúy Quỳnh

2153801012191

Phần 2 bài tập 2.

Phần 3 Phân tích án câu 2,
câu 3.
Nhận định câu 3, 4; Phần 3
Phân tích án câu 1.

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự


TAND

Tòa án nhân dân


3


PHẦN 1. NHẬN ĐỊNH
1.
Chánh án Tịa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi người tiến hành tố
tụng khi có căn cứ rõ ràng cho rằng người tiến hành tố tụng có thể khơng vơ tư
trong khi làm nhiệm vụ.
Nhận định sai.
Theo khoản 2 Điều 46 BLTTDS, những người tiến hành tố tụng dân sự gồm có:
Chánh án Tịa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;
Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Trong đó, đối với giải quyết vụ án dân sự, Chánh án Tịa án chỉ có thẩm quyền ra
quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm
tra viên và Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa, còn tại phiên tịa thì việc thay đổi sẽ
do Hội đồng xét xử quyết định (Điều 56 BLTTDS 2015). Còn đối với việc thay đổi
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trước khi mở phiên tòa sẽ do Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền quyết định, cịn thay đổi tại phiên tòa sẽ do Hội đồng xét xử quyết định
(Điều 62 BLTTDS 2015).
Như vậy, khơng phải Chánh án Tịa án có thẩm quyền ra quyết định thay đổi đối
với mọi người tiến hành tổ tụng mà còn tùy thuộc vào thời điểm yêu cầu là trước hay
sau phiên tòa/phiên họp và tùy thuộc vào người tiến hành tố tụng là ai (là Chánh án,
Thẩm phán, Kiểm sát viên…) mà dẫn đến chủ thể có thẩm quyền quyết định thay đổi
người tiến hành tố tụng sẽ khác nhau.
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 46, Điều 56, Điều 62 BLTTDS 2015.


2.
Chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên đơn
trong vụ án dân sự.
Nhận định sai.
Theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015, nguyên đơn là người khởi kiện hoặc là
người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Ngồi ra,
cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tịa án bảo vệ lợi ích cơng cộng,
lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
Ví dụ: A, 9 tuổi, bị B xâm phạm đến quyền lợi của mình. Bản thân A khơng thể tự
mình khởi kiện bởi vì bản thân A chưa có đủ năng lực hình vi tố tụng dân sự do đó A
bắt buộc phải thơng qua người đại diện hợp pháp của mình để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Trong trường hợp này, A là người được cơ quan, tổ chức, cá nhân
4


khác (cụ thể là ba mẹ của A) khởi kiện thay chứ A không phải là người trực tiếp thực
hiện hành vi khởi kiện. Mặc dù không thực hiện hành vi khởi kiện nhưng A trong
trường hợp vẫn là nguyên đơn, cịn cha mẹ của A thì tham gia tố tụng với tư cách là
người đại diện hợp pháp của A.
Như vậy, không chỉ những người thực hiện hành vi khởi kiện mới trở thành nguyên
đơn mà những người thỏa mãn các điều kiện quy đinh tại khoản 2 Điều 68 cũng có thể
trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự.
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015.

3.
Người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự không thể
trở thành bị đơn trong vụ án dân sự.
Nhận định: Sai.

Đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp
đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham
gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó.
Như vậy, người chưa thành niên vẫn có thể trở thành bị đơn trong vụ án dân sự.
Còn nếu đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự thì trước thời điểm thụ lý,
bị đơn sẽ là người đại diện hợp pháp của đương sự; sau thời điểm thụ lý thì họ vẫn là
bị đơn.
Cơ sở pháp lý: khoản 6 Điều 69, Điều 88 BLTTDS 2015; Nghị quyết 03/2006/NQHĐTP.

4. Tất cả các đương sự đều có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng.

Nhận định sai.
Việc đại diện cho đương sự: “Đối với việc ly hôn, đương sự khơng được ủy quyền
cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng”. Theo đó, BLTTDS đã có quy định
cấm các đương sự trong việc ly hôn ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia
tố tụng.
Điểm a khoản 1 Điều 87 quy định: “Nếu người được ủy quyền cũng là đương sự
trong cùng một vụ việc với người ủy quyền mà quyền, lợi ích hợp pháp của người được
ủy quyền đối lập với quyền, lợi ích của người ủy quyền”. Điểm b khoản 1 Điều 87 quy
định: “Nếu người được ủy quyền đang là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
cho một người khác (người đã ủy quyền) mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó
5


đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc
(người sắp ủy quyền). Như vậy 2 trường hợp thuộc Điều 87 trên cũng đã có quy định
cấm khơng được ủy quyền theo quy định của pháp luật hiện hành.
Cơ sở pháp lý: khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015; điểm a, b khoản 1 Điều 87
BLTTDS 2015.


5.
Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho
đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.
Nhận định sai.
Căn cứ theo khoản 6 Điều 76 BLTTDS 2015 thì luật sư tham gia với tư cách là
người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự chỉ được phép thực hiện các quyền và
nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự trong phạm những điều được quy định tại các
khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 BLTTDS 2015, cụ thể:
“Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
1. Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa.
6.
Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung
cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình.
16.
Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tịa án
trong q trình Tịa án giải quyết vụ việc.
17.

Đề nghị Tịa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng.

18.

Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này.

19.
Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với
Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm
chứng.
20.
Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp

dụng.”
Ngoài ra, những quyền, nghĩa vụ khác được quy định tại Điều 70 này thì luật sư
tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự không được
phép thực hiện thay cho đương sự.

6


Như vậy, không phải luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp
cho đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự
mà chỉ được thực hiện một số quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Cơ sở pháp lý: khoản 6 Điều 76; Điều 70 BLTTDS 2015.

PHẦN 2. BÀI TẬP
Bài tập 1.
Tháng 9/2018 ông M (cư trú tại Quận 9, TP. Hồ Chí Minh) ký hợp đồng cho Công
ty cổ phần N (trụ sở ở Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương), thuê căn nhà thuộc
sở hữu riêng của ông M tại Quận 3, TP. Hồ Chí Minh với mục đích làm kho chứa
hàng. Tháng 3/2019, Công ty N đã cho ông K thuê lại một phần mặt bằng tầng trệt căn
nhà đó để ở mà khơng được sự đồng ý của ông M. Khi phát hiện sự việc, ông M đã
yêu cầu công ty N chấm dứt việc cho ông K th nhưng Cơng ty N khơng chấp nhận.
Do đó, tháng 9/2019 ông M khởi kiện yêu cầu Công ty N trả nhà với lý do không
thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng, tự ý cho thuê lại khi khơng có sự đồng
ý của bên cho th; u cầu Cơng ty N thanh tốn số tiền th nhà của tháng 8 và
tháng 9/2019. Tòa án đã thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật để giải quyết. Ông V
giám đốc của Công ty N đã tham gia tố tụng trong vụ án này.
Sau khi thụ lý vụ án, Cơng ty N đã nộp đơn đến Tịa án yêu cầu ông M phải trả lại
cho Công ty N số tiền 20 triệu đồng mà Công ty N đã sửa chữa căn nhà trong thời gian
thuê.

a.

Xác định tư cách đương sự.
Quan hệ tranh chấp phát sinh: Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.
Trong vụ án này: Ơng M khởi kiện ra Tịa án u cầu Công ty N trả nhà với lý do
không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng, tự ý cho th lại khi khơng có sự
đồng ý của ơng. Cơng ty N là người ký hợp đồng thuê nhà với ông M và bị kiện đòi trả
lại nhà và thanh toán số tiền thuê của tháng 8 và tháng 9/2019. Ông K đã thuê lại một
phần mặt bằng tầng trệt căn nhà của Công ty N thuê của ông B. Như vậy các đương sự
của vụ án trên được xác định như sau:

-

Ngun đơn: Ơng M
Bị đơn: Cơng ty N
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ơng K.

7


b.
Tịa án có thể chấp nhận đơn u cầu của Công ty N để xét xử chung trong
vụ án do ông M khởi kiện không? Tại sao?
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200
BLTTDS 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của
mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”.
Theo khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP: “Được coi là yêu cầu phản
tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, khơng cùng với u cầu mà ngun đơn,

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.”.
Như vậy có thể thấy rằng u cầu của bị đơn Cơng ty N đưa ra hồn tồn độc lập và
khơng cùng với yêu cầu mà nguyên đơn là ông M đã đưa ra trước đó nên u cầu của
Cơng ty N được coi là yêu cầu phản tố đối với ông M.
u cầu phản tố của Cơng ty N được Tịa án chấp nhận vì yêu cầu này thuộc điểm
a khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015: “Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu
của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. Bên cạnh
đó, theo khoản 3 Điều 200 BLTTDS 2015 thì nếu đơn u cầu phản tố của Cơng ty N
nộp trước khi phiên họp mở thì sẽ được xét xử chung trong vụ án mà ông M khởi kiện.

Bài tập 2.
Từ ngày 27/01/2015 đến ngày 16/01/2016, Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất
-

Xuất nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân (Giám đốc) ký kết 06 Hợp

đồng tín dụng vay tiền với Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
– Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi (gọi tắt là Ngân hàng Quảng Ngãi).
Các Hợp đồng tín dụng số 01, 02, 03, 04 và 05 được đảm bảo bằng 4 Hợp đồng
cầm cố tài sản số 01/HĐCCTS ngày 27/01/2015, số 02/HĐCCTS ngày 21/02/2015, số
03/HĐCCTS ngày 21/03/2015, số 04/HĐCCTS ngày 03/6/2015, tài sản được đảm bảo
đều là các thiết bị may có tổng giá trị là 4.857.247.700 đồng.
Cịn đối với Hợp đồng tín dụng số 06, thì ngày 7/01/2016, bà Trương Thị Tường Vân
cùng chồng là ơng Lê Hùng Sơn có ký Hợp đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất,
tài sản gắn liền với đất số 01/TC, với nội dung: Vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân,
2

2

Lê Hùng Sơn đem ngôi nhà cấp 4B có diện tích 24,14m trên diện tích đất 72m tại

118/6A đường Nguyễn Sơn (đường số 01 cũ), phường 18, quận Tân Bình, thành phố Hồ
Chí Minh (nay là phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh) theo
Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày
8


21/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ông, bà Trương Thị
Tường Vân, Lê Hùng Sơn bảo lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 này.

Đến hạn thanh tốn khoản vay, Ngân hàng Quảng Ngãi đã nhiều lần yêu cầu Công
ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex thanh tốn các khoản
nợ vay nhưng Cơng ty khơng chịu thanh tốn. Ngày 15/3/2018, Ngân hàng Quảng
Ngãi khởi kiện u cầu Tịa án buộc Cơng ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất
nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân làm Giám đốc phải trả tổng số
tiền 4.064.248.333 đồng, trong đó, tiền gốc là 3.050.000.000 đồng, tiền lãi (tính đến
ngày 4/7/2018) là 1.014.248.333 đồng và đề nghị phát mãi tài sản đã cầm cố, thế chấp,
bảo lãnh để thanh toán nợ vay.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 04/KDTM-ST ngày 4/5/2019, Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã xác định tư cách đương sự như sau:
Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi
nhánh tỉnh Quảng Ngãi;
Bị đơn: Công ty cổ phần Thương mại-Sản xuất-Xuất nhập khẩu Maxgarmex;
Đồng thời, Tịa sơ thẩm tun xử: “Buộc Cơng ty cổ phần Thương mại-Sản xuất-Xuất
nhập khẩu Maxgarmex do bà Trương Thị Tường Vân đại diện theo pháp luật phải trả cho
Ngân hàng Quảng Ngãi tiền gốc 3.050.000.000 đồng và tiền là 1.014.248.333 đồng. Tổng
cộng 4.064.248.333 đồng. Bà Trương Thị Tường Vân còn phải tiếp tục trả lãi của tiền gốc
vay kể từ ngày 05/7/2018 cho đến khi thanh toán xong nợ vay.

Buộc bà Trương Thị Tường Vân đại diện theo pháp luật phải nộp 31.064.248 đồng
án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm…”.

Nhận xét hành vi tố tụng của Tòa sơ thẩm.
Trả lời:
Việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giải quyết sơ thẩm vụ án trên theo nhóm là
không đúng thẩm quyền, xác định thiếu đương sự, xác định sai nguyên đơn và xác
định thiếu trách nhiệm của người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự. Cụ thể:
Thứ nhất, tranh chấp giữa Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập
khẩu Maxgarmex với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi được xác định là vụ án kinh doanh, thương mại theo. Theo
quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì hợp đồng tín dụng được xác lập giữa
tổ chức tín dụng với tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận thì
trong trường hợp trên thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm sẽ doTòa án Nhân
dân cấp huyện giải quyết căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015.
9


 Như vậy, việc TAND tỉnh Quảng Ngãi đã giải quyết vụ án trên là không đúng thẩm
quyền.
Thứ hai, về việc TAND tỉnh Quãng Ngãi xác định thiếu đương sự trong vụ án trên
cụ thể như sau:
Xét tại nội dung của vụ án có nêu rõ như sau: “Đối với Hợp đồng tín dụng số 06, thì
ngày 7/01/2016, bà Trương Thị Tường Vân cùng chồng là ông Lê Hùng Sơn có ký Hợp
đồng bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 01/TC, với
nội dung: Vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn đem ngơi nhà cấp
2

2

4B có diện tích 24,14m trên diện tích đất 72m tại 118/6A đường Nguyễn Sơn (đường
số 01 cũ), phường 18, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phú
Thọ Hịa, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu

nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày 21/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ơng, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn bảo
lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 này.”. Như vậy, bà Vân và ông Lê
Hùng Sơn (chồng bà Vân) đã bảo lãnh cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 06 của
Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex. Với dữ kiện
“Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10497/98 ngày
21/8/1998 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên ơng, bà Trương
Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn”, và được xác định rằng tài sản bảo lãnh cho hợp đồng
số 06 trên là tài sản chung của vợ chồng ông Sơn và bà Vân. Do đó, khi ơng Sơn đã
dùng tài sản của mình bảo lãnh cho hợp đồng vay số 06 của Công ty cổ phần Thương
mại - Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
lại khơng xác định ơng Sơn là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án
trên theo quy định tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
Thứ ba, về việc xác định việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xác định sai
đương sự trongvụ án nêu trên thể hiện như sau:
Theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 85 và Điều 86 Bộ luật dân sự 2015, thì Ngân hàng
Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi là đơn
vị phụ thuộc của pháp nhân chứ không phải là pháp nhân. Mà pháp nhân là Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Trong trường hợp này khơng đề cập
đến vấn đề “được ủy quyền”. Do đó, căn cứ pháp lý Điều 186 BLTTDS thì trong vụ án
này nguyên đơn phải là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
chứ không phải là Ngân hàng Quảng Ngãi như Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định.
Thứ tư, về việc xác định yêu cầu thanh toán khoản nợ với nguyên đơn:

10


“Bà Trương Thị Tường Vân còn phải tiếp tục trả lãi của tiền gốc vay kể từ ngày
05/7/2018 cho đến khi thanh toán xong nợ vay cũng như buộc bà Trương Thị Tường
Vân đại diện theo pháp luật phải nộp 31.064.248 đồng án phí kinh doanh, thương mại

sơ thẩm” là không đúng mà người phải chịu là bị đơn – Công ty cổ phần Thương mại Sản xuất - Xuất nhập khẩu Maxgarmex, vì bị đơn ở đây khơng phải bà Trương Thị
Tường Vân.
Thứ năm, về trách nhiệm của người có nghĩa vụ liên quan:
Đồng thời, Tịa án cấp sơ thẩm cũng chưa quyết định rõ ràng về trách nhiệm của người
được bảo lãnh và người bảo lãnh (vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân và Lê
Hùng Sơn) cũng như cách xử lý tài sản của người được bảo lãnh và người bảo lãnh
(nhà, đất của vợ chồng ông, bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn là tài sản bảo
lãnh), như: Trong trường hợp Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất nhập
khẩu Maxgarmex không trả được khoản tiền gốc của căn nhà và tiền lãi của khoản tiền
vay này thì bà Trương Thị Tường Vân và Lê Hùng Sơn phải trả thay; trường hợp ông,
bà Trương Thị Tường Vân, Lê Hùng Sơn không trả được hoặc khơng trả đủ thì cơ
quan nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan Thi hành án dân sự) phát mại tài sản bảo lãnh
là nhà và đất (theo hợp đồng bảo lãnh) để thu hồi đủ số tiền gốc và lãi cho Ngân hàng
tại Hợp đồng tín dụng số 06. Đồng thời, đối với các Hợp đồng cầm cố tài sản cũng
phải quyết định rõ ràng về việc xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ cho Ngân hàng trong
trường hợp Công ty không trả hoặc không trả đủ.

11


PHẦN 3. PHÂN TÍCH ÁN
1.
Tịa án các cấp xác định tư cách đương sự như thế nào? Cơ sở để các Tòa
án xác định?
Căn cứ: Quyết định số 07/2019/KDTM-GĐT ngày 26/06/2019 của Tòa án nhân
dân tối cao cho rằng:
-

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Bị đơn: Bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân.


Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của nguyên đơn là: Ơng Nguyễn Văn
Bình – Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khu
kinh tế mở Chu Lai.
Căn cứ: Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 11/2007/KDTM-ST ngày
23/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng:
-

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

-

Bị đơn: Công ty Thành Tài.

Căn cứ: Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 42/2007/KDTM-PT ngày
09/8/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng cho rằng:
-

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

-

Bị đơn: Công ty Thành Tài.

Căn cứ: Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 04/2012/KDTM-ST ngày
10/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng:
-

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.


-

Bị đơn: Bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân

Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 22/2013/KDTM-PT ngày 28/6/2013
của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-

Nguyên đơn: Ngân hảng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Bị đơn: Bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân
Cơ sở để Tòa án các cấp xác định tư cách đương sự là:

-

Đối với tư cách đương sự: Nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam và bị đơn là Công ty Thành Tải. Tòa án các cấp đã dựa vào người khởi
kiện chính là nguyên đơn và người bị nguyên đơn khởi kiện là bị đơn (khoản 2, khoản 3
Điều 68 BLTTDS 2015). Vì Cơng ty Thành Tài vi phạm các
12


cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khơng trả nợ đúng hạn, Cơng ty đã ngừng sản
xuất, khơng cịn khả năng trả nợ vay nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Cơng ty
Thành Tài thanh tốn số tiền gốc và lãi đã nợ.
Đối với tư cách đương sự: Nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam và bị đơn là bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân. Vì Tịa án
các cấp cho rằng Công ty Thành Tài đã bị giải thể nên bị đơn là những thành viên góp
vốn của Cơng ty Thành Tài cụ thể là bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân (điểm a

khoản 2 Điều 74 BLTTDS 2015).

2.
Nhận xét về nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm về việc xác định
tư cách đương sự theo cả hai hướng đồng ý và không đồng ý. (Lưu ý nêu rõ luận cứ
cho các nhận xét).
Theo Hội đồng giám đốc thẩm xác định nguyên đơn là Ngân hàng nhưng bị đơn
vẫn là Công ty Thành Tài và hai bà Lương Thị Liễu và Lương Thị Tân là người kế
thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của công ty theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62
BLTTDS 2004. Đồng thời xác định Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Chu Lai
Indevco là bên trúng đấu giá tài sản cầm cố của Công ty Thành Tài làm người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTDS 2004.
*

Theo hướng đồng ý:
Thứ nhất, 2 hợp đồng tín dụng số 29040075/1 ngày 02/6/2005 và hợp đồng số
290400767/1 ngày 08/6/2005 là do Công ty Thành Tài trực tiếp ký kết với Ngân hàng.
Mà theo khoản 2 Điều 38 Luật Doanh nghiệp 2005 thì Cơng ty Thành Tài có tư cách
pháp nhân do đó Công ty TNHH Thành Tài mới là bị đơn trong vụ việc tranh chấp
trên. Việc Hội đồng giám đốc thẩm xác định như vậy là hợp lý bảo đảm được quyền
lợi và nghĩa vụ các bên
Thứ hai, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của BLTTDS 2004 tại thời điểm xét
xử vụ việc Công ty TNHH Thành Tài vẫn chưa chấm dứt hoạt động mà phải đến ngày
28/4/2014 (sau ngày xét xử sơ thẩm và phúc thẩm) Phịng đăng kí kinh doanh Sở kế hoạch
và Đầu tư tỉnh Quảng Nam mới có thơng báo số 284/TB-ĐKKD xóa tên Cơng ty Thành
Tài. Do đó trong vụ việc trên tòa án xác định bị đơn là bà Lương Thị Tân và bà Lương Thị
Liễu là không đúng quy định về kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Cuối cùng Hội đồng giám đốc thẩm cho rằng Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ
Chu Lai Indevco là bên trúng đấu giá tài sản cầm cố của công ty Thành Tài nên phải đưa
Công ty Indevco tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên

13


quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại khoản 4
Điều 56 BLTTDS 2004.
*

Theo hướng không đồng ý:
Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 62 của BLTTDS 2004 về kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng:
“2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt
hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì
việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đó được xác định như sau:

a) Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức
đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng;”
Trong trường hợp đương sự là Công ty TNHH chấm dứt hoạt động thì cá nhân là
thành viên của công ty hoặc người đại diện của họ tham gia tố tụng. Việc Hội đồng giám
đốc thẩm xác định trực tiếp bà Lương Thị Tân và bà Lương Thị Liễu là người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty là chưa thật sự hợp lý. Bởi lẽ theo nhóm trong
trường hợp này cần xem xét để xác định người đại diện của công ty hay thành viên góp
vốn của cơng ty là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty. Người đại diện
của Công ty TNHH là người nhân danh thành viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
thành viên Hội đồng thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2004 trong đó đại
diện có thể nhân danh thành viên của Hội đồng thành viên để thông qua hợp đồng vay tài
sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính
tại thời điểm cơng bố gần nhất của cơng ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều
lệ cơng ty do đó trong trường hợp này theo nhóm nếu để người đại diện tham gia tố tụng
với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của công ty sẽ hợp lý hơn bà Lương Thị

Tân và bà Lương Thị Liễu là hai thành viên góp vốn của cơng ty.

Bên cạnh đó cần phải xác định cơng ty có bao nhiêu thành viên và xem xét họ có
phải là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của công ty hay không chứ không thể
để hai bà Lương Thị Tân và Lương Thị Liễu hoàn tồn kế thừa hết quyền và nghĩa vụ
của cơng ty được, như vậy mới có thể bảo vệ được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên.

3.
định.

Từ các phân tích trên, tóm tắt vụ án xoay quanh vấn đề pháp lý được xác

Vấn đề pháp lý: Xác định tư cách đương sự trong vụ việc tranh chấp hợp đồng tín
dụng do vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng, không trả nợ đúng hạn
14


Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số: 07/2019/KDTM-GĐT ngày 26/6/2019 về
tranh chấp hợp đồng tín dụng:
-

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

-

Bị đơn: Bà Lương Thị Liễu và bà Lương Thị Tân.

-

Tranh chấp hợp đồng tín dụng.


- Nội dung: Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh
Khu kinh tế mở Chu Lai cho Công ty Thành Tài vay 3.000.000 đồng theo 2 hợp đồng tín
dụng và vay có bảo đảm bằng tài sản. Đến thời hạn trả nợ Công ty Thành Tài vi phạm
các cam kết trong hợp đồng tín dụng, khơng trả nợ đúng hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện
yêu cầu Công ty Thành Tài thanh tốn số tiền gốc và lãi cịn thiếu. Trong các phiên tòa
sơ thẩm, phúc thẩm tòa án xác định Ngân hàng là nguyên đơn, bị đơn là bà Lương Thị
Liễu và bà Lương Thị Tân, và không xác định người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tuy nhiên ở nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm đã xác định lại tư cách đương
sự của các bên. Theo Hội đồng giám đốc thẩm nguyên đơn là ngân hàng nhưng bị đơn
vẫn là Công ty Thành Tài và 2 bà Lương Thị Liễu và Lương Thị Tân là người kế thừa
quyền nghĩa vụ tố tụng của công ty. Đồng thời xác định Công ty cổ phần thương mại và
dịch vụ Chu Lai Indevco là bên trúng đấu giá tài sản cầm cố của Công ty Thành Tài làm
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
-

Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm:

+ Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, Điều 345 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015;
+ Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 11/2018/KN-KDTM ngày
14/6/2018 của Chánh án TANDTC;
+ Hủy bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 22/2013/KDTMPT và bản án kinh
doanh thương mại sơ thẩm số 04/2012/KDTM-ST của TAND tỉnh Quảng Nam;
+

Giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Quảng Nam xét xử lại.

15




×