Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú thông tấn xã việt nam tại đồng bằng sông cửu long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.87 MB, 125 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THANH LIÊM

QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM
BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN Ở CÁC
CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2022


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THANH LIÊM

QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM
BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN Ở CÁC
CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM


TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chun ngành: Quản lý báo chí - truyền thơng
Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS,TS. ĐỖ THỊ THU HẰNG

HÀ NỘI - 2022


Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS. Nguyễn Văn Dững


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú
Thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long là cơng trình nghiên
cứu của cá nhân tơi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Đỗ Thị Thu
Hằng. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, được tiến hành nghiên

cứu một cách nghiêm túc, chưa từng cơng bố ở cơng trình khoa học nào. Tơi
có sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình làm luận văn, các
trích dẫn đều được chú thích nguồn trung thực, đầy đủ.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo của Học Viện Báo chí và Tuyên truyền,
Viện Báo chí và Khoa Phát thanh - Truyền hình đã truyền đạt những kiến
thức quý báu, chuyên sâu về nghề báo trong suốt hơn 2 năm của khóa học.
Đặc biệt, tơi xin cảm ơn PGS, TS. Đỗ Thị Thu Hằng - Viện trưởng Viện
Báo chí, người đã trực tiếp dẫn dắt và tận tình hướng dẫn tơi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Thông tấn xã Việt Nam, Cơ
quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực phía Nam, Trưởng Cơ quan thường trú
Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi được
tham gia khóa học này.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đặc biệt là vợ tôi - người đã luôn tin
tưởng, đồng hành, ủng hộ tôi trên con đường học tập, cùng với bạn bè và
đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này.
Trân trọng.

Cần Thơ, tháng 11 năm 2021
Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ
CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG ĐA
PHƢƠNG TIỆN ............................................................................................ 10
1.1. Cơ sở lý luận công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện ở các cơ quan thường trú
Thông tấn xã Việt Nam ......................................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện ở các cơ quan thường trú
Thông tấn xã Việt Nam .......................................................................... 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT
SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN Ở CÁC
CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM TẠI ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG.............................................................................................................................. 32
2.1. Chủ thể, đối tượng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm
báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú của Thông tấn xã
Việt Nam ................................................................................................ 32
2.2. Thực trạng quản lý nội dung sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam ............. 40
2.3. Thực trạng tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện tại các cơ quan thường trú thuộc diện khảo sát ................ 44
2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú tại
Đồng bằng sông Cửu Long ..................................................................... 56
Chƣơng 3:NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
NHẰM TỐI ƢU HÓA QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN
XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG ĐA PHƢƠNG TIỆN

Ở CÁC CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM TẠI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ............................................................. 67
3.1. Yêu cầu đối với công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm
báo chí truyền thơng đa phương tiện ở các cơ quan thường trú.....................67
3.2. Một số khuyến nghị ....................................................................... 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 102


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

B1

Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực miền Trung Tây Nguyên

B2

Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực phía Nam

CQTT

Cơ quan thường trú

Nxb

Nhà xuất bản

TP


Thành phố

TTXVN

Thơng tấn xã Việt Nam

Vnews

Kênh Truyền hình Thông tấn


DANH MỤC CÁC HÌNH

Bảng 2.1: Số lượng tin bài CQTT Cần Thơ và CQTT Cà Mau thực hiện từ
6/2020 – 6/2021 ................................................................................... 44

Hình 1.1. Sơ đồ hoạt động của TTXVN ......................................................... 26
Hình 1.2. Thơng tấn xã Việt Nam qua các con số .......................................... 28
Hình 2.1. Sơ đồ phối hợp sản xuất thông tin đa phương tiện của các CQTT và
các đơn vị thông tin của TTXVN ........................................................ 41


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thơng tấn xã Việt Nam (TTXVN) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện
chức năng của cơ quan thông tấn nhà nước, đăng tải, phổ biến thông tin, văn
bản của Đảng và Nhà nước; cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo của
Đảng và quản lý nhà nước; thu thập, phổ biến thơng tin qua báo chí và phổ

biến đa phương tiện, phục vụ các tổ chức thông tin đại chúng, cơng chúng và
các đối tượng khác trong và ngồi nước.
TTXVN có mạng lưới CQTT rộng khắp 63 tỉnh, thành phố trong cả
nước, 30 CQTT ở nước ngoài tại năm châu lục, đội ngũ phóng viên trải dài khắp
cả nước và hầu hết các khu vực trọng điểm trên thế giới. Đây là một ưu thế mà
không một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam có được.
Với khoảng 60 sản phẩm thông tin do hơn 1.200 nhà báo, đội ngũ biên
tập viên (tính tồn ngành là hơn 2.500 cán bộ, nhân viên) sản xuất, TTXVN
hiện là hãng thơng tấn có nhiều sản phẩm và loại hình thơng tin nhiều nhất ở
Việt Nam. Từ thông tin nguồn bằng văn bản, ảnh, truyền hình, đồ họa, âm
thanh ... đến các ấn phẩm, bao gồm các tờ báo hàng ngày, hàng tuần, tạp chí,
báo ảnh, sách, báo điện tử, trang thơng tin điện tử, báo mạng, thông tin trên
các thiết bị cầm tay, mạng xã hội mạng, v.v.
Thời gian qua, TTXVN đã dồn mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả
mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa phương tiện mạnh. Ngay tại Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ TTXVN nhiệm kỳ 2016 - 2020 và Quy hoạch phát
triển TTXVN giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2035, TTXVN đã
khẳng định mục tiêu phát triển thành cơ quan truyền thông đa phương tiện
chủ lực của Việt Nam, có uy tín cao trong khu vực và trên thế giới; là nguồn
cung cấp thơng tin chính thống, chuẩn xác, tin cậy, phong phú cho hệ thống
truyền thông và công chúng, đạt kết quả cao trong tuyên truyền đối nội, đối


2

ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; có nền tảng
cơng nghệ hiện đại và đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên nghiệp; hoạt
động kinh tế báo chí phát triển.
Góp phần làm nên sự phong phú của “ngân hàng” tin đa phương tiện
TTXVN không thể không kể đến hệ thống CQTT, chủ lực là 63 CQTT tại 63

tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có các CQTT tại Đồng bằng sơng Cửu
Long. Bản thân tác giả là phóng viên thường trú trong nước của TTXVN,
nhận thấy yêu cầu đối với công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất tin,
bài đa phương tiện ở các CQTT để nâng cao chất lượng thông tin của TTXVN
- trong bối cảnh hãng thơng tấn quốc gia đang xây dựng thành tập đồn truyền
thông đa phương tiện mạnh - là hết sức cần thiết. Do đó, học viên lựa chọn đề
tài: Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng
sông Cửu Long để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí, trong đó có
báo chí và truyền thông đa phương tiện đã được đề cập trong nhiều tài liệu về
báo chí truyền thơng. Có thể kể đến các tác phẩm, cơng trình nghiên cứu sau:
“Sản xuất tin tức: Lý thuyết và Thực hành” (News Production: Theory
and Practice) của Sarah Niblock và David Machin (2006) cung cấp những
kiến thức cơ bản về quy trình và phương pháp sản xuất tin tức thời sự. Các tác
giả đã đưa ra các bước sản xuất tin tức thông qua các ví dụ và nghiên cứu các
trường hợp cụ thể, từ lúc chuẩn bị đến lúc phát hành và những vấn đề mà nhà
báo có thể gặp phải cũng như cách giải quyết chúng.
Cuốn sách “Báo chí và Đa phương tiện” do tác giả Nguyễn Thị Trường
Giang (2017) chủ biên đã đề xuất và giải trình những vấn đề lý luận và thực
tiễn cơ bản của tin tức và truyền thông đa phương tiện, như: đặc điểm của báo
chí đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện và tác động xã hội của nó đối


3

với xu thế phát triển của báo chí thế giới trong thời đại kỹ thuật số.Tác giả
cũng trình bày khá chi tiết, tỉ mỉ nhiều vấn đề về phương pháp luận, phương
pháp làm việc liên quan trực tiếp đến công việc "bếp núc" của các nhà báo,

người làm truyền thông trong lĩnh vực đa phương tiện.
“Báo chí và Truyền thơng - Những thách thức và giải pháp trong xu thế
phát triển hiện đại”, Nhiều tác giả, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn TP. Hồ Chí Minh (2020) tập hợp 25 bài viết đề cập đến những chuyển
động phức tạp của báo chí và truyền thơng trong thời đại kỹ thuật số trên
nhiều bình diện, quan hệ và cấp độ cùng những gợi ý về hướng đi khả dĩ cho
người làm cơng tác báo chí - truyền thơng.
Quyển sách “Tác nghiệp báo chí trong mơi trường truyền thơng hiện
đại” của tác giả Nguyễn Thành Lợi (2014) trình bày những nét phổ biến nhất
về những vấn đề khá mới đã được thế giới nghiên cứu trong thời gian dài,
chẳng hạn kỹ năng cần có của một "phóng viên đa năng" trong môi trường
truyền thông hội tụ. Tác giả giới thiệu những kiến thức cơ bản về báo chí đa
phương tiện và minh họa cách xây dựng kế hoạch truyền thơng cho một chủ
đề với hình ảnh minh họa sinh động từ các công ty truyền thông nổi tiếng thế
giới, cụ thể là cách báo chí hiện đại sử dụng thông tin đa phương tiện và đồ
họa, cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể.
Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững (2012),
bên cạnh các vấn đề lý luận, tác giả cũng đề cập đến 4 kỹ năng của nhà báo,
trong đó kỹ năng là khả năng vận dụng các vấn đề lý thuyết vào quá trình tác
nghiệp, thu thập và xử lý thông tin. Đối với nhà báo, kỹ năng là các hành vi
và nghiệp vụ hàng ngày, bao gồm việc nắm bắt tình hình chung và cụ thể ở
một lĩnh vực được phân công theo dõi, phát hiện và tiếp cận các nguồn thông
tin, trao đổi và sử dụng thông tin, sử dụng thông tin - dữ liệu ... để viết bài và
theo dõi phản hồi của dư luận xã hội.
Quyển sách “Lao động nhà báo” của tác giả Lê Thị Nhã (2016) cung


4

cấp những kiến thức cơ bản về nghề báo, những người tham gia sáng tạo ra

tác phẩm báo chí, quy trình tạo dựng nên tác phẩm báo chí và một số vấn đề
liên quan đến đạo đức nghề báo. Đặc biệt, tác giả giải thích rõ các khái niệm
và đặc điểm hoạt động lao động của nhà báo, tổ chức lao động trong cơ quan
báo chí, lao động nhà báo trong quy trình sáng tạo và sản xuất tác phẩm báo
chí cũng như yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nhà báo.
Thông tin của TTXVN chủ yếu là tin thơng tấn, nó mang những đặc
trưng của thơng tin báo chí nói chung cũng như đặc trưng thơng tấn báo chí
nói riêng. Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn, các tài liệu
nghiên cứu về tin, bài của của TTXVN (gọi chung là tin), về việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả tin TTXVN; một số tài liệu về cách thức sản xuất tin của
TTXVN, các bài viết về việc đổi mới cơng tác đào tạo phóng viên, biên tập
viên TTXVN để đáp ứng yêu cầu phát triển thông tin đa phương tiện.
Luận văn thạc sĩ Báo chí “Quy trình sản xuất tin của Thơng tấn xã Việt
Nam - Thành công và hạn chế” của Nguyễn Vũ Thành Đạt hồn thành năm
2011 đã tìm hiểu quy trình sản xuất tin tức chung của TTXVN và đưa ra các
khuyến nghị để thiết lập quy trình tiêu chuẩn hiệu quả cho sản xuất tin thông
tấn.Tuy nhiên, luận văn chưa xác định rõ quy trình cho từng loại hình tin tức,
đặc biệt là quy trình làm tin đa phương tiện ở các cơ quan thường trú trong giai
đoạn mới.
Luận văn thạc sĩ Báo chí học “Nâng cao chất lượng tin trong nước của
Thông tấn xã Việt Nam khảo sát giai đoạn 2004-2006” của Trần Tiến Duẩn
bảo vệ thành công năm 2007 đã khái quát về TTXVN và các đơn vị thơng tin
trong ngành, cũng như quy trình làm tin thơng tấn, từ đó đề xuất một số giải
pháp năng cao chất lượng tin trong nước của TTXVN.
Năm 2015, Vũ Thị Lộc thực hiện luận văn thạc sĩ Báo chí học “Tổ chức
sản xuất tin nội chính, ngoại giao tiếng Việt cho trang web dịch vụ của Thông
tấn xã Việt Nam khảo sát 6 tháng đầu năm 2015” tại Học viện Báo chí Tuyên


5


truyền. Luận văn đã đánh giá tổng quan thực trạng và hiệu quả của việc tổ
chức sản xuất tin nội chính, ngoại giao để đăng tải lên trang web dịch vụ của
TTXVN qua việc đánh giá ưu điểm, hạn chế của thông tin cũng như các vấn
đề liên quan đến sản xuất những tin này. Tuy nhiên, tin nội chính, ngoại giao
chỉ là một phần trong hệ thống tin nguồn của TTXVN, chủ yếu là tin văn bản,
chưa nêu bật được vai trị, giá trị của sản phẩm thơng tin được thể hiện bằng
nhiều loại hình (tin văn bản, tin ảnh, tin truyền hình) của TTXVN.
Đối với vấn đề quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí
truyền thơng đa phương tiện ở các CQTT TTXVN thì chưa có tài liệu nào
nghiên cứu chi tiết, tồn diện và hệ thống. Do vậy, học viên chọn đề tài “Quản lý
nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện ở
các cơ quan thường trú TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long” để nghiên cứu
nhằm đưa ra một cái nhìn tồn diện về tầm quan trọng, đóng góp của các CQTT,
trong đó có các CQTT tại Đồng bằng sơng Cửu Long trong việc sản xuất các sản
phẩm thông tin nguồn đa phương tiện của TTXVN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nội dung và tổ chức
sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng
sơng Cửu Long, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện công tác quản lý nội dung
cũng như tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng phù hợp với định
hướng phát triển thành tổ hợp truyền thông đa phương tiện mạnh của TTXVN
hiện nay
Để đạt được mục đích này, tác giả luận văn sẽ tiến hành khảo sát hai CQTT
cụ thể để tìm hiểu phương thức hoạt động của CQTT trong việc sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thông, so sánh với các CQTT trong khu vực cũng như các
cơ quan báo chí khác để có cái nhìn tổng quan về cách thức quản lý, vận hành
CQTT của hãng thơng tấn quốc gia. Trong q trình nghiên cứu và thu thập



6

thơng tin, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong
quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng của CQTT;
phân tích và làm rõ thực trạng, u cầu và nhu cầu đối với sản phẩm thông tin
của CQTT để phục vụ vai trò “ngân hàng tin” của TTXVN.
Để làm sáng tỏ hơn các luận điểm, luận văn sẽ phân tích và làm rõ vai
trị, trách nhiệm của Trưởng CQTT, phóng viên tại các CQTT cũng như mối
quan hệ trong công tác sản xuất thông tin giữa CQTT và các đơn bị biên tập
tin nguồn của TTXVN tại Hà Nội. Qua đó, luận văn sẽ đánh giá về công tác
quản lý, tổ chức sản xuất đồng thời đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị
để công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền
thơng đa phương tiện ở các CQTT tại Đồng bằng sơng Cửu Long nói riêng,
hệ thống CQTT trên cả nước nói chung tiếp tục hiệu quả, chất lượng thông tin
được nâng cao trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến công tác quản lý nội dung và
tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện ở các CQTT
TTXVN tại Đồng bằng sơng Cửu Long, hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn
của hai hoạt động này ở các CQTT hiện nay.
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nội dung
và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng nói chung.
+ Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nội dung và tổ chức sản xuất
sản phẩm báo chí truyền thơng ở các CQTT Cần Thơ và Cà Mau.
+ Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện ở các CQTT trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản



7

lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện ở
các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
Phạm vi thời gian: Năm 2020 và năm 2021.
Phạm vi khảo sát: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nội
dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện của
CQTT TTXVN tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, gồm CQTT Cần Thơ
và CQTT Cà Mau trong thời gian 12 tháng, từ tháng 6/2020 - 6/2021.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện theo một số phương pháp chính như sau:
a. Phương pháp nghiên cứu trường hợp:
Khảo sát hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng ở hai CQTT
Cần Thơ và Cà Mau để thu được các số liệu cụ thể phản ánh thực trạng hoạt
động quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng
theo hướng đa phương tiện. Tại khu vực Đồng bằng sơng Cửu Long, TTXVN
có 13 CQTT, mơ hình tổ chức, hoạt động của các CQTT là giống nhau nên
luận văn này chỉ nghiên cứu hai CQTT đại diện là tại thành phố Cần Thơ
(trung tâm của vùng) và Cà Mau (tỉnh cực Nam của Tổ quốc).
b. Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh
Sử dụng để phân tích, đánh giá, so sánh cơng tác quản lý nội dung và tổ
chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng ở các CQTT trong phạm vi khảo
sát, nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng và những kết luận có tính khái
qt về chất lượng sản phẩm báo chí đa phương tiện của CQTT trong nước
của TTXVN.
c. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Từ kinh nghiệm tác nghiệp đa phương tiện của các phóng viên ở các
CQTT khảo sát cũng như kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của các

CQTT đã rút ra được nhiều vấn đề liên quan đến công tác quản lý nội dung và


8

tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng ở các CQTT của TTXVN tại
Đồng bằng sông Cửu Long.
d. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tác giả luận văn thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo các đơn
vị thông tin thuộc TTXVN; phỏng vấn, trao đổi với các trưởng CQTT, phóng
viên CQTT tại địa phương; phỏng vấn nhà báo, phóng viên đang cơng tác tại
các cơ quan báo chí ở Đồng bằng sơng Cửu Long về các vấn đề liên quan đến
việc quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện.
6. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài là cơng trình đầu tiên dưới dạng luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thơng đa
phương tiện ở các CQTT của TTXVN. Luận văn chỉ ra ưu, nhược điểm trong
nội dung, phương thức quản lý và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí đa
phương tiện ở khối CQTT trong nước của TTXVN qua khảo sát thực tế tại
Đồng bằng sơng Cửu Long; đóng góp giải pháp, kiến nghị để thơng tin nguồn
được sản xuất bằng hình thức đa phương tiện của TTXVN hiệu quả, chất
lượng hơn trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn trình bày lý luận báo chí về sản phẩm báo chí truyền thơng
đa phương tiện, mang đến một cái nhìn mới về cách thức sản xuất, xu thế
phát triển của tin bài đa phương tiện so với sản phẩm báo chí truyền thống.
Nêu bật tính ưu việt của tin bài đa phương tiện thực sự phù hợp với tình
hình báo chí hiện nay ở Việt Nam và cần thiết để thích ứng với xu hướng

phát triển chung của báo chí thế giới.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu thực tiễn tin bài của các CQTT phát trên hệ thống tin


9

nguồn và các cơ quan báo chí của TTXVN, đặt trong bối cảnh phát triển của
báo chí Việt Nam và thế giới, luận văn sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan, đa
chiều về tin bài đa phương tiện cho phóng viên, biên tập viên. Qua đó, giúp
phóng viên, biên tập viên TTXVN trong quá trình tác nghiệp, sản xuất tin bài
sẽ trở nên chun nghiệp, hồn thiện hơn.
Những thành cơng và hạn chế được nêu ra sẽ là cơ sở để việc quản lý nội
dung và tổ chức sản xuất tin bài ở CQTT TTXVN ngày càng trở nên tối ưu,
đảm bảo tính thống nhất cũng như chất lượng các sản phẩm báo chí đa
phương tiện của hãng thơng tấn quốc gia.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn tập trung ở các chương, tiết mục.
Chương 1: Lý luận chung về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản
phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện.
Chương 2: Thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm
báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng
sông Cửu Long.
Chương 3: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị nhằm tối ưu hóa quản lý
nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở
các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long.


10


Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG
VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THƠNG
ĐA PHƢƠNG TIỆN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ
CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA
PHƢƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƢỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ
VIỆT NAM
1.1.1. Một số khái niệm
Quản lý
Quản lý là sự tác động có định hướng của các chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý bằng các phương thức, cơng cụ quản lý thích hợp nhằm đạt
mục tiêu quản lý. Trong nghiên cứu khoa học, thuật ngữ “quản lý” có nhiều
cách hiểu, định nghĩa khác nhau tùy theo từng môn khoa học hay cách tiếp
cận của người nghiên cứu.
“Quản lý” đã tư tưởng có từ cách đây hơn 25 thế kỷ, nhưng vấn đề
quản lý theo khoa học lại chỉ mới xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX. Ở Phương Tây, Frederick W.Taylor trong tác phẩm Những nguyên tắc
khoa học quản lý cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì
cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất.
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công
việc qua những nỗ lực của người khác.
Ở Phương Đông, thuật ngữ “quản lý” là từ Hán - Việt, được hiểu là
thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình
"quản" bao gồm việc chăm sóc, giữ gìn và duy trì để hệ thống ln ở trạng
thái "ổn định". Trong khi đó, “lý” là quá trình bao gồm việc sửa đổi, sắp xếp
và cập nhật hệ thống để hệ thống ở vị trí của "sự phát triển". Nếu nhà quản lý



11

chỉ quan tâm đến "quản", tức là chỉ quan tâm coi sóc và duy trì tổ chức thì tổ
chức dễ bị trì trệ. Ngược lại, nếu họ chỉ quan tâm đến "lý", tức là chỉ quan tâm
đến việc sắp xếp, tổ chức và đổi mới mà khơng đặt nó trên cơ sở ổn định, hệ
thống sẽ không thể phát triển liên tục. Nói một cách khái qt, “quản” và “lý”
ln phải song hành, không được tách rời nhau, trong cái này có cái kia, để
hoạt động của hệ thống ln ở trạng thái cân bằng. Quản lý để đạt được kết
quả thực sự bền vững đòi hỏi một chiến lược tích hợp hai q trình vào với
nhau một cách hợp lý.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát
sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra
ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách
có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để
điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn
định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.
Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có
thể là một cá nhân hoặc tổ chức.
- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ
thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội.
- Đối tượng quản lý tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo
từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau.
- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất
định do chủ thể quản lý định trước.
Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau. Các yếu tố đó là con người; hệ thống và tư tưởng chính trị tổ chức,
thơng tin, văn hóa…
Nhìn chung, dù ở phương Đơng hay phương Tây, “quản lý” là hiện



12

tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu
cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý
trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt
được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách
quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao.
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là hoạt động có tổ chức, có thẩm quyền
của một tổ chức chiến lược, tập thể hoặc cá nhân, nhằm điều phối nhân viên
hoặc tình nguyện viên để đạt được mục tiêu của họ thông qua việc sử dụng các
nguồn lực. Các nguồn lực sẵn có bao gồm tài chính, kỹ thuật và nhân lực…
Với cách hiểu này, quản lý nội dung trong sản xuất sản phẩm báo chí là
sự tác động có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý nhằm đưa nội dung thông tin báo chí đến với cơng chúng một cách
chính xác và nhanh chóng, bài bản và sinh động, nó khơng chỉ đáp ứng nhu
cầu của thơng tin của chúng, mà cịn hồn thành nhiệm vụ của một tổ chức
báo chí.
Tổ chức sản xuất
+ Triết học định nghĩa: "Tổ chức, nói một cách rộng rãi, là cấu trúc mà
sự vật tồn tại. Một sự vật khơng thể tồn tại nếu khơng có một số hình thức liên
kết giữa các yếu tố trong nội dung của nó. Do đó, tổ chức là thuộc tính của
bản thân các sự vật." Tổ chức là thuộc tính của sự vật, hay nói cách khác, sự
vật ln tồn tại dưới dạng là một tổ chức nhất định.
Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức theo nghĩa hẹp là “một
nhóm người cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc đạt được một
mục tiêu xác định của nhóm”.
Tổ chức được hiểu chung là xác định cấu trúc và cơ chế của hệ thống,
xác định công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và phân công các bộ

phận cho người quản lý hoặc giám sát, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
nhất định thực hiện các hoạt động cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao.


13

Việc tổ chức như vậy được gọi là tổ chức bộ máy. Hoạt động tổ chức cũng là
sự sắp xếp các nhiệm vụ trong một cơ cấu tổ chức.
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thuật ngữ "tổ chức" trong
truyền thơng đại chúng, cần xem xét để hiểu nó từ hai khía cạnh:
Đầu tiên, chỉ tổ chức một nhóm người làm việc trong cùng một lĩnh
vực chuyên môn. Thứ hai, tổ chức chỉ được điều hành bởi các công ty truyền
thơng và các nhà quản lý báo chí - truyền thơng nhằm tạo ra một sản phẩm
báo chí hồn chỉnh; một hoạt động nghề nghiệp dành cho các nhà báo với
những công việc cụ thể như: lập kế hoạch, tổ chức sản xuất nội dung, thiết kế
và trình bày bài báo, in ấn và xuất bản.
+ Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra.
Mục đích của q trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho
khách hàng. Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn
kỹ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thơng tin... Đầu ra của q trình
chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi
trường. Sản xuất là tạo ra của cải vật chất nói chung. Hoạt động sản xuất tạo
ra vật chất cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng
lao động.
Tổ chức sản xuất là sự bố trí các cơng đoạn, các khâu trong một dây
chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ đầu vào đến đầu ra. Mục tiêu
của tổ chức sản xuất là sự bố trí các cơng đoạn, các khâu nhằm tạo ra năng
suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động
tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị
đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp

dịch vụ. Do đó, quyết định lựa chọn tổ chức sản xuất theo dây chuyền, tổ
chức sản xuất theo nhóm hay tổ chức sản xuất đơn chiếc là tùy thuộc vào quy
mô sản xuất, chủng loại hay kết cấu sản phẩm của doanh nghiệp.


14

Tổ chức sản xuất cịn có thể xem xét như là một q trình thì đó chính
là các biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và
phối hợp hoạt động của các bộ phận sản xuất theo thời gian một cách hợp lý.
Nội dung tổ chức sản xuất sẽ bao gồm:
- Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất.
- Nghiên cứu chu kỳ sản xuất tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất.
- Lập kế hoạch tiến độ sản xuất và tổ chức cơng tác điều độ sản xuất
Sản phẩm báo chí truyền thơng đa phương tiện
+ Sản phẩm báo chí
Ở lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí
để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hồn thiện của các kênh truyền thơng
đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với truyền hình
hình và phát thanh), đưa lên mạng internet (đối với báo điện tử). Điều đó có
nghĩa sản phẩm báo chí đã được xã hội hóa thơng tin, chỉ tồn tại có ý nghĩa
trong mối quan hệ nhà báo - sản phẩm báo chí - cơng chúng. Đó là cách hiểu
theo nghĩa hẹp, với nghĩa sản phẩm đơn lẻ.
Tác giả Tạ Ngọc Tấn quan niệm rằng, trong thông tin báo chí, sản phẩm
báo chí hồn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) giữ vai
trị phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin. [42].
Tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền lại cho rằng, sản phẩm báo chí là
những ấn phẩm hồn chỉnh thuộc báo in, các chương trình phát thanh, chương
trình truyền hình hoặc các trang thơng tin, báo mạng điện tử chứa đựng nhiều
loại tác phẩm nhằm chuyển tải thông tin đến cho cơng chúng. Các loại sản

phẩm báo chí hiện nay ngày càng đa dạng và phong phú. [19]
Thực tế việc sản xuất các sản phẩm báo chí hiện nay đang đặt ra yêu
cầu phải được tiếp cận toàn diện đầy đủ hơn về vấn đề này. Điều đó có ý
nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành báo chí mà cịn cần
thiết đối với cơng tác quản lý báo chí.


15

+ Đa phương tiện
Đa phương tiện là thuật ngữ xuất phát từ cụm từ “multimedia" trong
tiếng Anh. Trong từ điển Oxford của Anh, multimedia - đa phương tiện có
nghĩa là việc sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện (đặc biệt là audio, video
và các chương trình tương tác) để truyền thông. Thuật ngữ này xuất hiện vào
khoảng giữa thế kỷ XX. Năm 1965, cụm từ này được sử dụng để miêu tả một
buổi trình diễn đặc biệt có tên là “Exploding Plastic Inevitable” buổi biểu diễn
đầu tiên có sự kết hợp của nhạc rock, chiếu bóng, ánh sáng và trình diễn nghệ
thuật (cũng có thơng tin cho rằng thuật ngữ này xuất hiện vào tháng 7-1966
khi Bob Goldstein đặt ra để nói về cuộc khai mạc chuong trinh "LightWorks
at L'Oursin" & Southampton, Long Island (theo nghiên cứu của Richard
Albarino trong cuốn “Goldstein‟s LightWorks at Southhampton”). Năm 1992,
sự xuất hiện của World Wide Web đã cho phép thiết lập những trang web đơn
giản được viết bằng ngôn ngữ siêu văn bản HTML (Hyper Text Markup
Language), đánh dấu sự phát triển quan trọng của "đa phương tiện".
Năm 1995, Viện Xã hội Ngôn ngữ Đức "Gesellschaft für deutsche
Sprache" quyết định công nhận ý nghĩa của "đa phương tiện" bằng cách trao
cho nó danh hiệu "Từ của năm và khẳng định: "Đa phương tiện đã trở thành
một từ trung tâm trong các phương tiện truyền thông thế giới mới”. Hiện nay,
các “phương tiện” được tích hợp trên các trang web ngày càng đa dạng, bao
gồm: Văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation),

đồ họa (graphic), âm thanh (audio) video và chương trình tương tác
(interactive program), nhưng trên thực tế, chỉ cần kết hợp ba, bón yếu tố trong
đó có audio hoặc video đã được coi là đa phương tiện.
Đa phương tiện được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. như chương
trình video theo yêu cầu (VOD -video on demand), trò chơi điện tử, giao dịch
và thương mại điện tử, chính phủ điện tử, thư điện tử có kèm hình ảnh và âm


16

thanh, giáo dục từ xa (distance learning) - day học qua sóng của phát thanh,
truyền hình, hoặc trên mạng Internet. học trực tuyến (e-learning)…
Trong cuốn sách nổi tiếng về Đa phương tiện: “Multimedia - Making it
work” (tạm dịch: Đa phương tiện làm cho nó hoạt động) được tái bản đến lần
thứ 8, tác giả Tay Vaughan đưa ra khái niệm: “Đa phương tiện là bất kỳ sự
kết hợp giữa văn bản, nghệ thuật, âm thanh, hình ảnh động, video được truyền
tải, phân phối tới người xem bằng máy tính hoặc qua các phương tiện điện tử
hay số hóa".
Ở góc độ viễn thơng, cơng nghệ thơng tin, có thể hiểu đa phương tiện là
kỹ thuật mô phỏng và sử dụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyển hóa
thơng tin và các tác phẩm từ các kỹ thuật đó.
Đa phương tiện có thể được hiểu theo 3 khía cạnh: Thứ nhất, là sự tích
hợp đa mã ngơn ngữ biểu đạt (có thể bằng chữ viết, các loại hình ảnh, âm
thanh tổng hợp, đỗ hoạ); Thứ hai, là sự tương tác (tương tác trực tiếp, đồng
thời, đã chiêu, liên tục, trong mọi thời điểm, không gian); thứ ba, là kỹ thuật
(hội tụ và ứng dụng tối đa các tính năng kỹ thuật mới).
Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Đa phương tiện chính là khả
năng kết hợp các tài liệu văn bản, hình ảnh, âm nhạc, video, hình động và tài
liệu in ấn có thể được sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau nhằm “thay đổi” sự
chú ý và truyền đạt một cách có hiệu quả thơng điệp của bạn".

Theo tác giả Đỗ Trung Tuấn, liên quan đến đa phương tiện cần lưu ý
những khía cạnh sau:
* Thơng tin cần phải được số hóa, phù hợp với xu thế và rẻ;
* Phải dùng mạng máy tính, để đảm bảo truyền bá, hay truyền tải tốt;
* Sử dụng phần mềm có tương tác, cho phép người dùng trao đổi với
phần mềm và thay đổi theo ý người dùng;
* Phải thiết kế giao diện phù hợp với phát triển của đa phương tiện.
Như vậy có thể hiểu, đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại


17

phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi văn tự): Văn bản (Text), hình ảnh tĩnh
(still image), hình ảnh động (animation), đồ hoạ (graphic), âm thanh tổng hợp
(audio), video và chương trình tương tác (interactive program) nhằm gây sự
chú ý, tăng độ hấp dẫn, đảm bảo độ tin cậy, chân thực, khách quan và nâng
cao tính thuyết phục trong chuyển tải thơng điệp. [11]
+ Báo chí đa phương tiện
Bàn về báo chí đa phương tiện, Trung tâm báo chí Knight Science
Journalism của Mỹ cho rằng: Báo chí đa phương tiện kết hợp các hình thức kể
chuyện khác nhau âm thanh, văn bản, video, đồ họa (bao gồm cả thông tin đồ
họa - infographics) và hình ảnh, để kể câu chuyện báo chí một cách hấp dẫn.
Nó tận dụng các cơng cụ kỹ thuật số để đưa ngành báo chí vào cuộc sống theo
những cách mới.
Báo chí đa phương tiện là loại hình báo chí có chứa các sản phẩm báo
chí sử dụng đồng thời nhiều hình thức như: Văn bản, các loại hình ảnh, âm
thanh tổng hợp, video, đồ họa và các chương trình tương tác để chuyển tải
thơng tin.
Báo chí đa phương tiện là nơi phản ánh mọi mặt của đời sống hàng ngày,
bày tỏ thái độ của quần chúng, bộc lộ quan điểm chính trị, vị trí cơng dân, thể

hiện năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo. Một tác phẩm báo chí đa
phương tiện được hình thành thơng qua các giai đoạn lựa chọn chủ đề, sử dụng
và xử lý tài liệu, tạo lập văn bản (tác phẩm) bằng ngôn ngữ đa phương tiện.
+ Truyền thơng đa phương tiện
Có thể hiểu, truyền thơng đa phương tiện là hình thức truyền thơng mà
ở đó nhiều phương tiện như: văn bản, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, âm thanh,
đồ họa, video…được kết hợp lại với nhau và sử dụng cơng nghệ thơng tin
(máy tính là cơng cụ không thể thiếu) để sáng tạo, thiết kế, sản xuất và truyền
đi các sản phẩm, thơng điệp có thể tác động đến nhiều giác quan của con
người. Những sản phẩm mang tính ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như quảng


×