ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỌC PHẦN: HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA (Thứ 5 tiết 6-7)
CHỦ ĐỀ :
ĐIỀU KIỆN VỀ TIỀN HÀNG VÀ CƯỚC PHÍ (CFR)
TRONG INCOTERMS 2020
THỰC HIỆN: NHÓM
3
MÃ HỌC PHẦN: BSL 3025
GIẢNG VIÊN: TS. Nguyễn Trọng Điệp
HÀ NỘI, 2022
1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3
STT
Mã sinh viên
Họ và tên
Lớp
1
19063183
Nguyễn Thị Yến
K64 LKDB
2
19063127
Lê Thị Trang Nhi
K64 LKDB
3
19063175
Trần Thùy Trang
K64 LKDB
4
19063016
Nguyễn Thị Vân Anh
K64 LKDB
5
19063125
Phạm Thị Thu Nguyệt
K64LKDB
6
19063159
Cao Thị Thúy
K64 LKDB
7
19063028
Nguyễn Thị Chinh
K64 LKDB
8
19063149
Nguyễn Hương Thảo
K64 LKDB
9
19063176
Phạm Lê Minh Trung
K64LKDB
2
MỞ ĐẦU
Cùng với thời gian, thương mại quốc tế (TMQT) ngày càng phát triển. Trước kia, các
thương nhân phải tự mang hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, mất hàng tháng để thực hiện
các giao dịch mua bán, lợi nhuận thu được nhiều nhưng rủi ro cũng khơng ít. Ngày nay,
nhờ sự phát triển của các phương tiện giao thơng vận tải, thơng tin liên lạc, sự hình thành
các khối nước thương mại chung, các trung gian thương mại, tài chính.v.v. thì người mua
và người bán khơng cần gặp nhau trực tiếp mà vẫn mua/bán được hàng hóa, dịch vụ. Chính
sự phát triển này địi hỏi phải có những quy tắc được công nhận rộng rãi để điều chỉnh
những quan hệ ngày càng phức tạp trong TMQT. Có rất nhiều quy tắc, thông lệ quốc tế chi
phối quan hệ TMQT nhưng nổi bật nhất phải kể đến bộ quy tắc Incoterms. Việc hiểu rõ
những quy tắc này không chỉ cần thiết đối với bên mua, bên bán mà còn cần thiết đối với
các cán bộ ngân hàng – những người trực tiếp tư vấn cho khách hàng để đảm bảo khách
hàng đạt được những thuận lợi, tối đa được lợi ích trong q trình giao dịch. Tuy nó khơng
phải là một yếu tố bắt buộc trong hợp đồng mua bán quốc tế nhưng việc dẫn chiếu đến
Incoterms sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên nhằm giảm nguy cơ rủi ro
có thể gặp phải về mặt pháp lý. Chính vì vậy các bên tham gia giao dịch TMQT cần phải
nắm rất rõ đặc điểm sử dụng của Incoterms để ứng dụng trong giao dịch các quy tắc một
cách linh hoạt.
3
NỘI DUNG
1, Tổng quan về Incoterms và CFR
1.1 Tổng quan về Incoterms:
1.1.1, Khái niệm:
Incoterms là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: International Commerce Terms. Đây tập hợp
các quy tắc thương mại quốc tế quy định về trách nhiệm của các bên trong hợp đồng ngoại
thương. Incoterms là các điều khoản thương mại quốc tế được chuẩn hóa, và được nhiều
quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới công nhận và sử dụng rộng rãi.
1.1.2, Nội dung chính của các điều khoản này phải kể tới 2 điểm quan trọng:
- Trách nhiệm của bên mua, bên bán đến đâu
- Điểm chuyển giao trách nhiệm, chi phí, rủi ro từ người bán sang người mua
1.1.3, Mục đích:
- Giải thích những điều kiện thương mại thông dụng
- Phân chia trách nhiệm, chi phí, rủi ro giữa người mua và bán
- Giảm thiểu tranh chấp, rủi ro do hiểu nhầm
1.1.4, Đặc điểm:
- Incoterms khơng mang tính bắt buộc bởi nó khơng phải luật mà được hiểu là những tập
quán thương mại nhiều hơn là những luật lệ buộc phải tuân theo trong mọi trường hợp. Chỉ
khi bên bán và bên mua đồng ý sử dụng quy tắc nào đó trong Incoterms và đưa vào trong
bản hợp đồng mua bán, lúc đó nội dung của quy tắc áp dụng mới mang tính ràng buộc. Một
khi đã được thống nhất áp dụng, các bên giao dịch phải có nghĩa vụ, trách nhiệm với những
quy tắc này.
- Có nhiều phiên bản cùng tồn tại bởi các phiên bản sau khơng phủ nhận tính hiệu lực của
các phiên bản trước đó. Điều này địi hỏi khi sử dụng Incoterms trong hoạt động thương
mại quốc tế, vì vậy phải nêu rõ ràng cụ thể tên phiên bản áp dụng để các bên liên quan mới
có thể thơng hiểu, đối chiếu, xác định, và cam kết trách nhiệm.
4
- Chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ người mua đến người bán.Những nội
dung khác về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, hay những hậu quả có thể có khi
vi phạm hợp đồng đều không được đề cập đến, nghĩa là chưa được bao gồm trong
Incoterms. Vì thế, ở các điều khoản khác của hợp đồng, những vấn đề này nên được thỏa
thuận rõ ràng.
- Nếu trái với luật địa phương, các điều kiện trong Incoterms có thể bị mất hiệu lực. - Giữ
nguyên bản chất điều kiện cơ sở giao hàng: Hai bên mua bán có thể tăng giảm trách nhiệm,
nghĩa vụ cho nhau tùy thuộc vào vị thế mạnh (yếu) trong giao dịch nhưng không được làm
thay đổi bản chất điều kiện cơ sở giao hàng
- Các quy tắc mang tính bao quát bởi Incoterms chủ yếu hướng đến những vấn đề chung
có liên quan đến việc giao hàng. Cịn những vấn đề khác như giá cả hàng hóa, phương thức
thanh tốn, các u cầu về bốc dỡ hàng hóa, lưu kho… thì hồn tồn khơng quy định trong
Incoterms, và do đó cần được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng.
1.1.5, Phạm vi áp dụng:
Incoterms chỉ điều chỉnh những gì liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp
đồng liên quan đến việc giao hàng hóa
1.2 Tổng quan về điều kiện CFR:
1.2.1, Khái niệm:
- CFR (viết tắt bởi cụm từ: Cost and Freight, nghĩa là: Tiền hàng và Cước phí) là thuật ngữ
trong thương mại quốc tế quy định cụ thể các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro tương ứng liên
quan đến việc chuyển giao hàng hóa từ người bán sang người mua theo tiêu chuẩn
Incoterms do Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC)
công bố. Điều kiện này sẽ chỉ được áp dụng cho việc vận chuyển trên biển, đường thuỷ ở
nội địa.
- Nếu người mua và người bán đồng ý theo điều kiện CFR trong giao dịch của họ, người
bán phải thu xếp và thanh toán cho việc vận chuyển hàng hóa đến một cảng cụ thể định
trước. Người bán phải giao hàng, dọn sạch hàng hóa để xuất khẩu và đưa lên tàu vận
chuyển. Nguy cơ mất mát hoặc chuyển giao thiệt hại cho người mua khi người bán di
5
chuyển hàng hóa được giao an tồn lên tàu. Tuy nhiên người bán sẽ phải chịu chi phí để
đưa được hàng đến cảng đích, tức là sẽ phải thuê tàu chuyên chở hàng.
- Khi sử dụng điều kiện giao hàng CFR, sau khi giao hàng cho người mua ở cảng bốc hàng
trách nhiệm của người bán đã hết, rủi ro và trách nhiệm trong quá trình vận chuyển do bên
mua chịu nhưng cước phí vận chuyển đó sẽ do người bán trả.
1.2.2, Cách tính giá CFR:
Với điều kiện: người bán hàng sẽ chịu thêm khoản phí để vận chuyển hàng đến cảng và dỡ
hàng và tuỳ theo thoả thuận thì người mua sẽ chịu chi phí dỡ hàng. Giá CFR = Giá FOB +
Cước phí vận chuyển
Trong đó, Giá FOB là giá tại cửa khẩu của bên Xuất (giá này chưa bao gồm chi phí bảo
hiểm và vận chuyển hàng hóa tới cảng của bên Nhập)
2. Nội dung điều kiện CFR
2.1 Hướng dẫn sử dụng:
2.1.1 Phương thức vận tải.
Trong Incoterm 2020 chủ yếu điều chỉnh 4 loại phương thức vận tải chính : đường hàng
khơng , đường sắt , đường bộ , đường thủy . Trong đó điều kiện CFR thuộc dạng điều kiện
sử dụng cho vận tải biển và thủy nội địa. CFR sẽ không phù hợp khi giao cho người chuyên
chở trước khi hàng được giao lên tàu. Ví dụ hàng đóng trong container mà thường được
giao ở bến bãi ở cảng . Trong trường hợp như thế nên sử dụng điều kiện CPT .
2.1.2 Chuyển giao hàng hóa và rủi ro .
a) Chuyển giao hàng hóa .
- Chuyển giao hàng hóa trong điều kiện CFR là : “người bán phải giao hàng lên tàu hoặc
mua hàng để giao hàng như vậy”. Địa điểm chuyển giao hàng hóa trong CFR rất quan trọng
vì nó liên quan đến việc chuyển giao rủi ro từ bên bán sang bên mua . Ví dụ như một cơng
ty xây dự Mỹ muốn mua sắt thép của một công ty chuyên sản xuất sắt thép ở
Anh , vậy thì bên bán hàng là cty sắt thép Anh có nghĩa vụ tuân theo thời gian, địa điểm đã
quy định sẵn trong hợp đồng để chuyển giao hàng hóa lên tàu cho bên mua . Vậy địa điểm
chuyển rủi ro từ nhà sản xuất sắt thép anh sang công ty xây dựng mỹ là khi hàng hóa được
6
giao an toàn trên tàu tại cảng đi .
b) Rủi ro .
- Rủi ro trong hợp đồng mua bán là những mất mát và bị hư hỏng xảy ra đối với hàng hóa.
Rủi ro đó có thể là lỗi chủ quan của con người hoặc có thể là do hiện tượng khách quan
gây nên.
- Đặt trong trường hợp quy định ở incoterm cụ thể là tại điều khoản CFR về việc chuyển
hóa rủi ro có viết : “ Rủi ro về mất mát hay hư hỏng hàng hóa chuyển giao khi hàng được
giao lên tàu . Người bán phải ký hợp đồng trả các chi phí và cước phí cần thiết để đưa hàng
hóa đến cảng quy định .”
⮚ Điều này có nghĩa là trên quãng đường vận chuyển hàng hóa đến cảng đi nếu hàng
hóa xảy ra chuyện gì thì rủi ro sẽ do người bán chịu cịn sau khi hàng hóa đã được
vận chuyển lên tàu thuyền thì việc chịu rủi ro sẽ được chuyển từ người bán sang
người mua có nghĩa là người mua sẽ phải chịu phần rủi ro hàng hóa trên quãng
đường từ cảng đi đến địa điểm đến .
- Tuy nhiên, người bán còn phải có trách nhiệm thanh tốn phần chi phí , cước phí vận
chuyển cho đến điểm đến và CFR là một trong những điều kiện thuộc cước phí trả trước .:
“Các bên nên xác định cụ thể càng tốt địa điểm tại cảng đến đã thỏa thuận và chi phí cho
đến địa điểm đó do người bán chịu . Người bán nên ký các hợp đồng vận tải đến đúng địa
điểm này . Nếu theo hợp đồng vận tải , người bán phải chịu các chi phí liên quan đến việc
dỡ hàng tại địa điểm cảng đến thì người bán khơng có quyền địi từ người mua trừ khi 2
bên có thỏa thuận khác .”
- Trong trường hợp xảy ra rủi ro khi có địa điểm xác định , nếu bên bán có nghĩa vụ giao
hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa
được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho bên mua hoặc người được bên
mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó theo quy định, kể cả trong trường hợp bên bán
được ủy quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa nhất định .
c, Một số điểm lưu ý đối với người mua:
- Với một hợp đồng mua bán được xác lập theo điều kiện CFR thì rủi ro của người mua sau
khi hàng hóa được chuyển giao khá lớn. Khác với điều kiện CIF , tuy cả 2 điều kiện CIF
7
lẫn CFR có nhiều điểm chung như đều là điều kiện sử dụng cho vận tải biển và thủy
nội địa , cả 2 điều kiện đều quy định người bán phải chịu chi phí vận chuyển cho đến khi
hàng hóa đến cảng , đối với trách nhiệm pháp lý với rủi ro người bán phải chịu trách nhiệm
về hàng hóa cho đến khi nó được xếp lên tàu tại cảng xuất khẩu ngay sau khi hàng hóa
được xếp lên tàu trách nhiệm được chuyển cho người mua . Nhưng ở điều kiện CIF thì
người bán sẽ phải chịu trách nhiệm bảo hiểm cịn ở điều kiện CFR thì (như là) người bán
không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm.
⮚ Vậy nên trong incoterm đã có mục nêu rõ : “Với điều kiện này người bán khơng có
nghĩa vụ gì với người mua về việc ký kết hợp đồng bảo hiểm , vậy nên nếu cần người
mua nên tự mua bảo hiểm cho hàng hóa để tránh rủi ro .”
- Ngồi ra người mua còn phải lưu ý ở việc xác nhận rõ ràng địa điểm cả nơi gửi lẫn nơi
nhận . CFR cũng nêu rõ điểm hạn chế này: “Điều kiện này có 2 điểm tới hạn , vì rủi ro di
chuyển và chi phí được phân chia ở 2 nơi khác nhau . Trong khi hợp đồng luôn ghi rõ cảng
đến thì nó lại khơng chỉ rõ cảng xếp hàng _ nơi mà rủi ro di chuyển sang người mua. Nếu
cảng gửi hàng có ý nghĩa đặc biệt với người mua , thì nên quy định rõ trong hợp đồng càng
cụ thể càng tốt .” Nếu địa điểm giao hàng và địa điểm đến không được thảo luận cụ thể
hoặc khơng được xác định bởi tập qn thì người bán có thể chọn địa điểm giao hàng ở bất
cứ nơi nào và địa điểm đến tại nơi quy định phù hợp nhất với mục đích của mình . Trong
hợp đồng thường chỉ quy định điểm đến mà không quy định nơi gửi hàng . Điều này có lợi
cho người bán vì đến thời hạn giao hàng trong hợp đồng mua bán người bán có thể tự lựa
chọn địa điểm gửi hàng thuận lợi nhất cho mình .
⮚ Nên để bảo vệ quyền lợi của mình người mua nên quy định cụ thể địa điểm gửi hàng
và địa điểm đến trong hợp đồng mua bán
2.1.3. Nếu có nhiều người chuyên chở tham gia:
Việc có nhiều người chuyên chở tham gia vận chuyển hàng hóa qua nhiều khẩu trong suốt
q trình vận chuyển là điều thường xuyên xảy ra.
Ví dụ: người chuyên chở đầu tiên sẽ điều khiển tàu trung chuyển chở hàng Hong
Kong đến Thượng Hải, sau đó hàng sẽ được chuyển lên tàu chuyên chở chính chở hàng tới
Southampton. Câu hỏi đặt ra ở đây là rủi ro sẽ được chuyển từ người bán sang người mua
8
tại Hong Kong hay Thượng Hải?
Để giải quyết: Các bên có thể tự đàm phán điều này và dựa vào hợp đồng. Tuy nhiên, nếu
khơng có thỏa thuận nào được ký kết, địa điểm mặc định nơi mà hàng rủi ro đối với hàng
hóa được chuyển giao là khi hàng được giao cho người chuyên chở đầu tiên, trong trường
hợp này sẽ là Hong Kong. Nếu hai bên muốn địa điểm chuyển giao là Thượng Hải hoặc địa
điểm nào khác, các bên có thể bổ sung điều này vào hợp đồng.
2.1.4. Chi phí dỡ hàng tại cảng
a, Chi phí các bên phải chịu:
● Người bán chịu:
+ Các chi phí liên quan đến việc đưa hàng tới cảng và bốc hàng liên phương tiện chuyên
chở
+ Các chi phí liên quan đến thủ tục xuất khẩu hàng hóa
+ Chi phí th phương tiện vận tải chở hàng đến cảng đích
+ Chi phí vận tải qua các nước quá cảnh theo hợp đồng vận tải
+ Chi phí kiểm sốt chất lượng, cân nặng, số lượng hàng hóa trước khi đưa hàng lên tàu
+ Chi phí chuyển các chứng từ vận tải đến cảng đích.
● Người mua chịu:
+ Chi phí làm hàng tại cảng đích và vận chuyển về kho
+ Các chi phí liên quan đến thủ tục nhập khẩu hàng hóa
+ Chi phí Local charges tại cảng đích trừ những chi phí mà người bán đã trả cho bên
vận tải
+ Các chi phí phát sinh về thủ tục hải quan nếu có tại các nước quá cảnh + Chi phí phát
sinh do người mua khơng kịp hay khơng thơng báo chính xác cho người bán về thời
điểm và địa điểm nhận hàng
+ Các chi phí liên quan đến kiểm tra hàng hóa trước khi xuất khẩu trừ khi các thủ tục
này là của cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu
9
b, Chi phí dỡ hàng tại cảng đích:
Nếu trong hợp đồng chuyên chở mà người bán đã ký kết có bao gồm chi phí dỡ hàng tải
cảng đích thì người bán sẽ phải chi trả cho chi phí này, trừ khi cả hai bên đã có thỏa thuận
trước về việc người bán sẽ được người mua hồn trả chi phí này 2
2.1.5. Nghĩa vụ thông quan xuất khẩu/nhập khẩu:
Tuy người bán khơng có nghĩa vụ phải thơng quan nhập khẩu hoặc thông quan khi quá
cảnh tại nước thứ ba mà hàng hóa phải đi qua, khơng phải trả thuế nhập khẩu hoặc chi phí
làm thủ tục thơng quan nhập khẩu nhưng nếu cần, người bán phải hỗ trợ người mua khi
người mua yêu cầu, rủi ro và chi phí do người mua chịu để lấy các chứng từ/thông tin cần
thiết cho việc làm thủ tục hải quan khi quá cảnh/nhập khẩu
2.2 Nghĩa vụ của người bán:
2.2.1. Nghĩa vụ chung (A1)
- Người bán phải cung cấp hàng hóa và hóa đơn thương mại phù hợp với hợp đồng mua
bán và bất kì bằng chứng phù hợp mà có thể được đề cập đến trong hợp đồng; - Bất kỳ
chứng từ nào cung cấp bởi người bán đều có thể ở dạng chứng từ giấy truyền thống hoặc
ở dạng điện tử nếu được các bên thỏa thuận hoặc tập quán quy định; - Cung cấp hàng hoá
phù hợp với quy định của hợp đồng;
- Thơng báo cho người mua về hàng hố được giao theo như quy định.
2.2.2.Giao hàng (A2)
- Người bán phải giao hàng hóa bằng cách giao hàng lên tàu hoặc mua hàng để giao hàng
như vậy.
-Người bán sẽ phải giao hàng vào ngày hoặc trong khoảng thời gian đã định, theo cách thức
thông thường tại cảng.
- Giao hàng đúng chủng loại, đúng thời số lượng, thời gian quy định trong hợp đồng và
đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của số hàng vận chuyển
2.2.3.Chuyển giao rủi ro (A3)
- Người bán phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến thời
điểm hàng hoá qua lan can tàu tại cảng bốc.
10
- Người bán chịu trách nhiệm chăm sóc chu đáo tới hàng hóa
Phải chịu:
+ Mọi chi phí liên quan tới hàng hố cho đến khi hàng hóa được giao. + Cước phí và các
chi phí phát sinh khác, kể cả chi phí bốc hàng lên tàu và các chi phí dỡ hàng tại cảng đến
mà người bán phải trả theo hợp đồng vận chuyển.
2.2.4.Vận tải (A4)
- Người bán phải ký hợp đồng để vận chuyển hàng hóa đến địa điểm giao hàng đã thỏa
thuận, nếu có, tại nơi giao hàng tới cảng đến chỉ định, hoặc tới bất kì địa điểm nào tại cảng
đến.
- Hợp đồng vận tải phải được ký kết với các điều kiện thông thường, với chi phí do người
bán chịu và phải vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường thông thường bằng một con tàu
thuộc loại thường sử dụng để vận chuyển hàng hóa đó.
- Trường hợp hàng hóa bị tổn thất trong q trình vận chuyển không kê khai hay chứng từ
vận tải, người giao hàng có trách nhiệm bồi thường theo quy định trong hợp đồng. 2.2.5.Bảo
hiểm (A5)
- Giá trị bảo hiểm là giá trị của người mua căn cứ vào hóa đơn chứng từ của hàng hóa trong
trường hợp trong thời gian giao hàng có rủi ro hay mất mát
- Người bán khơng có nghĩa vụ đối với người mua về ký kết hợp đồng bảo hiểm. Người
bán phải cung cấp nếu người mua yêu cầu và phải chịu rủi ro và chi phí, nếu có, những
thơng tin người mua cần để mua bảo hiểm
2.2.6. Chứng từ giao hàng/vận tải (A6)
- Người bán phải, bằng chi phí của mình, cung cấp cho người mua không chậm trễ chứng
từ vận tải thường lệ đến cảng đã thỏa thuận.
- Chứng từ vận tải này phải thể hiện là hàng của hợp đồng, phải ghi ngày tháng trong thời
hạn giao hàng đã thỏa thuận, làm cho người mua có thể nhận hàng từ người chuyên chở tại
cảng đến và, trừ khi có thỏa thuận khác, cho phép người mua có thể bán hàng trong q
trình vận chuyển, như bằng cách chuyển nhượng chứng từ vận tải cho người mua tiếp theo
hoặc bằng cách thông báo cho người chuyên chở.
11
- Khi chứng từ vận tải được phát hành theo dạng có thể chuyển nhượng được và gồm nhiều
bản gốc, thì một bộ đầy đủ bản gốc phải được điều trình cho người mua. VD: Các loại
chứng từ vận tải đường biển cơ bản:
- 01 bản chính văn bản cho phép xuất khẩu của bộ thương mại hoặc bộ quản lý chuyên
ngành (đối với hàng xuất khẩu có điều kiện) để đối chiếu với bản sao phải nộp.
- 02 bản chính tờ khai hải quan hàng xuất khẩu
- 01 bản sao hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc giấy tờ có giá trị tương đương như
hợp đồng
- 01 bản giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh
nghiệp (chỉ nộp một lần khi đăng ký làm thủ tục cho lô hàng đầu tiên tại mỗi điểm
làm thủ tục hải quan).
- 02 bản chính bản kê chi tiết hàng hố (đối với hàng khơng đồng nhất).
2.2.7. Thông quan xuất khẩu/nhập khẩu (A7)
a, Về thông quan xuất khẩu
Nếu cần, người bán phải làm và chỉ trả mọi chi phí liên quan đến việc làm thủ tục hải
quan điều khẩu được quy định ở các nước điều khẩu, như là:
- Giấy phép xuất khẩu;
- Kiểm tra an ninh với hàng hóa khi xuất khẩu;
- Giám định hàng hóa khi điều khẩu;
- Bất kì quy định pháp lý khác.
b, Hỗ trợ việc làm thủ tục nhập khẩu
Nếu cần, người bán phải hỗ trợ người mua khi người mua yêu cầu, rủi ro và chi phí
do người mua chịu để lấy các chứng từ/thông tin cần thiết cho việc làm thủ tục hải quan
khi quá cảnh/nhập khẩu, bao gồm cả các thông tin anh ninh và việc giám định hàng hóa,
được quy định ở nước hàng hóa quá cảnh qua hoặc nước nhập khẩu.
2.2.8. Kiểm tra – Đóng gói, bao bì – Ký mã hiệu (A8)
12
- Người bán cần phải trả các chi phí về việc đóng gói hàng hóa (trừ khi thơng lệ của ngành
hàng quy định cụ thể hàng hóa gửi đi khơng cần đóng gói) và kiểm tra ( như kiểm tra chất
lượng, cân, đo, đếm) cần thiết để giao hàng theo quy định ở mục Giao hàng.
- Người bán hàng phải đóng gói và ký mã hiệu hàng hóa phù hợp với phương thức vận tải,
trừ khi hai bên đã đồng ý cụ thể về cách đóng hàng và ký mã hiệu khi hợp đồng được ký
kết.
2.2.9. Phân chia chi phí (A9), người bán phải trả:
- Tồn bộ mọi chi phí liên quan đến hàng hóa cho tới khi chúng được giao cho người mua
theo mục Giao hàng (A2), trừ những khoản do người mua trả theo mục Phân chia chi phí
(B9);
- Chi phí vận chuyển và mọi chi phí liên quan phát sinh từ mục Vận tải (A4), bao gồm cả
chi phí xếp hàng và các chi phí liên quan;
- Bất kì phụ phí nào để dỡ hàng tại cảng đích nhưng chúng phải nằm trong hợp đồng vận
tải mà người bán ký với người chuyên chở;
- Chi phí quá cảnh nếu chi phí này nằm trong hợp đồng vận tải mà người bán ký kết; - Chi
phí cung cấp bằng chứng cho người mua theo mục Chứng từ gia hàng và Vận tải (A6) rằng
hồng hóa đã được giao;
- Nếu cần, thông quan hải quan, nộp thuế điều khẩu và bất kì chi phí nào khác có liên quan
đến việc xuất khẩu theo như mục Thông quan xuất khẩu/nhập khẩu (A7); - Trả cho người
mua tất cả các chi phí và phụ phí liên quan đến việc hỗ trợ người bán trong việc lấy chứng
từ và thông tin cần thiết theo mục Thông quan xuất khẩu/nhập khẩu (B7).
2.2.10. Thông báo cho người mua (A10):
Người bán phải thông báo cho người mua biết rằng hàng hóa đã được giao theo mục Giao
hàng (A2), đồng thời cũng cần thông báo cho người mua kịp thời bất kỳ thông tin nào cần
thiết để tạo điều kiện cho người mua có thể nhận hàng.
2.3 Nghĩa vụ của người mua:
2.3.1. Nghĩa vụ chung của người mua (B1):
- Người mua phải thanh toán tiền hàng như quy định trong hợp đồng mua bán. - Bất kỳ
13
chứng từ nào cung cấp bởi người mua đều có thể ở dạng chứng từ giấy truyền thống hoặc
ở dạng điện tử nếu các bên thỏa thuận hoặc tập quán quy định.
2.3.2. Nhận hàng (B2)
Người mua hàng phải nhận hàng khi hàng đã được giao và nhận hàng từ người chuyên chở
tại cảng đến chỉ định.
2.3.3. Chuyển giao rủi ro (B3)
- Người mua hàng phải chịu mọi rủi ro liên quan đến việc mất mát hoặc hỏng hóc hàng hố
từ thời điểm hàng được giao.
- Nếu người mua không kịp thời thông báo cho người bán về thời gian giao hàng, địa điểm
đến hoặc điểm nhận hàng tại nơi đến đó thì người mua sẽ chịu mọi rủi ro và chi phí liên
quan đến việc mất mát hay hư hỏng hàng hóa kể từ ngày quy định cho việc giao hàng, với
điều kiện là hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng.
2.3.4. Vận tải (B4)
Người mua khơng có nghĩa vụ với người bán về việc lập hợp đồng vận tải
2.3.5. Bảo hiểm (B5)
Người mua khơng có nghĩa vụ với người bán về việc ký kết hợp đồng bảo hiểm
2.3.6. Bằng chứng của việc giao hàng (B6)
Người mua phải chấp nhận chứng từ vận tải được cung cấp theo như mục 2.2.6 về Chứng
từ giao hàng/vận tải nếu như chúng phù hợp với hợp đồng.
2.3.7. Thông quan xuất khẩu/nhập khẩu (B7)
a) Hỗ trợ việc thông quan xuất khẩu
Nếu cần, người mua phải hỗ trợ người bán khi người bán yêu cầu, do người bán chịu rủi ro
và chi phí, lấy các chứng từ/thơng tin liên quan đến việc thông quan xuất khẩu, kể cả các
thông tin an ninh hay giám định trước khi xuất khẩu được quy định bởi nước xuất khẩu.
b) Thông quan nhập khẩu
Nếu cần, người mua phải làm và trả các chi phí liên quan đến việc thông quan được quy
định tại nước quá cảnh và nước nhập khẩu, như là:
14
● Giấy phép nhập khẩu hoặc bất kỳ giấy phép nào cần thiết cho việc quá cảnh;
● Kiểm tra an ninh cho việc nhập khẩu và quả cảnh;
● Giám định hàng hóa;
● Và bất kỳ quy định pháp lý nào.
2.3.8. Kiểm tra – Đóng gói, bao bì – Ký mã hiệu (B8)
Người mua khơng có nghĩa vụ gì với người bán.
2.3.9. Phân chia chi phí, người mua phải (B9)
- Trả mọi chi phí phát sinh liên quan đến hàng hóa từ thời điểm hàng được giao theo mục
Giao hàng (A2), trừ các chi phí người bán trả theo mục Phân chia chi phí (A9); - Chi phí
q cảnh hàng hóa, trừ khi chúng nằm trong hợp đồng vận tải mà người bán ký kết;
- Chi phí dỡ hàng kể cả phí lõng hàng và phí cầu bến, trừ khi chúng nằm trong hợp đồng
vận tải mà người bán ký kết;
- Hồn trả tất cả chi phí và lệ phí mà người bán đã chi ra khi giúp người mua theo mục Bảo
hiểm (A5) hoặc Thông quan xuất khẩu nhập khẩu (A7);
- Nếu có quy định, trả tất cả các thứ thuế, lệ phí và các chi phí khác cũng như chi phí làm
thủ tục hải quan để quá cảnh và nhập khẩu theo như mục Thông quan xuất khẩu/nhập khẩu
(B7);
- Trả mọi chi phí phát sinh do khơng thơng báo kịp thời cho người bán theo như mục Thông
báo cho người bán (B10), kể từ ngày đã quy định hoặc ngày hết hạn thời hạn quy định cho
việc gửi hàng, với điều kiện hàng hóa đã được xác định là hàng hóa của hợp đồng.
2.3.10. Thơng báo cho người bán (B10):
Trong trường hợp người mua có quyền quyết định về thời gian giao hàng và/hoặc địa điểm
đến hoặc điểm nhận hàng tại nơi đến đó, người mua phải thơng báo cho người bán đầy đủ
về việc đó.
3, Ứng dụng điều kiện CFR trong thực tế:
3.1. Một số trường hợp cụ thể:
3.1.1, Tình huống 1: Tranh chấp về bảo hiểm hàng hóa.
15
Cuối năm 2006 một doanh nghiệp ở Hà Nội nhập lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá
1.400.000 USD, từ một công ty ở Singapore, chi nhánh sản xuất ở Ấn Độ theo điều kiện
CFR-Incoterms 2000, cảng TP.HCM và Hải Phịng. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp
đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, khơng có điều nào đề cập về tình trạng
pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán đã thuê tàu PLJ của
chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về VN. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người
bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng
theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng VN, khi
đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng
đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước. Ngay lập tức
người bán thông báo cho người mua biết vụ việc và giải thích rằng đã nhận đủ tiền bán
hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là
họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về mặt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về
hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hoá đã chuyển tư
người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua
ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường
tồn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán khơng thấy có quy định nào
buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm
việc với hãng bảo hiểm để địi bồi thường (lơ hàng được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở
VN). Tuy nhiên (Bên cạnh đó) phía bảo hiểm khẳng định theo điều kiện bảo hiểm ICC
1982 (Institute Cargo Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được
miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hoá bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ.
Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để địi bồi thường.
Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải VN (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế
(Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được
thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hoá xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.
Một điều đáng lưu ý là bản thân chủ tàu BJS cũng chỉ sở hữu duy nhất một con tàu này,
nếu thắng kiện thì chủ hàng VN cũng chỉ có trong tay một bản án đẹp. Khơng cịn lựa chọn
nào khác, phía người mua đành trao hết mọi giấy tờ có liên quan và uỷ quyền cho người
bán thay mặt mình làm việc với các cơ quan hữu quan của Malaysia để nhanh chóng thuê
16
một con tàu khác đến cảng Johor, nơi tàu bị cầm giữ, lấy hàng về. Phía người bán đã khẩn
trương tích cực tìm mọi biện pháp tiếp cận với các cơ quan hữu quan của
Malaysia để cho phép chủ hàng đưa một con tàu khác đến cảng nói trên chuyển tải hàng về
VN dù biết rằng rủi ro và chi phí bỏ ra để làm việc này khơng ít. Tuy vậy trong thời gian
tàu bị bắt giữ tại cảng Johor liên tiếp xảy ra ba sự kiện khác làm cho vụ việc vốn đã phức
tạp lại càng phức tạp thêm: Một vụ nổ xảy ra ở trên tàu làm một số thuỷ thủ bị
thương, trong đó có một người bị thương nặng có khả năng tử vong. Tiếp đó, tàu này lại bị
một tàu chở dầu đâm phải làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý khác khá phức tạp liên quan
tới chế định hai tàu đâm va cùng có lỗi (both to blame collision), chưa kể cùng một con tàu
nhưng có hai lệnh bắt giữ của hai tồ án: toà thứ nhất bắt giữ tàu theo yêu cầu của chủ tàu
cũ Indonesia, toà thứ hai lại lật ngược trát của tòa án trước và ra lệnh bắt giữ theo yêu cầu
của chủ tàu BJS ở Hong Kong. Cuối cùng vụ việc lại rơi vào tình trạng bế tắc và vơ cùng
nan giải khi chính quyền cảng sở tại u cầu nếu muốn đưa tàu khác đến chuyển tải hàng
về VN thì phải đặt cọc bảo lãnh chống ơ nhiễm môi trường với trị giá 20 triệu USD. Rõ
ràng đây hoàn toàn là một thách đố, do vậy cả hai phía sau gần một năm tìm cách giải quyết
vụ việc cuối cùng đành bỏ cuộc vì tồn bộ lơ hàng cũng đã bị hư hỏng gần hết.
❖ Nhận xét:
_ CFR tạo ra lỗ hổng để người bán nước ngồi tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch
không rõ ràng với giá cước thấp do không phải chịu trách nhiệm cho lơ hàng trừ khi hai
bên có thỏa thuận trước khi rủi ro của hàng hóa sẽ được chuyển từ người bán sang người
mua kể từ khi hàng được bốc lên tàu ở cảng đi.
⮚ Người mua nên đưa thêm một điều khoản quy định về tình trạng pháp lý của con tàu
tham gia chuyên chở lô hàng trong hợp đồng giữa hai bên để có thể bảo bảo vệ quyền
lợi của bản thân, ngăn chặn việc người mua lợi dụng lỗ hổng của CFR và khiến vị
thế pháp lý của bản thân trong việc đấu tranh bồi thường có khả năng thỏa đáng hơn.
_ Từ vụ việc này cho thấy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam nên mạnh dạn
chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho tình trạng hiện nay là đại bộ phận hợp đồng đều
mua CIF, bán FOB. Bởi lẽ, khi phía Việt Nam mua hàng theo điều kiện CIF hay CFR như
ví dụ về tranh chấp bên trên, người bán sẽ tìm thuê những con tàu vận chuyển nhiều
17
tuổi, lai lịch không mấy rõ ràng với giá cước thấp để tối đa hóa lợi nhuận. Ngược lại, nếu
chuyển sang mua theo điều FOB những lô hàng như trên thì người mua Việt Nam có nhiều
cơ hội và khả năng kiểm soát được các điều kiện về hợp đồng th tàu nói chung và tình
trạng pháp lý của con tàu nói riêng.
_ Một vấn để nữa đặt ra là cần có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu và doanh nghiệp vận tải biển để làm tốt khâu này. Các cơ quan quản
lý nhà nước hữu quan cũng cần có những biện pháp khuyến khích hỗ trợ để các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu chuyển mạnh sang mua FOB bán CIF. Đây cũng sẽ là một biện
pháp chủ động để tăng thị phần của đội tàu Việt Nam trên thị trường hàng hải khu vực và
quốc tế.1
3.1.2, Tình huống 2:
Hiện nay do đội tàu của Việt Nam còn nhỏ và tuổi già nên đại bộ phận hàng nhập khẩu của
nước ta đều theo điều kiện CFR Incoterms, nghĩa là, ngoài tiền hàng, người bán ở nước
ngồi cịn ký kết hợp đồng lo liệu tất cả mọi chi phí về vận tải cho đến khi hàng về tới cảng
Việt Nam.
Đầu năm 2020 vừa qua, doanh nghiệp A. ở thành phố Hồ Chí Minh mua 1.000 tấn thép
cuộn không gỉ, trị giá 180.000 USD, để làm vỏ đồ hộp thực phẩm xuất khẩu từ người bán
B ở EU theo điều kiện CFR Incoterms 2010 cảng thành phố Hồ Chí Minh. Vận đơn (Bill
of Lading) của lô hàng - Bằng chứng của hợp đồng vận chuyển giữa người bán B và chủ
tàu cũng ở EU ghi rõ tiền cước lô hàng đã được trả trước 100% (Freight Prepaid). Theo
thông lệ quốc tế và quy định tại Điều 148 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, chứng từ này
là cơ sở pháp lý quan trọng để xác lập quyền sở hữu và định đoạt hàng hóa của người mua
phía Việt Nam sau khi hợp đồng mua bán hồn tất. Ngay sau khi tàu cập cảng, người mua
phía Việt Nam đã hoàn tất mọi thủ tục hải quan để nhận hàng, tuy vậy, thuyền trưởng thay
mặt chủ tàu tuyên bố dù vận đơn ghi tiền cước đã được trả trước nhưng thực tế, do tình
hình dịch bệnh Covid-19 lan tràn ở EU đầu năm 2020, người bán gặp khó khăn
1
LS. Võ Nhật Thắng – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, “Rủi ro trong
18
thương mại và hàng hải quốc tế” về tài chính nên mới chỉ trả được 50%. Vì vậy chủ tàu yêu
cầu người mua phía Việt Nam, nếu muốn nhận hàng, phải trả nốt 50% tiền cước còn lại.
❖ Nhận định:
_ Chúng ta có thể nhận thấy đây là một yêu cầu hết sức vơ lý vì thực tế phía Việt Nam đã
mua hàng theo điều kiện CFR - nghĩa là tiền cước vận chuyển do người bán chi trả. ➢ Nếu
chủ tàu khơng chịu giao trả hàng thì sẽ u cầu tòa án Việt Nam sai áp bắt giữ tàu và khởi
kiện chủ tàu tại tòa án Việt Nam đòi bồi thường mọi thiệt hại xảy ra. _Tuy vậy, chủ tàu lập
luận theo điều khoản tài phán (Jurisdiction Clause) ghi trong vận đơn, nếu có tranh chấp
xảy ra thì phải xét xử tại tịa án ở EU, nơi họ có trụ sở chính và luật của EU sẽ được áp
dụng.
➢ Khơng cịn lựa chọn nào khác, Luật sư của người mua phía Việt Nam đã xúc tiến
mọi thủ tục cần thiết xin Tịa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh bắt giữ
tàu. Sau khi tham vấn Luật sư tư vấn của mình ở EU, cuối cùng chủ tàu cũng đành
giao trả hàng đầy đủ cho người mua phía Việt Nam.
❖ Nhận xét: Nói chung luật pháp của nhiều nước, kể cả những nước có chế định luật
thương mại hàng hải lâu đời như Anh, Mỹ, Pháp, Nhật và Úc cũng cho rằng cách
quy định đơn phương như vậy là trái với trật tự công cộng và trở nên vô hiệu, rằng
quy định như vậy làm phương hại tới quyền lợi chính đáng của người nhận hàng ở
cảng đích mà phần lớn các trường hợp họ khơng phải là một bên trực tiếp giao dịch
ký kết hợp đồng thuê tàu với người vận chuyển, đặc biệt là trường hợp họ mua hàng
theo điều kiện CFR.
3.1.3, Tình huống 3:
Tiếp nối vấn đề đề cập, trong thực tiễn luật hàng hải Anh, vụ kiện nổi tiếng “EL
AMRIA” năm 1979 đã minh chứng cho các lập luận trên. Trong vụ kiện này, một tàu Ai
Cập chở lô hàng khoai tây từ Ai Cập đến cảng Liverpool Vương Quốc Anh bị giảm phẩm
chất nặng. Giám định viên, do người nhận hàng tại cảng Liverpool chỉ định, xác nhận
nguyên nhân hàng bị hư hỏng biến chất là do chất xếp không đúng quy cách trên tàu và do
việc dỡ hàng chậm chạp. Sau khi bị chủ tàu từ chối bồi thường tổn thất, người nhận hàng
19
ở Liverpool đã kiện chủ tàu Ai Cập ra tòa án Anh. Tuy nhiên, chủ tàu đề nghị tòa án
Anh bãi nại vụ kiện và đưa về Ai Cập để xét xử vì họ lập luận trong vận đơn có điều khoản
tài phán quy định tranh chấp nếu có phải được giải quyết tại Ai Cập, tuân thủ theo luật Ai
Cập nơi chủ tàu có trụ sở kinh doanh chính.
Chánh án Sheen J., của tòa án Anh - Chủ tọa phiên tòa, đã thẳng thừng bác bỏ lập luận của
chủ tàu và cho rằng tịa án Anh hồn tồn có thẩm quyền giải quyết vụ kiện vì _ Hư hỏng
và biến chất của lơ hàng xảy ra trong q trình dỡ hàng ở cảng Liverpool, Vương quốc
Anh, không liên quan gì đến Ai Cập.
_ Người nhận hàng là người Anh đã khởi kiện trước tịa án Anh, vì vậy tịa án Ai Cập khó
có thể có bằng chứng kỹ thuật về quá trình dỡ hàng tại Liverpool Vương quốc Anh và khó
tiến hành việc giám định, điều tra các khía cạnh liên quan tới nơi xảy ra vụ việc. - Người
bán ở Ai Cập đã hoàn thành trách nhiệm, tranh chấp này xảy ra với người mua và vận
chuyển nên không giải quyết theo hợp đồng mà bên bán đã ký với bên vận chuyển.
_ Điều khoản tài phán trong vận đơn của chủ tàu Ai Cập là đơn phương một chiều, không
lưu ý thỏa đáng tới luật pháp hiện hành của bất cứ nước nào khác ngoài Ai Cập cho phép
nguyên đơn (chủ hàng Anh) có quyền khởi kiện trước tòa án Anh.
3.2, Ưu – nhược điểm của điều kiện CFR
3.2.1. Ưu điểm
_ Cân bằng trách nhiệm giữa bên mua và bên bán
Theo điều kiện CFR được quy định trong Incoterms 2020, người bán sẽ chịu rủi ro
đến khi hàng lên thuyền từ cảng đi và chịu chi phí cho tới khi hàng lên cảng đích, người
mua sẽ chịu rủi ro từ khi hàng lên tàu từ cảng đi và chịu chi phí từ khi hàng lên cảng đích.
Như vậy, nhìn chung, trong quá trình hàng từ nơi chứa hàng của người bán đề tay người
mua, trách nhiệm được san đều cho đôi bên. So sánh với các điều kiện EXW ( người bán
chỉ chịu rủi ro và chi phí khi hàng ở kho), DPU( người mua chỉ chịu rủi ro và chi phí thủ
tục nhập khẩu), DDP( người mua chỉ chịu rủi ro và chi phí khi hàng giao đến nơi nhận),…
CFR có ưu thế về tính cân bằng trách nhiệm giữa người bán và người mua. CFR cũng là
20