BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ NHUNG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM
TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH
ĐỊA PHƢƠNG TRÊN SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THƠNG TIN
ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ NHUNG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM
TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH
ĐỊA PHƢƠNG TRÊN SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THƠNG TIN
ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUN
Chun ngành: Quản lý báo chí - Truyền thơng
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS,TS. Nguyễn Ngọc Oanh
HÀ NỘI - 2021
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 13 tháng 11
năm 2021.
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS. Mai Đức Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS. Nguyễn Ngọc Oanh (Học viện Báo chí
và Tuyên truyền).
Các tài liệu, trích dẫn sử dụng trong luận văn đều rõ nguồn và kết quả
nghiên cứu của luận văn chưa từng được cơng bố trước đó.
Tác giả
Trần Thị Nhung
LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu chương trình cao học chun
ngành Quản lý báo chí truyền thơng tại Học viện Báo chí và Tun truyền
(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), đến nay tơi đã hồn thành
bản luận văn tốt nghiệp.
Để có được kết quả này, trước hết, tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn
chân thành của mình tới PGS,TS. Nguyễn Ngọc Oanh (Học viện Báo chí và
Tuyên truyền), người trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tơi về phương
pháp nghiên cứu và hoàn thiện luận văn; các giảng viên đã tham gia giảng
dạy lớp Cao học Quản lý báo chí truyền thơng khóa 25.2 Thái Ngun những người thầy đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu cả về lý luận
và thực tiễn. Đặc biệt là các thầy, cô đã truyền lửa yêu nghề báo và quản lý
báo chí trong tôi. Sự nhiệt huyết và những kiến thức của các thầy, cơ đã, đang
và sẽ giúp ích cho tơi trong q trình học tập, nghiên cứu, cơng tác hiện tại
cũng như trong tương lai.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban biên tập,
các đồng nghiệp tại Đài PT-TH Thái nguyên, Cổng Thông tin điện tử tỉnh
Thái Nguyên và lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh tạo
điều kiện thuận lợi nhất giúp tơi hồn thành luận văn này.
Thái Ngun, ngày 19 tháng 11 năm 2021
TRẦN THỊ NHUNG
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BBT
Ban biên tập
BTV
Biên tập viên
CNH, HĐH
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTT
Cơng nghệ thơng tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CTV
Cộng tác viên
DBHB
Diễn biến hịa bình
DN
Doanh nghiệp
ĐPT
Đa phương tiện
ĐTH
Đài truyền hình
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
KT-XH
Kinh tế - xã hội
PT-TH
Phát thanh - Truyền hình
PV
Phóng viên
PVTT
Phóng viên thường trú
TCH
Tự chuyển hóa
TDB
Tự diễn biến
TTĐC
Truyền thơng đại chúng
TTĐN
Thơng tin đối ngoại
TTĐT
Thơng tin điện tử
TTTT
Thông tin và Truyền thông
TTV
Thông tin viên
TW
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ
NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG
ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƢƠNG TRÊN
SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ Ở CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ .............. 15
1.1. Một số khái niệm ........................................................................... 15
1.2. Vai trò của quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền
thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền
hình và Cổng Thông tin điện tử ............................................................ 31
1.3. Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý nội dung và tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh
địa phương trên sóng truyền hình và cổng thông tin điện tử ................ 36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN
XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ
HÌNH ẢNH ĐỊA PHƢƠNG TRIÊN SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG
THƠNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN....................................................51
2.1. Giới thiệu chung về Đài PT-TH và Cổng thông tin điện tử tỉnh
Thái Nguyên.......................................................................................... 51
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất
sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương
trên Đài PT-TH và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh Thái Nguyên ............ 56
2.3. Đánh giá chung .............................................................................. 86
Chƣơng 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
QUẢN LÝ NỘI DUNG, TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN
THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƢƠNG
TRÊN SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THƠNG TIN ĐIỆN TỬ
TỈNH THÁI NGUYÊN ................................................................................. 95
3.1. Những vấn đề đặt ra đối với quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm
truyền thơng đa phương tiện trên sóng truyền hình và CổngThơng tin
điện tử tỉnh Thái Nguyên ...................................................................... 95
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền
thông đa phương tiệnở Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên .... 100
3.3. Kiến nghị, đề xuất ........................................................................ 115
KẾT LUẬN .................................................................................................. 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 122
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 126
TÓM TẮT LUẬN VĂN .............................................................................. 139
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển
vượt bậc. Xu hướng báo chí đa phương tiện và hội tụ truyền thông đã được
nhiều cơ quan báo chí thúc đẩy triển khai. Phần lớn các cơ quan báo in có
trang thơng tin điện tử hoặc song hành ra báo điện tử. Đài Tiếng nói Việt Nam
có báo in VOV, Đài Truyền hình Việt Nam và nhiều đài Phát thanh - Truyền
hình (PT-TH) địa phương có tạp chí riêng, đa số các đài đều có trang thơng
tin điện tử. Sự pha trộn thông tin, nguyên lý một đầu vào nhiều đầu ra đang
được các cơ quan báo chí tận dụng tối đa để đáp ứng cao nhất nhu cầu thông
tin đa dạng của công chúng trong xã hội.
Nắm được xu thế phát triển đa phương tiện, thời gian qua Đài PT-TH
và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng hơn tới sản xuất các
sản phẩm truyền thơng đa phương tiện nhằm quảng bá hình ảnh địa
phương.Thực tế cho thấy, công tác quản lý, tổ chức sản xuất sản phẩm truyền
thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương tại Thái Nguyên thời
gian qua đã diễn ra theo một quy trình chặt chẽ, thống nhất từ ban biên tập tới
các phóng viên. Ban biên tập, các trưởng, phó phịng phịng/ban, biên tập
viên, phóng viên và kỹ thuật viên, nhân viên đồ họa có sự gắn kết chặt chẽ
trong công việc; công tác chỉ đạo xuyên suốt từ trên xuống dưới. Các phóng
viên chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của các trưởng ban và ban biên tập trong
tổ chức sản xuất sản phẩm. Vì thế, công việc tổ chức sản xuất luôn đảm bảo
tiến độ, đáp ứng yêu cầu đặt ra của báo, đảm bảo tính thời sự, chính xác và
nhu cầu thơng tin của công chúng. Sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên
Đài PT-TH tỉnh đã được lựa chọn những sự kiện có vấn đề để thực hiện vừa
đáp ứng được tính thời sự, vừa mang lại nhiều cảm xúc cho công chúng, được
cơng chúng đón nhận tích cực, phản hồi, tương tác nhiều. Tập thể lãnh đạo cơ
2
quan ln có tư tưởng đổi mới, chịu đầu tư, áp dụng những thành tựu khoa
học công nghệ mới, tiến bộ vào hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí truyền
thông đa phương tiện, đã tạo ra những sản phẩm truyền thông mới mẻ, đa
dạng, phong phú, với những thông tin đưa ra hữu ích cho cơng chúng. Các cơ
quanbáo chí của tỉnh đã nắm bắt được xu hướng đọc, xem, nghe của công
chúng; đồng thời tận dụng khả năng nền tảng công nghệ để thay đổi phương
thức chuyển tải thơng tin thơng qua sản xuất sản phẩm báo chí từ truyền thống
sang sản xuất sản phẩm đa phương tiện, tích hợp để cung cấp thơng tin một
cách tồn diện đến công chúng, giúp công chúng như đang chứng kiến sự
kiện, tự đánh giá, thẩm định, đưa ra ý kiến và bình luận của mình.
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng nhìn chung việc quản lý nội dung và tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa
phương trên sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh Thái Ngun
vẫn cịn nhiều hạn chế. Ngay trong các tin bài đa phương tiện trong loạt bài
khảo sát ở Cổng thông tin điện tử tỉnh còn nhiều nội dung hạn chế, biên tập
chưa kỹ, vẫn cịn có những sản phẩm chất lượng kém mà vẫn cho lên trang.
Một số video nội dung text còn dài, hình ảnh chưa tốt, khn hình chưa phù
hợp, bị rung, lắc, nhạc nền chưa phù hợp làm kéo chất lượng sản phẩm xuống.
Có những clip quay bằng điện thoại di động nhưng không theo nguyên tắc
xoay ngang máy mà để dựng máy nên hình ảnh khi xem trên máy vi tính
khơng đầy khn hình, hơi tức mắt. Việc Các báo sử dụng đồ họa/infographic
và radio cịn ít, đặc biệt Cổng thông tin điện tử tỉnh chưa thực hiện được
phương thức chuyển tải thơng tin bằng chương trình radio.
Số lượng các tác phẩm truyền thơng đa phương tiện quảng bá hình ảnh
địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh Thái Nguyên
chưa nhiều, chất lượng còn tương đối hạn chế. Đặc biệt là việc quảng bá hình
ảnh địa phương trên sóng truyền hình chưa được coi trọng. Đặc biệt là việc tạo
dựng bản sắc riêng cho từng tác phẩm, tổ chức các cuộc thi chưa nhiều.
3
Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó cơng tác quản
lý là một trong những ngun nhân chính. Việc quản lý trong một số thời
điểm chưa thực sự chặt chẽ, phương thức quản lý chưa mang tính khoa học,
bài bản đã dẫn tới các sản phẩm truyền thông đa phương tiện chưa thực sự thu
hút công chúng. Thực trạng này cho thấy, việc nghiên cứu về quản lý tổ chức
sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Thái Nguyên là cần thiết và
cấp bách. Do đó, tác giả chọn đề tài:“Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất
sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên
sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên”làm Luận
văn Thạc sĩ, chun ngành Quản lý báo chí - truyền thơng, với mong muốn có
một cái nhìn khái qt, đầy đủ và tồn diện hơn về vai trị và giá trị thực tiễn
của Đài truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử. Từ đó có cách thức quản lý tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH và Cổng
Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên một cách chặt chẽ; tạo kênh giao tiếp hữu
hiệu giữa chính quyền với doanh nghiệp, với Nhân dân và cả cơ quan báo chí;
đảm nhận tốt vai trị là cơ quan phát ngơn, cung cấp thơng tin chính thống của
chính quyền trên môi trường mạng; phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của các
cấp chính quyền tỉnh Thái Ngun vvv…
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu của tác giả, đề tài luận văn đã được tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau bằng những cơng trình khoa học khác nhau như:
2.1. Các cơng trình nghiên cứu về quản lý
Tác giả Lưu Văn An trong cuốn Truyền thông đại chúng (TTĐC) trong
hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển (2008), đã
phân tích thực trạng hoạt động của TTĐC trong hệ thống tổ chức quyền lực
chính trị ở ba nước Tư bản phát triển là Mỹ, Anh, Pháp và ý nghĩa những giá
trị phù hợp đối với phát triển TTĐC ở Việt Nam. Tác giả luận văn kế thừa
được hệ thống khái niệm về truyền thông và TTĐC.
4
- Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2010): Lãnh đạo và quản lý hoạt động
báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận chính trị. Cuốn sách đã khái quát
quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt
động của cơ quan báo chí và thực trạng hoạt động báo chí và lãnh đạo, quản
lý hoạt động báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Từ những nghiên cứu
trên thực tiễn, cuốn sách đã đưa ra những vấn đề đặt ra đối với hoạt động báo
chí và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay. Như vậy cuốn sách đã
cung cấp những kiến thức trong công tác lãnh đạo của Đảng và hoạt động
quản lý báo chí nói chung trong sự nghiệp đổi mới đất nước chứ chưa đi sâu
nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước (QLNN).
- Trịnh Thị Thanh (2017), Quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ở
Quảng Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận QLNN về hoạt động báo chí, nội
dung và phương thức quản lý, cơ sở chính trị - pháp lý về quản lý hoạt động
báo chí; khảo sát thực trạng, từ đó phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân trong công tác QLNN về hoạt động báo chí ở Quảng Ninh thời
gian qua; đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường
công tác QLNN về hoạt động báo chí ở tỉnh Quảng Ninh thời gian tới.
- Vũ Xuân Dần (2019), Quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện
quân sự trên Báo Quân đội nhân dân (Khảo sát trên trang Quốc phòng - An
ninh, Báo Quân đội nhân dân năm 2018) - Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền. Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về
quản lý thông điệp truyền thơng về HLQS trên báo chí; đã làm rõ thực trạng
quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên trang QP-AN Báo QĐND
trong năm 2018. Luận văn cũng đã khái quát những vấn đề đặt ra và đề xuất,
luận giải cơ sở khoa học của các giải pháp tăng cường quản lý thông điệp
truyền thông về HLQS trên Báo QĐND trong những năm tới.
- Bùi Thị Hồng Nhung (2019), Quản lý thông điệp về quân sự trên kênh
5
truyền hình Quốc phịng Việt Nam hiện nay (Khảo sát từ tháng 6 năm 2017
đến tháng 6 năm 2018 trên Kênh truyền hình QPVN), Luận văn thạc sĩ, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền. Ở luận văn tác giả đã triển khai những nhiệm
vụ sau: Thứ nhất: Hệ thống hóa, làm rõ những lý luận chung về quản lý thông
điệp về quân sự (khái niệm, nội dung, phương thức, công cụ quản lý; vai trị
của quản lý thơng điệp qn sự trên truyền hình và tiêu chí đánh giá chất
lượng hoạt động quản lý…). Thứ hai: Khảo sát thực trạng hoạt động quản lý
thông điệp về Quân sự trên kênh QPVN, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và
nguyên nhân của hạn chế. Thứ ba: Đề xuất giải pháp và kiến nghị phù hợp
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý thông điệp về Quân sự trên kênh
QPVN trong thời gian tới.
- Triệu Thị Kim Cúc (2019), Quản lý thơng điệp hình ảnh về người dân
tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây bắc Việt Nam hiện nay (Khảo
sát các báo: baotuyenquang.com.vn, baolaichau.vn, baolaocai.vn, năm 2018),
Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn nghiên cứu
các tài liệu lý luận báo chí nói chung và tài liệu lý luận về ảnh báo chí nói
riêng để hệ thống hố các vấn đề lý luận về ảnh, hiểu rõ thêm một số vấn đề
lý luận liên quan đến quản lý thơng điệp hình ảnh trên báo mạng điện tử làm
cơ sở cho quá trình nghiên cứu, khảo sát. Khảo sát thực trạng, phân tích, đánh
giá thành cơng và hạn chế hoạt động quản lý nội dung và hình thức thơng điệp
hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên ba tờ báo mạng điện tử
baotuyenquang.com.vn; baolaichau.vn và baolaocai.vn trong năm 2018. Đề
xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thơng
điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây
Bắc Việt Nam hiện nay.
- Lê Thị Minh Lệ (2019), Quản lý thông tin báo chí về bảo vệ chủ
quyền biển đảo Việt Nam (Khảo sát báo Biên phòng, Vnexpress.net, VTV4 từ
tháng 6/2018 – 6/2019). Luận văn đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và
6
thực tiễn về báo chí và quản lý thơng tin báo chí, vai trị quản lý thơng tin báo
chí về chủ quyền biển đảo. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý thơng tin
báo chí về bảo vệ quyền biển đảo ở Việt Nam thông qua khảo sát báo Biên
phòng, Vnexpress.net, VTV4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng quản lý thơng tin báo chí về bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trong
thời gian tới.
- Trương Văn Linh (2019), Quản lý báo chí ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
Luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đó là: Làm rõ cơ sở lý
luận hoạt động quản lý báo chí ở nước ta hiện nay. Khảo sát thực trạng quản
lý hoạt động báo chí ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay. Đề xuất phương hướng và giải
pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý hoạt động báo chí của tỉnh Bắc Kạn
trong thời gian tới
- Nguyễn Đức Thuận (2020), Quản lý các cơ quan báo chí trong Tổng
cục chính trịQuân đội nhân dân Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo
chí và Tuyên truyền. Trên cơ sở phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
khảo sát thực trạng Tổng cục chính trị quản lý các cơ quan báo chí, từ đó tác
giả đã đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường cơng tác quản lý của
Tổng cục chính trị đối với các cơ quan báo chí quân đội trong thời gian tới.
- Lý Công Tự (2020), Vấn đề quản lý nhà nước về báo chí của tỉnh
Quảng Ninh hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Từ sự phân tích về lý luận và khảo sát, đánh giá tình hình báo chí tại Quảng
Ninh và cơng tác quản lý Nhà nước về báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh,
tác giả luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của báo chí Quảng Ninh và tăng cường, phát huy vai trò
quản lý Nhà nước về báo chí của tỉnh Quảng Ninh.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất
- Tạ Văn Dương (2012), Tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề ở
Đài Phát thanh - truyền hình địa phương, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí
7
và Tuyên truyền. Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề chung về truyền
hình và chương trình chuyên đề trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình (PTTH) địa phương; thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình chun đề trên
sóng truyền hình ở Đài PT-TH Bắc Giang và Đài PT-TH Bắc Ninh; một số
giải pháp trong việc tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề truyền hình ở
các Đài PT-TH địa phương.
- Đỗ Thị Phương Lan (2013),“Tổ chức sản xuất các chương trình
chuyên đề truyền hình của Đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái”, Luận văn
Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn hệ thống hóa những vấn
đề cơ bản liên quan đến chun đề Truyền hình. Khảo sát phân tích hiệu quả
cũng như hạn chế của các chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Yên Bái. Đề
xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương
trình chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Yên Bái.
- Gần đây nhất (năm 2016), trong đề tài cơ sở trọng điểm, PGS.TS Đỗ
Thị Thu Hằng đã chủ nhiệm đề tài về “Quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm
truyền thơng trong môi trường truyền thông số hiện nay” đã đề cập khá nhiều
vấn đề liên quan đến: Lý luận chung về sản phẩm truyền thông và tổ chức sản
xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay; quy
trình và yêu cầu về kiến thức, kỹ năng trong tổ chức sản xuất sản phẩm truyền
thông trong môi trường truyền thơng số; quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm
truyền thơng in ấn; quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm truyền thơng nghe
nhìn; sử dụng các phần mềm ứng dụng trong thiết kế sản phẩm báo chí và sản
phẩm truyền thông. Đây là tài liệu quý giúp cho tác giả có cái nhìn bao qt
về quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông ở nhiều loại hình báo chí
- truyền thơng; tham khảo trong q trình đề xuất giải pháp để hồn thiện việc
quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH
và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên.
- Nguyễn Thu Ngân (2018), “Tổ chức sản xuất các chương trình
8
chuyên đề ở một số Đài phát thanh - truyền hình địa phương hiện nay”, Luận
văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn tập trung làm rõ lý
thuyết chung về tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề; thực trạng hoạt
động tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài PT-TH
Quảng Ninh; phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất
các chương trình chuyên đề ở một số Đài PT-TH địa phương.
- Nguyễn Văn Trường (2018), “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự
truyền hình ở Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc
sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý
luận liên quan đến đề tài nghiên cứu; khảo sát thực tiễn, chỉ ra thực trạng việc
tổ chức sản xuất chương trình thời sự ở Đài PT-TH Hà Nội hiện nay, thành
công, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức sản
xuất; từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp.
2.3. Các cơng trình nghiên cứu về sản phẩm truyền thông đa phương tiện
Nghiên cứu về truyền thông đa phương tiện trên thế giới là hướng đi
mới với nhiều cơng trình khoa học, nhiều bài nghiên cứu đã đề cập đến.
Trong đó, nổi bật là các nghiên cứu của các tác giả về hội tụ truyền thông.
Nhà báo David Brewer, nhà tư vấn chiến lược truyền thông, người sáng
lập và điều hành trang web Mediahelpingmedia đã khái quát về hội tụ truyền
thông như sau: “Hội tụ truyền thông là một điều kiện tiên quyết cơ bản trong
cơ quan báo chí đa phương tiện. Nó cung cấp một gói thơng tin nhất qn về
mặt nội dung cho bất cứ thiết bị đầu cuối nào được sử dụng để tiếp nhận
thơng tin đó”.
Đặc biệt, trong cuốn “Báo chí hội tụ - cơ sở đưa tin của truyền thông đa
phương tiện” xuất bản năm 2005, tác giả Stephen Quinn - nhà nghiên cứu
truyền thông của Đại học Deakin Australia đã chỉ ra rằng, hội tụ truyền thơng
có những ảnh hưởng cơ bản đến sự vận hành trong nội bộ của cơ quan báo
chí, đặc biệt là sự phối hợp giữa cơ quan báo chí với nhà báo.
9
Tay Vaughan trong cuốn "Mutilmedia: Making it word" (Nxb
McGraw-Hill Education Pvt Limited, Ấn Độ, 2006) thì hướng dẫn sử dụng
văn bản, hình ảnh, âm thanh và video; thiết kế, tổ chức, sản xuất và các dự án
đa phương tiện, như CD-ROM, DVD và các trang web chuyên nghiệp. Những
kiến thức được chuyển tải trong quyển sách này rất bổ ích cho những người
làm truyền thông sử dụng, kết hợp các yếu tố như: Văn bản, hình ảnh, âm
thanh và video trong tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện
trên báo chí - truyền thơng nói chung, Cổng Thơng tin điện tử các cơ quan
nhà nước nói riêng.
Ngồi ra, cũng có một số Luận văn nghiên cứu về truyền thông đa
phương tiện theo hướng ứng dụng như: Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị
Kim Dung, năm 2009, bảo vệ tại Hội đồng Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Hà Nội, nghiên cứu đề tài “Ứng dụng truyền thông đa phương
tiện trong việc thể hiện tác phẩm báo chí”; Luận văn Thạc sĩ về: “Truyền
thơng đa phương tiện trên internet - xu thế của truyền thông hiện đại” của tác
giả Nguyễn Xuân Hương. Nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Công
Minh về: “Tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng
Thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai”, tác giả nhận thấy giữa Cổng Thơng tin điện
tử tỉnh Thái Ngun có những điểm tương đồng, do đều là tiếng nói của Đảng
bộ, chính quyền và Nhân dân. Mặc dù quy mơ, cách thức hoạt động có nhiều
điểm khác nhau nhưng nội dung thông tin cơ bản giống nhau. Đặc biệt, một
số giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng truyền thông đa phương tiện trên
Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên; đầu tư, đổi mới hệ thống cơ sở hạ
tầng, hệ thống kỹ thuật; đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên và cộng tác
viên đa phương tiện có thể tham khảo và vận dụng trong quá trình quản lý tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện
tử tỉnh Thái Nguyên.
2.4. Nghiên cứu về Cổng Thông tin điện tử
Dựa vào nguồn tư liệu tham khảo được và trong phạm vi quan tâm của
10
đề tài, điểm lại lịch sử nghiên cứu Cổng Thông tin điện tử trong những năm
gần đây, tác giả nhận thấy, tài liệu, cơng trình nghiên cứu về phương tiện
truyền thơng này rất ít trong việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
về “Quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng
Thơng tin điện tử” các cơ quan nhà nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói
riêng. Luận văn Thạc sĩ của Dương Phương Liên (2015): “Cổng Thơng tin
điện tử Chính phủ với nhiệm vụ thơng tin hành chính điện tử từ tháng
01/2013 - tháng 4/2013” đã đưa ra hệ thống lý thuyết về Cổng Thông tin điện
tử. Tuy nhiên, tác giả đi theo một hướng tiếp cận khác, chủ yếu khảo sát và
đánh giá về phương thức thông tin hành chính điện tử. Đề tài này sẽ xem xét
dưới góc độ quản lý của một Cổng Thông tin điên tử với vai trị một cơng cụ,
phương tiện truyền thơng của cơ quan QLNN cấp tỉnh.
Đặc biệt, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Công Minh về: “Tổ chức sản
xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện tử Đồng
Nai” khảo sát từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017 đưa ra cách tiếp cận có ý
nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn, dựa trên phương thức truyền thông đa
phương tiện và hội tụ truyền thông nhằm vận dụng vào q trình hoạt động,
góp phần phát triển, nâng cao năng lực và tính hiệu quả của Cổng Thơng tin
điện tử. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Công Minh chỉ nghiên cứu về tổ chức sản
xuất mà chưa nghiên cứu vấn đề quản lý. Câu hỏi còn lại là quản lý việc tổ
chức sản xuất như thế nào cho phù hợp và hiệu quả thì chưa có câu trả lời. Đó
là lý do đề tài này cần phải tiếp tục làm rõ.
Vấn đề về truyền thông đa phương tiện, như đã đề cập ở phần trên thì
nhiều sách, báo và cơng trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ
nhiều vấn đề rất đáng quan tâm về xu hướng truyền thông hội tụ và truyền
thông đa phương tiện, việc ứng dụng các tính năng nổi trội của loại hình truyền
thơng số vào thực tiễn hoạt động của báo chí - truyền thơng hiện nay vvv…
Như vậy có thể thấy, đề tài của tác giả đã được tiếp cận dưới nhiều
11
nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên chưa có cơng trình nào bàn luận trực tiếp về
quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện
quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện
tử tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, đề tài nghiên cứu của tác giả có tính mới, khơng
trùng lặp với các cơng trình cơng bố trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa
phương trên sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh, tác giả khảo
sát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nội dung và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa
phương trên sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh Thái Nguyên
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung và tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hình và
Cổng Thơng tin điện tử tỉnh như khái niệm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội
dung, phương pháp quản lý
Thứ hai, khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động, chỉ ra những mặt
thành công và hạn chế trong quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm
truyền thơng đa phương tiện trên sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử
tỉnh Thái Ngun, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
Thứ ba, đánh giá những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp tăng
cường quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương
tiện ở Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên theo hướng khoa học, hợp lý
hơn, nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc hiện nay; định hướng cho
loại hình truyền thơng này hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới.
12
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quản lý nội dung tổ chức sản xuất
sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hìnhvà Cổng Thơng
tin điện tử tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian:Năm 2020.
Phạm vi khảo sát:
- Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên.
- Đài Phát thanh -Truyền hình Thái Nguyên
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết về báo chí,
quản lý báo chí truyền thơng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ khoa học đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành tra cứu sách, các tài liệu
có liên quan đến đề tài nhằm hệ thống hóa, xây dựng khung lý thuyết, làm cơ
sở lý luận để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này dùng để thống kê
các số liệu thu được trong q trình khảo sát để từ đó có những phân tích
nhận định phù hợp với kết quả thu được một cách khoa học nhất.
- Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp này, giúp chúng tôi
nắm bắt quy trình làm việc của các phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên
để có được những nhận xét khách quan nhất về quy trình tác nghiệp của họ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Ngoài việc thống kê, so sánh, phân tích
13
để có được những con số cụ thể, mang tính định lượng, trong q trình thực
hiện luận văn, chúng tơi phỏng vấn sâu những người có trách nhiệm, những
người có liên quan, đồng nghiệp báo chí, cơng chúng đến q trình quản lý và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH và Cổng
Thông tin điện tử tỉnh Thái Ngun, cơng chúng xem truyền hình để việc
nghiên cứu mang lại hiệu quả cao nhất.
6. Đóng góp mới của đề tài
- Bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về Đài PT-TH và Cổng Thơng
tin điện tử, một loại hình truyền thơng chính phủ cấp tỉnh, thành phố.
- Các vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc quảng bá hình ảnh địa
phương qua sóng truyền hình và Cổng Thơng tin điện tử.
- Nghiên cứu thực tiễn và nêu ra được các bài học kinh nghiệm.
- Đồng thời, đưa ra những kiến nghị và đề xuất phát huy tính tích cực
và hạn chế.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu tham khảo ở Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử
tỉnh Thái Ngun nói riêng, Cổng Thơng tin điện tử của các cơ quan nhà
nước, các đài truyền hình ở địa phươngnói chung,đặc biệt là vấn đề quản lý tổ
chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện, việc quảng bá địa
phương trên sóng truyền hình.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tế. Luận văn là cơ
sở kiểm chứng, đồng thời đánh giá lại quá trình quản lý tổ chức sản xuất sản
phẩm truyền thông đa phương tiện, nhất là các tác phẩm truyền hình ở Đài
PT-TH và Cổng Thơng tin điện tử tỉnh Thái Nguyên; giúp các cơ quan
QLNN, cơ quan chủ quản và những người trực tiếp điều hành tham khảo
trong quá trình xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển loại hình truyền
14
thơng cịn mới mẻ này. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người
đang học tập, nghiên cứu và tác nghiệp trên lĩnh vực Báo chí - Truyền thông
mà cụ thể là hoạt động ở Cổng Thông tin điện tử các các cơ quan nhà nước.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục tóm tắt
luận văn, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, nội dung Luận văn
gồm 3 chương.
15
Chƣơng 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ
NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THƠNG
ĐA PHƢƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƢƠNG TRÊN
SĨNG TRUYỀN HÌNH VÀ Ở CỔNG THƠNG TIN ĐIỆN TỬ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Quản lý
Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của
con người. Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối
hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống
nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước. Trong Từ điển tiếng Việt,
quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trơng coi và giữ gìn theo những u cầu
nhất định. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất
định” [45, tr.303]. Theo khái niệm này thì quản lý là chức năng vốn có của
mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự
điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm
mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động
quản lý. Trong xã hội hiện tại hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa
học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý.
Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước”, các tác giả cho
rằng: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra
những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực
của tổ chức để đạt được những mục đích cụ thể” [31, tr.14-15] hoặc “làmột
tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, phân công, điều khiển và
kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra” [31, tr.155].Định
16
nghĩa này có thể hiểu,về cơng việc, quy trình của hoạt động quản lý; hoạt
động quản lý có tổ chức và có kế hoạch cụ thể mới có thể đạt được những
mục đích đặt ra. Quan điểm khác lại cho rằng, “quản lý là sự tác động của
chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ
chức” [31, tr.88]. Định nghĩa này tập trung nói về các nhóm đối tượng trong
quản lý và mục đích của việc quản lý.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một
tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ
phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Đó chính là mối quan hệ ra lệnh
- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Trong nội dung quản lý, có
thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động
xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực
hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự
phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Nếu xét quản lý dưới tư cách là một
hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Xét ở góc
độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã
hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp
với quy luật khách quan. Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm
chính: Là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua
mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ
mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp
với quy luật khách quan; nếu xét về mặt cơng nghệ thì đó là sự vận động của
thơng tin.
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể rút ra khái niệm chung nhất
17
về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ
thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn
lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến
động. Như vậy quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất
định: Chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu
sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý).
1.1.2. Quản lý nội dung
Theo cuốn Phương thức quản lý (2009), Bộ Thông tin và truyền thông Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam: “Là một nhà lãnh đạo quản lý báo chí,
dù ở bất kỳ cấp bậc nào, bạn cũng phải xử lý những rắc rối chung. Trên hết,
bạn ln phải hành động thận trọng vớitính hai mặt của báo chí: Báo chí là
sản phẩm, nhưng báo chí có độc giả mục tiêu phục vụ thơng tin”.
Theo từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, khái niệm nội dung như sau: “Nội
dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu
hiện”[45, tr.766].
Vậy ta có thể hiểu, “Quản lý nội dung là hoạt động có mục đích, có tổ
chức của chủ thể tác động vào nội dung bằng các phương thức, biện pháp
nhất định nhằm điều khiển, dẫn dắt nội dung, duy trì ổn định và phát triển để
đạt được hiệu quả cao nhất mục tiêu quản lý”.
1.1.3. Tổ chức sản xuất
Để làm rõ khái niệm tổ chức sản xuất, tác giả lần lượt đi nghiên cứu
khái niệm tổ chức và sản xuất. Cụ thể:
Theo Từ điển tiếng Việt “Tổ chức”: Là làm cho một chỉnh thể có một
cấu tạo, một cấu trúc và những chứng năng chính nhất định [45,tr243].
Theo tác giả Hà Huy Phượng trong cuốn Tổ chức nội dung thết kế,
trình bày báo in có đề cập đến “Tổ chức nội dung báo và tạp chí là việc lập kế
hoạch nội dung từng số báo, trang báo, tạp chí sắp xuất bản, tổ chức thực hiện
để đạt được mục đích mục tiêu và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của
18
cơng chúng mà cơ quan báo chí đó hướng đến” [46, tr. 2].
Vậy, Tổ chức là “một trạng thái có trật tự trong hoạt động phối hợp, hoạt
động liên hiệp, hoạt động tập thể của con người” hoặc “Tổ chức là làm thành
một chỉnh thể, một cấu trúc với những chức năng nhất định hoặc làm những gì
cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm đạt hiệu quả tốt nhất”.
Tổ chức cịn có thể hiểu là cách sắp xếp những gì liên quan với nhau
thành một hệ thống và dựa trên một quy chế nhất định. Nói tới tổ chức có
nghĩa là nói tới các mối liên hệ và phương thức, cách thức tạo ra mối liên hệ.
Khi xác định được cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định được
những công việc phù hợp với từng nhóm và mối liên hệ giữa các bộ phận sản
xuất, người nắm vai trò tổ chức sẽ trực tiếp thực hiện việc điều phối, triển
khai, giám sát toàn bộ quy trình sản xuất với chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn nhất định.
Sản xuất là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con
người, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sản xuất là
việc sử dụng sức lao động gồm trí lực và thể lực thơng qua phương thức sản
xuất tác động vào đối tượng để biến đổi nó thành sản phẩm vật chất và tinh
thần nhằm phục vụ nhu cầu của con người, cho xã hội, “tạo ra của cải vật chất
hoặc hoạt động sản xuất tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu tác
động vào đối tượng lao động”.
Theo cách tiếp cận của Marx - Lenin, hai mặt của nền sản xuất gồm có:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong đó lực lượng sản xuất gồm
người lao động và tư liệu sản xuất (con người giữ vai trò quyết định), còn
quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong q trình sản xuất.
Đây là hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Như vậy: “Tổ chức” là làm cho thành một chỉnh thể có một cấu tạo và
cấu trúc với những chức năng nhất định.
Sản xuất” là tạo ra của cải vật chất.