DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Nghĩa
Chữ cái viết tắt
Cộng hòa dân chủ nhân dân
CHDCND
Nhân dân cách mạng
NDCM
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Ủy ban nhân dân
UBND
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, trong
hoạt động công vụ hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung
và của hệ thống chính trị nói riêng xét cho cùng được quyết định bởi
phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của các cán bộ thực hiện
nhiệm vụ. Chính vì vậy, đây là vấn đề quan trọng được Đảng NDCM
Lào và Nhà nước Lào quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng
nhà nước dân chủ nhân dân và đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới mở
cửa hiện nay. Trong đội ngũ cán bộ thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý là một bộ phận tinh hoa và là nòng cốt trong q trình đề xuất các
chủ trương, chính sách, pháp luật để thực hiện xã hội hóa các hoạt động
sự nghiệp, dịch vụ công, những vấn đề xã hội, đồng thời giúp Nhà nước
tổ chức kiểm tra, kiểm soát, tạo điều kiện để các hoạt động xã hội hóa
sự nghiệp, dịch vụ công phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trong nhiều năm qua, để thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý của
mình, Huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có số lượng đầy đủ với
cơ cấu độ tuổi dân tộc và giới tính, có sự trong sạch vững mạnh cả về
chính trị, tư tưởng, tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối
Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ
chun mơn nghiệp vụ phù hợp với u cầu các cơng việc và vị trí khác
nhau cũng như có khả năng hồn thành các nhiệm vụ chính trị, nhiệm
vụ của các cơng việc trong thực tiễn và đã được các cấp dưới cũng như
nhân dân trong địa bàn huyện hết sức tin tưởng.
Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của bối cảnh tình hình
phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn tới đòi hỏi mỗi một
cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung cũng như đội ngũ cán bộ, lãnh đạo
1
quản lý nói riêng cần đáp ứng được những địi hỏi về số lượng, về trình
độ lý luận chính trị, trình độ chun mơn nghiệp vụ, khả năng cơng tác
cũng như ln nhận được sự tín nhiệm của đồng nghiệp và của người
dân.
Với mong muốn tìm hiểu những vấn đề lý luận cũng như thực
tiễn trên, tôi đã chọn đề tài: “Chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào hiện
nay”, để làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn Xây dựng Đảng về
tổ chức.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về chất lượng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện tại nước CHDCND Lào,
đánh giá thực trạng và đề xuất một số phưng hướng và giải pháp nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện
Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý của đảng bộ huyện ở Lào.
- Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào hiện nay.
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở
Lào trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là chất lượng đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào
hiện nay.
2
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi không gian và thờ gian: Tiểu luận nghiên cứu tại
huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào. Tiểu luận nghiên cứu trong giai
đoạn từ năm 2016 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Tiểu luận nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
của Chủ tịch Kaysone Phomvihane, quan điểm, đường lối, chủ trương
của Đảng NDCM Lào về chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào hiện nay..
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận dựa trên phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra khóa luận cịn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khác như phương pháp phân
tích - tổng hợp, phương pháp khảo cứu tài liệu.
5. Kết cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận ngoài mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thi có
ba phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần mở đầu gồm: Lý do chọn đề tài; mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; cơ sở lý luận và phương
pháp nghiên cứu; kết cấu của đề tài. Phần nội dung gồm ba phần, cụ
thể:
Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý của đảng bộ huyện ở Lào.
Chương 2. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na khệt ở Lào hiện nay.
Chương 3. Phương hương và giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện Phin, tỉnh Sa vẳn na
khệt ở Lào trong thời gian tới.
3
4
B.
NỘI DUNG
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ở LÀO
1.1.
Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quan niệm về cán bộ
Theo quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trước đây,
thuật ngữ “cán bộ” được hiểu là tất cả những người làm việc trong biên
chế Nhà nước. Những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng, Nhà
nước xuất hiện thuật ngữ “cán bộ, công chức” để phân biệt chức năng,
nhiệm vụ và vị trí cơng tác của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, trên thực
tế, quan niệm về cán bộ và cơng chức mặc dù khơng hồn tồn đồng
nghĩa với nhau, nhưng cũng khó phân biệt rạch rịi đâu là cán bộ, đâu là
cơng chức. Vì vậy, trong các văn bản thường gọi chung là “cán bộ công chức”.
Theo Nghị định số 82/2003/NĐ-TTg ngày 19/05/2003 của Thủ
tướng Chính phủ nước CHDCND Lào về quy chế cơng chức CHDCND
Lào, Điều 2 đã quy định: “công chức của CHDCND Lào là công dân
Lào được sắp xếp vào biên chế và được tuyển dụng làm việc thường
xuyên ở các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể quần chúng
từ Trung ương đến địa phương và ở các cơ quan đại diện nước
CHDCND Lào ở nước ngoài, được hưởng lương và tiền trợ cấp từ ngân
sách Nhà nước”.
1.1.2. Quan niệm về cán bộ lãnh đạo
Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động
viên thực hiện. Hoạt động lãnh đạo chủ yếu là định hướng khách thể
thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách.
Người lãnh đạo được hiểu là người đứng đầu quan trọng
5
nhất có tác dụng chi phối chính tồn bộ hoạt động của một tổ chức nhất
định.
Cán bộ lãnh đạo là người quản lý đứng đầu một tổ chức, là
người thực hiện tất cả các chức năng của một chủ thể quản lý và là
người chịu trách nhiệm đầy đủ, toàn diện đối với tồn bộ hoạt động của
tổ chức đó.
1.1.3. Quan niệm về cán bộ quản lý
Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu
cầu nhất định [1; tr.772]. Hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận
hành thơng qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định từ
trước.
Người quản lý là người đứng đầu một tổ chức, điều hành hoạt
động của một tổ chức, sử dụng công vụ, phương tiện để điều khiển một
loại hoạt động nào đó của một tổ chức kinh tế - xã hội hay một doanh
nghiệp.
Cán bộ quản lý là người làm cơng tác quản lý, có chức danh và
nằm trong hệ thống bộ máy quản lý của một tổ chức địa phương hay
đơn vị.
1.2.
Vị trí, vai trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ
huyện
1.2.1. Vị trí của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện
Hiện nay, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội đang nâng cao vị trí, vai trị của cấp huyện. Có nguyên nhân lịch sử,
nhất là nền sản xuất nhỏ trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội có sự chênh
lệch đáng kể. Hiện nay, để thực hiện việc đưa miền núi tiến kịp miền
xuôi không hề giản đơn. Với vị trí có phương hướng xây dựng huyện
nay khơng phải là xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách mà còn phải
xây dựng cho được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị huyện có khả năng, có năng lực, có đạo đức, phẩm chất cách
6
mạng. Đồng thời cấp huyện phải phát triển, củng cố, sắp xếp, xác định
cho đúng chức năng của huyện trong hệ thống bốn cấp hiện nay để khai
thác, sử dụng tiềm năng ở mỗi địa bàn khác nhau nhằm đáp ứng u
cầu cơng cuộc đổi mới.
Đảng bộ huyện có mối quan hệ trực tiếp với tỉnh và Trung ương,
là địa bàn có điều kiện để kết hợp các ngành, các đơn vị kinh tế, văn hóa
do Trung ương hoặc địa phương trực tiếp quản lý thành một cơ cấu kinh
tế lãnh thổ nằm trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Địa bàn cấp
huyện rất thuận tiện cho việc hình thành cơ cấu kinh tế kết hợp nơng
nghiệp, cơng nghiệp, dịch vụ trong tổng thể phát triển và phân bố lực
lượng sản xuất theo vùng kinh tế. Hơn nữa, cấp huyện còn là địa bàn
thuận lợi để kết hợp chặt giữa kinh tế và quốc phòng, an ninh. Cấp
huyện là một cấp có kế hoạch và ngân sách quan trọng, đồng thời là cấp
thực hiện quản lý theo lãnh thổ kết hợp quản lý theo ngành.
Như vậy, cấp huyện là cấp có vị trí, vai trị quan trọng trong việc
cụ thể hóa phương hướng, nhiệm vụ của tỉnh, một cách sát hợp với cơ
sở, để lãnh đạo cấp cơ sở một cách trực tiếp, toàn diện trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Cấp huyện là cấp kết nối mọi hoạt động của
Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị xã hội từ tỉnh đến cơ sở.
1.2.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ huyện
Người cán bộ cách mạng có chức vụ trong bộ máy nhà nước, đặc
biệt là trong chính phủ nếu nhận thức, hiểu biết lý luận chính trị đúng
đắn sẽ làm cho họ có tầm nhìn xa, biết sự thật, dự báo tình hình, có đạo
đức để xây dựng các mục tiêu chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội ở địa phương, làm cho địa phương phát triển giàu mạnh.
Vai trò này là muốn nhấn mạnh tới tính hiệu quả xã hội trong
việc xây dựng, thực hiện chính sách. Điều này được nhìn nhận tương tự
như sự cân đối giữa đầu vào, đầu ra (mục tiêu, phương pháp) trong thực
hiện chính sách. Chính sách đạt được hiệu quả sau khi thực hiện được
coi là thước đo tính động đắn của chính sách; tức nói đến sự đúng đắn
trong lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nước mà
7
trọng tâm là Chính phủ, chính quyền địa phương. Hiệu quả của chính
sách thể hiện chủ yếu ở các nội dung đảm sự cân đối giữa phát triển
công nghiệp và nông nghiệp, giữa miền xuôi và miền ngược, sự cân đối
giữa bỏ vốn vào sản xuất trong khu vực công và khu vực tư nhân, hay
sự phát triển cân đối, cân bằng, hài hịa về phát triển văn hóa, kinh tế ở
địa phương. Bảo đảm các tiêu chí này, hiệu quả thực hiện chính sách
phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, cơ sở. Hồ Chí Minh đã nêu rõ:
“Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ
dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có
hay đến mấy thì cũng khơng thể thực hiện được” [2; tr.572].
1.3.
Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của
đảng bộ hiện nay
1.3.1. Tiêu chí số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp huyện là tập hợp các dấu hiệu, điều kiện, đặc trưng, các chỉ số định
tính, định lượng làm căn cứ để nhận biết, đánh giá chất lượng đội ngũ
cán bộ trên thực tế.
Các tiêu chí về số lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý huyện là những tiêu chí đầu tiên giúp chúng ta có thể đánh giá
được chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của huyện. Trong đó
bao hàm những nội dung đó là:
Về số lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện đã đáp
ứng được đầy đủ về số lượng theo quy định đối với cấp huyện hay
không, đồng thời số lượng cán bộ lãnh đạo phải có sự phù hợp, khơng
thừa, không thiếu.
Về cơ cấu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi cần phải
đáp ứng được sự phù hợp về cơ cấu giới tính giữa cán bộ lãnh đạo nam
cũng như cán bộ lãnh đạo nữ. Ngoài ra, còn cần đáp ứng được những
yêu cầu về cơ cấu độ tuổi của các cán bộ lãnh đạo để đảm bảo được
8
tính kế thừa trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý qua các giai đoạn.
Đặc biệt, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng còn cần phải đáp ứng
được những yêu cầu về cơ cấu dân tộc trong đó để đảm bảo sự hiện
diện của các dân tộc trong các cơ quan, đơn vị nhằm ln có sự hài hịa
trong cơng tác cán bộ tại các huyện.
Số lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện là
tiêu chí cơ bản có tác động cũng như ảnh hưởng rất lớn đến các tiêu chí
cịn lại trong quá trình đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý.
1.3.2. Về trình độ lý luận chính trị
Trình độ chính trị là mức độ hiểu biết về chính trị của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện. Trên thực tế, trình độ chính trị được
đánh giá chủ yếu bằng mức độ hiểu biết về lý luận chính trị. Hiện nay,
trình độ chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo huyện tại nước
CHDCND Lào đã có văn bản quy định cụ thể chuyển từ đánh giá theo
6 mức độ khác nhau tương ứng với trình độ chun mơn đó là sơ cấp,
trung cấp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ sang đánh gia theo 3 trình
độ đó là sơ cấp, trung cấp và cao cấp theo như văn bản mà Ban tổ chức
trung ương Đảng NDCM Lào đã quy định.
Trình độ chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện
hiện là cơ sở để tạo nên phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo huyện. Khơng có trình độ chính trị nhất định đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý huyện khơng thể có giác ngộ lý tưởng cộng sản, có bản
lĩnh chính trị vững vàng.
Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện
là tổng hợp các đặc tính cá nhân cán bộ lãnh đạo về mặt chính trị, bao
gồm các yếu tố cơ bản: nhận thức chính trị, thái độ chính trị và hành vi
chính trị. Cụ thể:
9
Nhận thức chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện
là sự hiểu biết về đường lối, quan điểm chính trị, về nền tảng tư tưởng
chính trị của Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Đảng NDCM Lào, sự
hiểu biết và tin tưởng vào mục đích, lý tưởng, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng NDCM Lào, vai trị, nhiệm vụ của cán bộ, hình
thành tình cảm, ý chí cách mạng của người cán bộ.
Thái độ chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện là
những biểu hiện, cử chỉ, lời nói, việc làm của các cán bộ xuất phát từ
nhận thức, suy nghĩ, tình cảm trước những vấn đề chính trị, tư tưởng và
tổ chức của Đảng NDCM Lào. Thái độ chính trị phản ánh cách nhìn
nhận, suy nghĩ và chi phối hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý huyện bao gồm lịng trung thành, tính vững vàng, kiên định về
lập trường, tư tưởng chính trị. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung cũng
như các cán bộ lãnh đạo nói riêng phải là người tuyệt đối trung thành
với Tổ quốc Lào, trung thành với Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào.
Hành vi chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện là
hành động mang tính chính trị, như tiên phong, gương mẫu trong công
tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng NDCM Lào và chính sách, pháp luật của Nhà nước
CHDCND Lào; tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ cấp dưới và
nhân dân kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính
trị.
1.3.3. Về trình độ chun mơn nghiệp vụ
Để xem xét chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cuả
ubnd huyện tại nước CHDCND Lào hiện nay thì tiêu chí về trình độ
chun mơn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là một tiêu chí hết
sức quan trọng. Điều này thể hiện qua các nội dung đó là:
10
Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là tổng hợp những
yếu tố tạo nên khả năng cá nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ
người cán bộ. Năng lực của người cán bộ bao gồm hai mặt chủ yếu:
Năng lực trí tuệ và năng lực chuyên mơn. Năng lực trí tuệ là khả năng
nhận thức, tiếp cận tri thức, khả năng nắm bắt, phân tích, đề xuất giải
pháp trong hoạt động thực tiễn. Năng lực chuyên mơn là tri thức, kỹ
năng để hồn thành nhiệm vụ chuyên môn của người cán bộ.
Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: trình độ kiến thức, kỹ năng; kinh nghiệm thực tiễn; ý
thức trách nhiệm đảng viên; hoàn cảnh, điều kiện. Trong đó, trình độ
kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn có vai trị quan trọng hơn
cả. Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện chủ yếu được
hình thành và phát triển qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động
thực tiễn. Mỗi thời kỳ cách mạng, khi nhiệm vụ chính trị của Đảng
NDCM Lào và nhiệm vụ cụ thể của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
huyện có sự thay đổi thì năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
huyện cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ.
Năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm 2 mặt
chủ yếu: trình độ học vấn; trình độ chun mơn. Trình độ học vấn là
mức độ kiến thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện thường
được xác định bằng các bậc học cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Đây là nền tảng để rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chun
mơn và cả phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo huyện. Trình độ chun mơn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý huyện là mức độ kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn của chức danh cơng việc theo quy định. Trình độ chun
mơn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện không chỉ được đánh
giá bởi bằng cấp chuyên môn được đào tạo mà chủ yếu là ở kết quả
hoàn thành nhiệm vụ chun mơn, ở uy tín trong cơng tác chuyên môn.
11
Trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện là một yếu
tố có vai trị đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng tới tất cả các yếu tố tạo nên
chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo huyện, là cơ sở để hình thành và
phát triển phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo huyện; là yếu tố đặc biệt quan trọng tạo thành năng lực và là
điều kiện để có năng lực.
1.3.4. Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ
Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý huyện là tiêu chí trung tâm, chủ yếu nhất, là dấu hiệu cụ thể
nhất, rõ nhất để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
huyện hiện nay. Kết quả thực hiện nhiêm vụ trên thực tế của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện bao gồm những yếu tố cụ thể sau:
Thái độ trong công việc biểu hiện sự quan tâm, tinh thần trách
nhiệm đối với nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đối với cán bộ, đảng viên,
nhân dân tạo ra bầu khơng khí làm việc, có những biểu hiện cụ thể sau:
Sự miệt mài, say sưa làm việc hàng ngày, chịu khó đi sâu nghiên cứu,
học tập để thường xuyên nâng cao trình độ, khả năng, kinh nghiệm
cơng tác, có tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết trong cơng tác, có
tinh thần chủ động làm việc, có ý thức về thời gian làm việc và kỷ luật
lao động.
Khối lượng công việc biểu hiện qua: Số lượng đầu công việc đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện đảm nhận và hoàn thành. Mức độ
phức tạp, quy mô, cường độ, tốc độ, thời gian làm việc của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý huyện.
Hiệu suất trong việc thực hiện nhiệm vụ với thời gian và tốc độ
hồn thành cơng việc; mức độ vượt qua những trở ngại của bản thân và
vượt lên những khó khăn của hồn cảnh để hồn thành cơng việc được
giao; sự tiết kiệm những chi phí về tài chính cũng như sức người, sức
12
của trong q trình tiến hành cơng việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý huyện.
13
Chương 2.
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHIN, TỈNH SA VẲN NA KHỆT Ở
LÀO HIỆN NAY
2.1.
Khái quát chung về huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt ở Lào
2.1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Sa Vẳn Na Khệt là một tỉnh miền Trung của nước Cộng hịa Dân
chủ Nhân dân Lào, có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, nhất
là về trao đổi hàng hóa, dịch vụ du lịch, quốc phịng, an ninh cả trong và
ngoài nước. Tỉnh Sa Vẳn Na Khệt bao gồm: 1 thành phố và 14 huyện
như: 1 thành phố Kay Sỏn Phôm Vi Hản (theo nghị định thủ tướng chính
phủ số 127/TT ngày 11/04/2018 về việc thành lập thành phố Kay Sỏn
Phôm Vi Hản) và 14 huyện.
Huyện Phin là một huyện thuộc với tỉnh Sa vẳn na khệt, nằm
trong phía Đơng về đường 9, cách trung tâm thành phố 160 Km, phía
Đơng giáp huyện Xê Pơn, huyện Nong; phía Tây giáp huyện Phạ Lan
Xay, huyện Xơn Nạ Bu Ly; phía Nam huyện Tùm Lan, tỉnh Sa Lạ Văn;
phía Bắc giáp huyện Vị Lạ Bu Ly Diện tích là 2.699,40 km2, là một
huyện nửa miền núi và nửa đồng bằng, diện tích đất nơng nghiệp
9.141,4 ha. Tồn huyện có 100 bản, chia thành 15 cụm bản, có 12.813
hộ, tổng dân số 68.259 người, nữ 34.949 người. Mật độ dân số trung
bình 26 người/km2, với tuổi thọ trung bình 73 tuổi.
Huyện Phin là một trong những huyện vùng nửa miền núi của
tỉnh, nhưng có phong phú về tài nguyên thiên nhiên nhất là rừng; mỏ
vàng mà chưa được khai thác, có sơng Xê Bẳng Hiếng chảy qua và có 2
hồ thủy lợi đó là điểm mạnh để phát triển kinh tế chẳng hạn. Phần lớn
người dân trong huyện làm nghề nông, một phần hoạt động trên lĩnh
vực buôn bán và kinh doanh nhỏ, cán bộ nhà nước chiếm số ít. Khí hậu
14
của huyện Phin có hai mùa rõ rệt: mùa khơ và mùa mưa. Mùa khô bắt
đầu từ tháng 11 đến tháng 6 mùa khô thời tiết hơi mát mẻ rễ chịu, mùa
mưa bắt đầu từ cuối tháng 6 đến tháng 10.
Trong huyện gồm có 04 dân tộc với cơ cấu: dân tộc Lào, dân tộc
Phụ Thai, dân tộc Măng Kong, dân tộc Ti trong đó dân tộc Ti và dân
tộc Măng Kong chiếm 60%. Nhân dân các bộ tộc có truyền thống u
nước, bất khuất và có tinh thần đồn kết, cần cù, chịu khó, năng động,
sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế tùy
theo thời gian nhất định.
Năm qua với sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, sự quan tâm và chỉ
đạo giúp đỡ của tỉnh, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các tổ chức Đảng
đã triển khai thực hiện và hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội mà
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện đã để ra, thể hiện trên các
lĩnh vực.
2.1.2. Điều kiện kinh tế của huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Kinh tế - xã hội của huyện Phin phát triển tương đối nhanh và
vững chắc trong 5 năm qua. Trong năm 2019 GDP đạt được 571,83 tỷ
kíp so với năm 2014 tăng lên 152,64 tỷ kíp. Nơng - lâm nghiệp chiếm
68,50%, công nghiệp chiếm 19,42% và dịch vụ - du lịch chiếm 12,07%.
Trong 5 năm (2014 - 2019), nhịp độ tăng cường GDP hàng năm đạt 5,20
%, GDP bình quân đầu người là 981 USD/người/năm so với 5 năm qua
tăng lên 212 USD.
Trong nông nghiệp đã biết khai thác và bố trí hợp lý cơ cấu trên
cơ sở lợi thế của 2 vùng: Rừng đồi, đồng bằng. Thực hiện tốt cơ cấu
kinh tế nông, lâm, như nghiệp, phát triển chăn nuôi, trồng cây, ứng
dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, quan tâm đầu tư phương
tiên đánh bắt, mở rơng diện tích ni trồng. Thực hiện phương châm
tang giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, xây dựng mơ hình sản
xuất có giá trị kinh tế cao, thúc đẩy việc nhân rộng mơ hình, từng bước
tạo sự đồng đều, toàn diện trong phát triển kinh tế.
15
Với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương đối thuận lợi, trong
những năm qua huyện Phin, đã tận dụng những lợi thế sẵn, cao su… có
của mình trong phát triển kinh tế, mặc dù gặp khơng ít khó khan về
nguồn thu ngân sách nhà nước do xuất phát là huyện thuần nông, song
huyện đã phát huy nguần lực sẵn, cao su…có, tiết kiệm tối đa để xây
dựng cơ cấu hạ tầng.
2.1.3. Điều kiện xã hội của huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Tổng dân số 68.259 người, nữ 34.949 người, mật độ dân số trung
bình 26 người/km2, với tuổi thọ trung bình 73 tuổi. Hiện nay huyện có
tỷ lệ chết 0,34 người/năm, tỷ lệ đẻ 1,66 người/năm và tốc độ tăng
trưởng dân số tự nhiên hàng năm là 1,6%.
Đến nay hầu hết các tuyến đường đã có tới mọi làng và có điện
hưởng 100%, huyện có đủ trường học, trụ sở làm việc khá tốt, hệ thống
bưu chính viển thơng, cơng nghệ thơng tin huyện có bưu điện và song
điện thoại. Huyện đã củng cố và phát triển mạng lưới y tế xuống bản và
các cùm bản vùng sâu vùng xa.
Đạo dức, lối sống, phong tục, tập quán, truyền thơng tốt đẹp của
người Lào được giữ gìn và phát huy, cơng tác quản lý di tích lịch sử, lễ
hội, hoạt động tơn giáo, tín ngưỡng được chỉ đạo quản lý khá tốt góp
phần tích cực trong xây dựng đời sống tinh thần và hướng thụ văn hóa
của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn.
2.1.4. Tình hình an ninh - quốc phòng của huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na
Khệt
Cơng tác an ninh, quốc phịng củng cố đảm bảo, lãnh thổ được
giữ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Đã
kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và phát triển kinh tế với quốc phòng,
xây dựng khu vực phòng thủ gắn với xây dựng khu vực thế trận quốc
phịng tồn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. An ninh chính
trị được ổn định, trật tự an tồn xã hội được đảm bảo. Phong trào toàn
16
dân bảo vệ Tổ quốc thường xuyên được thực hiện. Cơng tác chống
phịng chống tội phạm, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội thực
hiện cao hiệu quả, giải quyết tốt các mẫu thuẫn, chanh chấp trong nội
bộ nhân dân.
2.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của đảng bộ
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt ở Lào hiện nay
2.2.1. Về số lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Thứ nhất, về số lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện
Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Hiện nay đội ngũ cán bộ huyện Phin có 835 người trong đó cán
bộ nữ có 444 người. Trong số các cán bộ này đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt bao gồm 31 đồng chí trong
đó nữ có 03 đồng chí. Cụ thể đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện
Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt bao gồm Bí thư kiêm huyện trưởng 01 đồng
chí, Phó bí thư kiêm các chức vụ khác 01 đồng chí, Ban Thường vụ
kiêm Phó huyện trưởng 02 đồng chí; Ban Thường vụ kiêm các chức vụ
khác 03 đồng chí; 01 nữ; Trưởng ban, Trưởng phịng là huyện ủy viên
18 đồng chí; 02 nữ, Trưởng ban, Trưởng phịng khơng phải là huyện
ủy viên 06 đồng chí; 0 nữ. Với số lượng như trên cùng với những yêu
cầu trong thực tiễn của huyện chúng ta có thể thấy về cơ bản số lượng
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na
Khệt đã đáp ứng đủ về số lượng theo như yêu cầu thực tiễn.
Thứ hai, về cơ cấu giới tính của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Ngoài số lượng chúng ta có thể thấy cơ cấu của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt đã bao gồm các
cán bộ nam cũng như các cán bộ nữ. Trong đó số lượng cán bộ lãnh
đạo, quản lý là nam giới ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt là 28 cán
17
bộ chiếm tỷ lệ 90,32%, số cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ ở huyện Phin,
tỉnh Sa Vẳn Na Khệt có 3 cán bộ chiếm tỷ lệ 9,68%. Với số lượng này
hiện nay đội ngũ cán bộ, quản lý đang có sự chênh lệch về giới tính khi
số cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ chiếm chưa được 1/10. Đặc biệt trong
giai đoạn vừa qua Quốc hội nước CHDCND Lào đã thơng qua luật bình
đẳng nam nữ quy định những tiêu chuẩn cũng như những chính sách cụ
thể để dần cân bằng tỷ lệ cán bộ nam và nữ trong các cơ quan đặc biệt
là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thì thực tiễn này địi hỏi huyện
Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt trong thời gian tới cần chú trọng đến việc
đảm bảo sự cân bằng về giới tính của đội ngũ này.
Thứ ba, về cơ cấu dân tộc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Về cơ cấu dân tộc hiện nay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt có cơ cấu dân tộc khá đa dạng với 3
dân tộc cũng là những cán bộ đại diện cho các dân tộc chủ yếu trong
địa bàn huyện. Trong đó số cán bộ là dân tộc Lào có 20 cán bộ với 19
cán bộ nam và 1 cán bộ nữ tổng chiếm 65,51% trong tổng số cán bộ;
cán bộ thuộc dân tộc Phụ Thai có 8 cán bộ với 7 cán bộ nam và 1 cán
bộ nữ tổng chiếm 25,80% tổng số cán bộ và cán bộ thuộc dân tộc Măng
Kong có 3 cán bộ với 2 cán bộ nam và 1 cán bộ nữ tổng số chiếm
9,67% trong tổng số cán bộ. Điều này chúng ta có thể thấy qua bảng
dưới đây:
Bảng 2.2: Cơ cấu dân tộc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện nay
TT Dân tộc
Tổng
Tỷ lệ
Nam
Nữ
1
Lào
20
64,51%
19
01
2
Phụ Thai
08
25,80%
07
01
3
Măng Kong
03
9,67%
02
01
4
Tổng
31
100%
28
03
18
Nguồn: Phòng tổ chức huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Tuy nhiên, hiện nay dân tộc Ti hiện chưa có cán bộ trong đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt mà trong
khi đó đây là dân tộc chiếm tỷ lệ dân số khá đơng trong địa bàn huyện.
Ngồi ra, dân tộc Măng Kong cũng có số lượng đại diện cán bộ so với
tỷ lệ dân số trong địa bàn huyện vẫn còn ít. Những hạn chế này cũng là
vấn đề mà huyện cần quan tâm nhằm cân đối với số lượng đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý ở huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt so với tổng số
dân số các dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, về cơ cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt
Đối với độ tuổi từ 35 đến 40 đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện có 2 cán bộ nam chiếm tỷ lệ
6,45%.
Đối với độ tuổi từ 41 đến 45 đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện có 3 cán bộ nam chiếm tỷ lệ
9,67%.
Đối với độ tuổi từ 46 đến 50 đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện có 6 cán bộ trong đó có 4 cán bộ
nam và 2 cán bộ nữ chiếm tỷ lệ 19,35%. Độ tuổi này chiếm vị trí thứ 2
và là cơ sở để kế thừa đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong những năm tới.
Đối với độ tuổi từ 51 đến 55 đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện có 16 cán bộ trong đó có 15 cán
bộ nam và 1 cán bộ nữ chiếm tỷ lệ 51,61%. Đây là nhóm tuổi số lượng
cán bộ lãnh đạo trong huyện chiếm nhiều nhất.
Đối với độ tuổi từ 56 đến 60 đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
huyện Phin, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt hiện có 2 cán bộ nam chiếm tỷ lệ
6,45%.
19