BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ NGỌC TRANG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA
NGƯỜI VIỆT TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÂN TRÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ NGỌC TRANG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA
NGƯỜI VIỆT TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÂN TRÍ
Ngành: Báo chí học
Chun ngành: Quản lý Báo chí Truyền thơng
Mã ngành: 8320101
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hồng Thái
HÀ NỘI - 2023
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận
văn thạc sĩ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 09 tháng 01 năm 2023.
Chủ tịch Hội đồng
PGS,TS. ĐỖ THỊ THU HẰNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn " Quản lý nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu
của người Việt trên báo mạng điện tử Dân Trí" là cơng trình nghiên cứu khoa
học của riêng tơi. Tồn bộ nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả
của quá trình nghiên cứu độc lập do tơi thực hiện. Mọi sự tham khảo từ các
nguồn tài liệu đều được trích dẫn cụ thể, rõ ràng. Tơi xin hồn tồn chịu trách
nhiệm về những nội dung cam đoan trên đây.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2023
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Trang
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến q Thầy, Cơ
trong Viện Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã trang bị cho tôi kiến
thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn Thầy TS. Nguyễn Hồng Thái - người
hướng dẫn khoa học luận văn, đã kiên trì, tận tình hướng dẫn tơi hồn thành
luận văn này.
Tơi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo, phóng viên báo Dân trí đã
tạo mọi điều kiện, cung cấp các thông tin tài liệu, số liệu, hỗ trợ để làm cơ sở
xây dựng đề tài luận văn thạc sỹ một cách hồn chỉnh.
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp
và bạn bè đã giúp đỡ, động viên và hỗ trợ tôi rất nhiều về vật chất lẫn tinh thần
để giúp tơi hồn thành luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2023
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTTTT
Bộ Thông tin truyền thông
BMĐT
Báo mạng điện tử
GS.TS
Giáo sư, tiến sĩ
QLBC
Quản lý báo chí
TNTM
Tín ngưỡng thờ Mẫu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: QUẢN LÝ NỘI DUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRÊN
BÁO ĐIỆN TỬ- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ......................................... 13
1.1. Một số khái niệm liên quan ........................................................... 13
1.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu và giá trị văn hóa của Tín ngưỡng thờ Mẫu 27
1.3. Sự cần thiết phải quản lý nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu trên
báo điện tử............................................................................................. 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ
MẪU TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ DÂN TRÍ HIỆN NAY ........................................................... 37
2.1. Tổng quan tình hình báo điện tử Dân Trí ...................................... 37
2.2. Kết quả khảo sát quản lý nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu của báo
điện tử Dân Trí ...................................................................................... 40
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nội dung về tín ngưỡng thờ Mẫu trên
báo điện tử Dân Trí ............................................................................... 67
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NỘI DUNG THƠNG TIN TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÂN TRÍ TRONG THỜI GIAN TỚI ... 82
3.1. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nội dung tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt trên báo mạng điện tử Dân Trí ........................................... 82
3.2. Một số giải pháp tăng cường quản lý nội dung về tín ngưỡng thờ Mẫu
của người Việt tại các tờ báo mạng điện tử Dân trí trong thời gian tới...... 88
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 102
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 105
TÓM TẮT LUẬN VĂN .............................................................................. 121
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng thờ Mẫu, cịn được biết dưới cái tên Đạo Mẫu khơng chỉ là
một tín ngưỡng tơn giáo đơn thuần. Thơng qua các truyền thuyết, câu truyện
lịch sử cùng những nghi lễ và lễ hội, đặc biệt trong hình thức diễn xướng vơ
cùng độc đáo, Đạo Mẫu thực sự là một bảo tàng sống của văn hóa truyền thống,
cần thiết được lưu truyền. Năm 2016, UNESCO cơng nhận “Thực hành tín
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là di sản văn hóa phi vật thể đại
diện của nhân loại. Có thể nói đây là thêm một dấu mốc quan trọng chứng minh
sức sống, bản sắc văn hóa Việt Nam cũng như là sự đánh giá cao của cộng đồng
quốc tế đối với kết quả thành công của chúng ta trong việc bảo vệ và gìn giữ
nền văn hóa dân tộc của người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên
thủy và có chiều dài lịch sử hàng ngàn năm. Nói về nguồn gốc hình thành, một
số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người
Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát
triển trong xã hội mẫu hệ (gọi nữ thần là Mẹ-Mẫu-Mế). Qua quá trình tiếp biến
văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên ban đầu đã hịa cùng các tơn giáo khác
để trở thành một tín ngưỡng bản địa riêng có của Việt Nam. Việc tôn thờ Mẫu
(Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con
người của Đạo Mẫu đã dễ dàng đi vào đời sống dân gian, bắt rễ sâu vào xã hội
và đời sống tâm linh của mỗi con người.
Tuy nhiên, sự mai một của thời gian cũng như sự đan xen của nhiều yếu
tố ngoại cảnh đã khiến một số sinh hoạt tín ngưỡng Việt Nam nói chung và nét
văn hóa tín ngường thờ Mẫu nói riêng bị biến tấu và lợi dụng để trục lợi. Nếu
như trước đây, tin ngưỡng thờ Mẫu xuất phát từ việc con người đề cao và tơn
trọng người Mẹ hay ở đây cịn gọi là “Mẫu” vì đã có cơng sinh thành và dưỡng
2
dục, thì ngày nay lại bị nhiều người hiểu sai bản chất và cho rằng đây là tín
ngưỡng mê tín dị đoan. Thậm chí, nhiều người cịn hiểu sai về gốc rễ của đạo
Mẫu và làm theo những lời khuyên bảo của những kẻ tự mang danh xưng là “
Đồng thầy”, kéo theo đó hàng loạt các hoạt động bị lệch chuẩn như bói tốn,
giải hạn, tự ý thành lập các phủ, điện thờ một cách tràn lan và gây khó khăn
cho cơng tác quản lý.
Báo chí Việt Nam đang ở trong một kỷ nguyên công nghệ số với sự ra
đời của hàng loạt thiết bị thông minh, công cụ truyền thông hiện đại, thuận lợi
để sản xuất khối lượng thông tin khổng lồ hàng ngày, hàng giờ phục vụ bạn
đọc, công chúng. Trong môi trường này, báo mạng điện tử đã có nhiều lợi thế
làm tốt nhất vai trị của mình khi liên tục cập nhật các thơng tin nhanh với nội
dung đa dạng, phong phú, có tình thời sự và hấp dẫn. Đặc biệt các nội dung về
văn hóa nói chung, bảo tồn tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng cũng được báo chí
điện tử khai thác, phản ánh dưới nhiều góc nhìn mang lại cho cơng chúng những
thơng tin chính xác, khoa học, nhân văn. Tuy nhiên với sự phát triển của công
nghệ và mạng xã hội, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng sẽ phải đối
mặt với sự cạnh tranh không lành mạnh về nội dung thông tin trên các nền tảng
ứng dụng. Đơn cử như sự xuất hiên của các phần mềm giải trí, hiệu ứng bắt
mắt, nội dung đa chiều, chắc chắn sẽ thu hút công chúng “cả tin” hơn nếu như
báo chí điện tử chính thống khơng tự làm mới mình về mọi mặt.
Trong cơng tác bảo tồn văn hóa dân tộc thời gian qua, báo điện tử Dân
Trí là cơ quan ngơn luận có uy tín, có bề dày lịch sử và thu hút được nhiều sự
quan tâm của bạn đọc từ những ngày mới thành lập. Với bề dày kinh nghiệm
của đội ngũ làm báo và sự quản lý chất lượng nội dung của ban lãnh đạo, ban
biên tập, báo Dân Trí đã và đang làm tốt vai trị của mình trong việc phát huy
các nội dung liên quan đến văn hóa và tín ngưỡng dân tộc, trong đó có tín
ngưỡng thờ Mẫu . Tuy nhiên như những gì đã nói ở trên, báo Dân Trí cũng sẽ
gặp nhiều khó khăn trong cơng cuộc chuyển đổi số với sự hội nhập và cạnh
3
tranh quyết liệt của các phương tiện truyền thông khác. Việc ra đời của các
trang mạng xã hội như Facebook hay Instagram với nội dung được sản xuất
theo xu hướng khiến đơi khi người dùng khơng cịn hứng thú với việc truy cập
vào các trang báo mạng điện từ chính thống như Dân Trí để tìm kiếm thơng tin.
Điều này chỉ ra rằng, nội dung trên báo mạng điện tử chưa thực sự hấp dẫn và
tính chủ động trong quản lý chất lượng nội dung chưa cao, chưa theo dõi bắt
kịp các phần mềm truyền thông khác, đặc biệt là trong lĩnh vực Tín ngưỡng thờ
Mẫu. Có thể thấy đây là một thách thức đối với nền báo chí Việt Nam nói chung
và báo điện tử Dân Trí nói riêng.
Nhận thấy được tầm quan trọng của việc bảo tồn tín ngưỡng thờ Mẫu, sự
hỗ trợ đắc lực từ báo điện tử Dân Trí và thấy được tầm quan trọng của việc
quản lý nội dung trên báo điện tử để lưu giữ nét văn hóa này, xuất phát từ những
lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt trên báo điện tử Dân Trí” làm luận văn thạc sĩ ngành Báo chí học,
chun ngành Quản lý báo chí và truyền thơng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Các cơng trình liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
- Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ mẫu đối với đời sống tinh thần của nhân
dân ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay -Tác giả Phan Thị Hòa (2018) Luận văn thạc sĩ
Triết học- Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn định nghĩa Tín ngưỡng
thờ Mẫu là một bộ phận của Ý thức xã hội được hình thành từ chế độ thị tộc
mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có cơng với nước, với cộng đồng, tiêu
biểu cho những giá trị tốt đẹp của lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội làm thánh
mẫu, vương mẫu. Luận văn cũng cho rằng qua đạo mẫu, con người gửi gắm
niềm tin và sự che chở, cứu giúp của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần.
Đây là nghiên cứu đúng đắn mà trong luận văn này của học viên sẽ kế thừa và
phát triển nó để đảm bảo cho việc gìn giữ những giá trị chân thiện mỹ của người
Việt. Tuy nhiên như đã thấy ở tiêu đề, cơng trình này chỉ nghiên cứu với nhóm
4
đối tượng là nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh chưa chưa thể nghiên cứu rộng ra trên
phạm vi để làm rõ được ảnh hưởng của TNTM đối với các vùng địa lý khác
nên vẫn cần được nghiên cứu tiếp.
- Phát huy nét đẹp văn hóa trong tín ngưỡng thờ mẫu đối với đời sống
tinh thần của người dân Thủ đô Hà Nội hiện nay- Tác giả Đồ Hồng Hạnh
(2020)- Luận văn thạc sĩ Triết học- Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận
văn nghiên cứu đã phân tích Tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là một trong những
tín ngưỡng dân gian có tính ổn định và bền vững về niềm tin, sau đó nó đã hình
thành một hệ thống thờ phụng không gian ở mỗi miền, mỗi địa phương. Điện
thờ Mẫu được xây dựng trên khắp nơi trên đất nước Việt Nam từ đồng bằng tới
miền núi, từ trong nước tới cả cộng đồng người Việt tại nước ngoài. Bên cạnh
đó, luận văn cịn cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu được xem là sản phẩm của tư
duy, nhận thức về tự nhiên và xã hội của cư dân nông nghiệp lúa nước với điều
kiện sống cũng như môi trường tự nhiên xung quanh. Đây là một nghiên cứu
mới về hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt và trong luận văn này tác
giả sẽ kế thừa và tiếp tục phát huy nghiên cứu đưa nội dung này và trong quản
lý nội dung về TNTM trên báo điện tử Dân Trí
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng thờ mẫu Tam Phủ, Tứ
Phủ ở Hà Nội hiện nay- Tác giả Lê Khánh Ly (2013)- Luận án tiễn sĩ Chính trị
học- Học viện Báo chí và Truyên Truyền. Luận văn đã chỉ rõ: “Tín ngưỡng thờ
mẫu là một thành tố văn hóa tinh thần của người Việt, bao gồm hệ thống thử
cũng bận đi lễ mà trung tâm là sự tơn thường người mẹ tâm linh mang tính biểu
tượng- đại diện cho sức mạnh của thiên nhiên và hội tụ về đẹp nhân cách, tâm
hồn của người phụ nữ Việt Nam, hướng con người về cuộc sống hiện thực với
những giá trị chân- thiện-mỹ”. Điều đặc biệtcủa luận án chính là tác giả Lê
Khánh Ly đã khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt từ cái gốc cho
đến cuối cùng chính là cuộc sống thực với chân- thiện- mỹ. Đây là một căn cứ
khoa học cho việc nghiên cứu luận văn của chúng tôi sau này khi mong muốn
5
mang Tín ngưỡng thờ Mẫu vào trong đời sống thực tế của con người tránh bị
suy diễn là một hình thức tâm linh mê tính dị đoan mà báo chí phản ánh. Như
đã nếu ở phần mở đầu, việc không hiểu rõ và làm quá lên về những yếu tố trong
thực hành TNTM khiến nhiều người Việt cho rằng TNTM là sự huyễn hoặc
khơng có căn cứ khoa học dần bị cáo buộc thành yếu tố mê tín dị đoạn. Trong
luận văn này tác giả sẽ làm sáng tỏ những quan điểm này dưới góc độ của những
người nghiên cứu sâu về TNTM bằng phương pháp phỏng vấn để cho ra một
cách nhìn tổng qt và chính xác nhất có thể.
- Giáo trình Tơn giáo học- Tác giả Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Đức Luận
Xuất bản năm 2014- Nhà xuất bản Lý luận chính trị. Trong giáo trình có chương
6 nói về một số tín ngưỡng và tơn giáo hình thành ở Việt Nam. Bàn về Tín
ngưỡng thờ Mẫu các tác giả cho rằng bản chất của Tín ngưỡng thờ Mẫu là tính
ngưỡng dân gian của người Việt và trước hết đây là sự phản ánh hoang đường
và có phần hư ảo tồn tại trong khi trình độ của lực lượng sản xuất còn thếp kém.
Tuy còn chưa đựng nhiều yếu tố mê tín dị đoan nhưng nó cũng thể hiện những
giá trị văn hóa, nhân văn sâu sắc. Đây có thể xem là một góc nhìn thẳng và trực
diện khi nói về thờ Mẫu mà trong luận văn cũng sẽ nghiên cứu một số khía cạnh.
- Văn hóa tâm linh Thăng Long- Hà Nội- Tác giả Văn Quảng xuất bản
năm 2009- Nhà xuất bản Lao Động. Trong đó cũng đã chỉ ra những điện, phủ
đặc trưng của Tín ngưỡng thờ Mẫu như: Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Thủy
phủ… Những nét văn hóa tâm linh từ ngày xưa là tiền đề để các cơng trình
nghiền cứu văn hóa sau này phát triển theo đó nghiên cứu các phương pháp để
bảo tồn trong tương lai. Trong luận văn này, các đặc trưng của TNTM cũng sẽ
được nhắc đến để làm rõ và phân biệt nó với các đặc trưng của loạt hành động
có yếu tố mê tín dị đoan.
2.2. Những cơng trình nghiên cứu liên quan đến báo điện tử Dân Trí
- Báo mạng điện tử tại Việt Nam với vấn đề bảo vệ loài tê giác (Khảo
sát báo điện tử VnExpress, báo điện tử Dân trí, báo điện tử Tài nguyên và Môi
6
trường từ 01/2013 đến tháng 12/2016)- Tác giả Lê Hoài Linh- Luận văn thạc
sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ở đây luận văn đã xem báo
Dân Trí là một đối tượng nghiên cứu và đã khái lược sơ qua một số thông tin
của báo, điều này giúp các cơng trình sau này có một lượng thơng tin khi xem
báo Dân Trí là một đối tựng nghiên cứu. Cụ thể như trong cơng trình này đã
chỉ rõ theo thống kê của Google thì đo được số lượng truy cập mỗi tháng của
Dân Trí là lên đến 900 triệu Pageviews, điều này là căn cứ để tác giả xem báo
điện tử Dân Trí là một đối tượng nghiên cứu trong quản lý nội dung về TNTM
trên báo điện tử bởi chất lượng và sự uy tín của toàn soạn báo này.
- Quản lý đội ngũ cộng tác viên của cơ quan báo mạng điện tử (Khảo sát
VnExpress, Tuổi trẻ, Dân trí năm 2019)- Tác giả Lê Trọng Nghĩa (2020) Luận
văn thạc sĩ Báo chí học- Học viện Báo chí và Tun truyền Luận văn đã hệ
thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn khảo sát thực
trạng quản lý cộng tác viên trên báo VnExpress, Tuổi trẻ, Dân trí, từ đó đề xuất
những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý cộng tác viên của các cơ quan báo
mạng điện tử tại Việt Nam.
- Thể loại phỏng vấn trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay (Khảo sát
báo VnExpress, Tuổi trẻ Online và Dân trí từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2015).
Tác giả Trương Thị Hoài Trâm (2016) Luận văn thạc sĩ Báo chí học- Học viện
Báo chí và Tuyên truyền. Trong cơng trình này tác giả Hồi Trâm đã trích dẫn
lời đánh giá của nguyên Chủ tích nước Trương Tân Sang khi nhận xét về báo
Dân Trí. Điều này cho thấy báo điện tử Dân Trí khơng những là một đơn vị tiên
phong cơng tác thơng tấn mà cịn là một cơ quan ngơn luận chính thống của
Đảng và Nhà nước trong việc thông tin đến quần chúng nhân dân. Theo thời
gian báo Dân Trí ngày càng khẳng định mình và là đối tượng tin cậy để lựa
chọn nghiên cứu nhằm đưa ra các phương pháp phù hợp để nâng cao chất lượng
nội dung trong hệ thống tin bài của mình.
7
2.3. Những cơng trình nghiên cứu liên quan đến quản lý báo chí, quản
lý nội dung
- Đề tài cấp cơ sở Khoa học lãnh đạo và quản lý- Tác giả- TS. Trương
Ngọc Nam- Xuất bản năm 2009- Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đề tài này
đã tập trung làm rõ bản chất, mục đích, các yếu tố cơ bản và quan hệ qua lại
giữa chúng trong hoạt động lãnh đạo; chức năng, tác dụng, quá trình, cơ chế
của hoạt động lãnh đạo; phẩm chất của người lãnh đạo, phương thức và nghệ
thuật lãnh đạo,...Có thể thấy lãnh đạo quản lý là một nghệ thuật đòi hỏi nhiều
tố chất và yếu tố, trong cơng trình nghiên cứu của tác giả Trương Ngọc Nam
đã chỉ ra rõ hoạt động lãnh đạo quản lý có 4 yếu tố cơ bản cấu thành bao gồm:
Chủ thể, khách thể, đối tượng khách quan và công cụ cùng thủ pháp. Đây cũng
là cơ sở để trong nghiên cứu về việc quản lý nội dung của báo điện tử tác giả
cũng sẽ vận dụng để nghiên cứu nhằm cho ra một phương thức quản lý nội
dung phù hợp và có hiệu quả nhất.
- Vấn đề quản lý nội dung chương trình truyền hình liên kết ở HTV (Khảo
sát năm 2012)- Tác giả Thái Thành Chung- Xuất bản năm 2014. Cơng trình
nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nội
dung các chương trình truyền hình liên kết nói chung; Từ đó đưa ra những quan
điểm và nhận đính đúng đắn trong việc định nghĩa quản lý nội dung và các yếu
tố trong công tác quản lý nội dung. Định nghĩa quản lý nội dung của tác giả
Thành Chung giúp cho cơng trình nghiên cứu sau này có thêm dữ liệu để định
nghĩa và khái quát quản lý nội dung trên báo điện tử. Tuy nhiên như tên đề tàu,
khái niệm quản lý nội dung này được tác giả nghiên cứu với đối tượng là
chương trình truyền hình liên kết chứ chưa phảo là báo điện tử. Chính vì vậy
vừa kế thừa, luận văn này cịn tiếp tục phát huy và nghiên cứu nó trên đối tượng
là báo Điện tử Dân Trí để làm khung lớn cho các trang báo điện tử sau này.
- Tác giả Đinh Quang Nam (2017), Vấn đề quản lý nhà nước về báo chí
của Thành phố Hồ Chí Minh (Khảo sát từ 01/2016 - 06/2017), Luận văn thạc
8
sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận cơ bản và thực tiễn về hoạt động báo chí và QLNN về báo chí của
TP.HCM, qua khảo sát thực trạng QLNN về báo chí của Thành phố trong thời
gian qua, đề xuất những giải pháp, phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả
QLNN đối với báo chí của TP.HCM hiện nay.
- Tác giả Trịnh Thị Thanh (2017), Quản lý nhà nước về hoạt động báo
chí ở Quảng Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền. Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về hoạt động
báo chí, nội dung và phương thức quản lý, cơ sở chính trị - pháp lý về quản lý
hoạt động báo chí; Khảo sát thực trạng, từ đó phân tích rõ những ưu điểm, hạn
chế và ngun nhân trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ở
Quảng Ninh thời gian qua; Đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản
nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ở tỉnh Quảng
Ninh thời gian tới.
- Tác giả Dỗn Thị Thuận (2017), Quản lý báo chí điện tử ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận, bước đầu xây dựng khung lý
thuyết cho đề tài, luận án khảo sát, phân tích thực trạng QLNN về BCĐT, chỉ
ra kết quả, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của kết quả, hạn chế,thiếu sót, từ
đó luận án đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả QLBCĐT, giúp BCĐT phát triển đúng hướng, phục vụ tốt nhu cầu cơng
chúng và lợi ích quốc gia.
- Nội dung quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ ở các học viện trong
quân đội hiện nay. –Tác giả Bùi Văn Thành (2019)- Luận văn thạc sĩ Chính trị
học- Học viện Báo chí và Tun truyền. Cơng trình làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận, thực tiễn về nội dung quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ ở các học
viện trong quân đội, trên cơ sở đó, đề xuất yêu cầu và giải pháp về đổi mới nội
dung quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ ở các học viện quân đội. Luận văn
9
này được chúng tôi nghiên cứu các khái niệm về văn hóa, đặc biệt là chuyên
mục quản lý hoạt động văn hóa văn nghệ vì nội dung TNTM cũng là một trong
những nét văn hóa trong đời sống của người Việt. Từ đó góp phần hồn thiện
chương 2 khi đánh giá thực trạng quản lý nội dụng trên báo điện tử và ở chương
3 có thêm nhiều quan điểm và góc nhìn để giúp cho việc quản lý nội dung liên
quan đến TNTM
Có thể thấy, các cơng trình này chủ yếu đề đề cập đến tín ngưỡng thờ
Mẫu trong đời sống tâm linh của người Việt Nam và các vấn đề lý luận về quản
.lý nhà nước trong thực hành tín ngưỡng. Bên cạnh đó nghiên cứu quản lý nhà
nước, quản lý báo chí trên nhiều khía cạnh và báo điện tử Dân Trí trên cơ sở là
đối tượng nghiên cứu của nhiều vấn đề khác nhau. Đây là những cơng trình cung
cấp nhiều kiến thức và có giá trị về mặt văn hóa. Tuy nhiên, chưa có cơng trình
nào nghiên cứu chuyên sâu về “Quản lý nội dung tín ngưỡng thờ Mẫu của người
Việt Nam trên báo điện tử Dân Trí”. Điều này thể hiện đây là một đề tài mới,
có khả năng nghiên cứu được và mang lại tính thiết thực cao cho báo Dân Trí
nói riêng và báo chí Việt Nam nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam trên báo điện tử, tác giả khảo sát, đánh
giá thực tiễnc quản lý nội dung này trên báo điện tử Dân Trí hiện nay, từ đó
đưa ra những phương hướng, giải pháp để tăng cường quản lý nội dung bảo tồn
tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo điện tử Dân Trí trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành được những mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài cần thực
hiện những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam trên báo điện tử như khái niệm, vai trò,
10
cơ sở lý luận, nội dung, phương thức quản lý.
Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nội dung Tín ngưỡng thờ
Mẫu của báo điện tử Dân Trí hiện nay thông qua khảo sát các tuyến bài từ giai
đoạn năm 2016 đến nay trên nhiều phương diện như tên đề tài, dung lượng, kết
cấu, nội dung và hình ảnh. Từ đó, đánh giá chính xác ưu điểm hạn chế và
nguyên nhân.
Thứ ba, đánh giá những vấn đề đang đặt ra và đề xuất quan điểm và giải
pháp nhằm tăng cường quản lý nội dung tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo Dân trí
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc quản lý nội dung Tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt Nam trên báo điện tử Dân trí.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi khảo sát: báo điện tử Dân Trí
-Phạm vi thời gian: Từ năm 2016 ( khi UNESCO cơng nhận thực hành
tín ngưỡng thờ Mẫu là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) tới nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của các cơng trình nghiên cứu
về Tín ngưỡng Thờ Mẫu đi trước, bên cạnh đó là các cơng trình khoa học, luận án
tiến sĩ, thạc sĩ của các nhà nghiên cứu khi bàn về vấn đề quản lý nội dung hay
quản lý nói chung trong lĩnh vực báo chí và cơng tác văn hóa tư tưởng. Ngồi ra,
luận văn cịn căn cứ vào quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật
của nhà nước về công tác tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, về Luật Báo Chí. Từ đó
đưa ra những đánh giá chính xác và đường lối trong việc quản lý nội dung một
cách có hiệu quả nhất
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là thống kê,
11
phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, đối chiếu…bên cạnh đó tác
giả cịn sử dụng một các phương pháp khác nhau như:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng để nghiên cứu các Nghị
quyết, văn bản về đường lối lãnh đạo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các văn bản
quy phạm pháp luật có liên quan đến tín ngưỡng, tơn giáo. Các cơng trình
nghiên cứu có nội dung liên quan đến TNTM của các nhà nghien cứu đi trước.
- Phương pháp phân tích nội dung: từ các tuyến bài để chỉ ra được cách
thức đặt tiêu đề, nội dung của các bài báo trong việc truyền tải nội dung liên
quan đến TNTM. Từ đó rút ra được những thành cơng, hạn chế của báo Dân
Trí trong việc xây dựng nội dung và đưa ra các phương hướng trong quán lý
nội dung trên báo.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tác giả chuẩn bị các câu hỏi với
các chủ đề có liên quan đến TNTM với thời gian, địa điểm phù hợp cùng các
chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực văn hóa, nhà quản lý báo chí, phóng
viên chun viết về tín ngưỡng thờ Mẫu để thu thập những đánh giá khách quan
về thực trạng vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu một cách chuyên sâu về hoạt động quản lý
nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu trên bảo điện tử Dân Trí. Từ đó đề xuất, định
hướng ra các giải pháp để báo Dân Trí tham khảo, theo đó điều chỉnh các chuyên
mục sao cho nội dung đảm bảo chất lượng nhưng vẫn bắt kịp xu hướng của thời
đại. Đây là một đề tài mới và không bị trùng lặp với các đề tài trước đó bời nó
phù hợp với xã hội cộng nghệ hiện nay. Tác giả lựa chọn báo Dân Trí làm đối
tượng khảo sát để lấy ví dụ và kinh nghiệm cho các trang báo điện tử khác trong
việc quản lý các nội dung, chuyên mục liên quan đến vấn đề TNTM.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 . Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận, luận văn làm rõ những khái niệm, vấn đề liên quan đến
12
Tín ngưỡng thờ Mẫu và quản lý nội dung này trên báo điện tử. Đề tài góp phần
bổ sung vào hệ thống lý thuyết, lý luận về quản lý báo chí nói chung và quản
lý nội dung nói riêng. Đồng thời, luận văn gợi mở những giải pháp, cách thức
cụ thể giúp cơng tác quản lý nội dung báo chí tiến hành thuận lợi và có chất
lượng tốt hơn.
7.2 . Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của luận văn sẽ có giá trị tham khảo đối với các nghiên cứu về
tôn giáo sau này, cụ thể là thơng tin về tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo Dân trí.
Ngồi ra cịn có ý nghĩa đối với các cơ quan quản lý báo chí truyền thơng, báo
mạng điện tử, các nhà khoa học, các học viên, sinh viên báo chí truyền thơng,
phóng viên, biên tập viên và những người quan tâm tới việc tổ chức nội dung
trên báo mạng. Không những thế từ những ưu điểm. hạn chế, kinh nghiệm được
nếu ra trong luận văn, điều này sẽ giúp cho các cơ quan báo đài khác tự rút kinh
nghiệm và điều chỉnh là nội dung của mình trong quá trình hội nhập mới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Quản lý nội dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo mạng
điện tử - Một số vấn đề lý luận
Chương 2: Thực trạng quản lý nội dung Tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo
mạng điện tử Dân Trí hiện nay
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tăng cường quản lý nội
dung về Tín ngưỡng thờ Mẫu trên báo mạng điện tử Dân Trí thời gian tới
13
Chương 1
QUẢN LÝ NỘI DUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm quản lý trong hoạt động báo chí
Theo các nhà nghiên cứu “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ
chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ
chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục đích cụ
thể” [27, tr.14-15] hoặc “là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế
hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu
đã đề ra” [27, tr.155]. Định nghĩa này có thể hiểu, về cơng việc, quy trình của
hoạt động quản lý; hoạt động quản lý có tổ chức và có kế hoạch cụ thể mới có
thể đạt được những mục đích đặt ra. Quan điểm khác lại cho rằng, “quản lý là
sự tác động của chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu
chung của tổ chức” [27, tr.88]. Định nghĩa này tập trung nói về các nhóm đối
tượng trong quản lý và mục đích của việc quản lý.
Theo đó ta có thể hiểu quản lý trong hoạt động của các cơ quan báo chí
là sự tác động có định hướng, thống nhất của chủ thể là người đứng đầu cơ quan
báo chí (như tổng biên tập đối với báo in, báo điện tử, tổng giám đốc đối với
báo nói và báo hình) lên mọi hoạt động của cơ quan báo chí, từ đó có các ấn
phảm báo chí nhằm đảm bảo hoạt động đúng pháp luật, đúng tôn chỉ mục đích,
thực sự là vũ khí sắc bén về tư tưởng của Đảng, nhà nức diễn đàn của nhân dân.
1.1.2. Khái niệm nội dung tác phẩm báo chí
Theo Từ điển Tiếng việt là danh từ: “Nội dung là mặt bên trong của sự
vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [29; tr 914,915]
Nội dung tác phẩm báo chí những thông điệp bên trong mà người làm
14
báo muốn chuyển tải đến công chúng. Để hiểu được nội dung của một tác phẩm
báo chí, cơng chúng phải theo dõi tiếp nhận phần lớn hoặc toàn bộ tác phẩm.
Trong các yếu tố để quản lý sản phẩm báo chí, nội dung đóng vai trị quan trọng
nhất. Nội dung của một sản phẩm báo chí được thể hiện qua những sản phẩm
cụ thể là các thể loại của nó như: tin, phóng sự, điều tra, phỏng vấn, kí sự…
hoặc các chương trình giải trí. Bên cạnh đó các sản phẩm báo chí sẽ có nội dung
liên quan đến các đối tượng như con người, sự việc, hiện tượng.... đã và đang
tồn tại trong cuộc sống. Điều này có nghĩa các đối tượng báo chí đề cập đến
chính là đề tài của sản phẩm và cũng chính là nội dung của tác phẩm báo chí.
1.1.3. Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa Việt Nam
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tơn giáo năm
2016 thì tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những
nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về
tinh thần cho cá nhận và cộng đồng. Điều này dễ dàng được nhận ra khi ta nhìn
vào lịch sử văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ. Ở từng giai đoạn với bối cảnh
kinh tế xã hội khác nhau, niềm tin và khát vọng của cộng đồng sẽ có sự chuyển
biến rõ rệt và dần bộc lộ ra từng hành vi của một bộ phận quần chúng nhân dân.
Thậm chí các hoạt động mang tính hình thức tơn giao cũng dần được cải biên,
hiện đại hóa và dần có sức hút xun quốc gia.
Việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu với nghi lễ “hầu đồng” vốn đã nhạy
cảm với nhiều biến tướng thì trong điều kiện hiện nay việc bảo tồn và phát huy
di sản tín ngưỡng thờ Mẫu cũng đang đứng trước nhiều thách thức.
Nói về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ
Thánh Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết
hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ (gọi nữ thần
là Mẹ-Mẫu-Mế). Qua quá trình tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ mẹ thiên nhiên
ban đầu đã hịa cùng các tơn giáo khác để trở thành một tín ngưỡng bản địa
riêng có của Việt Nam. Việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền
15
năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người của Đạo Mẫu đã dễ dàng đi
vào đời sống dân gian, bắt rễ sâu vào xã hội và đời sống tâm linh của mỗi con
người.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu ln
có sự gắn bó, dung hịa với các tơn giáo, tín ngưỡng khác, nương tựa, bổ sung
cho nhau để cùng nhau tồn tại và phát triển.
Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện lịng tơn kính đối với các bậc
tổ tiên, đề cao lòng tự hào dân tộc và gắn kết cộng đồng; thừa nhận sự tương
đồng, tôn trọng đa dạng văn hóa. Đối với người dân Việt Nam Đạo Mẫu là niềm
tin thiêng liêng, là sức mạnh gắn kết cộng đồng, là điểm tựa tinh thần dân tộc
giúp vượt qua mọi khó khăn, thách thức của lịch sử để tồn tại và phát triển.
Điều này một lần nữa khẳng định những giá trị khơng thể phủ nhận của
tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống của người Việt.
Những giá trị văn hóa nổi bật của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là không
thể phủ nhận, nhưng từ thực tế cho thấy, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam
phủ cũng có chiều hướng khó kiểm sốt, khiến cho một số cá nhân lợi dụng,
trục lợi và làm sai lệch giá trị văn hóa, tạo ra những hệ lụy khơng tốt trong xã
hội.
Là người trực tiếp thực hành tín ngưỡng, thanh đồng Lưu Ngọc Đức (Hà
Nội) cho biết, một số đền, miếu, am thờ, thờ những nhân thần có cơng với dân
với nước nhưng đã biến thành thờ tứ phủ. Điều đó làm biến dạng văn hóa thờ
tự nguyên bản ở các di tích.
Bên cạnh đó, việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu khá tùy tiện, không chỉ
diễn ra ở đền, phủ thờ Mẫu mà cả ở đình thờ Thành hồng, thờ danh nhân, nơi
chùa chiền thờ phật…
Lúc sinh thời, GS-TS Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên
cứu văn hóa Việt Nam) cho rằng, để hạn chế nguy cơ tiềm ẩn, việc bảo tồn di
sản là phải dựa vào cộng đồng. Các cơ quan quản lý văn hóa, nhà chun mơn
16
cần định hướng cho người dân nhận thức đúng, thực hành đúng nghi lễ tín
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Trên cơ sở sự hiểu biết, cộng đồng sẽ chủ động
tham gia vào quá trình bảo tồn và phát huy di sản một cách đúng đắn, hạn chế
những biến tướng xấu trong xã hội.
TS Lê Thị Minh Lý, Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia, Phó Chủ tịch
Hội Di sản Văn hóa Việt Nam lại nhấn mạnh tới yếu tố trao truyền khi bảo vệ
thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Theo TS Lê Thị Minh Lý, ở Tín ngưỡng thờ
Mẫu, truyền dạy đang là một vấn đề khó định lượng và định tính. Thực hành
tín ngưỡng thờ Mẫu khơng phải là một nghề mà ai cũng có khả năng học. Từ
thân phận, căn cốt nào đó mới được tham gia vào cộng đồng này và không phải
ai tham gia cũng trở thành học trị theo nghĩa di sản văn hóa phi vật thể. “Vấn
đề quan trọng nhất ở truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể Thực hành tín ngưỡng
thờ Mẫu Tam phủ chính là trao truyền nhận thức về giá trị di sản, về hướng dẫn
thực hành và hành động bảo vệ di sản đó. Tất cả đều phải khởi nguồn và bám
sát những giá trị cốt lõi, đích thực đang làm nên bức tranh đa dạng của di sản
văn hóa này” - TS Lê Thị Minh Lý khẳng định.
Việc bảo tồn thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là cơng việc lâu dài và khó
khăn, địi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các nhà quản lý và cộng đồng. Các tổ
chức, đơn vị liên quan cần tiếp tục triển khai các hoạt động của các câu lạc bộ
văn hóa thờ Mẫu, chầu văn như liên hoan hát văn, tổ chức giao lưu lên đồng
giữa các đền các phủ. Khuyến khích những nghệ nhân hát văn cao tuổi truyền
dạy những bài hát, điệu hát văn cổ cho thế hệ trẻ. Bên cạnh đó cũng cần phải
xử lý thật nghiêm những biểu hiện lệch lạc, chưa hay và chưa đẹp, lợi dụng tín
ngưỡng này để trục lợi, tuyên truyền yếu tố mê tín dị đoan… Có như vậy, tín
ngưỡng thờ Mẫu mới trở thành nét đẹp văn hóa trong đời sống của người Việt.
Từ năm 2016 Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt
đã được Unesco cơng nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
đã góp phần quảng bá và củng cố niềm tin của cơng chúng về về tín ngưỡng
17
này. Việc tôn vinh Thờ Mẫu sẽ tiếp nối truyền thống tơn vinh người mẹ trong
văn hóa dân tộc Việt Nam và nuôi dưỡng thế hệ sau biết về cội ngn, cái nơi
sinh ra mình. Việt Nam là quốc gia có biểu tượng mẹ được hình thành từ lâu
đơi và xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử, theo năm tháng, đi qua bao thời kỳ
hình ảnh người mẹ vẫn là một điều gì đó ngự trị trong lịng mỗi con người.
Ngày nay, ta khơng khó để bắt gặp hình ảnh tín ngưỡng xen lẫn và dung hịa
vào cuộc sống thường nhật như sự nhường nhịn phụ nữ trong đời sống người
dân, sự bình đẳng giới ngày càng được đề cao và điển hình như hoạt động thăm
hỏi và tơn vinh mẹ Việt nam anh hùng cũng là sự tiếp nối kế thừa tín ngưỡng
thờ Mẫu nhân văn của người Việt.
Vậy có thể hiểu: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt
nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần(nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu),là
một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, để
tôn vinh những người mẹ, người phụ nữ có cơng với nước, với cộng đồng tiêu
biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội làm Thánh
mẫu, Vương mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp
đỡ của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần để vỗ về và có được sự bình an
trong cuộc sống.
1.1.4. Khái niệm về báo mạng điện tử
Trên thế giới loại hình báo mạng điện tử có nhiều tên gọi khác nhau như
online newpaper (báo chí trên mạng/trực tuyến), e-journal (Electronic journalbáo chí điện tử), e-zine (Electronic magazine- tạp chí điện tử),… Ở Việt Nam,
thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn báo Nhân Dân
điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử,… ngồi ra cịn nhiều tên gọi
khác như: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, báo mạng điện tử,…Tuy
nhiên để dễ dàng cho việc nắm bắt nhất và cũng phù hợp xu thế người dùng tác
giả sẽ nghiên cứu báo mạng điện tử thông qua định nghĩa báo mạng điện tử
được quy định trong Luật Báo chí năm 2016. Theo đó, tại khoản 6 Điều 3 Luật
18
Báo chí năm 2016 thì “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết,
hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo mạng
điện tử và tạp chí điện tử” [37]. Giấy phép hoạt động báo chí của báo mạng
điện tử do Bộ Thơng tin và Truyền thơng cấp.
Báo điện tử có những điểm đặc thù như: (i) Khả năng cập nhập thông tin
nhanh chóng và phong phú. Thơng tin của báo điện tử hiện nay là sự hội tụ của
cả báo giấy (text), báo tiếng (audio). (ii) Có khả năng tương tác nhiều chiều.
(iii) Có sức chứa to lớn cả về khơng gian và thời gian - dung lượng của thông
tin gần như khơng hạn chế. (iv)Có vai trị to lớn trong xã hội, cụ thể: Báo điện
tử ra đời góp phần tạo ra bước ngoặt trong quá trình truyền tin và tiếp nhận
thông tin đồng thời làm thay đổi cách làm báo. Bên cạnh đó, báo điện tử cũng
đã góp phần tăng cường mối quan hệ giữa nhà báo, công chúng và nguồn tin
cũng như góp phần tăng hiệu quả xã hội của báo chí
Có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về báo điện tử:
Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2011): “Báo mạng điện tử là
một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát
hành trên mạng Internet”. [14,tr.25]
Ngoài ra cũng có quan niệm báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát
hành trên mạng Internet, sử dụng cơng nghệ World Wide Web với ngôn ngữ
HTML (một loại ngôn ngữ lập trình mạng), dành cho cơng chúng sử dụng Internet.
Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất bốn khái niệm được dùng thông dụng là:
báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet. Việc phân tích và
sử dụng các khái niệm này gắn với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tác
nghiệp loại hình báo chí này. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm
báo điện tử như sau: Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới
hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong
chuyển tải thơng tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương
tác cao.