BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ QUỲNH MY
XỬ LÝ THƠNG ĐIỆP VỀ AN TỒN GIAO THƠNG HÀ NỘI
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ QUỲNH MY
XỬ LÝ THƠNG ĐIỆP VỀ AN TỒN GIAO THƠNG HÀ NỘI
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý Báo chí và Truyền thơng
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS.ĐINH VĂN HƯỜNG
HÀ NỘI, NĂM 2022
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày …../……/202….
Chủ tịch Hội đồng
PGS,TS.NGUYỄN VĂN DỮNG
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan, đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS,TS. Đinh Văn Hường. Các số liệu và kết luận trong luận
văn chưa từng cơng bố trong bất kì một cơng trình nào trước đây.
Hà Nội, ngày......tháng........năm 202
Tác giả
NGUYỄN THỊ QUỲNH MY
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng gửi đến PGS,TS. Đinh Văn Hường,
người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tác giả thực hiện luận văn lời cảm ơn
chân thành nhất. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng đã nhận được
sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của các thầy cơ giáo, các cơ quan, các bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình.
Và cuối cùng, tác giả cũng bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng
nghiệp đã hết lòng giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, chia sẻ kinh
nghiệm, cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và người thân đã động viên
giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày ….. tháng …… năm 202
Tác giả
NGUYỄN THỊ QUỲNH MY
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ATGT
: An toàn giao thơng
BTV
: BTV
PV
: PV
NXB
: Nhà xuất bản
PGS, TS
: Phó Giáo sư, tiến sĩ
QLNN
: Quản lý nhà nước
ThS
: Thạc sĩ
TS
: Tiến sĩ
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Tên hình, biểu đồ
Trang
Bảng 2.1: Thông điệp về ATGT Hà Nội trên báo Hà Nội Mới
44
Bảng 2.2: Thông điệp về ATGT Hà Nội trên báo điện tử Dân trí
44
Bảng 2.3: Thơng điệp về ATGT trên báo Tiền phong điện tử
45
Hình 2.1: Yêu cầu về mô tả ảnh trên kho dữ liệu Báo Dân trí
41
Sơ đồ 2.1. Quy trình tổ chức, xử lý sản xuất nội dung thông điệp
61
về ATGT trên báo mạng điện tử khảo sát
Sơ đồ 2.2. Quy trình tổ chức, xử lý sản xuất thông tin về ATGT
Hà Nội của báo Dân trí
63
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ XỬ LÝ THƠNG ĐIỆP VỀ
AN TỒN GIAO THÔNG TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ ....................... 9
1.1. Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn ................... 9
1.2. Vai trị của xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng trên báo mạng
điện tử ................................................................................................... 14
1.3. Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức xử lý thơng điệp về an
tồn giao thơng trên báo mạng điện tử ................................................. 20
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ AN TỒN GIAO THƠNG
HÀ NỘI TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY ................................ 31
2.1. Sơ lược về các tờ báo khảo sát....................................................... 31
2.2. Khảo sát thực trạng xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên
ba tờ báo mạng điện tử............................................................................ 34
2.3. Đánh giá chung .............................................................................. 68
Chương 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XỬ LÝ
THƠNG ĐIỆP VỀ AN TỒN GIAO THƠNG HÀ NỘI TRÊN BÁO
MẠNG ĐIỆN TỬ THỜI GIAN TỚI ........................................................... 74
3.1. Những vấn đề đặt ra trong xử lý thông điệp an tồn giao thơng Hà Nội
trên báo mạng điện tử Việt Nam ............................................................... 74
3.2. Một số giải pháp tăng cường xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng
Hà Nội tại các tờ báo mạng điện tử Việt Nam trong thời gian tới ....... 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 105
TÓM TẮT LUẬN VĂN .............................................................................. 136
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia thì bình quân hàng ngày cả
nước có trên, dưới 20 người chết do tai nạn giao thông (TNGT). Không chỉ gây
ra những cái chết thương tâm, TNGT còn để lại nhiều hệ lụy với người còn
sống, như ám ảnh, suy sụp về tâm lý, kinh tế gia đình giảm sút…Vì thế việc
kìm chế và kéo giảm TNGT không chỉ là trách nhiệm của riêng ai, đó phải là
trách nhiệm chung của tồn xã hội. Trong đó, giải pháp căn cơ đã và đang được
các cơ quan chức năng triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả thời gian qua là
đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, hướng tới xây dựng văn
hóa giao thơng trong cộng đồng. Là một trong những điểm nóng nhất cả nước
về an tồn giao thơng, Hà Nội trong 9 tháng năm 2021, toàn thành phố xảy ra
589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 249 người và bị thương 376 người. Về
nguyên nhân tai nạn, chiếm tỷ lệ cao nhất là lỗi người điều khiển phương tiện
không chú ý quan sát (209 vụ, chiếm 34,48%). Tiếp đến là đi sai phần đường
(112 vụ, chiếm 19,02%); vi phạm về tốc độ (69 vụ, chiếm 11,71%)…
Trước thực trạng mất an tồn giao thơng ở cả nước nói chung và ở Hà
Nội nói riêng, cần sự chung tay tuyên truyền của các cấp, các ngành chức năng,
trong đó vai trị trọng tâm là ở các loại hình báo chí. Trong những năm qua, các
cơ quan báo chí, các phóng viên, biên tập viên đã dành sự quan tâm đặc biệt
đối với công tác bảo đảm trật tự ATGT. Các tác phẩm báo chí đa dạng, từ những
tin ngắn phản ảnh tình hình trật tự, ATGT, những hình ảnh những video clip
ngắn lên án những hành vi vi phạm, những hành vi “phi văn hố” trong giao
thơng, những chùm bài viết phổ biến, hướng dẫn người dân về kỹ năng tham
gia giao thơng an tồn, đến những tuyến bài phóng sự điều tra, phản ảnh có
chiều sâu những bất cập trong quy định pháp luật, những tồn tại, hạn chế về kết
cấu hạ tầng, quản lý vận tải, đăng ký, đăng kiểm và trong thực thi công vụ, Với
2
hình thức tuyên truyền hết sức phong phú, các tác phẩm báo chí đã góp phần
nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến tích cực về hành vi của người tham gia
giao thông cũng như giúp các cơ quan chức năng hoàn thiện các quy định pháp
luật, khắc phục xử lý các điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông, xử lý
nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm trong thực thi nhiệm vụ,…Các cơ quan
báo chí đã tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng rượu bia đối với sức khỏe
của con người và người tham gia giao thông; về đội mũ bảo hiểm khi tham gia
giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy; xây dựng chuyên đề “Vì ATGT Hà Nội”
phát sóng hằng tuần thời lượng 10 phút; tổ chức cuộc thi tác phẩm truyền hình
chất lượng cao về ATGT. Báo chí thực tế đã giúp từng bước kiềm chế, kéo
giảm TNGT, khắc phục ùn tắc giao thông.
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, một số tờ báo, trong đó có báo
mạng điện tử vẫn chưa khai thác tốt các ưu thế của mình để truyền thơng các
thơng điệp về an tồn giao thơng; và nhất là theo dõi vấn đề xử lý nó trong thực
tế. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tuyên truyền chưa được duy
trì thường xuyên, liên tục; chưa thật sáng tạo, đổi mới nội dung, phương pháp
tuyên truyền, chưa chuyển tải được nhiều thông tin, văn bản pháp luật quy định
về ATGT đến với mọi người dân, nhất là người dân ở các địa bàn nông thôn,
người lao động sinh sống trong các khu nhà trọ, khu tập thể… Các tờ báo chưa
có chuyên mục riêng về an tồn giao thơng thủ đơ, chưa có kế hoạch bài bản
trong truyền thông các thông điệp, chưa tận dụng ưu thế đa phương tiện vào
sản xuất các thông điệp truyền thông…
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có ngun
nhân ở khâu quản lý. Chính vì sự bng lỏng trong khâu quản lý và chưa chú
trọng đầu tư các nguồn lực cần thiết mà báo mạng điện tử chưa thể khai thác
hết thế mạnh của mình để truyền thơng các thơng điệp an tồn giao thơng Hà
Nội. Do đó đây là vấn đề cần thiết và cấp bách phải nghiên cứu.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề: “Xử lý
3
thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử hiện nay " làm
luận văn tốt nghiệp thạc sĩ báo chí học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua khảo sát của tác giả có thể thấy đã có một số cơng trình, bài báo,
tác phẩm của các tác giả nghiên cứu ở các góc độ khác nhau như sau:
- Các cơng trình làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài
- Tạ Ngọc Tấn (chủ biên), “Cơ sở lý luận báo chí” (1999), của NXB Văn
hóa thơng tin. Nội dung cuốn sách gồm 7 chương trình bày những quan niệm
chung về báo chí; tính giai cấp của báo chí; tự do báo chí; các chức năng của
báo chí; luật pháp, nguyên tắc hoạt động và lao động sáng tạo trong báo chí.
- Nguyễn Văn Dững (2012), “Cơ sở lý luận báo chí”, Nxb Lao động.
Cuốn sách này tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, trên cơ sở đề cập các
quan điểm khác nhau về báo chí, bám sát các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
báo chí truyền thơng. Với giáo trình này tác giả Luận văn sẽ tham khảo và kế
thừa hệ thống lý luận về khái niệm báo chí, báo truyền hình.
- Nguyễn Thế Kỷ (2012), Cuốn sách "Công tác chỉ đạo quản lý nhà nước
báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Cuốn sách gồm 3 chương, trong đó chương 3 tập trung phân tích, luận giải
và đề xuất (5 nhiệm vụ) và (6 giải pháp) tăng cường nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác lãnh đạo, QLNN đối với báo chí và báo điện tử trong thời gian tới
ở nước ta. Những giải pháp mà cuốn sách nêu ra rất sát với thực tiễn, có giá trị
tham khảo cao.
- Các nghiên cứu về thơng điệp trên báo chí
- Nguyễn Thị Hương (2019), Quản lý thơng điệp truyền thơng về hình
ảnh người phụ nữ trên báo chí thủ đơ (Khảo sát: báo Phụ nữ Thủ đô, Tuổi trẻ
Thủ đô, Hà Nội Mới), Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý thông điệp truyền
4
thơng về hình ảnh người phụ nữ trên báo chí như khái niệm, tầm quan trọng,
nội dung, phương thức quản lý. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thơng
điệp truyền thơng về hình ảnh người phụ nữ trên báo chí thủ đơ, từ đó chỉ rõ ưu
điểm, hạn chế của việc quản lý này. Đề xuất các phương hướng và giải pháp
chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thông điệp truyền thơng về hình ảnh người
phụ nữ trên báo chí Thủ đơ trong thời gian tới.
- Nguyễn Đức Dũng (2019), Thơng điệp hình ảnh lực lượng cơng an
nhân dân trên báo mạng điện tử ngành công an (Khảo sát dữ liệu năm 2018),
Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tun truyền. Luận văn đã Hệ thống hóa
một số vấn đề lý luận về thơng điệp hình ảnh lực lượng CAND trên báo mạng
điện tử. Phân tích, đánh giá thực trạng thơng điệp hình ảnh lực lượng CAND
trên báo mạng điện tử ngành Công an hiện nay. Đề xuất các phương hướng và
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượngthơng điệp truyền thơng hình ảnh
lực lượng CAND trên báo mạng điện tử ngành Công an trong thời gian tới.
- Các cơng trình liên quan tới báo mạng điện tử
- Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử - những vấn đề
cơ bản, Nxb Chính trị - Hành chính. Cuốn sách trình bày q trình hình thành
và phát triển internet và báo mạng điện tử; đặc trưng cơ bản, mơ hình tịa soạn,
quy trình sản xuất thơng tin, viết và trình bày nội dung báo mạng điện tử; giới
thiệu một số tờ báo mạng tiêu biểu ở Việt Nam.
- Nguyễn Trí Nhiệm (2014), Báo mạng điện tử đặc trưng và phương
pháp sáng tạo, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách nêu rõ kiến thức và kỹ năng
hết sức cơ bản của báo mạng điện tử như: lịch sử ra đời và phát triển của báo
mạng điện tử; đặc trưng cơ bản của báo mạng điện tử; quy trình sản xuất báo
mạng điện tử; cơng chúng báo mạng điện tử; viết cho báo mạng điện tử; tổ chức
diễn đàn trên báo mạng điện tử; hình ảnh trên báo mạng điện tử; âm thanh trên
báo mạng điện tử; video trên báo mạng điện tử...
- Nguyễn Hoàng Lan Chi (2014), Xu hướng phát triển báo mạng điện tử
5
dành cho thiết bị di động ở việt nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền. Luận văn hê ̣ thố ng những vấ n đề lý luâ ̣n liên quan đế n
báo mạng điện tử và sự phát triển báo mạng điện tử dành cho thiết bị di động:
khái niệm xu hướng, thiết bị di động, báo mạng điện tử; đặc điểm của báo mạng
điện tử dành cho thiết bị di động; vai trò của việc phát triển báo mạng điện tử
dành cho thiết bị di động và những tác động đến thói quen đọc báo mạng điện
tử của công chúng; Khảo sát trạng xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành
cho thiết bị di động ở Việt Nam thông qua 3 tờ báo VTV News (vtv.vn), Tuổi
trẻ Online (tuoitre.vn) và VietnamPlus (vietnamplus.vn);Thông qua kết quả
khảo sát, đề xuất mô ̣t số giải pháp thúc đẩy xu hướng phát triển báo mạng điện
tử dành cho thiết bị di động ở Việt Nam.
- Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Tổ chức diễn đàn trên báo mạng
điện tử (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia. Nội dung của cuốn sách
được chia thành 4 chương. Cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích,
thiết thực dành cho các giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên chuyên ngành
báo chí, đặc biệt là chuyên ngành báo mạng điện tử; những phóng viên, biên
tập viên của các trang báo mạng điện tử; và những độc giả quan tâm, muốn
nghiên cứu, tìm hiểu về diễn đàn trên báo mạng điện tử.
Như vâ ̣y có thể thấ y, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về đề tài, tuy
nhiên chưa có cơng trình nào tập trung đi sâu vào việc xử lý thơng điệp về an
tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử. Do vâ ̣y, đề tài luâ ̣n văn của tác
giả là không trùng lă ̣p với các công trình nghiên cứu trước đó. Đây sẽ là nguồ n
tài liê ̣u tham khảo để tác giả hoàn thành luâ ̣n văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về xử lý thông điệp về an tồn
giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng
xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử hiện nay,
6
từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xử lý thơng
điệp về an tồn giao thông Hà Nội trên báo mạng điện tử trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, tác giả tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về xử lý thơng điệp về an
tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử.
- Khảo sát thực trạng xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên
báo mạng điện tử, chỉ rõ thành công, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường xử lý thông điệp về
an tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng
Hà Nội trên báo mạng điện tử.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi khảo sát: Báo mạng điện tử Dantri.com.vn, báo
Hanoimoi.com.vn, báo Tienphong.vn. Đây là 3 tờ báo mạng điện tử tiêu biểu
trong việc phản ánh thông tin, thông điệp về an tồn giao thơng Hà Nội và có
lượng tin, bài về an tồn giao thơng Hà Nội tương đối lớn để tác giả luận văn
khảo sát, thống kê, đánh giá.
- Thời gian khảo sát: Năm 2021-2022
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là các lý thuyết về báo chí, lý thuyết đóng khung,
lý thuyết can thiệp xã hội, các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí,
quản lý báo chí truyền thông.
7
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và nghiên cứu tư liệu, tài liệu về chủ đề này:
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả thu thập, nghiên cứu, kế thừa những
tài liệu đã được các tác giả công bố nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp thống kê, phân tích thơng điệp các tác phẩm báo chí liên
quan đến xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử,
chỉ ra những thành công, hạn chế để đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả
nhằm tăng cường xử lý thơng điệp về an tồn giao thông Hà Nội trên báo mạng
điện tử trong thời gian tới.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả sử dụng phương pháp này để lấy
ý kiến của những nhà lãnh đạo, quản lý ở các tờ báo mạng điện tử khảo sát
nhằm làm rõ thực trạng xử lý thông điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên báo
mạng điện tử. Cụ thể, tác giả phỏng vấn sâu 03 lãnh đạo các tờ báo khảo sát.
Ngồi ra, trong q trình nghiên cứu và thể hiện, luận văn cũng kết hợp
sử dụng một số phương pháp như: So sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích, tổng
hợp, nghiên cứu thực tiễn... Đồng thời tham khảo một số giáo trình để đối chiếu
giữa lý thuyết và thực tế xử lý thông điệp về an tồn giao thơng Hà Nội trên
báo mạng điện tử.
6. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài bổ sung lý thuyết về xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà
Nội trên báo mạng điện tử như hệ thống khái niệm, vai trò, xác định những nội
dung và đưa ra được những yếu tố trong xử lý thông điệp về an tồn giao thơng
Hà Nội trên báo mạng điện tử.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị đối với Ban biên tập, cán bộ, phóng
viên các tờ báo mạng điện tử nói chung và trực tiếp những người làm việc tại
các tờ báo khảo sát nói riêng.
8
Đề tài cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ sở đào tạo báo chí, những
cán bộ, giảng viên, sinh viên có quan tâm tới đề tài này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Xử lý thông điệp về an tồn giao thơng trên báo mạng điện tử
- Một số vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng Hà Nội
trên báo mạng điện tử hiện nay
Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nhằm tăng cường xử lý thông điệp
về an tồn giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử thời gian tới
Nội dung luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nêu trên.
9
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ XỬ LÝ THƠNG ĐIỆP VỀ AN TỒN
GIAO THƠNG TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
1.1. Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn
1.1.1. Báo mạng điện tử
Trên thế giới, loại giấy này có nhiều tên gọi khác nhau như báo điện tử,
tạp chí điện tử, tạp chí điện tử. …
Ở Việt Nam, thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến như báo
Nhân dân điện tử, báo Lao động, báo Tuổi trẻ… Ngồi ra cịn có nhiều tên gọi
khác như báo điện tử, báo điện tử. , báo điện tử, báo điện tử, v.v.
Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Báo chí 2016: “Báo chí điện tử là loại hình
báo chí sử dụng ngơn từ, hình ảnh, âm thanh để truyền tải trên môi trường
mạng, bao gồm báo mạng và tạp chí điện tử. ”[33]. Giấy phép hoạt động báo
chí của báo điện tử do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp. Cơ quan
chủ quản của báo điện tử là cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp.
Một tờ báo điện tử có những đặc điểm sau: (i) Khả năng cập nhật thông
tin nhanh chóng và phong phú. Thơng tin của báo mạng ngày nay là sự hội tụ
của cả giấy (văn bản) và âm thanh (audio). (ii) Có khả năng tương tác đa chiều.
(iii) Có dung lượng lớn cả về khơng gian và thời gian - lượng thông tin gần như
không giới hạn. (iv) Có vai trị to lớn đối với xã hội, cụ thể: Báo mạng điện tử
ra đời đã góp phần tạo ra bước ngoặt trong quá trình truyền và nhận thông tin,
đồng thời làm thay đổi phương thức hoạt động của báo chí. . Ngồi ra, báo điện
tử cũng đã góp phần tăng cường mối quan hệ giữa nhà báo, cơng chúng và
nguồn tin cũng như góp phần tăng hiệu quả xã hội của báo chí.
10
Có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về báo điện tử:
Tác giả Trần Quang Huy định nghĩa: "Báo điện tử là một loại hình báo
chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sinh động bằng văn bản và âm thanh
chỉ trong thời gian từ vài phút đến vài giây, khơng giới hạn số lượng. Báo chí
điện tử là loại hình báo chí ra đời từ sự kết hợp lợi thế của báo in, báo nói, báo
hình, sử dụng công nghệ cao làm yếu tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền
tải thơng tin trên mạng Internet toàn cầu ”[29, tr.12]
Tác giả Thang Đức Thắng định nghĩa: “Báo điện tử là tờ báo thực hiện
chức năng báo chí thơng qua mạng Internet”. Nhưng cũng theo chính tác giả:
“Tên gọi chính xác nhất của loại hình báo chí này là báo chí Internet, nhưng
trong tiếng Việt thì hơi dài dịng nên chúng tơi gọi là báo chí mạng”. [29, tr13]
Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “Báo điện tử là loại hình
báo chí được xây dựng dưới dạng trang thông tin điện tử và được đăng tải trên
mạng Internet”. [11, tr.25]
Ngồi ra, cịn có khái niệm báo chí trực tuyến là loại hình báo chí được
xuất bản trên Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ
HTML, để công chúng sử dụng Internet.
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, việc sử dụng các khái niệm này
gắn liền với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy hoạt động của loại hình báo
chí này. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm báo mạng điện tử như
sau: Báo mạng điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới dạng trang
thơng tin điện tử, đưa lên mạng Internet, có ưu điểm trong việc truyền tải thơng
tin nhanh chóng, tức thì, đa phương tiện và có tính tương tác cao.
1.1.2. Xử lý
Xử lý là một động từ, chỉ rõ một hành động nào đó. Ví dụ như: xử lý
thơng tin, xử lý vấn đề, xử lý hồ sơ, xử lý công việc, …. Trong cuộc sống hàng
ngày của chúng ta.
Hoặc rộng hơn là một số câu từ hay được sử dụng như: Quá trình xử lý
11
diễn ra nhanh chóng, Cơng việc thu thập và xử lý thơng tin cần địi hỏi nhiều
thời gian, Hà nội tăng cường xử lý các đối tượng vi phạm giao thơng, …
Theo từ điển Tiếng Việt, xử lý có nghĩa là Tạo ra những tác động vật
lý, hóa học nhất định để biến đổi hợp với mục đích; Áp dụng vào cái gì đó
những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng; Xem xét và giải quyết về
mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó..
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm xử lý như sau:
Xử lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể lên khách thể nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã
đặt ra trong môi trường ln biến động. Như vậy q trình xử lý được thực hiện
thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể (đưa ra quyết định xử lý) và khách
thể (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể xử lý).
1.1.3. Thơng điệp
Hiểu theo một cách thơng thường thì thơng điệp là nội dung thông tin về
một vấn đề nào đó được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thông
điệp truyền thông chứa đựng những thông tin mà người truyền thông muốn chia
sẻ với đối tượng của mình.
Khái niệm này cho thấy thuật ngữ thơng điệp được dùng trong lĩnh vực
truyền thông. Thông điệp là một phát ngơn hồn chỉnh dành cho một nhóm đối
tượng cụ thể, trong một hoàn cảnh nhất định nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.
Trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, tác giả Nguyễn
Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng quan niệm rằng: “Thông điệp là nội
dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Thơng điệp
chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, địi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh
nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật... được mã hố theo một hệ thống ký
hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận
và có chung cách viết - tức là có khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống
biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải
thông điệp”[8, tr.13].
12
Trong phạm vi luận văn này, tác giả quan niệm “Thông điệp là tập hợp
những thông tin cốt lõi, thể hiện ý chí của người truyền thơng, nhà truyền thơng,
người làm nên sự kiện muốn truyền tải, muốn lưu lại trong tâm trí cơng chúng
và duy trì mối quan hệ với cơng chúng”.
1.1.4. An tồn giao thơng, thơng điệp về an tồn giao thơng
- An tồn giao thơng
Theo Từ điển Tiếng Việt, “an toàn là yên ổn, loại trừ nguy hiểm, hoặc
tránh được sự cố” [45,Tr7].
Nhóm nghiên cứu của Tổng cục Giao thơng đường bộ cho rằng: An tồn
giao thơng là tuân thủ các quy định của pháp luật, là sự bình an khi tham gia giao
thơng. Vi phạm an tồn giao thơng là hành vi của người tham gia giao thông
không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về an tồn giao thơng.[37, Tr2].
Ở đây, nhóm tác giả này đã đưa ra khái niệm về an tồn giao thơng ở nghĩa rộng
hơn. An tồn giao thơng không chỉ mang ý nghĩa thông thường là sự an tồn cho
người và phương tiện tham gia giao thơng mà còn hàm chứa cả sự tuân thủ quy
định pháp luật về giao thông của người tham gia giao thông.
Một nghiên cứu khác cũng cho rằng “Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ
nhằm tăng cường đảm bảo an tồn giao thơng đường bộ ở Việt Nam”. Theo
ơng, “An tồn giao thơng là tình trạng n ổn hồn tồn khơng có nguy hiểm,
khơng có sự cố, khơng làm thay đổi tính chất, trạng thái, kể cả hình dạng đối
với chính đối tượng trong hoạt động giao thơng. An tồn giao thơng phụ thuộc
vào nhiều yếu tố: người tham gia giao thông, phương tiện giao thông, cơ sở hạ
tầng giao thông và môi trường. [37, tr23]
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm an tồn giao
thơng theo cách hiểu sau: “An tồn giao thơng là sự an tồn đối với người tham
gia lưu thông trên các phương tiện đường bộ, hàng hải, hàng không, là sự chấp
hành tốt các luật lệ về giao thông, cư xử phù hợp khi lưu thông trên các phương
tiện giao thông”.
13
- Thơng điệp về an tồn giao thơng
Thơng điệp về an tồn giao thơng là ý chí của Đảng, Nhà nước, các cơ
quan chức năng trong việc mong muốn người dân nâng cao nhận thức, hiểu biết
pháp luật về giao thơng và nâng cao dân trí trong việc tham gia giao thơng một
cách văn hố, văn minh nhằm đảm bảo an tồn giao thơng.
Qua phân tích các vụ tai nạn giao thông cho thấy, ý thức chấp hành pháp
luật của người tham gia giao thơng cịn thấp chính là ngun nhân gây ra phần
lớn các vụ va chạm và tai nạn giao thông. Trước thực trạng này, từ nhiều năm
nay các cấp, ngành chức năng đã chủ động đẩy mạnh cơng tác tun truyền
thơng điệp an tồn giao thơng nhằm nâng cao ý thức chấp hành về bảo đảm trật
tự an tồn giao thơng của người dân.
Sau khi đại dịch COVID-19 cơ bản được đẩy lùi, hoạt động giao thông
vận tải, mật độ phương tiện và nhu cầu giao thông đang gia tăng dần trở lại như
trước khi có dịch, nên tình hình tai nạn giao thơng và ùn tắc giao thông diễn
biến phức tạp trở lại. Để dần thiết lập trạng thái bình thường mới về trật tự an
tồn giao thơng trong xã hội với việc Luật Phịng, chống tác hại của rượu, bia
và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP đang dần đi vào đời sống, giúp kéo giảm tai
nạn giao thơng và ùn tắc giao thơng, Ủy ban An tồn giao thông quốc gia yêu
cầu các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình các diễn đàn trên mạng xã hội
tăng cường quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến các thơng điệp về an
tồn giao thơng.
1.1.5. Xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng trên báo mạng điện tử
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, xử lý thơng điệp bảo vệ an tồn
giao thơng Hà Nội trên báo mạng điện tử là sự tác động có định hướng, có kế
hoạch của cơ quan quản lý báo chí, cơ quan chủ quản và đội ngũ lãnh đạo, quản
lý tại cơ quan báo chí đến đối tượng nhằm đạt những mục tiêu đề ra về an toàn
giao thông tại Hà Nội trên tất cả các mặt khác nhau.
Tuy nhiên trong luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu sự xử lý trong
14
phạm vi tịa soạn. Do vậy xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng trên mạng
điện tử được hiểu là sự tác động có kế hoạch, có định hướng của lãnh đạo Ban
biên tập, lãnh đạo các phòng, ban các cơ quan báo chí đối với đội ngũ nhân lực
nhằm đảm bảo quy trình sản xuất, kết hợp các nguồn lực trong phạm vi cơ quan
một cách hiệu quả nhất để đưa thơng điệp an tồn giao thơng tới cơng chúng
mục tiêu.
1.2. Vai trị của xử lý thơng điệp về an tồn giao thơng trên báo mạng
điện tử
1.2.1. Góp phần đảm bảo thông điệp truyền thông đúng tôn chỉ, mục
đích của tịa soạn
Trong bối cảnh xử lý thơng điệp hiện nay, xử lý thơng điệp cơ quan báo
chí ở tất cả các mặt hoạt động là yêu cầu đặt ra, cũng là vấn đề cần giải quyết.
Chất lượng giải quyết, xử lý vấn đề xử lý thông điệp là việc cơ quan chủ quản,
ban biên tập cơ quan báo chí thực hiện nghiêm túc u cầu xử lý thơng điệp
toàn diện hoặc một phần yêu cầu của đề án xử lý thông điệp.
Hiệu quả đánh giá chất lượng xử lý thông điệp phải căn cứ cụ thể trên
các mặt:
- Xử lý thơng điệp được nội dung, hình thức báo chí để xây dựng cơ quan
báo chí.
- Xử lý thơng điệp được các dữ liệu thông tin nội bộ của tòa soạn, bao
gồm dữ liệu về cán bộ, dữ liệu hành chính như phần mềm chi trả thù lao, nhuận
bút, phần mềm quản lý năng suất lao động
- Xử lý thông điệp được công tác gửi bài, biên tập, duyệt bài
- Xây dựng được tòa soạn hội tụ…
Thứ hai, phát hành nhanh chóng.
Khi đã xử lý thơng điệp báo chí, bắt buộc phải đăng tải trên môi trường
mạng. Hiện nay, các sản phẩm báo chí khi được đưa lên mơi trường Internet,
có nghĩa là có thể tận dụng được sức mạnh siêu lan tỏa, siêu kết nối, siêu tương
tác để đem tờ báo đến được với đông đảo công chúng.
15
Trước đây, khi chưa được xử lý thông điệp, tờ báo bản in thường mất
nhiều thời gian để đến được với tay người tiêu dùng. Thậm chí, khi đến được
với cơng chúng, tính thời sự của bài nghiên cứu giảm nhiều.
Tuy nhiên, với báo chí online, các cơ quan báo chí cần tận dụng để cập
nhật nhanh chóng các loại tin bài, các cơng trình nghiên cứu để đảm bảo đưa
đến tay cơng chúng độc giả một cách nhanh chóng nhất.
Độ trễ hay cập nhật, tính nhanh nhạy của bài báo khoa học phụ thuộc
nhiều vào chủ ý của Ban biên tập. Vì vậy, Ban biên tập cần tận dụng thế mạnh
của xử lý thông điệp tờ báo để tăng lượng cơng chúng đón đọc online, từ đó,
có thể tăng cường mức độ ảnh hưởng, tầm ảnh hưởng, thương hiệu, uy tín của
tờ báo chí trong làng học thuật trong nước, thậm chí là quốc tế.
Có thể thấy, mỗi tịa soạn lại có những tơn chỉ, mục đích riêng, do vậy
việc quản lý thơng điệp về ATGT vừa góp phần mang tới công chúng những
thông tin, thông điệp đúng đắn, vừa phải đảm bảo thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ của mình.
Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam đã cơ bản được
kiểm sốt tốt, vì vậy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kêu gọi tồn xã hội
thiết lập trạng thái bình thường mới, vừa tiếp tục phòng, chống dịch bệnh hiệu
quả đồng thời tập trung phát triển kinh tế - xã hội.
Các cơ quan, đơn vị truyền thông cần tiếp tục tuyên truyền nội dung, ý
nghĩa nhân văn của những quy định liên quan đến bảo đảm trật tự an tồn giao
thơng trong Luật Phịng, chống tác hại của rượu, bia; Nghị định số
100/2019/NĐ-CP, ngày 30-12-2019, của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Nghị định số
10/2020/NĐ-CP, ngày 17-1-2020 quy định về kinh doanh và điều kiện kinh
doanh vận tải bằng xe ô tô.
Mặt khác, cần phổ biến, tuyên truyền giúp người dân hiểu các quy định
và cách thức ứng xử văn minh, đúng pháp luật trong quá trình tiếp xúc với lực
lượng chức năng thi hành nhiệm vụ. Động viên, cổ vũ, khuyến khích những tổ
16
chức, cá nhân điển hình tiên tiến gắn với việc phê bình, lên án những hành vi
vi phạm quy định trong tham gia giao thông cũng như trong thực thi nhiệm vụ
bảo đảm trật tự an tồn giao thơng.
Cơng tác bảo đảm trật tự an tồn giao thơng, xây dựng văn hóa giao thơng
ln là mục tiêu quan trọng mà Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, triển khai
thực hiện và được vận động, tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.
Để từng bước kéo giảm tai nạn giao thơng. Thời gian qua, hầu hết các tổ chức
đồn thể đã chủ động phối hợp cùng Ủy ban An tồn giao thơng quốc gia và
các địa phương để triển khai quyết liệt với nhiều giải pháp trọng tâm.
Chương trình phối hợp thực hiện tham gia giữ gìn trật tự an tồn giao
thơng và xây dựng văn hóa giao thơng trong những năm qua của nhiều tổ chức,
như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nơng dân Việt Nam, Đồn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam... đã triển khai có hiệu
quả, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp hội, cán bộ, hội
viên, đoàn viên trong việc chấp hành các đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về trật tự an tồn giao thơng và xây dựng văn hóa
giao thơng. Nhiều tấm gương tiêu biểu, nhiều mơ hình tốt trong tham gia giữ
gìn trật tự an tồn giao thơng đã được xây dựng.
Báo chí nói chung, báo mạng điện tử nói riêng cịn có vai trị định hướng
và điều hồ dư luận xã hội, điều hoà tâm lý, tâm trạng xã hội. Dù khơi nguồn
như thế nào, cuối cùng, báo chí cũng thực hiện chức năng định hướng nhận
thức, thái độ và hành vi của quần chúng nhân dân trong đời sống xã hội. Vì bản
chất của báo chí là một hoạt động thơng tin chính trị - xã hội. Báo chí là tiếng
nói của giai cấp, là công cụ quản lý xã hội của giai cấp. Khơng có giai cấp nào
khơng dùng báo chí như một cơng cụ quản lý xã hội.
1.2.2. Góp phần đảm bảo thơng điệp phản ánh nhiệm vụ chính trị trong
tuyên truyền giao thông
Khi xử lý thông điệp, các cơ quan báo chí sẽ được tăng cường ứng dụng
cơng nghệ vào cải tổ tổ chức, đồng thời vẫn đảm bảo trách nhiệm xã hội của
17
mình là nhiệm vụ quan trọng mà các tồ soạn, các nhà xuất bản tin tức cần
hướng đến để tồn tại và phát triển. Họ sẽ từng bước đổi mới quản trị tòa soạn,
phối hợp nhịp nhàng từ khâu lên ý tưởng, đăng bài trong hệ thống CMS, duyệt
các cấp cho đến việc quản trị các nền tảng xuất bản khác nhau; tổ chức sản xuất
tin bài chất lượng cao, xây dựng cơ sở dữ liệu nội dung lớn hơn, ứng dụng các
mơ hình kinh doanh số hiệu quả, xây dựng văn hóa tịa soạn. Trong đó, duy trì
gắn kết với những độc giả trung thành nhất, tìm kiếm độc giả mới… sẽ trở
thành “trái tim” của chiến lược đưa tin và kinh doanh, là chìa khóa để dẫn tới
thành công
Công chúng cũng trở thành khách hàng trực tiếp của cơ quan báo chí,
bởi các cơ quan báo chí đặt sứ mệnh phục vụ cơng chúng trả phí lên hàng đầu.
Với tư cách là người tiếp nhận thông tin, họ được trao quyền để lựa chọn những
nội dung mình muốn đọc, muốn tiếp cận – còn gọi là cá nhân hóa. Ở vai trị
người sản xuất nội dung – người đọc có thể truyền đi bất cứ thơng tin, thơng
điệp gì, với tư cách là các thành viên của xã hội được thực hiện vai trị chủ động
của mình trong q trình thu thập, tường thuật, phân tích, phát tán tin tức và
thông tin. Nội dung do người dùng tạo ra (user-generated content) càng ngày
càng chiếm số lượng lớn với sự tham gia của nhiều cây viết có năng lực, thu
hút được sự quan tâm và chinh phục được niềm tin của cơng chúng, một phần
nào đó bởi họ khơng phải làm nhiệm vụ chính trị hay ít chịu các áp lực chính
trị, kinh tế nặng nề như các tịa soạn chính thống.
Thơng tin là nhu cầu sống cịn của con người và xã hội. Xã hội càng phát
triển, càng văn minh thì nhu cầu thơng tin càng cao. Trong q trình thực hiện
nhiệm vụ chính trị của mình, báo chí càng phát triển khơng ngừng và rất đa
dạng về loại hình.
Có thể khẳng định, báo chí và lực lượng cơng an nói chung, lực lượng
CSGT nói riêng ln có sự gắn kết, tương trợ lẫn nhau. Các thông tin, bài viết
mà báo chí phản ánh đã góp phần hỗ trợ lực lượng CSGT trong quá trình tuần