ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
•••••
🕮•••••
XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC TỰ CHỌN
TÌM HIỂU MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT
ĐƯỢC CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 12
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GIÁO DỤC
Giảng viên: TS Hồ Trần Ngọc Oanh
Đà Nẵng - 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
4
1. Lý do chọn đề tài
4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4
3. Mục đích nghiên cứu
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
5. Phương pháp nghiên cứu
6
6. Bố cục
6
NỘI DUNG
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
7
1.1. Cơ sở lý luận
7
1.1.1. Xây dựng chuyên đề dạy học theo chỉ đạo từ chương trình giáo dục định
hướng phát triển năng lực
7
1.1.2. Cơ sở lý luận của việc chuyển thể tác phẩm văn học sang các tác phẩm thuộc
các loại hình nghệ thuật khác
8
1.2. Cơ sở thực tiễn
10
1.2.1. Thực trạng dạy học văn bản văn học trong nhà trường hiện nay
10
1.2.2. Thực trạng về năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học của học sinh hiện nay
13
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “TÌM HIỂU MỘT TÁC
PHẨM NGHỆ THUẬT CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC”
15
2.1. Lý do lựa chọn và xây dựng chuyên đề
15
2.2. Nội dung kiến thức cần đạt
16
2.2.1. Tác phẩm văn học và chuyển thể tác phẩm văn học
16
2.2.2. Một số điểm khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể
từ tác phẩm văn học
18
2.2.3. Chuyển thể một tác phẩm văn học thành một bộ phim, tác phẩm hội họa, âm
nhạc,…
21
2.3. Mục tiêu dạy học
24
2.3.1. Phẩm chất
24
2.3.2. Năng lực chung
24
2.3.3. Năng lực chuyên biệt
25
2.4. Định hướng các năng lực được hình thành
26
2.5. Thiết kế tiến trình dạy học chuyên đề “Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật được
chuyển thể từ văn học” cho học sinh lớp 12
26
2.5.1. Đọc hiểu văn bản
26
2.5.2. Viết
28
2.5.3. Nói và nghe
28
2
2.6. Kiểm tra đánh giá
29
2.6.1. Các năng lực thành phần có thể phát triển ở học sinh
29
2.6.2. Các hình thức đánh giá
32
CHƯƠNG 3: Ý TƯỞNG KẾ HOẠCH TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ
“TÌM HIỂU MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC”
CHO HỌC SINH
34
3.1. Số tiết và kế hoạch phân bố tổ chức các tiết học
34
3.2. Phương pháp và phương tiện dạy học
34
3.3. Nội dung bài dạy và hình thức tổ chức dạy học
34
3.4. Hình thức đánh giá học sinh
34
KẾT LUẬN
35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
36
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khơng có sự phù hợp nào là mãi mãi, giáo dục cũng vậy. Yêu cầu của xã hội
hôm nay không thể dùng giáo dục của ngày hơm qua để giải quyết, một chương trình
giáo dục khơng thể được áp dụng cho mọi chương trình phát triển. Đấy chính là lý do
mà Việt Nam phải tiến hành đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng một cách tồn
diện. Trong đó sự thay đổi của chương trình giáo dục phổ thơng mơn Ngữ Văn nhận
được sự quan tâm đặc biệt. Không chỉ đặt ra yêu cầu đối với phương thức giảng dạy
mới, mà chính sự đổi mới về nội dung giảng dạy cũng là thách thức đối với người dạy
và người học. Xây dựng chương trình giảng dạy theo chuyên đề chính là một trong các
thay đổi đặc biệt của mơn Ngữ Văn chương trình mới.
Các chuyên đề giảng dạy Ngữ Văn của từng khối học đều được phân bố một cách
rõ ràng nhằm hướng đến sự phát triển năng lực của người học một cách toàn diện nhất.
Trong các chuyên đề giảng dạy được đưa ra những vấn đề văn học đôi khi được lồng
ghép vào nhau, cũng có khi những vấn đề văn học lại được đặt cùng các vấn đề khác
như văn hóa, nghệ thuật, xã hội,... Dựa trên mối liên hệ giữa văn học và các lĩnh vực
nghệ thuật khác của đời sống.Với sự phát triển và thành công của nhiều tác phẩm nghệ
thuật lấy cảm hứng từ tác phẩm văn học. Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 học sinh
được tiếp cận với Chuyên đề “Tìm hiểu về một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn
học”. Chuyên đề giúp cho học sinh không những được tiếp cận với tác phẩm văn học
mà còn được tiếp cận với tác phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật khác, tiếp cận tác phẩm
văn học bằng một phương thức mới sinh động hơn. Người học khơng chỉ được biết về
văn học mà cịn được biết về nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác có liên hệ với văn học.
Đây là chuyên đề tạo nên một cách thức mới trong mở rộng vấn đề văn học cho học
sinh.
Tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học luôn đem đến sức hấp dẫn đặc biệt
đối với người thưởng thức, chúng ta có thể đã được tiếp cận với các tác phẩm ấy rất
nhiều. Tuy nhiên, trên phương diện nội dung của chương trình giảng dạy mơn Ngữ
Văn thì đây là một nội dung mới. Chính vì thế mà giảng dạy chuyên đề này như thế
nào, tiến hành ra sao, làm thế nào để học sinh có thể tiếp cận nó một cách đầy đủ nhất,
đúng đắn nhất là một vấn đề trăn trở đối với người dạy. Đối với một vấn đề mới thì
ln địi hỏi một kế hoạch mới, phương án mới để giải quyết hiệu quả vấn đề được đưa
ra. Lựa chọn đề tài nghiên cứu “Xây dựng chuyên đề dạy học tự chọn Tìm hiểu một
tác phẩm nghệ thuật được chuyển thể từ văn học cho học sinh lớp 12”, chúng tôi
mong muốn với đề tài này sẽ đóng góp một phần xây dựng kế hoạch giảng dạy chuyên
đề văn học này nói riêng và các chun đề văn học khác nói chung của mơn Ngữ Văn
lớp 12.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chuyển thể từ tác phẩm văn học sang tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật
khác là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Từ các vấn đề về lý thuyết
chuyển thể văn học, lý thuyết về văn học và các loại hình nghệ thuật khác cho đến các
vấn đề liên quan đến từng khía cạnh của chuyển thể tác phẩm văn học đều được
nghiên cứu khá nhiều.
PGS.TS Trần Mạnh Tiến cho rằng: “Chuyển thể văn học là đem cải biên, dịch
chuyển nghĩa từ gốc làm thay đổi một tác phẩm nào đó cho thích nghi với một mơ hình
4
nghệ thuật mới. Việc làm này là phỏng theo dẫn đến thay đổi cấu trúc hình thức mới”.
Đồng thời, những lý thuyết chuyển thể văn học mà PGS.TS Trần Mạnh Tiến đưa ra
bao quát được vấn đề chuyển thể từ văn học sang các loại hình nghệ thuật khác như
sân khấu nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kịch bản điện ảnh bao gồm thay đổi
đặc điểm tác phẩm, phương thức chuyển thể tác phẩm văn học. Cùng nội dung lý
thuyết chuyển thể văn học sang các loại hình nghệ thuật khác cịn có cơng trình nghiên
cứu Hiện tượng chuyển thể văn học của Nguyễn Thị Thu Hương. Trong Văn học và
các loại hình nghệ thuật, Lê Lưu Oanh đã nêu rõ vấn đề lý thuyết về đặc trưng của
những loại hình nghệ thuật gần gũi với văn học mà đặc biệt là mối quan hệ giữa văn
học và nghệ thuật tạo hình, văn học và âm nhạc.
Cơng trình nghiên cứu Vấn đề chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn
bản của Lê Thị Dương và Chuyển thể và liên văn bản của Bùi Trần Quỳnh Ngọc đều
đồng nhất quan điểm chuyển thể văn học sang điện ảnh từ lý thuyết liên văn bản. Hai
công trình của Lê Thị Dương và Bùi Trần Quỳnh Ngọc cùng với cơng trình Từ tác
phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh của Phan Bích Thủy đều cùng chỉ ra các cấp độ
của chuyển thể như chuyển thể “trung thành” – chuyển thể sát với văn bản gốc, chuyển
thể tự do.
Cơng trình nghiên cứu của Phan Bích Thủy cùng với Chuyển thể tác phẩm văn
học sang tác phẩm điện ảnh của Nguyễn Thị Lý, Phim truyện chuyển thể từ tác phẩm
của Nguyễn Nhật Ánh thành công và hạn chế của Lê Anh Tuấn,… chỉ ra mối quan hệ
giữa văn học và điện ảnh và đưa ra những yếu tố cơ bản trong chuyển thể tác phẩm
văn học sang tác phẩm điện ảnh. Đặc biệt cơng trình của Phan Bích Thủy có đóng góp
quan trọng khi hệ thống hóa được cơ chế và quy trình thực hiện chuyển thể từ văn bản
văn học sang phim điện ảnh.
Ngoài ra, một số cơng trình nghiên cứu khác tập trung vào các phương diện cụ
thể của chuyển thể văn học sang điện ảnh như Nghệ thuật chuyển thể tác phẩm văn
học sang điện ảnh từ phương diện cốt truyện và nhân vật của Trần Thị Dung tập trung
vào hai phương diện cơ bản là nhân vật và cốt truyện, cơng trình đưa ra những đối
sánh về đặc trưng cốt truyện và nhân vật giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh.
Nhân vật trung tâm từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh của Phan Bích Thủy
tập trung làm rõ sự thay đổi của nhân vật từ tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh
và đưa ra cách thức xây dựng, sáng tạo nhân vật khi chuyển thể từ nhân vật văn học
sang nhân vật điện ảnh.
Mối quan hệ chuyển thể từ văn học sang điện ảnh là vấn đề nổi bật được nhiều sự
quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên bên cạnh các cơng trình nghiên cứu chun về văn
học – điện ảnh hay nghiên cứu tổng hợp văn học với các loại hình nghệ thuật khác thì
chúng tối cịn tìm thấy cơng trình nghiên cứu về văn học – sân khấu. Số đỏ và Kỹ nghệ
lấy tây của Vũ Trọng Phụng từ tác phẩm văn học đến tác phẩm sân khấu của Phạm
Thụy Ngọc Quỳnh đã chỉ ra những nguyên tắc và phương thức chuyển thể tác phẩm
văn học sang tác phẩm sân khấu từ sự chuyển thể của tác phẩm Số đỏ và Kỹ nghệ lấy
Tây sang kịch.
Các cơng trình nghiên cứu trên nhìn chung đều bước đầu đi vào khám phá mối
tương quan giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác, đồng thời cung cấp các vấn
đề lý thuyết cơ bản về chuyển thể tác phẩm văn học. Tuy nhiên, dù có nhiều cơng trình
nghiên cứu về chuyển thể văn học từ cấp độ lý thuyết cho đến vận dụng cụ thể nhưng
5
chưa có cơng trình nào nghiên cứu vấn đề chuyển thể văn học với tư cách là chuyên đề
dạy học THPT. Do đó, các cơng trình nghiên cứu trên là cơ sở cung cấp các lý thuyết
để chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Xây dựng chuyên đề dạy học tự chọn Tìm
hiểu một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học cho học sinh lớp 12”. Đây là đề
tài nghiên cứu Chuyển thể văn học ở một phương diện mới, khía cạnh vấn đề chưa ai
nghiên cứu, là vấn đề mang tính cấp thiết đối với việc giảng dạy mơn Ngữ Văn
chương trình mới.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của tiểu luận góp phần đưa ra phương hướng xây dựng kế
hoạch giảng dạy chuyên đề dạy học mơn Ngữ Văn chương trình giáo dục mới. Không
chỉ dừng lại ở chuyên đề tác phẩm chuyển thể từ văn học, ở lớp 12 mà còn mở rộng ra
nhiều chuyên đề khác, khối lớp khác.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề dạy học Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật được chuyển thể từ văn
học cho học sinh lớp 12.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ tác phẩm văn học.
Quá trình dạy học môn Ngữ Văn lớp 12.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát tiến hành quan sát tình hình nghiên cứu vấn đề chuyển thể
tác phẩm văn học, tình hình chuyển thể tác phẩm văn học từ đó có những lý thuyết,
dẫn chứng, đánh giá cụ thể nhất.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp nghiên cứu các vấn đề lý thuyết của
văn học, điện ảnh, hội họa, âm nhạc,…nhằm tìm hiểu tác phẩm chuyển thể từ văn học
một cách toàn diện và sâu sắc nhất, các lý thuyết đưa vào nội dung dạy học được chính
xác, logic nhất.
Phương pháp loại hình và so sánh nhằm tìm hiểu những điểm khác biệt giữa văn
học và các loại hình nghệ thuật khác (điện ảnh, âm nhạc, hội họa,…), từ đó tìm ra
những nét khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ tác
phẩm văn học.
Phương pháp chọn mẫu và phân tích tác phẩm nhằm chọn ra những tác phẩm
văn học và tác phẩm chuyển thể tiêu biểu để giới thiệu, phân tích giá trị của nó làm
dẫn chứng cho chuyên đề dạy học.
Phương pháp hệ thống và tổng hợp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt
giữa tác phẩm văn học gốc và tác phẩm chuyển thể của nó, nhằm đưa ra những lý
thuyết chuyển thể tác phẩm văn học thành tác phẩm nghệ thuật khác một cách hệ
thống.
Phương pháp phân tích – tổng hợp tiến hành phân tích các lý thuyết, dẫn chứng
trên nhiều phương diện. Từ việc phân tích để có cơ sở đi đến những kết luận mang tính
chất tổng hợp và khoa học.
6. Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung tiểu luận gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
6
Chương 2: Tổ chức dạy học chuyên đề “Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật chuyển
thể từ văn học”
Chương 3: Ý tưởng tổ chức dạy học chuyên đề cho học sinh
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Xây dựng chuyên đề dạy học theo chỉ đạo từ chương trình giáo dục định
hướng phát triển năng lực
Căn cứ theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ
Giáo dục chính thức ban hành chương trình giáo dục phổ thơng mới của các mơn học
cùng với lộ trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng. Và thơng tư chính thức có
hiệu lực từ ngày 15 tháng 02 năm 2019. Với móc thời gian ấy, chúng ta chính thức
bước vào giai đoạn trọng tâm của đổi mới giáo dục, thực hiện cơng cuộc đổi mới căn
bản tồn diện giáo dục và đào tạo. Theo nội dung thông tư đưa ra thì đến năm học
2024-2025 sẽ tiến hành đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng lớp 12. Tính đến lúc
đó chúng ta có khoảng thời gian là 4 năm để chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ nhất những
điều kiện cần và đủ để thực hiện dạy học một cách hiệu quả nhất.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận hành kiến thức liên môn, kiến thức khoa học,
kỹ năng của người học. Trong dạy học cần nhanh chóng khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, hạn chế dần sự chi phối của người thầy trong quá
trình tiếp thu kiến thức của người học, để người học được làm chủ q trình học của
mình, người học chính là trung tâm của quá trình thu nhận kiến thức. Người dạy trong
chương trình giáo dục mới là một nhánh của quy trình học mà người học đang là trung
tâm. Với chương trình giáo dục mới người dạy cần tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng,
phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực. Chương trình giáo dục mới năm 2018 là một
bước tiến mới trong tư duy giáo dục, bước chuyển đổi từ chương trình giáo dục coi
trọng hình thành kiến thức sang chương trình giáo dục coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học. Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất
năng lực cơng dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho
học sinh. Đào tạo học sinh trên nền tảng yêu cầu từ thực tiễn, đòi hỏi của nghề nghiệp,
công việc tương lai, gắn tri thức nhà trường với tri thức cuộc sống, giúp học sinh thích
nghi với thực tiễn nhiều hơn, vận dụng kiến thức vào thực tiễn nhiều hơn. Bên cạnh
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hướng tới hiện đại và quốc tế hóa nhưng
chương tình giáo dục cũng khơng rời xa cái truyền thống, đó là sự kế thừa từ sự thành
cơng của nền giáo dục truyền thống. Chương trình giáo dục mới bên cạnh định hướng
người học nắm bắt những cái mới, cái phát triển, hình thành khả năng sáng tạo tương
lai với giáo dục ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn thì cũng chú trọng giáo dục lí tưởng truyền thống, đạo đức, lối sống.
Nhất là hướng đến phát triển ở người học khả năng sáng tạo không ngừng, tinh thần tự
học và khuyến khích học tập suốt đời.
1.1.1.1. Bộ giáo dục và Đào tạo giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch
giáo dục, phát huy vai trò sáng tạo của nhà trường và giáo viên
Với mục tiêu phát triển chương trình giáo dục tích cực, sáng tạo, phù hợp với đặc
điểm của đối tượng người học. Bộ giáo dục và Đào tạo đã quyết định để nhà trường và
giáo viên được tự chủ trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục của đơn
8
vị mình. Đây là một bước tiến mới trong chương trình giáo dục phổ thơng mới, hướng
đến phát huy tính sáng tạo ở cả người học và người dạy. Đồng thời, với chủ trương
này đã tạo điều kiện để nhà trường và giáo viên được hoạch định các kế hoạch giảng
dạy bám sát năng lực học sinh của mình hơn, xây dựng các chuyên đề giảng dạy phù
hợp với môi trường giáo dục của đơn vị mình.
Chủ trương này đưa ra đã chỉ rõ nhà trường được chủ động xây dựng các chủ đề
dạy học tích hợp, liên mơn; chú trọng giáo dục đạo đức và giá trị sống, rèn luyện kỹ
năng sống, hiểu biết xã hội, thực hành pháp luật. Từ đó, tạo đều kiên để các nhà trường
được áp dụng linh hoạt các hình thức tổ chức giáo dục, các phương pháp dạy học tiên
tiến mà không bị áp đặt.
1.1.1.2. Đổi mới phương thức và phương pháp dạy học
Mục tiêu của chương trình giáo dục mới là chú trọng phát triển phẩm chất và
năng lực người học. Do đó, đổi mới hình thức và phương pháp dạy học là điều tất yếu,
những phương pháp dạy học cũ vẫn sẽ được áp dụng bên cạnh các phương pháp dạy
học mới. Nhưng điều quan trọng đó là hình thức và phương pháp dạy học phải hướng
đến phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học, tăng
cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn. Đổi mới phương pháp dạy học phải đảm bảo độ phù hợp với tiến tình nhận thức
khoa học, để học sinh có thể tham gia vào hoạt động tìm tịi sáng tạo giải quyết vấn đề,
góp phần hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực độc lập, sáng tạo của
học sinh để từ đó bồi dưỡng và phát triển cho học sinh phương pháp tự học, hình thành
khả năng học tập suốt đời.
1.1.2. Cơ sở lý luận của việc chuyển thể tác phẩm văn học sang các tác phẩm
thuộc các loại hình nghệ thuật khác
1.1.2.1. Quan hệ giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật
Các loại hình nghệ thuật được sản sinh đều là sản phẩm của sự phát triển ý thức,
xuất phát từ thực tiễn và đều từ nhu cầu phản ánh và tiếp nhận của con người. Đặc biệt
là khi khơng thể có một loại hình nghệ thuật nào có thể đáp ứng được hết nhu cầu phản
ánh đời sống nên người ta phải mở rộng tìm kiếm ở các loại hình nghệ thuật khác. Đọc
thơ nó đem lại cảm xúc nhưng sự tình mà nó miêu tả quá vắn tắt, người ta thấy cần tìm
đến truyện; đọc truyện lại chỉ thấy miêu tả trên mặt giấy và người ta chỉ có thể hình
dung bằng tưởng tượng, khi đó người ta có nhu cầu được tiếp nhận sâu sắc hơn thì
xem phim, nghe nhạc,… Chính bởi nhu cầu tiếp nhận như thế mà người đọc tìm cách
phá vỡ cấu trúc ban đầu của tác phẩm và các tác phẩm văn học thay đổi cấu trúc của
nó là điều hiển nhiên.
Tuy nhiên, khơng phải tự nhiên mà nảy sinh sự chuyển thể từ loại hình này sang
loại hình khác mà nó phải có điều kiện cơ sở, là mạch giao thoa giữa tác phẩm văn học
gốc và tác phẩm chuyển thể. Nền tảng của chuyển thể đó giữa chúng phải có tình
huống nghệ thuật, điều kiện sinh thành. Nhưng mạch giao thoa giữa các loại hình nghệ
thuật là sự giao thao trong những mức giới khác nhau, tức là khai thác chuyển thể từ
tiềm năng nghệ thuật của từng loại hình, nắm bắt đúng điểm giao thoa của nó. Tại sao
thơ lại được phổ nhạc thay vì truyện ngắn hay tiểu thuyết? Đó là vì giữa thơ và nhạc
nó có cảm xúc và nhạc điệu là yếu tố đi cùng nhau, cảm xúc của thơ nó ngân lên như
những khúc âm hưởng của nhạc và nhạc điệu nó lại phù hợp với thể hiện nhịp thơ. Hay
như tiểu thuyết và sân khấu, cả hai thể loại này đều lấy yếu tố chất kịch làm trung tâm,
9
tính kịch tính của tiểu thuyết khi đi vào sân khấu sẽ tạo nên tình huống kịch lơi cuốn,
hấp dẫn. Cũng là tiểu thuyết nhưng với tiểu thuyết thiên về hiện thực với những khắc
họa phong phú cuộc sống người ta lại lựa chọn chuyển nó thành phim. Những bức
tranh đa diện, đa sắc trong tiểu thuyết hiện thực sẽ tạo nên những bối cảnh phim sinh
động, những cảnh phim chân thực nhất, tiểu thuyết với những câu chuyện con người,
cuộc đời sẽ phù hợp trở thành kịch bản phim vì nó giống nhau khi cùng tái hiện mn
hình thái đời sống hiện thực.
Đồng thời, khi một tác phẩm được chuyển thể sang một loại hình nghệ thuật khác
thì tức là phương thức biểu hiện của nó đã được thay thế. Đây chính là lý do giải thích
vì sao người đọc họ có nhu cầu tìm hiểu nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau liên
quan đến một tác phẩm nghệ thuật. Mỗi một phương thức biểu hiện khác nhau sẽ cho
ra những vấn đề tiếp nhận khác nhau. Sự giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật cho
phép người tiếp nhận có được những góc nhìn đan chiều hơn trong tiếp nhận tác phẩm
nghệ thuật, so sánh, đánh giá, chọn lựa.Chính vì thế, giữa hai các tác phẩm thuộc
chuyển thể ấy luôn phải thể hiện được sự liên hệ, bổ sung thế mạnh và khắc phục điểm
yếu của nhau.
1.1.2.2. Nhu cầu về tiếp nhận mở rộng của người tiếp nhận
Nghệ thuật là q trình khơng ngừng sáng tạo và tái sáng tạo, đặc biệt những tác
phẩm nghệ thuật nó là tác phẩm sáng tạo mang tính cá thể nhưng qua q trình tiếp
nhận nó sẽ mang tính cộng đồng. Trong q trình tiếp nhận, mỗi một độc giả lại có
những tư duy khác nhau, mỗi giai đoạn tiếp nhận lại có những u cầu khác nhau cho
nên q trình tiếp nhận càng kéo dài thì nhu cầu mở rộng tiếp nhận khai thác của tác
giả càng lớn. Và khi đó, người đọc kiếm tìm những phương diện khác của loại hình
tiếp nhận mà trước hết là tác phẩm thuộc loại hình chuyển thể.
Để đáp ứng nhu cầu mở rộng tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật thì sự ra đời của
chuyển thể chính là sự phát triển nghệ thuật theo hướng tích cực, người đọc có thêm
nhiều kênh tiếp nhận, đồng thời nó cũng làm cho đời sống nghệ thuật càng trở nên
phong phú. Mỗi một người đọc sẽ có những nhu cầu khác nhau về kênh tiếp nhận nghệ
thuật, và sự phát triển của nhiều kênh tiếp nhận nghệ thuật ngày nay như: âm nhạc, hội
họa, điện ảnh, điêu khắc,…nó một mặt đáp ứng nhu cầu khám phá nghệ thuật của bạn
đọc, một mặt khác nó phát triển hơn nữa thị hiếu của bạn đọc. Khi nhu cầu bạn đọc về
các tác phẩm nghệ thuật được nâng cao, thị hiếu thẩm mỹ nghệ thuật của bạn đọc cao
hơn nó sẽ dẫn tới mức đòi hỏi cao hơn đối với tác phẩm nghệ thuật, kích thích sự sáng
tạo của cả người sáng tạo và người chuyển thể.
Bên cạnh đó, mặt trái của nghệ thuật bao giờ thì cung khơng kịp đáp ứng cầu.
Nhu cầu tiếp nhận của khán giả thì khơng ngừng gia tăng nhưng mức độ sáng tác của
nghệ sĩ (mà ở đây là nhà văn) ln có giới hạn. Bạn đọc ln có nhu cầu tiếp nhận
thêm các tác phẩm văn học khác để làm phong phú đời sống nghệ thuật của mình, và
hiển nhiên nhu cầu đó đã tạo nên áp lực sáng tạo đối với nhà văn. Nhà văn ln phải
đứng trước những địi hỏi khơng ngừng của bạn đọc về sáng tạo nghệ thuật mới. Và
khi đó, sự xuất hiện của tác phẩm chuyển thể nó đã một phần phân tán áp lực cho nhà
văn và địi hỏi của bạn đọc. Nó vừa giúp nhà văn kiếm tìm thêm khơng gian sáng tạo,
cảm hứng sáng tạo cũng như giúp bạn đọc tìm thấy điểm tiếp nhận mới của tác phẩm
văn học.
10
Sự ra đời của nghệ thuật chuyển thể nó góp phần mở rộng quan niệm tiếp nhận
văn hóa, nghệ thuật. Không chỉ dừng lại ở một tác phẩm với một loại hình nữa mà nó
có thể là đa loại hình hơn và góc nhìn đánh giá nghệ thuật của khán giả sẽ mở rộng
hơn. Nghệ thuật giờ đây tạo mối quan hệ gắn kết giữa sáng tác và sáng tác (giữa sáng
tác gốc và sáng tác chuyển thể), giữa nghiên cứu với sáng tác, giữa sáng tác và tiếp
nhận. Hoạt động chuyển thể nó đã tạo ra một kênh nghệ thuật mới cho tác phẩm nghệ
thuật, nó đã mở ra một khơng gian văn hóa mới vưới một quan điểm tiếp nhận văn hóa
mới, đa dạng. Mỗi một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể nó khơng chỉ là một sự tái
sáng tạo mà nó đã phát triển đến mức tạo ra một khơng gian văn hóa mới: cũng có
sáng tạo, tiếp nhận, tái sáng tạo,…Và chính nhờ vậy mà những tác phẩm văn học nó có
cơ hội mở rộng phát triển hơn, mở rộng phạm vi tác động hơn, khi nó được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ loại hình nó đã góp phần thúc đẩy sự cách tân của văn học, tạo bước
tiến cho sự phát triển của văn học.
1.1.2.3. Nhu cầu về sáng tạo của các nhà nghệ thuật
Trong tiến trình nghệ thuật, nhu cầu tiếp nhận của bạn học thay đổi, được nâng
cao thì nhu cầu sán tạo của các nhà sáng tạo nghệ thuật cũng sẽ thay đổi. Đây là hai
quá trình thay đổi, phát triển tác động lẫn nhau, chi phối biện chứng lẫn nhau. Nhu cầu
tiếp nhận của bạn đọc làm thay đổi nhận thức sáng tác của nhà sáng tạo nhưng đồng
thời sự đổi mới tư duy sáng tạo của nhà sáng tạo cũng làm thay đổi nhu cầu tiếp nhân
của bạn đọc.
Xét riêng về văn học, thì trong q trình nó phát triển, nó chịu sự chi phối của
nhiều yếu tố từ đời sống lý luận phê bình, đời sống hiện thực, bạn đọc, nhà xấu bản.
Và trong q trình tác động đó nó sản sinh ra nhiều vấn đề đặt ra với nhà văn. Các nhà
văn ln phải làm mới mình, thay đổi tư duy viết của mình, khám phá ra nhiều khía
cạnh của sáng tạo hơn. Chuyển thể nó đã đặt các nhà sáng tạo đi sâu khám phá, quan
tâm đến khán giả, trau chuốt sáng tác, đến vấn đề thời sự của văn học. Các nhà sáng
tạo đòi hỏi phải nghiêng ngẫm tác phẩm để tạo ra được tác phẩm chuyển thể có giá trị.
Chuyển thể, nó khơng chỉ dừng lại là bước tiến của tư duy sáng tạo mà sự xuất
hiện của nghệ thuật chuyển thể nó đã đóng góp và kho tàng tri thức nghệ thuật và đời
sống nhiều thuật ngữ, một loạt các thuật ngữ nghệ thuật xuất hiện trong quá trình
chuyển thể (diễn viên, phân cảnh, tạo hình,…). Đặc biệt là nó đã tạo ra chỗ đứng cho
tri thức liên văn bản. Cũng từ đó mà nó tạo nên sự phong phú cho kho tàng ngơn ngữ
nghệ thuật cũng như phát triển khả năng về ngôn ngữ nghệ thuật.
Nhu cầu về sáng tạo nghệ thuật mà ở đây là chuyển thể nghệ thuật không chỉ là
nhà sáng tạo nghệ thuật của loại hình khác đối với văn học mà ngay bản thân các nhà
văn học cũng tham gia sáng tạo chuyển thể tác phẩm của mình. Tức họ không chỉ sáng
tạo ra tác phẩm gốc mà họ cịn có nhu cầu tạo ra một khơng gian nghệ thuật mới cho
chính tác phẩm của mình có thể là viết kịch bản phim, đạo diễn,…
Chuyển thể văn học không chỉ tạo điều kiện để văn học được mở rộng tác động,
nhà văn, nhà sáng tạo nghệ thuật có thêm khơng gian sáng tạo, bạn đọc có thêm khơng
gian tiếp nhận mà đối với các loại hình nghệ thuật khác là cơ hội phát triển một cách
tích cực. Các loại hình nghệ thuật khác có nguồn cảm hứng sáng tạo, có thêm tác
phẩm, thậm chí những tác phẩm kinh điển, có cơ hội để tiến bộ, phát triển như: điện
ảnh, âm nhạc, sân khấu, vũ điệu, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật ánh sáng, nghệ thuật
11
trình chiếu,…Sự phát triển của nghệ thuật cũng là bước tiến cho sự phát triển của xã
hội.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1.Thực trạng dạy học văn bản văn học trong nhà trường hiện nay
Hiện nay, việc dạy và học môn Ngữ văn ở cấp THCS và cấp THPT vẫn đang
tuân theo hình thức, nội dung của chương trình giáo dục cũ. Dù phương pháp giảng
dạy của giáo viên đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục
theo chương trình giáo dục năm 2018. Tuy nhiên, việc dạy và học mơn Ngữ Văn vấn
cịn nhiều hạn chế. Đặc biệt, vấn đề mà đề tài quan tâm ở đây chính là thực trạng dạy
học văn bản văn học hiện nay trong nhà trường.
Chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát nhỏ lấy ý kiến của 100 học sinh tại
trường THPT Lệ Thủy bao gồm từ 10 lớp của khối 12 về hình thức tiếp cận văn bản
văn học ở nhà trường hiện nay. Và điều đặc biệt từ kết quả thu thập được là chỉ trong
một khối học nhưng mà học sinh lại được tiếp cận văn bản văn học theo các hình thức
khác nhau. Điều này trước hết đó là do đặc điểm khối học tại trường chúng tơi khảo
sát, đó là khối học được chia theo ban khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời
giáo viên giảng dạy cũng khác. Từ sự khác biệt về đặc điểm học sinh cho nên cách
giảng dạy của giáo viên cũng sẽ khác. Tuy nhiên, theo kết quả chúng tơi nhận được thì
tới 45,2% học sinh cho biết mình được tiếp cận với văn bản văn học theo hình thức
nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đây được xem là một dấu hiệu tích cực
trong hoạt động dạy học văn bản văn học ở nhà trường hiện nay. Có thể thấy rằng,
giáo viên đang rất nỗ lực để tahy đổi tư duy dạy học từ thầy làm trung tâm sang tư duy
lấy người học làm trung tâm. Giáo viên đang dần phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh hơn trước kia để dần thích ứng với yêu cầu của chương trình
giáo dục mới. Nhưng các bạn cũng cho biết rằng, các phần cơ bản, trọng tâm của văn
bản văn học thì học sinh bị chi phối bởi giáo viên rất nhiều, giáo viên vẫn còn khá ép
đặt về nội dung kiến thức. Chỉ những phần liên quan đến mở rộng kiến thức về văn
bản văn học thì giáo viên sẽ để học sinh được phát huy tính sáng tạo và tích cực của
mình nhiều hơn. Cho nên tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh vẫn chưa được
tạo điều kiện phát huy nhiều, nó đang cịn mang tính chất nửa vời, giờ học vẫn cịn gị
bó và áp đặt kiến thức học sinh tiếp nhận.
Bên cạnh thay đổi tích cực đó thì dạy học văn bản văn học trịn nhà trường hiện
nay vẫn mang tính hạn chế với phương pháp giảng dạy truyền thống. Giáo viên gần
như cung cấp hết kiến thức liên quan đến văn bản cho học sinh. Cụ thể hơn là giáo
viên vẫn còn trung thành với phương pháp dạy diễn giảng, đọc chép cho học sinh,
khiến cho kiến thức văn học của văn bản trở nên khơ khan, cứng ngắc và gị bó. Giảng
dạy mang tính rập khn và học sinh cũng tiếp nhận theo hình thức rập khn, phụ
thuộc vào giáo viên rất nhiều. Do đó, dẫn đến thực trạng là học sinh thụ động, thiếu
sáng tạo trong tiếp nhận và thể hiện kiến thức văn học, trong khi đây là phần liên quan
đến văn bản nghệ thuật mọi cá tính, hình dung, tưởng tượng của học sinh đều có chỗ
để phát huy. Nhưng nó lại khơng có điều kiện để phát huy mà mọi cái học sinh thể
hiện lại chính là cái cảm thụ của giáo viên. Đồng thời, giáo viên cũng khá khó tính và
cứng nhắc với cách dạy cảm thụ một chiều này nên học sinh quá quen thuộc với nó
ngại phản biện, ngại sáng tạo.
12
Do cách dạy diễn giảng đọc chép, giáo viên là người nắm giữ kiến thức, giáo
viên cung cấp cho học sinh hết mọi kiến thức nên nhiều kiến thức mà giáo viên cung
cấp nó lại vượt quá giới hạn học sinh cần. Giáo viên dạy văn bản văn học như nhà
nghiên cứu văn học phân tích sâu về tâm lí, về kĩ thuật ngôn từ, về phương pháp sáng
tác….. Trong khi đố đối với HS môn ngữ văn chỉ cần dạy cho HS đọc hiểu, tiếp nhận
tác phẩm như một độc giả bình thường là đủ, nghĩa là chỉ cần nắm bắt đúng ý nghĩa,
tư tưởng của tác phẩm, một vài nét đặc sắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và gây
hứng thú. Cho nên học sinh không hứng thú tìm tịi, khám phá thêm về tác phẩm, học
sinh học thuộc kiến thức giáo viên cung cấp mà không có sự mở rộng nào thêm. Điều
này cũng do một phần chi phối bởi hình thức đánh giá của giáo viên, giáo viên ln
địi hỏi học sinh thể hiện đúng cái kiến thức mình giảng dạy, học cái mình cung cấp
cho nên học sinh đối với văn bản văn học luôn là cảm thụ suông.
Văn bản văn học là phần kiến thức kích thích sự tương tác của cảm thụ, cảm xúc,
tưởng tượng và cả tư duy. Tuy nhiên, do cách giảng dạy diễn giảng của giáo viên và
cách tiếp nhận thụ động của học sinh nên việc dạy học văn bản văn học thiếu sự tương
tác giữa thầy và trị, giữa trị với trị. Học sinh rất ít thể hiện cái tư duy cá nhân, giáo
viên cũng sẽ tạo ra sự tương tác trong giờ học nhưng là sự tương tác dựa trên các câu
hỏi thu từ của giáo viên cho nên tính sáng tạo, phản biện tương tác trong giờ học cũng
hạn chế.
Về nội dung giảng dạy nó cũng thiếu sự thay đổi linh hoạt mà hầu như nó giống
nhau ở mọi lớp, mọi đối tượng học sinh và đặc biệt là giữa mọi năm học. Giáo viên
thiếu sự đổi mới về kiến thức, thiếu tính cập nhật về kiến thức văn học cho các văn bản
văn học trong chương trình. Điều đáng chú ý hơn là giáo viên chỉ giảng dạy các văn
bản được chỉ định, các kiến thức được quy định của văn bản mà ít có sự mở rộng, gợi
mở thêm cho học sinh tìm hiểu. Cho nên tính liên hệ, tính cập nhật của văn bản văn
học còn khá hạn chế, dẫn đến kiến thức mà học sinh được tiếp cận nó cũng bị hạn chế
theo trừ trường hợp một số học sinh có say mê văn chương thì kiến thức nó có sự đa
dạng hơn.
Về hình thức đánh giá trong dạy học văn bản văn học nó cũng cịn mang tính hạn
chế rất nhiều. Đánh giá hoàn toàn dựa vào khả năng ghi nhớ kiến thức của học sinh,
đánh giá dựa trên khả năng tái hiện kiến thức và ít dựa vào các khía cạnh khác. Chủ
yếu đánh giá dựa trên sản phẩm cá nhân mà ít liên quan đến sản phẩm nhóm, cụ thể
hơn là ít tổ chức hoạt động nhóm. Đánh giá kiến thức về văn bản văn học được liên kết
trên phần viết nghị luận văn học. Cho nên có thể thấy sản phẩm học tập của phần văn
bản văn học chủ yếu chỉ dừng lại ở các bài viết nghị luận văn học với chừng ấy tác
phẩm, chừng ấy u cầu (phân tích, bình luận…) khiến học sinh và giáo viên coi trọng
tâm lý học thuộc, học tủ, dạy học theo mơ hình kinh nghiệm. Cách thức thi cử, kiểm
tra bài làm văn đa phần chỉ chú trọng đến phần cho điểm. Do coi nhẹ khâu chữa bài và
hướng dẫn học sinh tự sửa bài để nâng cao kỹ năng làm văn nên kỹ năng viết luận,
diễn đạt của các em quá yếu.
Tính tích cực, sáng tạo ít được phát huy cho nên học sinh đối với việc học văn
bản văn học cũng mang tính đối phó, học để thi. Học sinh ít hứng thú tìm hiểu thơng
tin, kiến thức liên quan đến văn bản văn học được học, học sinh ít tìm tịi các tài liệu
tham khảo chun sâu về văn bản và học sinh cũng ít sáng tạo trong cách tiếp thu văn
bản văn học được học đó. Học sinh chỉ học cái thầy cơ giảng dạy, trình bày theo cái
13
thầy cơ cho sẵn mà ít có tư duy phản biện hay sáng tạo. chính vì cách học phụ thuộc
này mà khả năng cảm thụ văn abrn văn học hay thể hiện tư duy văn học nó bị bó hẹp
trong phạm vi vản bản nhất định. Học sinh khơng có khả năng tự cảm nhận, phân tích
một văn bản văn học khác hay tương tự. Thậm chí học sinh cũng không biết cách vận
dụng kiến thức liên quan đến văn bản văn học đó một cách linh hoạt được. Các kiến
thức về văn bản văn học của học sinhc òn khá hạn chế, kiến thức có được cho nghe
chép thụ động nên học sinh không thể nắm vững và không thể vận dụng nó một cách
sáng tạo và mở rộng hơn.
Có thể thấy rằng, việc dạy học văn bản văn học trong nhà trường hiện nay dù có
sự giảm bớt tầm chi phối của người thầy hơn trong việc cung cấp kiến thức nhưng nó
vẫn cịn ở mức độ nửa vời. Thầy vẫn còn làm chủ kiến thức cho học sinh, dạy học văn
bản văn học thiếu sự sáng tạo cho học sinh, hình thức đánh giá khá hạn chế thiếu tồn
diện, vai trị của học sinh cịn chưa được phát huy đúng chỗ. Dạy học văn bản văn học
trong nhà trường vẫn còn dừng ở việc giáo viên cảm thụ thay học sinh và học sinh chỉ
trông chờ kiến thức giáo viên cung cấp.
1.2.2.Thực trạng về năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học của học sinh hiện nay
Với sự phát triển rầm rộ của internet đã tạo điều kiện được tiếp cận thông tin dễ
dàng và đa dạng hơn rất nhiều. Trong xu thế phát triển của công nghệ thơng tin, học
sinh đã có điều kiện được thu nhận tri thức từ nhiều phương diện khác nhau. Chính vì
thế mà vốn tri thức của học sinh cũng rộng mở hơn rất nhiều. Học sinh ngày nay có thể
kiếm tìm được vơ vàn thơng tin liên quan đến kiến thức mình được giảng dạy. Và kiến
thức về mơn ngữ văn cũng vậy, học sinh cũng được biết đến đời sống văn học nhiều
hơn. Tuy nhiên, lượng kiến thức các em có điều kiện tiếp nhận có thể nhiều nhưng nó
có hiệu quả hay khơng lại phụ thuộc vào năng lực đọc hiểu các tác phẩm văn học đó
của các em. Từ thực tế dạy học văn bản văn học trong nhà trường hiện nay cùng kết
quả của khảo khát về năng lực đọc hiểu tác phẩm văn học và hiểu biết về đề tài dự án
của các học sinh. Chúng tôi đã nhận thấy được thực trạng chung hiện nay về năng lực
đọc hiểu tác phẩm văn học của
Các em học sinh có nhu cầu đọc tác phẩm văn học nhưng nhu cầu đó chỉ giới hạn
trong các tác phẩm các em phải học, phải thi. Với câu hỏi các kênh thông tin, tài liệu
các bạn tiếp cận tác phẩm văn học thì kết quả đã cho thấy rằng bên cạnh sách giáo
khoa là kênh thông tin chủ yếu(93,5%) thì học sinh vẫn tiếp cận ở các kênh thơng tin
khác như internet, thư viện(77,4%) nhưng chỉ yếu dừng lại ở kiếm tìm thơng tin liên
quan đến nội dung tác phẩm học. Và điều đáng quan tâm ở đây là kênh thông tin, tài
liệu liên quan đến nội dung đề tài chúng tối hướng đến ở đây là các tác phẩm nghệ
thuật khác có liên quan đến tác phẩm văn học thì có đến 45,2% lựa chọn. Đây là một
con số khá khả quan khi học sinh ngày càng quan tâm đến sự đa dạng trong đời sống
nghệ thuật của tác phẩm văn học hơn. Điều này có thể cho thấy rằng nhu cầu đọc của
học sinh đang lên và năng lực đọc của học sinh cũng được nâng cao hơn. Phần trên là
dấu hiệu tích cực về năng lwucj đọc của các em học sinh. Sau đây là tổng kết của
chúng tôi về năng lực đọc – hiểu của các bạn học sinh về tác phẩm văn học qua khảo
sát. Chúng tơi tiến hành dựa trên các tiêu chí đánh giá năng lực đọc – hiểu hiện nay ở
nhà trường các em được tiếp cận là nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao,
với các mức đánh giá là khơng có kỹ năng, chưa thành thạo, khá thành thạo, thành thạo
và rất thành thạo.
14
Đối với mức độ đọc hiểu nhận biết, đây là mức độ dường như các em học sinh ở
cấp THPT đều phải thành thạo, nhưng kết quả mà cuộc khảo sát đưa ra đã cho thấy
một dấu hiệu báo động khi mà phần lớn các em đều cho biết mình chỉ ở mức khá thành
thạo(38.7%), thậm chí là mức thành thạo và chưa thành thạo nó ngang nhau(25.8%).
Đây là dấu hiệu không mấy khả thi đối với năng lực đọc- hiểu của các em hiện nay khi
mà mức độ thấp nhất các em cũng đang chưa nắm vững. Với kết quả như trên của mức
năng lực đọc – hiểu nhận biết thì khơng q ngạc nhiên khi mà kết quả ba năng lực
đọc – hiểu thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao tỉ lệ chưa thành thạo lại chiếm con số
cao nhất với lần lượt là 38.7%, 41.9%, 45,2%. Từ kết quả trên có thể nhận thấy một
điều rằng, năng lực đọc – hiểu tác phẩm văn học của học sinh hiện nay chỉ dừng ở mức
khá thành thạo mà thơi. Các em vẫn cịn khá mơ hồ và loay hoay trong việc đọc – hiểu
một tác phẩm văn học. Có thể nói, chính phương pháp dạy học mà giáo viên cung cấp
hết mọi kiến thức cho học sinh đã khiến cho các em khơng có cơ hội được khai phá
cũng như rèn luyện, phát triển các năng lực đọc – hiểu cần có. Dạy học q tập trung
hình thành kiến thức đã khiến cho học sinh tiếp cận tác phẩm văn học với tâm thế phụ
thuộc, chỉ chăm học kiến thức mà bỏ quên rèn luyện năng lực cần có.
Đối với năng lực đọc – hiểu tác phẩm văn học của học sinh hiện nay, dường như
khi nhắc đến kiến thức đọc – hiểu của tác phẩm các em được học thì các em có thể
trình bày rất tốt. Nhưng nó chỉ nằm ở mức chỉ ra và cảm thụ cơ bản còn năng lực vận
dụng cao – liên hệ so sánh mở rộng thì các em khá mơ hồ. Chưa kể đến khi đưa một
tác phẩm văn học mới thì các em lại khơng có khả năng đọc – hiểu nó một cách cụ thể
như tác phẩm được học được. Đối với tác phẩm văn học mới các em chưa được hướng
dẫn thì mức độ đọc – hiểu của các em chỉ dừng lại ở mức thông hiểu. Các em có thể
nêu lên được suy nghĩ, đánh giá của bản thân nhưng lại chỉ dừng ở mức khái quát, tổng
quan mà không thực sự cụ thể, tỉ mỉ.
Từ những điều trên, chúng ta có thể nhận thấy một thực trạng rằng các em học
sinh hiện nay đang còn quá loay hoay và hạn chế trong đọc – hiểu các tác phẩm văn
học. Năng lực đọc – hiểu của các em biểu hiện qua các bài kiểm tra khá tốt nhưng thực
chất đó là kết quả của học thuộc kiến thức trông chờ từ thầy cô. Các em đọc – hiểu rất
tốt, rất sâu sắc tác phẩm mình được học, được giảng dạy nhưng các em lại khá mơ hồ
đối với tác phẩm mới nếu giáo viên không hướng dẫn cho các em. Các em học sinh
ngày nay đã có nhu cầu tìm kiếm mở rộng thơng tin về tác phẩm văn học, độ hiểu biết
về đời sống văn học cũng cao nhưng năng lực đọc – hiểu hạn chế do không được chú
trọng đào tạo đã khiến các em không thể tiếp cận các tác phẩm văn học một cách đầy
đủ và triệt để nhất. Chính vì thế, năng lực đọc – hiểu về tác phẩm văn học của các em
học sinh cịn hạn chế khơng phải các em thực sự khơng có khả năng mà đó là do các
em khơng có điều kiện được rèn luyện và phát triển nó tốt nhất. Mơi trường dạy học
thụ động, một chiều khiến các em dần mất đi khả năng cảm thụ văn chương mang tính
cá nhân. Hình thức dạy học chú trong kiến thức cùng hình thức đánh gía rập khn bó
hẹp chính là ngun nhân khiến năng lực đọc – hiểu của học sinh còn yếu kém. Cho
nên, thay đổi hình thức giảng dạy cũng là biện pháp, một giúp học sinh tự định hình
khả năng của mình, hai là các em có ý thức nâng cao năng lực của bản thân.
15
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ “TÌM HIỂU MỘT TÁC
PHẨM NGHỆ THUẬT CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC”
2.1. Lý do lựa chọn và xây dựng chuyên đề
Tác phẩm chuyển thể từ văn học mặc dù là nội dung mới trong chương trình Ngữ
Văn lớp 12 nhưng nó lại khơng quá lạ trong thực tiễn. Hầu như trong cuộc sống sinh
hoạt hằng ngày mà nhất là giải trí thì chúng ta có thể đã được tiếp xúc với các tác
phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học. Hiện nay, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 vẫn
chưa được ban hành, những nội dung cụ thể liên quan đến chuyên đề này vẫn chưa
được biết đến nhiều. Tuy nhiên, theo kế hoạch phân bổ chương trình thì đây là một
trong ba nội dung của chuyển đề dạy học tự chọn. Đây là một vấn đề khá mới đối với
giáo viên và học sinh khơng chỉ về nội dung mà cả hình thức dạy học.
Chuyên đề dạy học tự chọn là một thiết kế mới được đưa vào chương trình dạy
học, nó tạo điều kiện để giáo viên phát hiện thêm các năng lực mà học sinh có cũng
như phát triển hơn nữa năng lực tiềm năng của học sinh. Có thể nói, các chủ đề của
chuyên đề dạy học tự chọn đều hướng đến giúp học sinh bám sát vấn đề Văn học ngoài
thực tế hơn, rèn luyện cho học sinh kỹ năng áp dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề
sát với thực tiến cũng như phát triển học sinh năng lực cần thiết cho công việc, cuộc
sống. Chuyên đề dạy học tự chọn không chỉ cho phép giáo viên và học sinh được thảo
luận lựa chọn chủ đề học cho mình mà giáo viên cịn được lựa chọn thời gian dạy học
sao cho đảm bảo hiệu quả nhất có thể.
Trong ba chủ đề dạy học thuộc chuyên đề dạy học tự chọn mà bộ giáo dục đưa ra
trong chương trình giáo dục phổ thơng mơn Ngữ văn. Chúng tơi nhận thấy chuyên đề
“Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học” nó là một vấn đề có thể
khai phá được ở học sinh tính sáng tạo rất cao, cũng như tính kích thích hứng thú của
nó rất lớn. Không những thế, với khảo sát thực tế của chúng tơi thì tỉ lệ học sinh hứng
thú với chuyên đề này rất cao với 96.8% tổng số bầu chọn, trong đó mức độ rất hứng
thú chiếm đến 45.2%. Với một câu hỏi khác, chúng tôi cũng nhận thấy tính triển vọng
của chun đề này khi mà có đến 87,1% học sinh được khảo sát đã từng được đọc,
được xem,…về tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học.
Bên cạnh đó, do tính mới lạ của nội dung này cùng với địi hỏi của chương trình
giáo dục mới, cho nên việc xây dựng một chuyên đề dạy học phù hợp với yêu cầu mới
là điều cần thiết. Lựa chọn chuyên đề “Tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể
từ văn học” bên cạnh cơ sở hiểu hiện vốn có của học sinh để tạo hứng thú tìm hiểu ở
học sinh thì nó cũng địi hỏi phát triển ở học sinh những phẩm chất năng lực cần thiết.
Với thực trạng dạy học tác phẩm nghệ thuất (tác phẩm văn học) hiện nay thì rất khó
khăn trong việc học sinh được làm chủ kiến thức, được bám sát vấn đề học, phát triển
tính tích cực và sáng tạo, giáo viên cũng khó tổ chức hoạt động cho học sinh. Chính vì
vậy, cần xây dựng một chuyên đề dạy học về tác phẩm nghệ thuật chuyển thề từ văn
học để học sinh được thảo luận về kiến thức, vấn đề nghiên cứu, được chủ động trong
việc tìm hiểu và thể hiện xúc cảm, tư duy của mình. Qua đó, giáo viên cũng nắm bắt
được khả năng của học sinh, tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng và tích cực, đánh
giá đúng năng lực học sinh đang có để củng cố và phát triển. Đặc biệt là trên mục tiêu
phát triển năng lực của học sinh là trọng tâm.
16
2.2. Nội dung kiến thức cần đạt
2.2.1. Tác phẩm văn học và chuyển thể tác phẩm văn học
2.2.1.1. Tác phẩm văn học
✵ Quan niệm, định nghĩa:
Quan niệm của Lê Lưu Oanh: “Tác phẩm văn học là đơn vị sáng tác của nhà
văn, là đối tượng thưởng thức của người đọc, là kết quả của trình độ ý thức xã hội, ý
thức thẩm mĩ thời đại, là chỉnh thể trung tâm của hoạt động văn học. Bởi vì, mọi quy
luật, bản chất, đặc trưng, thuộc tính của văn học đều biểu hiện tập trung ở tác phẩm
văn học, dù đó có thể là một thiên sử thi đồ sộ hoặc chỉ là một câu tục ngữ ngắn
gọn”1.
Quan niệm của Trần Đình Sử: “Tác phẩm văn học vừa là kết quả của hoạt động
sáng tác của nhà văn, vừa là cơ sở và đối tượng hoạt động thưởng thức của người
đọc”[…].
✵ Đặc trưng của tác phẩm văn học:
Tác phẩm văn học là bức tranh sinh động về đời sống và con người. Qua bức
tranh đó, người viết gửi gắm những tình cảm, tư tưởng và thể hiện thái độ của mình
trước cuộc sống: tác phẩm văn học là sự kết hợp giữa khách quan (hiện thực cuộc
sống) và chủ quan (tình cảm người viết).
Văn học – nghệ thuật ngôn từ: ngôn ngữ là chất liệu sáng tạo của văn học. Ngôn
ngữ văn học là ngôn ngữ quần chúng nhưng được cách điệu hóa nhằm tạo ý nghĩa
thẩm mỹ. Ngơn từ văn học mang tính tổ chức cao để khi đọc lên, độc giả có thể cảm
nhận được cuộc sống và nỗi lịng người viết, từ đó tác phẩm nằm lại trong tim độc giả.
Đặc điểm của ngơn từ văn học: tính chính xác và tinh luyện; tính hàm súc và đa
nghĩa; tính hình tượng; tính biểu cảm.
✵ Đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học:
Đề tài của tác phẩm văn học: “Đề tài là một phạm vi nhất định của cuộc sống đã
được nhận thức, lựa chọn để thể hiện trong tác phẩm” 2. Đề tài của tác phẩm là một
phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền
với dụng ý, thế giới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn.
Chủ đề của tác phẩm văn học: “Nói chủ đề là vấn đề cơ bản được đặt ra trong
tác phẩm, nhưng chủ đề phải được toát lên từ hiện thực trực tiếp, từ hệ thống tính
cách thì mới có sức mạnh. Chủ đề sẽ kém tác dụng khi nó chỉ là những vấn đề được
phát biểu trực tiếp như một chủ định có trước và người viết lấy hình tượng chắp vá để
chứng minh cho luận điểm của mình”3. Chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm
được tác giả nêu lên để giải quyết trong tác phẩm. Nó khơng phải là một vấn đề đơn
nhất, có nhiều tác phẩm chứa đựng cả một hệ chủ đề với chủ đề chính và chủ đề phụ.
✵ Nhân vật văn học: “nhân vật là phương tiện để phản ánh đời sống, khái quát
hiện thực. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của
con người, thể hiện những hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống”4.
Nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ.
1
Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư (2008), Lí luận văn học, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.104
Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư (2008), Lí luận văn học, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.116
3
Lê Bá Hán – Hà Minh Đức (1976), Cơ sở lí luận văn học, Nxb. Giáo dục, tr.13
4
Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư (2008), Lí luận văn học, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.126
2
17
Một số kiểu cấu trúc nhân vật: nhân vật chức năng; nhân vật loại hình; nhân vật
tính cách; nhân vật tư tưởng.
✵ Cốt truyện và kết cấu của tác phẩm văn học:
Cốt truyện của tác phẩm văn học: “Cốt truyện là một hệ thống các tình tiết, sự
kiện, biến cố phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là là các xung đột xã
hội một cách nghệ thuật, qua đó các nhân vật, các tính cách hình thành và phát triển
trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tự tưởng tác
phẩm”5. Cốt truyện có thể chia thành hai loại: cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa
tuyến.
Kết cấu của tác phẩm văn học: “Kết cấu là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố trong
tác phẩm để tạo dựng được thế giới hình tượng giàu ý nghĩa thẩm mĩ, có khả năng
khái quát đời sống, thể hiện tư tưởng của nhà văn” 6. Một số hình thức kết cấu trong
tác phẩm văn học: kết cấu theo trình tự thời gian; kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối
lập; kết cấu đa tuyến; kết cấu tâm lý.
2.2.1.2. Chuyển thể thể tác phẩm văn học
✵ Khái niệm:
Chuyển thể là làm thay đổi hiện trạng ban đầu của một sự vật, hiện tượng nào đó,
là sự đổi thay từ sự vật này chuyển sang sự vật khác (từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ
khác, hình thức này sang hình thức khác, kết cấu này sang kết cấu khác) dể nó khác đi
và có dấu vết của sự vật ban đầu. “Chuyển thể được xem là một xu hướng phổ quát
trong tất cả các xã hội loài người nhằm viết lại một văn bản gốc nào đó. Kết quả của
việc đó là tác phẩm chuyển thể có mối liên hệ với văn bản gốc theo nhưng cách thức
riêng”[…].
Chuyển thể văn học sang các loại hình nghệ thuật khác là sự thay đổi về kết cấu,
nội dung, hình thức nghệ thuật của 1 loại hình nghệ thuật này (tác phẩm văn học) sang
loại hình nghệ thuật khác. Nói cách khác là sự thay đổi cách đọc này sang cách đọc
khác, thay đổi loại hình ngơn ngữ này sang loại hình ngơn ngữ khác.
Chuyển thể cũng được xem là tạo dựng loại hình nghệ thuật mới. Chuyển thể là
một hoạt động sáng tạo do chủ thể khác hoặc do chính tác giả làm thay đổi hình thức
của tác phẩm sang một hình thức mới nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức tác phẩm.
✵ Các hình thức chuyển thể phổ biến trong lịch sử nghệ thuật:
Chuyển thể từ thể loại văn học này sang thể loại văn học khác (từ truyện sang
thơ, từ truyện sang truyện, truyện sang kịch bản văn học…): đây là hình thức chuyển
thể xuất hiện từ thời sơ khai và phổ biến nhất của văn học. VD: thần thoại Hy Lạp –
hình thức bi kịch; chuyện ngụ ngôn – thơ ngụ ngôn Ve và kiến, Con cáo và chùm nho,
Thỏ và rùa, Thần chết và lão tiều phu, Gà mái đẻ trứng vàng, Đám ma sư tử, Chó sói
và cừu non,…( Jean de La Fontaine); Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân) –
truyện Kiều (Nguyễn Du); truyện cổ tích Tấm Cám – truyện thơ Tấm Cám (Tú Mỡ);…
Chuyển thể từ văn học sang sân khấu, điện ảnh: sân khấu có truyện kể lịch sử,
truyện kể dân gian; sân khấu chèo, tuồng có tích truyện dân gian, truyện Phật giáo.
Điện ảnh đa dạng từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến cả truyện thơ, truyện dân gian. VD:
Sân khấu – Vĩnh biệt cửu trùng đài (Nguyễn Huy Tưởng), Chữ người tử tù (Nguyễn
Tuân), Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng),…Điện ảnh – Harry Potter
5
6
Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb. Giáo dục, tr.173
Lê Lưu Oanh – Phạm Đăng Dư (2008), Lí luận văn học, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.34
18
(J.K.Rowling), Cuốn theo chiều gió (Margaret Mitchell), Anna Karenina (Lev
Tolstoy), Giết con chim nhại (Harper Lee), Pinocchio (Carlo Collodi), Chị Dậu (Tắt
đèn – Ngô Tất Tố), Mùa len trâu (Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu – Sơn Nam),
Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Người đàn bà mộng du (Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành – Nguyễn Minh Châu), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Nguyễn
Ngọc Ánh), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu),…
Chuyển thể từ văn học sang nhạc kịch: loại hình sân khấu kết hợp ca khúc, lời
thoại, diễn xuất, nhảy múa. Nội dung và biểu cảm của nhạc kịch được thể hiện qua câu
chữ, âm nhạc, động tác và các khía cạnh kỹ thuật sân khấu. VD: Nhà thờ Đức Bà
Paris (Victor Hugo), Romeo và Juliette (William Shakespeare), Những người khốn
khổ (Victor Hugo), Cats (Old Possum’s Book of Practical Cats – T.S.Eliot),…
Chuyển thể từ văn học sang hội họa, điêu khắc: hình thức chuyển thể từ kênh chữ
sang các kí hiệu tạo hình. VD: Tranh khắc gỗ của Nhật Bản (các câu chuyện Ngưu
Lang Chức Nữ), Tranh khắc gỗ của Gustave Doré và tượng Người suy tưởng và Cánh
cổng địa ngục của Rodin (Thần khúc – Dante Alighieri),
✵ Đặc điểm:
Hình thức chuyển thể phong phú, từ văn học sang hội họa, điện ảnh, âm nhạc,
sân khấu…
Do nhu cầu tiếp nhận văn hóa, nhu cầu thưởng thức văn học; không phải là thay
đổi chỗ đứng mà thay đổi hình thức tồn tại, từ loại hình này sang loại hình khác,
phương thức này sang phương thức khác, ngơn ngữ này sang ngơn ngữ khác,… nên có
tính liên văn bản.
✵ Cơ sở của hiện tượng chuyển thể tác phẩm văn học: giữa tác phẩm văn học và
các loại hình nghệ thuật khác có tương đồng là tính tạo hình và biểu cảm, có đề tài,
chủ đề, có tư tưởng nghệ sĩ.
Các loại hình nghệ thuật có mối quan hệ giao thoa là đều bắt nguồn từ cuộc sống.
Các loại hình nghệ thuật bổ sung cho nhau: cái tác phẩm văn học khơng thể hiện
được thì các loại hình nghệ thuật khác thể hiện được và ngược lại.
Nhu cầu tiếp nhận của người đọc luôn chờ đợi những sản phẩm nghệ thuật mới.
2.2.2. Một số điểm khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể
từ tác phẩm văn học
2.2.2.1. Tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh chuyển thể
Tác phẩm văn học
Tác phẩm điện ảnh chuyển thể
Loại hình
Ngơn từ nghệ thuật tưởng tưởng
Dạng thức
tiếp nhận và
cách biểu đạt
Tiềm thức, gián tiếp: tưởng Trực quan: trực giác được tác
tượng, liên tưởng, cảm nhận,..
động trực tiếp, được khơi gợi
trực tiếp.
Đặc điểm
nghệ thuật
Nghệ thuật thời gian.
Vừa là nghệ thuật không gian
vừa là nghệ thuật thời gian thời
gian.
Phương tiện
sáng tạo
Hẹp hơn: Nhà văn, ngôn ngữ.
Đa dạng: đạo diễn, biên kịch,
biên tập, quay phim, diễn viên,
19
Hình ảnh nghệ thuật trực quan
bối cảnh, phương tiện kỹ thuật…
Chất liệu
sáng tạo
Phi vật thể
Vật thể
Tính trần
thuật
Kể bằng ngơn từ nghệ thuật.
Kể bằng hình ảnh, âm thanh.
Hình tượng
nghệ thuật
Tồn tại với “thể lỏng” tự do hình
dung, được tái hiện bằng ngơn
ngữ nghệ thuật. Sản phẩm tiếp
nhận là phi vật thể.
Tồn tại trực quan, được tái hiện
bằng hình ảnh có liên quan đến
các nghệ thuật khá như âm nhạc,
ánh sáng,…
Nhân vật và
trình tự cốt
truyện
Đứng n, bó hẹp, mơ hồ về Vận động linh hoạt
hình tượng.
Chi tiết nghệ
thuật
Tưởng tượng, khơi gợi.
2.2.2.2.
Hiện thực hóa trực tiếp, sống
động.
Tác phẩm văn học và tác phẩm sân khấu nghệ thuật chuyển thể
Nơi thưởng
thức
Tác phẩm văn học
Tác phẩm sân khấu chuyển thể
Đa dạng khơng bắt buộc, gị bó.
Quy định về khơng gian, thời
gian, địa điểm (sân khấu quy
định không gian 24m2).
Yêu cầu trong Tính nghệ thuật.
thể hiện
Tính nghệ thuật và kỹ thuật
trong khuôn khổ.
Kết cấu
Kết cấu bị chi phối bởi kết cấu
kịch bản sân khấu.
Đa dạng.
Dạng thức thể Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân Gợi mở nội tâm nhân vật.
hiện nội tâm
vật.
nhân vật
Quy mô thể
hiện
Rộng lớn, không giới hạn (không Khuôn khổ bó hẹp, quy định số
gian, thời gian, số lượng nhân lượng nhân vật (thể hiện lượng
vật,…)
nhân vật lớn lao nhưng số lượng
phải hợp).
Phương diện
thể hiện
Đa dạng.
Chọn cảnh tượng trưng, gợi,
ngơn ngữ vừa đủ, xung đột kịch
tính phải tn thủ yêu cầu về cấu
trúc sân khấu hoặc được thay
bằng tiếng động, phụ thuộc vào
thị hiếu khán giả.
20