1
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Mơn học
Tên chủ
đề:
Số phách
ĐIỂM
Giảng viên
chấm 1
Giảng viên
chấm 2
(Ký, ghi rõ họ, (Ký, ghi rõ họ,
tên)
tên)
Ghim 1
Bằng số:
Bằng chữ:
Môn học
Ghim 2
Tên chủ đề:
SỐ PHÁCH
Họ và tên học
viên
Mã số học viên
Lớp
2
Ngày nộp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................... 2
NỘI DUNG................................................................................ 4
KẾT LUẬN..............................................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................12
3
MỞ ĐẦU
Văn hóa chính trị là những giá trị cốt lõi, huyết mạch trong mỗi hệ thống
chính trị. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa chính trị nhưng có
thể nhận thức một cách chung nhất là văn hóa chính trị là tổng thể những giá trị
được hình thành trong thực tiễn chính trị, thể hiện nhận thức về chính trị, lý
tưởng, niềm tin vào chính trị và cách thức tham gia vào đời sống chính trị của
các chủ thể theo những chuẩn mực phù hợp với mục tiêu chung của xã hội.
Văn hóa chính trị có vai trò rất to lớn đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.
Văn hóa chính trị giữ vị trí quan trọng trong việc tổ chức, định hướng điều
chỉnh các hành vi và quan hệ xã hội. Đồng thời, cổ vũ, động viên, thúc đẩy
hoạt động của các nhân, giai cấp trong chính trị, góp phần nâng cao chất
lượng hiệu quả của hoạt động chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc.
Hiện nay, trên thế giới, xu hướng tồn cầu hóa đang ngày càng phổ biến
sâu rộng hơn.Nó mở ra cơ hội phát triển cho các nước song cũng tạo ra những
thách thức mới cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.Việc giữ vững những giá trị
văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là những giá trị văn hóa chính trị
có vai trị rất quan trong đối với sự ổn định nền chính trị.Từ đó sẽ tạo ra động
lực cho sự hòa nhập, phát triển ổn định của nước ta.
Văn hóa chính trị ở nước ta có một q trình hình thành và phát triển lâu
dời, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hiện nay, văn
hóa chính trị Việt Nam đang được kế thừa và phát huy dựa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Điều đó cho phép đảm
bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, thống nhất giữa tính cách mạng và tính
khoa học, truyền thống với hiện đại, dân tộc và quốc tế. Cũng chính từ đó đã
tạo nên nét đặc sắc trong văn hóa chính trị ở nước ta.
4
Từ những nhận thức trên, em xin chọn đề tài: “Văn hóa chính trị Việt
Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận mơn Chính trị học.
5
NỘI DUNG
Văn hố chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hố là khái niệm
nói về sự thẩm thấu của văn hố vào chính trị, là chính trị có tính văn hố.
Như vậy, văn hố chính trị khơng phải là bản thân chính trị, bản thân văn hố,
hay là sự cộng gộp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm tính
văn hố từ bản chất bên trong của nó. Biểu hiện của văn hố chính trị thể hiện
ở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới
mục đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tơn trọng quyền con
người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, tồn diện, hài hồ. Đây là
tính nhân văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hố.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp khơng phải là những ý niệm trừu
tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó
phải thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách
của đảng cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển
khai các kế hoạch cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá
nhân cũng như của cộng đồng xã hội.
Văn hố chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội
giống như sức mạnh của văn hố. Đó là loại sức mạnh không dựa vào quyền
lực hay ép buộc mà thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự
giác của các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng văn hố chính trị phải chú trọng
đồng thời cả ba phương diện: giá trị xã hội được lựa chọn, năng lực chính trị
và trình độ phát triển về văn hóa chính trị của chủ thể chính trị.
Khi đề cập đế văn hóa chính trị Việt Nam, trước hết chúng ta nhận thấy
về mặt văn hóa nói chung thì đây là một quốc gia có nền văn hóa đa dạng,
phong phú - là một cộng đồng phức hợp về mặt nhân chủng bao gồm 54 thành
phần dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm trên 91%. Nếu như các dân
6
tộc trên đất Việt Nam là bức tranh thu nhỏ của bản đồ tộc người đa sắc mầu
trên toàn khu vực Đơng Nam Á và nam Trung Hoa thì người Kinh lại là sản
phẩm kết tinh của sự giao hòa suốt mấy nghìn năm của các cộng đồng tộc
người đó. Do đặc điểm này mà người Việt có một số ưu thế như sức sống bền
bỉ dẻo dai, mẫn cảm với cái mới, năng lực sáng tạo rất dồi dào. Địa bàn sinh
tụ của người Việt ở vào vùng nhiệt đới, gió mùa, nắng lắm, mưa nhiều lại tập
trung theo mùa nên bão lũ thường xuyên xảy ra và đi kèm với nó là ẩm thấp,
dịch bệnh... Mơi trường sống là vùng đất giao thoa với những biến động
thường xuyên đã đặt ra cho con người những thử thách hiểm nghèo. Khắc
phục và thích ứng với hồn cảnh đó, người Việt trải qua nhiều thế hệ đã được
tôi rèn bản lĩnh và nhiều truyền thống đã hình thành.Những chuẩn mực xã hội
và quy phạm đạo lý truyền thống đã có ảnh hưởng khơng nhỏ đến văn hóa
chính trị Việt Nam.
Đây là những yếu tố được hình thành trong một quá trình rất lâu dài của
lịch sử.Những chuẩn mực hay quy phạm ngưng đọng lại, đã trở thành những
giá trị được cả cộng đồng thừa nhận thì rất khó biến đổi, rất khó bị mất đi,
thậm chí được coi là "trường tồn".Vì vậy, nó có tác dụng rất lớn trong việc
kiểm soát và điều chỉnh các hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng.
Đối với người Việt, do đặc điểm của lịch sử, luôn luôn phải đối chọi với
các thế lực ngoại bang để bảo tồn giống nòi. Những cuộc chiến tranh để giành
và giữ độc lập dân tộc diễn ra khá thường xuyên nên thái độ đối với quyền lợi
dân tộc là một chuẩn mực, một thước đo quan trọng của người Việt Nam.
Trước đây, dưới thời phong kiến, trong dân chúng đã hình thành một nguyên
tắc ứng xử rất tự nhiên: “Sinh vi danh tướng, tử vi thần”. Có nghĩa là tất cả
những ai có cơng lao đánh giặc giữ nước, lúc qua đời được nhân dân tôn thờ
là thần linh.
7
Kế thừa những chuẩn mực xã hội mang tính truyền thống, trong giai
đoạn cách mạng hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng:
“Khơng có gì quý hơn độc lập tự do”. Khẩu hiệu đó đáp ứng đúng tâm tư,
nguyện vọng của người dân Việt Nam nên đã có sức lan tỏa vơ cùng rộng lớn.
Vì đây là một giá trị tinh thần được cả xã hội đề cao, nên qua năm tháng nó
trở thành một quy phạm đạo lý chính trị của người Việt Nam.
Sống trong môi trường của quan hệ làng xã suốt mấy nghìn năm, người
Việt Nam ưa trợ giúp nhau.Dần dần những tập quán ứng xử đó cũng trở thành
đạo lý, thành chuẩn mực để xét đoán.Để tồn tại và phát triển đến ngày nay,
dân tộc Việt Nam đã phải trải qua những thử thách vơ cùng hiểm nghèo.Vũ
khí mạnh mẽ nhất giúp dân tộc Việt Nam thành công trước những thử thách
đó là đồn kết dân tộc. Do đó, đồn kết thống nhất là một chuẩn mực của đạo
lý Việt Nam. Để duy trì khối đồn kết thống nhất, người Việt Nam có một
chuẩn mực xã hội truyền thống là quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi
của cộng đồng, quyền lợi của các cộng đồng nhỏ phải phục tùng quyền lợi
của cộng đồng lớn, quyền lợi của cả dân tộc.
Nói đến văn hóa chính trị khơng thể khơng kể đến tập quán chính trị của
cư dân. Đây là một nội dung quan trọng của truyền thống chính trị. Nó phản
ánh lối ứng xử truyền thống của cư dân với chính quyền.
Qua tổng kết của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngồi nước, có thể nêu
một số biểu hiện về tập quán chính trị của người Việt Nam.
Thứ nhất, Việt Nam là một dân tộc khơng sùng tín. Do đó trong lịch sử
khơng có hệ tư tưởng tơn giáo nào hoặc những học thuyết cai trị nào khiến
cho người Việt sùng bái đến mức cực đoan hoặc làm mê muội họ.
Thứ hai, người Việt Nam có mẫn cảm về chính trị và dễ can dự các cơng
việc chính trị.
Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc không cam chịu, bất khuất.
8
Do hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt, người Việt đã từng bị cai trị trong
thời gian quá dài bởi các chính quyền đơ hộ ngoại bang nên có một tập qn
lấy tiêu chí dân tộc (vì lợi ích dân tộc hay phản lại lợi ích đó) để phân biệt
chính quyền. Nếu là chính quyền vì lợi ích của dân tộc thì đây là quan hệ hịa
đồng. Nhưng khi chính quyền là của ngoại bang thì dân hồn tồn đối lập lại
chính quyền.
Trong văn hóa chính trị, uy tín chính trị là một nhân tố quan trọng.Đó là
một trong những hình thức biểu hiện của quyền lực, nhưng mặt khác nó lại là
ảnh hưởng được thừa nhận rộng rãi bởi quần chúng của cá nhân hay tổ chức
trên phương diện chính trị.Cho nên vấn đề uy tín chính trị phụ thuộc rất nhiều
vào quan niệm truyền thống của cộng đồng cư dân.Thơng thường ở bất cứ
đâu, uy tín đều được xây dựng trên cơ sở của các giá trị tri thức-kinh nghiệm,
đạo đức-phẩm chất, tài năng và mức độ cống hiến nó.
Tính cách dân tộc, hay nói cách khác là quan niệm truyền thống thường
chi phối cách nhìn nhận về đạo đức phẩm chất và tính chất của sự cống hiến.
Đối với người Việt, ngoài những chuẩn mực chung, một cá nhân hay
một tổ chức muốn có uy tín chính trị phải thể hiện được lòng yêu nước cao
độ, phải hòa đồng gần gũi với dân chúng. Với riêng cá nhân thì phải biết hy
sinh cá nhân và đem tài năng phụng sự dân tộc. Do đặc điểm của một nước
nơng nghiệp, vốn có truyền thống trọng kinh nghiệm hơn trọng tài năng, nên
tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên uy tín.
Bên cạnh những yếu tố nội sinh, trong văn hóa chính trị cịn phải kể đến tư
tưởng chính trị, các học thuyết cai trị và các giáo lý tôn giáo được du nhập vào
nước ta qua các thời kỳ lịch sử, đã từng có vai trò thống trị trong quá khứ.
Những yếu tố này thậm chí cịn tiếp tục tác động đến thiết chế chính trị hiện đại.
9
Ở nước ta, bệ đỡ tư tưởng cho các hệ thống chính trị đã từng tồn tại
trong lịch sử bao gồm những học thuyết, những tư tưởng chính trị-tơn giáo có
nguồn gốc ngoại lai như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo.
Tuy nhiên, một đặc điểm rất nổi bật trong văn hóa chính trị Việt Nam là
những tư tưởng và học thuyết ngoại lai chỉ có sức sống khi nhập thân vào dân
tộc, hòa đồng với những tư tưởng, đạo lý chính trị bản địa, tuy khơng được
hình thức hóa bằng các học thuyết, chủ nghĩa nhưng luôn là cốt lõi cho bệ đỡ
tư tưởng chính trị. Thậm chí, nó cịn là nhân tố chi phối buộc các học thuyết
và hệ tư tưởng ngoại lai phải thay hình đổi dạng để phù hợp với đặc điểm dân
tộc.Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và truyền thống nhân ái,
hịa đồng mang tính chất làng xã.
Mặt khác, trải qua một thời gian dài, thích nghi, biến đổi, Phật giáo,
Khổng giáo, Đạo giáo và các giá trị văn hóa tiếp nhận khác cũng đã trở thành
một bộ phận của văn hóanói chung và văn hóa chính trị Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh hiện nay, khi xã hội thơng tin và kinh tế tri thức đang
định hình, tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chính trị tất yếu phải được đổi
mới, hiện đại hóa, đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế.
Khoa học hóa, dân chủ hóa và văn hóa chính trị được đặt ra như một địi
hỏi cấp bách để chính trị thực sự thể hiện được đặc trưng khoa học – dân chủ
và nhân văn.Bản chất khoa học và cách mạng của Đảng Cộng sản cầm quyền
đòi hỏi phải xây dựng một nền chính trị như vậy.
Một trong những chỉ số đo lường về văn hóa chính trị là: niềm tin của
dân chúng đối với Đảng, sự hài lòng của người dân đối với chế độ, với quản
lý của Nhà nước và chất lượng của đội ngữ công chức phục vụ cho xã hội và
nhân dân, sự phát triển dân chủ, sự đồn kết và đồng thuận xã hội. Do đó,
những nhân tố cần đặc biệt chú ý tới chính là: Nền tảng tư tưởng, ý thức hệ
chủ đạo đóng vai trị nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng niềm tin vào
10
lý tưởng, mục tiêu và những giá trị được lựa chọn và theo đuổi; Học vấn, từ
trình độ dân trí đến trí tuệ của giới tinh hoa. Nâng cao mặt bằng dân trí, đồng
thời phải chú trọng bồi đắp năng lực, phẩm chất của đội ngũ quan chức các
cấp; Đạo đức với bốn chuẩn giá trị cần kiệm liêm chính, với thái độ trách
nhiệm, kỷ luật công chức, đạo đức công vụ, tận tâm tận lực với công việc và
với người dân; Lối sống phải giản dị, trung thực, khiêm tốn, gần dân, vì dân;
Ứng xử chuẩn mực với người, với việc, với tổ chức.
Từ thái độ tới hành vi mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên, công chức
đều phải tỏ ra là người có văn hóa, biết tự trọng mình và tơn trọng người
khác, nói như Hồ Chí Minh “phê bình cơng việc chứ khơng xúc phạm con
người”, “phải tôn trọng nhân cách của người ta”, “phải thường xun tự phê
bình và phê bình”, “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Có lỗi biết xin lỗi
và quyết tâm sửa lỗi, lời nói việc làm đi đơi với nhau. Văn hóa xin lỗi, văn
hóa từ chức, văn hóa nơi công sở, trong tiếp dân và nghe dân, văn hóa cơng
dân, văn hóa cơng chức... đang là những vấn đề cần thiết phải giáo dục và rèn
luyện thực hành. Muốn cho văn hóa thâm nhập sâu sắc vào chính trị, trở thành
văn hóa chính trị của từng tổ chức và cá nhân, cần phải tạo thành nhu cầu văn
hóa ở mỗi chủ thể, phải công phu chuyển từ giáo dục thành tự giáo dục, tạo
thành nền nếp, thói quen, thành giá trị ổn định, bền vững. Xây dựng môi
trường xã hội lành mạnh, tạo thành dư luận xã hội tích cực, cổ vũ, ủng hộ cái
tốt, lên án cái xấu, cái ác, áp dụng các biện pháp kể cả chế tài để xử lý các
tiêu cực, tệ nạn, tội phạm, muốn xây dựng và phát triển văn hóa thì phải ngăn
chặn và đẩy lùi các phản văn hóa.
Điểm xung yếu, mấu chốt, then chốt lúc này là đạo đức, giáo dục đạo
đức phải coi trọng giáo dục lòng tự trọng, danh dự, liêm sỉ, nhất là trong đội
ngũ cán bộ, trong giới quan chức, hướng vào mục tiêu chống tham nhũng như
chống một tội ác phản dân, hại nước.
11
Đảng thực sự trong sạch phải bằng trí tuệ khoa học, bản lĩnh chính trị và
đạo đức cách mạng.Đó chính là văn hóa chính trị. Khoa học - dân chủ - đạo
đức - luật pháp, kỷ luật và kỷ cương phải là những tiêu chí đánh giá văn hóa
chính trị và tác dụng, hiệu quả của văn hóa chính trị, thể hiện trong mối quan
hệ giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân.
Để đạt được những kết quả như vậy, không chỉ dựa vào sự nỗ lực tự giác
phấn đấu rèn luyện Đức - Tài, mỗi tổ chức cũng không chỉ đẩy mạnh giáo
dục, tuyên truyền mà còn phải huy động nhiều tác nhân khác. Đó là chấn
chỉnh tổ chức, gắn chặt với công tác tổ chức, khắc phục triệt để những yếu
kém, sai lầm trong công tác cán bộ, nhất là đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử
dụng cán bộ. Nói rộng ra là phép dùng người. Dùng người không đúng, không
công tâm khách quan, khơng vì sự nghiệp chung, thì chẳng những có hại cho
dân, cho nước, đất nước khơng phát triển được mà Đảng sẽ suy yếu, chế độ sẽ
suy yếu, văn hóa vẫn sẽ ở ngồi chính trị. Khơng có văn hóa chính trị sẽ làm
cho chính trị suy thối, biến dạng, tha hóa bởi tập nhiễm phải những phản văn
hóa.Vì thế, phải ra sức cải cách thể chế, thay đổi chính sách, siết chặt kỷ luật,
kỷ cương, đề cao luật pháp và chế tài. Đạo đức cùng với luật pháp phải là hai
trụ cột vững chắc để xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội dân chủ - nhân
văn và văn hóa chính trị.
12
KẾT LUẬN
Như vậy, văn hóa chính trị là một bộ phận của văn hóa, phản ánh mối
quan hệ biện chứng giữa văn hóa dân tộc và hoạt động chính trị của các giai
cấp; nó chỉ ra tác động của một loại hình văn hóa xã hội nhất định đối với hệ
thống chính trị và hành vi chính trị của cơng dân. Văn hóa chính trị thể hiện
qua sự hiểu biết chính trị, tình cảm chính trị, giá trị chính trị, niềm tin và thái
độ chính trị của các cơng dân đối với các hiện tượng và hệ thống chính trị.
Tinh thần cốt lõi của văn hóa chính trị là các giá trị nhân văn trong xử lý
chính trị. Chính trị có văn hóa hay xử lý chính trị nhân văn là chính trị giải
phóng con người khỏi sự áp bức bóc lột về phương diện giai cấp, dân tộc và
xã hội, phấn đấu để ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân. Đó chính là văn hóa chính trị được xây dựng trên nền tảng của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa nước
ta đòi hỏi việc xây dựng văn hóa chính trị đang đặt ra những u cầu mới.
NhưVăn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “xây
dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa
trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể; coi đây là nhân tố quan
trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Nghị quyết xác
định phải làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, trong phát
triển kinh tế - xã hội, trong tổ chức và hoạt động chính trị, trong lãnh đạo,
quản lý điều hành, kiểm tra, giám sát quyền lực của nhân dân, lẫntham
chính chính trị của các cán bộ và cơng chức, của công dân và mọi người dân./.
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Moscow, 1981, tr.429.
2. C.Mác - Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 1, Nxb Hà Nội, 1995, tr.6.
3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin về văn hóa, Hà Nội, 2008.
4. Hồ Chí Minh, Tồn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
5. V.I.Lênin, Tồn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Moscow, 1987.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại biểu tồn quốc lần thứ XII,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016.
7. Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, “Bước đầu tìm hiểu những giá trị
văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam”.
8. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001,
tr.31-32.
9. Nguyễn Duy Quý: Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Nxb
KHXH, H, 2008, tr.143.
10. Văn hóa chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
/>11. Giáo trìnhvà các tài liệu bài giảng của môn học.