MUA TRỰC TIẾP LIÊN HỆ ĐT, ZALO: 0946.734.736
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
“KHỞI ĐỘNG” TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 8
Ở TRƯỜNG THCS …
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục là quốc sách hàng đầu luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm. Những năm gần đây, vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
được coi như là một trong những nội dung vừa chiến lược, cấp thiết. Trước yêu cầu
của giai đoạn phát triển mới của đất nước, Việt Nam đang cần một sách lược toàn
diện, căn bản, xứng tầm với lĩnh vực quan trọng hàng đầu này. Đây là sứ mệnh
thiêng liêng, đồng thời cũng là nhiệm vụ cấp thiết để Việt Nam bước vào hàng ngũ
các nước phát triển. Chính vì thế mà ngành giáo dục nước ta đang thực hiện từng
bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học được cái gì đến chỗ quan tâm học
sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện
thành cơng việc chuyển từ phương pháp dạy học lối truyền thụ một chiều sang dạy
cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và
phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm
tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề.
Văn học là một mơn học đặc biệt, địi hỏi người dạy, người học phải say mê,
suy ngẫm, phải hào hứng khi tiếp cận thì chúng ta mới hiểu, mới làm rõ được vấn
đề. Nhưng dạy văn, học văn là một nghệ thuật. Những năm gần đây, ngành giáo
dục nước ta đã có những đổi mới về mục tiêu, nội dung chương trình và phương
pháp giảng dạy nhưng những đổi mới về phương pháp dạy học vẫn chưa đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục, chưa thực sự phù hợp với đặc trưng bộ môn.
Thực tế hiện nay chúng ta thấy rằng tình yêu văn học trong học sinh đã giảm
2
sút rất nhiều. Một phần, do văn học là môn học khó chiếm lĩnh, dù các em thích
Văn nhưng khơng phải em nào cũng có khả năng tiếp thu dễ dàng. Là mơn học
thuộc nhóm cơng cụ, mơn Văn cịn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác.
Học tốt mơn văn sẽ tác động, hỗ trợ tích cực đến các mơn học cịn lại. Vì vậy,
người giáo viên dạy văn cần phải đánh thức ở học sinh niềm đam mê văn chương,
khơi dậy ở các em tính sáng tạo và khả năng làm chủ kiến thức. Để làm được điều
đó trong mỗi giờ dạy học, giáo viên cần tạo được mợt tâm lí thoải mái, một sự tự
tin, một cảm hứng, một tâm hồn văn chương thì mới có thể đi vào tìm hiểu, khám
phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương.
Hoạt động “khởi động” đóng vai trò quan trọng trong giờ học. Nó là hoạt
động khởi đầu nên có tác động đến cảm xúc, trí tuệ của người học trong toàn tiết
học. Nếu tổ chức tốt hoạt động này sẽ tạo ra một tâm thế, tâm lý hưng phấn, tự
nhiên để lôi kéo học sinh vào giờ học. Hơn nữa, nếu cách thức tổ chức hoạt động
càng đa dạng thì sẽ luôn tạo nên những bất ngờ thú vị cho học sinh. Các em sẽ
được thoải mái tham gia vào hoạt động học tập, giờ học cũng bớt sự căng thẳng...
Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn sáng kiến “Biện pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động “khởi động” trong dạy học Ngữ văn 8 ở trường THCS ”.
1.1. Cơ sở lý luận
Nói đến “tâm thế” là nói đến khái niệm “chú ý”- một khái niệm của khoa tâm
lí học. Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một đối tượng, sự vật,... nào đó, để định
hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến
hành có hiệu quả. Nhờ sự tập trung chú ý mà trong một thời điểm, giữa sự chi phối
của nhiều hướng và nhiều vấn đề tác động, có thể tách được một phạm vi chú ý
xác định thành đối tượng để chủ thể hướng vào đó mà tiến hành hoạt động
chiếm lĩnh đối tượng ấy.
Vì thế mục tiêu, yêu cầu của phương pháp giáo dục phổ thông là phải phát
huy được tính tích cực, chủ động của người học, phù hợp với đặc điểm của từng
3
lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Đây là định hướng cơ bản, thiết thực đối với mỗi giáo viên, cũng là yếu tố quyết
định hiệu quả của một giờ dạy môn Ngữ văn trong nhà trường trung học cơ sở.
1.2, Cơ sở thực tiễn
Khởi động là hoạt động đầu tiên của tiết học, hoạt động này nhằm giúp học
sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề
có nội dung liên quan đến bài học mới. Hoạt động “khởi động” sẽ kích thích tính tò
mò, sự hứng thú, tâm thế của học sinh ngay từ đầu tiết học. Hoạt động “khởi động”
thường được tổ chức thông qua hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm sẽ kích
thích sự sáng tạo, giúp học sinh hình thành năng lực hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp
đỡ nhau khi thưc hiện nhiệm vụ. Chuẩn bị phần “khởi động” như thế nào cho hiệu
quả phải dựa vào nội dung bài, đối tượng học sinh và cả điều kiện của giáo
viên.
Những năm gần đây, phương pháp dạy học văn đã rất chú ý đến khâu tạo
tâm thế học văn cho học sinh. Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao
gây được rung động thẩm mỹ, giáo dục nhân cách cho học sinh. Trong cuộc sống
hay trong dạy – học, bước khởi đầu luôn là bước tạo nền tảng, tâm thế. Nền tảng
vững, tâm thế tốt thì các hoạt động phía sau mới hiệu quả. Và ngược lại, nếu khởi
đầu không tốt thì các hoạt động khác cũng vô cùng khó khăn.
Hoạt động khởi động dù chỉ là một khâu nhỏ, không nằm trong trọng tâm
kiến thức cần đạt nhưng nó có tác dụng tạo tâm thế thoải mái, nhẹ nhàng, hưng
phấn cho học sinh vào đầu giờ học. Điều đó có nghĩa là nó sẽ ảnh hưởng lớn đến
toàn bộ bài dạy. Vậy nên nếu vì nó chỉ là khâu nhỏ mà bỏ qua thì là một sai lầm
lớn. Các em học sinh không thích một giờ học gò bó, căng thẳng. Cho nên, cách tổ
chức hoạt động theo phương châm: học mà chơi, chơi và học là một cách hay để lôi
kéo, tạo tâm thế thoải mái cho học sinh.
4
1.3. Giới hạn đề tài
- Nâng cao hiệu quả hoạt động “khởi động” môn Ngữ văn 8.
- Phạm vi nghiên cứu: hai lớp 8A2, 8A3 trường THCS ...
B. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, chương trình đổi mới theo hướng phát triển năng lực học sinh đang
được giáo viên áp dụng vào công tác giảng dạy. Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào
phần hình thành kiến thức, phần thiết kế hoạt động “khởi động” chỉ làm theo hình
thức giới thiệu qua một chút để vào bài (Theo cách truyền thống). Do đó, tiết học
tương đối khơ khan, thiếu đi sự hợp tác tích cực của học sinh ngay từ phút đầu.
Giáo viên và học sinh gặp khó khăn thực hiện những hoạt động học tập tiếp theo.
Là người trực tiếp hay không trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, chúng ta đều dễ
dàng nhận thấy thực trạng hiện nay là học sinh chưa chủ động, tích cực trong việc
học, đến lớp không chú ý nghe giảng,về nhà không làm bài. Các em chỉ học theo
kiểu đối phó, cố gắng học, cố gắng thi đạt điểm trung bình để đạt tiêu chuẩn khi
xếp loại học tập.
Chính vì lẽ đó, là một người thực sự yêu nghề, yêu mơn Văn, tơi ln tìm tịi,
đổi mới phương pháp cho phù hợp cho từng bài, từng đối tượng học sinh. Đặc biệt,
phải biết cách thiết kế hoạt động “khởi động” để đem lại hiệu quả khi giảng dạy.
Tìm hiểu thực tế, đầu năm học 2020 – 2021 tôi đã tiến hành khảo sát mức độ
hứng thú, yêu thích các tiết học đọc hiểu văn bản, kết quả thu được như sau:
Kết quả khảo sát trước khi sử dụng biện pháp
Bảng khảo sát 1
Lớp
Sĩ số
8A2
42
Rất u thích
Thích
SL
%
SL
4,76
9
2
Bình thường
Khơng thích
%
SL
%
SL
%
21,4
17
40,4
14
33,4
5
8A3
43
3
6,97
7
16,2
15
34,8
18
41,9
Đồng thời, tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng của học sinh với bài
kiểm tra đầu năm học thì kết quả thu được:
Qua kiểm tra chất lượng thu được như sau:
Bảng khảo sát 2
Đ. dưới T.B
Điểm T.B
Điểm khá
Điểm giỏi
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
42
8
19
13
30,9
22
52,3
1
2,4
43
10
23,2
15
34,8
16
37,2
2
4,7
Lớp
Sĩ số
8A2
8A3
Qua kết quả khảo sát cho thấy: Học sinh ít hứng thú với mơn văn nói chung
và các tiết đọc hiểu văn bản nói riêng (Bảng khảo sát 1). Nhiều em học thụ động,
đối phó nên chất lượng mơn Ngữ văn lớp 8 cịn thấp, đặc biệt điểm khá, giỏi có ít
(Bảng khảo sát 2). Học sinh khơng thích học văn, chất lượng khảo sát thấp do nhiều
nguyên nhân. Song nguyên nhân không phủ nhận được là giáo viên chưa đưa ra
được phương pháp dạy học thay đổi các hoạt động giảng dạy phù hợp với đặc trưng
kiểu bài. Ngoài ra, giáo viên chưa tổ chức được các hoạt phù hợp để tạo để tạo
hứng thú học tập và phát huy tính tích cực, năng lực học tập của học sinh. Các hoạt
động chưa hướng các em có ý thức tìm tịi khám phá, lĩnh hội kiến thức văn
6
chương. Các em thụ động trong tiết học, nắm kiến thức không sâu, nhanh quên, bối
rối khi gặp các bài tập vận dụng…
2.Nội dung sáng kiến
Để nâng cao chất lượng dạy học và tạo hứng thú cho học sinh phát huy năng
lực ở môn Ngữ văn, tôi đã vận dụng một số biện pháp, hình thức tổ chức hoạt động
khởi động như sau:
2.1. Biện pháp sử dụng hệ thống câu hỏi
Đây là phương pháp Khởi động đơn giản được sử dụng rất phổ biến trong
q trình giảng dạy.
Ví dụ : Khi dạy văn bản Tôi đi học (Ngữ văn 8, tập 1)
Trong cuộc đời của mỗi con người có những kỉ niệm nào được lưu giữ bền
lâu nhất ? (kỉ niệm tuổi học trò)
Vậy đối với em kỉ niệm tuổi học trò đáng nhớ nhất là những kỉ niệm nào?
Giáo viên: Đúng vậy đó là kỉ niệm bâng khuâng khó tả về ngày đầu tiên đi
học được mẹ dỗ dành yêu thương. Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh sẽ diễn
tả lại những kỉ niệm đó…)
2.2 Biện pháp sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, danh ngôn, câu
đối...
Đó là những lời hay ý đẹp có tính chất ca ngợi, lời răn dạy và những câu triết
lí hàm nghĩa sâu sắc, được mọi người sử dụng hằng ngày trong cuộc sống và là tâm
huyết của danh nhân. Trích dẫn câu trên để vận dụng vào hoạt động khởi động khi
dạy học trên lớp có thể thu hút được sự chú ý của học sinh, tạo sự mới mẻ, khác lạ,
kích thích và nâng cao hứng thú học tập ở học sinh. Qua đó, giáo viên có thể giáo
dục thực tiễn cho học sinh nhiều bài học bổ ích. Đặc biệt, các bài học về đạo đức
thì việc sử dụng ca dao, tục ngữ, câu đối, thành ngữ lại phát huy hiệu quả cao. Với
bước này giáo viên yêu cầu học sinh tìm các câu thơ, ca dao ...có chủ đề liên quan
7
đến bài học.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Ơng đồ (Ngữ văn 8, tập 2)
Em hãy giới thiệu vài nét về tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam ?
GV: Học sinh có thể kể các hoạt động ngày tết như: Chúc tết , sắm tết, mua
quần áo mới; nhà cửa: qt dọn trang trí, thức ăn: thịt, giị lụa, bánh chưng, nước
ngọt... Câu đối:
“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh’’
Mỗi khi tết đến xn về, hình ảnh khơng thể thiếu trong mỗi gia đình Việt
xưa là câu đối ngày tết. Nhắc đến câu đối là gợi nhắc đến Ơng đồ. Hình ảnh ơng đồ
được tác giả Vũ Đình Liên khắc họa cảm động trong bài thơ cùng tên của mình như
thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu văn bản “ Ơng đồ” .
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Cô bé bán diêm (Ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên giới thiệu vào bài: Nhà văn Nga từng nói: “Nơi lạnh giá nhất khơng phải
là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương”.
Bắc Cực dẫu lạnh, dẫu trời đông tuyết phủ quanh năm nhưng ở đó vẫn có những
sinh vật có thể sinh sống được và con người cũng đã chinh phục được. Tuy nhiên,
nơi thiếu vắng tình thương - ấy là nơi cõi lạnh giá trong tâm hồn người. Đó là nơi
người ta sống với nhau một cách vơ tình, nhạt nhẽo, khơng có hơi ấm của tình
người. Trong tác phẩm hơm nay, chúng ta được tìm hiểu tác phẩm mang đậm giá trị
nhân văn, thể hiện tầm quan trọng của tình yêu thương – Cô bé bán diêm.
2.3. Biện pháp kể chuyện
Câu chuyện phải có nội dung liên quan đến bài mới mà các em chuẩn bị học.
Những câu chuyện phải ngắn gọn, tránh mất thời gian. Các truyện có thể là truyện
dân gian hay thực tế cuộc sống. Đây là hình thức tạo hứng thú, vừa mang tính giáo
dục cho HS, lúc này các em sẽ chăm chú học hơn có tâm thế đi vào bài học.
8
Ví dụ 1: Khi dạy bài Trong lịng mẹ (Ngữ văn 8, tập 1)
Kể câu chuyện “Người mẹ mù một bên mắt”
Giáo viên: Em có suy nghĩ gì về câu chuyện này ? (Tấm lòng bao dung của
mẹ)
Giáo viên: Dẫn vào bài: Mẹ luôn là người yêu thương, che chở và đồng hành
cùng con đi hết quảng đường đời. Mẹ dành cho chúng ta tất cả những gì tốt đẹp
nhất trên đời. Thật hạnh phúc thay khi những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong
vòng tay yêu thương, bao bọc của mẹ. Tình mẹ dành cho con là vô bờ bến, mẹ luôn
dõi theo từng nhịp bước của những đứa con, đi qua thời thơ ấu cho đến lúc trưởng
thành. Hơm nay chúng ta sẽ được tìm hiểu một văn bản nữa về tình mẹ con qua
đoạn đoạn trích “Trong lịng mẹ” của tác giả Ngun Hồng.
2.4. Biện pháp sử dụng tranh ảnh.
Sử dụng tranh ảnh minh họa là phương pháp khá phổ biến trong giảng dạy
các môn khoa học tự nhiên và các mơn Địa lí, Sinh học, Lịch sử,...Cịn dạy học
Ngữ văn thì dựa vào văn bản là chủ yếu, hiếm khi sử dụng vật mẫu hay tranh ảnh
minh họa. Vì thế, khi sử dụng tranh ảnh minh họa học sinh sẽ có được những cảm
nhận mới mẻ khi tiếp cận văn bản. Đây là một biện pháp hỗ trợ dạy học không thể
thiếu trong giảng dạy nói chung. Biện pháp này có thể thay cho khởi động để tạo
cảm giác chân thực, tăng thêm tính rõ ràng, tính sinh động khi tiếp nhận bài học.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Trong lòng mẹ (Ngữ văn 8, tập 1)
GV đưa ra 2 hình ảnh về mẹ
9
Hình 1
Hình 2
1.Theo em các hình ảnh trên thể hiện tình cảm của ai với ai ?
Hình 1: Người mẹ ơm con.
Hình 2: Người mẹ đang chăm sóc con
=> Tình cảm mẹ con.
2. Chia sẻ những kỉ niệm, tình cảm và ấn tượng sâu sắc của em về mẹ: =>
mỗi học sinh tự kể về kỉ niệm của mình
3. Mỗi em hãy viết một lời nhắn nhủ chân thành và thầm kín gửi tới mẹ.
(giáo gửi phiếu học sinh viết) => Giáo viên đọc lời nhắn gửi của học sinh, có
những lời khen ngợi.
Giáo viên: Rõ ràng chúng ta thấy tình cảm đối với mẹ thật thiêng liêng. Được
nằm trong vịng tay của mẹ thật hạnh phúc. Bài học hơm nay sẽ cho các em cảm
nhận tình mẫu tử cảm động và thiêng liêng biết nhường nào? Qua đoạn trích
“Trong lịng mẹ” trích trong “Những ngày thơ ấu” của Ngun Hồng.
Ví dụ 2: Khi dạy bài Chiếu dời đơ
10
Giáo viên sẽ sử dụng một số hình ảnh và dẫn dắt vào bài:
Hình ảnh về con đường gốm sứ nhân lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Giáo viên dẫn dắt vào bài:
Con đường gốm sứ ven sơng Hồng là món q của những tấm lịng dâng lên
Thăng Long - Hà Nội nhân dịp ngàn năm tuổi. Con đường này được khánh thành
ngày 25/9/2010 sau 3 năm xây dựng. Đây là cơng trình chào mừng 1.000 năm
Thăng Long - Hà Nội.
Thủ đô văn hiến của chúng ta có từ bao giờ? Ai là người lựa chọn nơi thắng
địa ấy để định đô? Ý nghĩa của việc dời đơ như thế nào? Chúng ta cũng tìm hiểu
bài học "Chiếu dời đô".
2.5 Biện pháp sử dụng video
Sử dụng máy chiếu là một hình thức dạy học trực quan so với sử dụng tranh
11
ảnh minh họa, băng ghi hình... Dù hình thức có khác nhau nhưng đều đem lại hiệu
quả tích cực trong dạy học. Sử dụng máy chiếu có phạm vi tương đối rộng. Tiêu đề,
các mục đề, tóm tắt nội dung, từ vựng, hình tượng trong bài, hiệu ứng... đều có thể
chiếu. Sử dụng máy chiếu so với việc dạy học truyền thống sẽ tiết kiệm thời gian,
sức lực và học tập có phần hiệu quả nhanh gọn, khoa học hơn. Sử dụng các đoạn
video có liên quan đến nội dung bài học. Sau khi học sinh xem xong, yêu cầu các
em xác định nhân vật trong phim, cảnh trong phim liên quan địa danh nào... để vào
bài mới.
Ví dụ: Khi dạy bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
G: Giới thiệu một địa danh mà em được biết đến qua chương trình VTV?
(2) Xem video: Du lịch qua màn ảnh nhỏ và cho biết chúng ta vừa đến địa
danh nào? Em hiểu gì về địa danh đó?
Hình được cắt từ video giới thiệu về Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.
-Giáo viên tổng hợp ý kiến dẫn dắt vào bài: Các em đã từng được nghe được
đến những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử như Hồ Gươm, Hồ Hoàn Kiếm,
Vịnh Hạ Long, Bến Ninh Kiều, chợ nỗi Cái Răng... Việt Nam có biết bao danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử đáng ngưỡng mộ. Vậy, để viết được bài văn thuyết minh
12
về những địa danh trên.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Ôn dịch thuốc lá”(Ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên chiếu đoạn video phóng sự về “Tệ nạn hút thuốc lá”.
Giáo viên: Em có nhận xét gì về những hình ảnh em vừa xem? Gia đình em
có ai hút thuốc lá khơng ?
Qua đó, giáo viên giới thiệu vào bài mới: Thuốc lá là chủ đề thường xuyên
được đề cập trên phương tiện truyền thơng, ngày càng có nhiều nhà khoa học
nghiên cứu tác hại ghê gớm của thuốc lá. Đó cũng là nội dung của bài học hơm
nay.
Hình ảnh được cắt từ video phóng sự về tác hại của thuốc lá.
2.6 Biện pháp trị chơi
Đây là hình thức tạo khơng khí lớp học sơi động. Bởi khi được chơi các em sẽ thích
thú được “học mà chơi, chơi mà học”. Trò chơi cịn là hoạt đợng được các học sinh
thích thú tham gia. Vì vậy nó có khả năng lôi kéo sự chú ý và khơi dậy được hứng
thú học tập, giúp học sinh rèn luyện sự tự tin, mạnh dạn, khả năng phản xạ nhanh,
sáng tạo, nâng cao tinh thần đoàn kết giữ học sinh với học sinh và giữ giáo viên với
học sinh…Với hoạt động này, giáo viên thường sử dụng đầu tiết học làm tiền đề
13
cho giáo viên vào bài một cách hấp dẫn hơn.
Tổ chức một số trò chơi gây hứng thú cho học sinh để vào tiết học như:
“Chiếc hộp may mắn”, “Trò chơi ô chữ”,“Nhanh như chớp”, “Mảnh ghép”, mật mã
lịch sử…
2.6.1. Trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”: Đây là trò chơi mang tính chất nhận
diện. Nó phù hợp cho những tiết dạy học ôn tập hoặc những tiết dạy chủ đề. Trò
chơi này có những ưu thế nhất định như: Có khả năng lôi kéo số đông học sinh
tham gia, phát huy trí tưởng tượng, rèn luyện khả năng phản ứng nhanh, trong thời
gian ngắn có thể giúp học sinh nhớ lại các tác phẩm đã học.
Ví dụ 1: Cho những hình ảnh sau (lần lượt trình chiếu từng hình ảnh) và nêu
câu hỏi: Đây là hình ảnh minh họa cho tác phẩm nào? Của ai ?
Lão Hạc
Chị Dậu
Ví dụ 2: Khi dạy bài Từ tượng hình, từ tượng thanh (Ngữ văn 8, tập 1)
Tạo trò chơi với tên gọi “Nhanh như chớp” có thể cho các em thi tìm từ láy
bằng cách chia lớp thành hai nhóm lên bảng nghi trong một thời gian nhất định.
Bên nào ghi được nhiều hơn sẽ thắng cuộc. Sau đó giáo viên chỉ ra một từ và hỏi
học sinh từ đó tạo ra cho em ấn tượng gì? Các từ có tên gọi là từ tượng hình, tượng
14
thanh. Đó cũng là tên bài mà các em học hôm nay.
2.6.2. Trò chơi “Chiếc hộp may mắn”:
Điểm đặc biệt của trò chơi này là ở tính bất ngờ cho học sinh. Giáo viên
chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ, trong đó có những mảnh giấy ghi các phần quà thú vị,
đa dạng. Học sinh thực hiện tốt yêu cầu sẽ được nhận quà trong chiếc hộp.
Cách tổ chức:
Cách 1: Giáo viên trình chiếu hệ thống câu hỏi trên máy chiếu. Quy ước trả
lời đúng 4-5 câu sẽ được nhận 1 phần quà đặc biệt trong hộp bằng cách tự bốc.
Cách 2: Trong chiếc hộp sẽ là câu hỏi. Mỗi câu hỏi có ghi sẵn phần thưởng.
Học sinh sẽ cùng đọc thuộc lòng đoạn thơ nhất định và chuyền tay nhau chiếc hộp.
Khi giáo viên có hiệu lệnh “dừng” cả lớp sẽ ngừng đọc và hộp quà đến tay ai,
người đó sẽ có quyền lựa chọn câu hỏi và phần quà trong chiếc hộp. Trò chơi này
tuy thu hút số đông học sinh nhưng lại gây ồn và có thể mất nhiều thời gian hơn
những trò chơi khác.
2.6.3. Trò chơi: Mật mã lịch sử
Cách tổ chức: Cử một bạn dẫn chương trình: bạn có câu trả lời đúng và
nhanh nhất sẽ được nhận quà. Nội dung: Dựa vào các dữ kiện lịch sử, yêu cầu học
sinh đoán xem những dữ kiện đó nói về nhân vật lịch sử nào.
Ví dụ: Khi dạy bài “Hịch tướng sĩ” giáo viên cho học sinh giải mật mã:
(1) Triều đại nào ở nước ta đã ba lần chiến thắng quân Mông - Nguyên?
=> Triều đại nhà Trần
(2) Vị tướng lĩnh chỉ huy toàn quân trong kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần 2 và 3 ai?
=> Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
(3) Sách “Binh thư yếu lược” được vị chủ soái viết theo thể loại gì?
=> Hịch.
15
- Cử bạn dẫn chương trình.
- Hướng dẫn học sinh cách tham gia trị chơi.
- Ngươi dẫn chương trình đọc câu hỏi - các bạn xung phong giành quyền trả
lời câu hỏi.
- Tổ chức trao đổi, thống nhất ý kiến.
- GV tổng hợp ý kiến, kết luận.
2.7 Biện pháp đưa tình huống (kết hợp hình ảnh)
Là đưa ra một tình huống buộc học sinh phải giải quyết tình huống đó theo
thực tế trong cuộc sống: có thể là cá nhân hoặc nhóm. Hình thức này học sinh sẽ
vận dụng tư duy năng lực của mình để giải quyết tình huống đưa ra.
Ví dụ 1: Khi dạy bài: Cơ bé bán diêm (Ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên đưa ra tình huống và chiếu cho học sinh xem lại các hình ảnh về
trận lũ: Trong trận lũ lịch sử ở miền Trung vừa qua đã để lại bao nhiêu đau thương,
tang tóc cho người dân. Họ bị trơi đi mái nhà êm ấm, trơi hết cả quần áo, đồ
dùng...Nếu em có vơ tình gặp những hồn cảnh ấy em có sẵn sàng chia sẻ cho họ
chiếc áo ấm, cái bánh mì...?
Giáo viên tùy vào cách trả lời của học sinh để vào bài.
Ví dụ 2 : Khi dạy bài Câu nghi vấn (Ngữ văn 8, tập 2)
Bước 1: nêu tình huống bằng cách viết hai câu.
Các em chuẩn bị bài chưa?
Cô giáo có gọi mình khơng nhỉ?
- Hai câu trên đây đưa ra nhằm mục đích gì? Câu 1 dùng để hỏi học sinh về
việc chuẩn bị bài. Câu 2 dùng để tự hỏi mình xem mình có bị gọi lên bảng không?
? Những câu kiểu như thế này người ta gọi là gì? Câu hỏi, câu nghi vấn.
GV: Đây là câu hỏi, một kiểu câu chúng ta sử dụng nhiều trong cuộc sống
2.8 Biện pháp sử dụng âm nhạc
16
Sử dụng âm nhạc là hình thức kích thích được năng khiếu của một số học
sinh. Khi các em cùng nhau hát hay nhìn các bạn hát thì sẽ rất vui. Điều này đồng
nghĩa với việc dẫn dắt các em vào thế giới bài học một cách dẽ dàng, tạo hứng thú
sinh động cho bài học mới. Lúc này các em sẽ được biết sự tích hợp giữa 2 mơn:
Văn học và nghệ thuật.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài Tơi đi học (Ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên có thể bắt nhịp cho cả lớp hát, hay tự hát hoặc chọn một học sinh
hát bài “Đi học” Nhạc Bùi Đình Thảo, thơ Hồng Minh Chính),
Trong cuộc đời của mỗi con người, kỉ niệm tuổi học trò thường khắc sâu
trong trí nhớ. Nhà văn Thanh Tịnh kể những kỉ niệm mơn man, bâng khuâng một
thời ấy qua văn bản “Tôi đi học” của mà chúng ta cùng theo dõi qua bài học hơm
nay.
3.Tính hiệu quả
Văn học có vai trị vơ cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách
con người. Văn học là nhân học, dạy học Văn là dạy cách sống, cách làm người,
dạy mở mang trí tuệ, tâm hồn để hoàn thiện nhân cách. Giờ giảng Văn địi hỏi học
sinh phải liên tưởng, tưởng tượng mới có sự sáng tạo trong phát hiện tìm tịi trong
khi đó thời gian rất eo hẹp. Với những gì đã làm, tơi thấy rằng chúng ta có thể giúp
cho học sinh có được tâm thế hào hứng sơi nổi phát huy được năng lực của bản
thân khi được các thầy cô “truyền lửa” ngay từ hoạt động đầu tiên bước vào bài
học. Sau một thời gian kiên trì áp dụng linh hoạt một số biện pháp đa dạng hóa hoạt
động khởi động trong các bài giảng Ngữ văn tôi nhận thấy: Học sinh chăm chú
nghe giảng, ít nói chuyện riêng, ít làm việc riêng. Khơng khí lớp học sơi nổi hơn,
các em hăng hái ngay từ những phút đầu. Tích cực hơn trong khi tiếp cận kiến thức.
Niềm vui của giáo viên Ngữ văn khơng chỉ là chất lượng tính bằng các con
số, bằng tỉ lệ… mà còn là những ánh mắt long lanh, say sưa tiếp nhận tri thức,
những bàn tay tự viết ra những lời văn hay, tự nhiên, gần gũi, đầy xúc cảm, những
17
nụ cười thân thiện đối với giáo viên dạy. Để đạt được những điều vơ cùng q giá
đó, mỗi giáo viên đâu chỉ có sự say mê nhiệt tình, tâm huyết mà cịn phải biết
tìm ra những hướng đi hiệu quả nhất sao cho phù hợp với nội dung dạy và đối
tượng học sinh khác nhau.
Kết quả khảo sát trước khi sử dụng biện pháp:
Bảng khảo sát 1
Lớp
Sĩ số
8A2
8A3
Rất u thích
Thích
SL
Bình thường
%
SL
Khơng thích
SL
%
%
SL
%
42
2
4,76
9
21,4
17
40,4
14
33,3
43
3
6,97
7
16,2
15
34,8
18
41,8
Kết quả học tập kì I mơn Ngữ văn 8
Bảng khảo sát 2
Đ. dưới T.B
Điểm T.B
Điểm khá
Điểm giỏi
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp
Sĩ số
8A2
42
8
19
13
30,9
22
52,3
1
2,3
8A3
43
10
23,2
15
34,8
16
37,2
2
4,6
2.1. Kết quả khảo sát sau khi sử dụng biện pháp:
Bảng khảo sát 1
Lớp
Sĩ số
Rất u thích
SL
8A2
42
5
%
11,9
Thích
SL
12
%
28,5
Khơng
Bình thường
SL
20
%
47,6
thích
SL
6
%
14,2
18
8A3
43
7
16,2
10
23,2
21
48,8
5
11,6
Kết quả học tập kì I mơn Ngữ văn
Bảng khảo sát 2
Đ. dưới T.B
Điểm T.B
Điểm khá
Điểm giỏi
Lớp
Sĩ số
8A2
42
0
7.3
6
26.8
26
41.5
7
17%
8A3
43
0
12.5
10
23,2
23
53,4
3
7
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Qua kết quả mà tơi thống kê được ở cuối học kì I năm học 2020 - 2021, dù
đó chưa phải là con số mà tơi mơ ước nhưng cũng đáng mừng vì đã có sự thay đổi
của học sinh. Tơi càng khẳng định biện pháp có hiệu quả và có tính khả thi cao góp
phần khắc phục những khó khăn trong dạy và học môn Ngữ văn trước đây
C. PHẦN KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm khi thực hiện đề tài
Khi thực hiện các biện pháp giáo viên cần:
1.1. Xác định mục tiêu khởi động: Việc thay đổi hình thức khởi động từ việc
chỉ dùng một vài câu để dẫn dắt vào bài thay bằng việc tổ chức khởi động thành
một hoạt động để học sinh được tham gia trực tiếp giải quyết vấn đề khởi động.
Hoạt động khởi động phải xác định rõ mục tiêu cần đạt, phương pháp và kỹ thuật tổ
chức, phương tiện cần dùng; chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh một cách rõ ràng.
Nhiệm vụ khi chuyển giao cho học sinh trong hoạt động “khởi động” cần kiểm tra
lại kiến thức của học sinh (xem học sinh đã có được kiến thức gì liên quan đến bài
học), tạo hứng thú cho học sinh, tạo ra tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh
vào phần hình thành kiến thức mới.
1.2. Kỹ thuật cơ bản khi xây dựng hoạt động khởi động: Khi xây dựng kịch
bản cho hoạt động khởi động, giáo viên cần lưu ý không lấy những nội dung không
19
thiết thực với bài học, tránh lấy những nội dung mang tính chất minh họa mà cần
cụ thể: sử dụng nội dung bài học để khởi động, sao cho trong khởi động sẽ bao quát
được nội dung bài học, qua đó giúp giáo viên biết được học sinh đã có kiến thức gì
trong bài mới và chưa biết gì để khai thác sâu vào những nội dung học sinh chưa.
1.3. Hoạt động khởi động là bước “thực hiện các động tác nhẹ trước khi thực
hiện công việc” nên việc khởi động cũng cần nhẹ và sinh động để tạo sự hấp dẫn
cho học sinh. Việc đặt câu hỏi hay tình huống khởi động cần chú ý tạo được hứng
thú cho học sinh: để học sinh được thực hiện nhiệm vụ, được tham gia trả lời câu
hỏi hoặc tham gia vào các tình huống khởi động.
1.4. Khi áp dụng tổ chức hoạt động “khởi động” cho tất cả các tiết học ở các
lớp thì giáo viên bộ mơn nên lưu ý: Kế hoạch hoạt động đã xây dựng cần có sự điều
chỉnh cho phù hợp với đặc điểm học sinh của từng lớp.
2. Ý nghĩa, kiến nghị
2.1 Ý nghĩa
Khởi động là một hoạt động không thể thiếu trong bất cứ bài học nào nói
chung và mơn Ngữ văn nói riêng. Bởi khi xác định được trọng tâm dạy – học như
vậy, kết hợp với việc áp dụng các biện pháp « khởi động » như trên thì cả người
dạy và người học khi bắt đầu một tiết học Ngữ văn đã phá bỏ được sự nhàm chán,
uể oải khi tiếp cận văn bản. Giáo viên đã truyền được niềm đam mê và hứng thú
học tập cho các em và nhận được những phản hồi tích cực từ phía học sinh. Song
song đấy quá trình dạy học trên lớp chỉ gói gọn trong vịng 45 phút, khiến cả người
dạy – người học cảm thấy rất ngắn, tiết học trôi qua rất nhanh.Vận dụng các
phương pháp khởi động này sẽ giúp cho giáo viên – học sinh thấy được trọng tâm
kiến thức được truyền đạt, đồng thời hình thành kĩ năng sống, giao tiếp và học tập
cho các em. Đây chính là động lực cũng là mục tiêu để người dạy tiếp tục áp dụng
và tìm tịi, đổi mới các phương pháp trong dạy học. Đồng thời đáp ứng được yêu
cầu của Bộ và Sở giáo dục đề ra trong việc dạy học phát triển năng lực của học.
20
Việc gây hứng thú trong giờ dạy môn Ngữ văn cũng như các mơn học khác là cả
một q trình thực hiện bền bỉ lâu dài. Bước đầu giáo viên đóng vai trị quan trọng
để tìm ra cách dạy học hiệu quả nhằm lơi cuốn người học vào q trình dạy
học. Song việc dạy học là một nghệ thuật, khi mới áp dụng vào thực hiện cũng gặp
khơng ít khó khăn, đề tài lại vừa mới áo dụng trong thời gian chưa lâu nên kết quả
mang lại chưa cao.
Tuy nhiên, với những tính khả thi của phần “khởi động”, tơi tin tưởng rằng
các biện pháp đã nêu sẽ áp dụng hiệu quả trong giờ dạy Ngữ văn những năm sắp tới
và tiếp tục nhận được sự đồng tình của nhiều học sinh và đồng nghiệp trường trung
học cơ sở ….
2.2 Kiến nghị
2.2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
Tăng cường tổ chức các chuyên đề, hội thảo khoa học và phương pháp dạy môn
Ngữ văn để cho anh chị em giáo viên được học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
2.2.2. Đối với nhà trường
- Tổ chức các buổi tham luận trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp, các
tổ chuyên môn.
- Hỗ trợ các phương tiện dạy học.
2.2.3. Đối với giáo viên
- Là người chủ động sáng tạo trong mọi tình huống.
- Trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
- Ln tìm tịi, đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng với tình hình mới.
2.2.4. Đối với học sinh
- Tăng cường khả năng tự học
- Mạnh dạn trình bày ý kiến của bản thân.