Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

Bai giang (3)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.65 KB, 32 trang )

CẨM NANG CHỮA BỆNH CHO PC
Ai mà chẳng thích một PC "khỏe mạnh". Hãy tham khảo hướng dẫn trong bài này để có được những trợ giúp cơ
bản, những ý kiến thiết thực, và liều thuốc phòng bệnh cần thiết.
    Các chuyên gia về PC không chỉ giải đáp cho bạn những thắc mắc thường gặp, họ còn giúp bạn nhanh chóng làm dịu
những cơn nhức đầu khó chịu vì phần cứng máy tính.
    Khơng dễ gì tìm được sự trợ giúp hữu ích, nhất là khi PC của bạn dở chứng mà chẳng có lấy một lời thơng báo. Nơi có
trách nhiệm bảo trì máy chưa chắc đã trả lời ngay trong ngày. Người phụ trách kỹ thuật của cơ quan bạn có thể lại vắng mặt.
Lúc này có lẽ bạn "sôi máu" lắm? Tốt nhất là xắn tay áo lên và tự làm mọi việc.
    Giải pháp cho các vấn đề phần cứng thơng dụng nhất chính là sự hiểu biết của bạn. Tất cả những gì bạn cần là một cuốn
hướng dẫn nhỏ, và rất nhiều điều cần thiết mà bạn có thể tìm thấy ở bài này. Vậy những vấn đề gì về phần cứng mà người
dùng thường hay gặp nhất? Có phải 32 MB RAM cho tốc độ chậm? Hay ổ cứng dở chứng? Cũng có thể card đồ họa mới lại
hoạt động chẳng hơn gì cái cũ.
    Với mỗi vướng mắc phần cứng, tác giả sẽ đưa ra những chẩn đốn và mơ tả qui trình giúp bạn tự giải quyết. Bạn chỉ cần
chuẩn bị làm quen với hoạt động bên trong của hệ thống như chương trình CMOS, nó chứa câu trả lời cho nhiều vấn đề
phần cứng.
Tuy nhiên những chỉ dẫn ở đây cũng không thể giải quyết được mọi trục trặc về phần cứng có thể xảy ra. Cần hiểu rõ khả
năng của mình và biết dừng đúng lúc, đó là lời khuyên "vàng". Tự sửa chữa máy tính đem lại nhiều lợi ích, nhưng đơi khi
bạn vẫn cần đến sự giúp đỡ của chuyên gia.

Cơ bản về hệ thống
Quá nóng
Thỉnh thoảng màn hình của tơi chỉ cịn một màu xanh, ổ cứng chậm hẳn đi, hệ thống bị treo. Hãy cho lời khuyên.
    Máy lạnh trong phòng bạn chạy thế nào? Nên nhớ nhiệt độ cao là kẻ thù nguy hiểm nhất của PC. Phải chịu đựng lâu tình
trạng quá nóng có thể giảm tuổi thọ hoặc phá hủy hệ thống của bạn. Màn hình xanh và ổ cứng trì trệ là những biểu hiện kinh
điển cảnh báo hiện tượng quá nóng, cần biện pháp giải quyết tức thời.
    Hãy bắt đầu bằng việc lau bụi bám trên PC. Bụi bít kín các khe thốt gió của quạt cũng có thể làm tăng nhiệt độ bên
trong. Kiểm tra kỹ cả bên trong hệ thống, lớp bụi sẽ tác động như chất cách nhiệt, làm nóng các chip và mạch điện. Nên
dùng bình khí nén để thổi bụi; khơng được lau bằng nước hay chất tẩy rửa; nếu cần lau phải dùng vật liệu chống tĩnh điện để
lau.
    Cuối cùng, kiểm tra để đảm bảo tất cả các quạt làm mát đều chạy tốt. Quạt của bộ nguồn khi sắp hỏng thường gây tiếng
ồn lớn, nhưng quạt nhỏ cho CPU thì hầu như khơng nghe rõ, nó mà hỏng thì CPU của bạn cũng có thể tiêu ln vì nóng.


BIOS của phần lớn các PC Pentium II đều theo dõi RPM (vịng quay/phút) của mỗi quạt và đưa ra thơng báo lỗi khi phát
hiện thấy có nguy hiểm. Cần xem lại tính năng này trong chương trình thiết lập CMOS của bạn có được kích hoạt khơng.
    Đối với những thiết bị cũ khơng có tính năng kiểm tra quạt, hãy cài đặt tính năng kiểm tra nhiệt độ. Phần mềm 110 Alert
của PC Power and Cooling có giá 17 USD, nó sẽ phát chng khi nhiệt độ bên trong của PC vượt quá 43oC và báo động
cho bạn nếu quạt CPU hỏng.
* 110 Alert - 17 USD; PC Power and Cooling; www.pcpowercooling.com
Không đủ điện


Tôi mới bổ sung một ổ đĩa thứ hai là ổ Zip, và ổ CD-RW cho hệ thống Pentium II-233 mà tôi tự lắp ráp. Nhưng hiện giờ
hộp máy rất nóng, khó mà chạm tay vào được. Liệu có phải hệ thống bị quá tải?
    Bạn đã tự xác định được vấn đề. Khi bộ nguồn máy PC phải nuôi thêm những thành phần mới, hiện tượng bị nóng lên
chứng tỏ nó làm việc quá tải. Phần lớn các bộ nguồn có cơng suất 200W, như vậy có thể khơng đủ. Nếu bạn mua loại máy
rẻ thì thường bộ nguồn khá yếu. Điều này dẫn đến những trục trặc và nhiệt độ tăng gây nguy hiểm. Giải pháp là một bộ
nguồn mới. Hãy kiểm tra xem bộ nguồn hiện tại có cơng suất bao nhiêu, rồi dự tính 25 W cho đĩa cứng bổ sung và 10 W
cho mỗi thiết bị mới khác. Cộng hết cả lại và dự phòng thêm 20 %, đó sẽ là lượng cơng suất cần thiết cho bộ nguồn mới mà
bạn nên mua.
Password của tôi là gì?
Tơi thiết lập password hệ thống mới để đăng nhập mỗi khi mở máy tính, nhưng chắc là tơi gõ nhầm nên sau đó tơi khơng
thể khởi động máy được nữa. Có cách nào thiết lập lại password?
    Password hệ thống mà bạn nói tới được lưu trong CMOS, một chương trình nhỏ quản lý nhiều chức năng của máy tính
(xem mục "Trong bụng quái vật"). Đáng tiếc, việc mất password CMOS cũng giống như đánh rơi chìa khóa trong đống rác:
bạn sẽ phải thực hiện nhiều việc phiền phức.
    Chẳng có cách giải quyết nào đơn giản cho trường hợp quên mất password CMOS. Bạn có thể gọi đến nhà sản xuất hệ
thống hay BIOS hỏi xem PC của bạn có password mặc định khơng. Nếu khơng, bạn sẽ phải tốn một ít thời gian mày mị bên
trong hệ thống. Hãy xem cuốn hướng dẫn hệ thống, tìm jumper của bo mẹ để thiết lập lại password. Trong trường hợp
khơng có thì tìm jumper thiết lập lại tồn bộ CMOS. Cách cuối cùng là tháo viên pin nhỏ trên bo mẹ ra, chính nó duy trì các
thơng số thiết lập CMOS. Nhưng nên nhớ rằng một khi hủy bỏ các thiết lập CMOS, bạn phải cài đặt lại bằng tay một cách
thủ công.
Thiếu bộ nhớ

Thỉnh thoảng khi làm việc trong Windows, mở và đóng các chương trình, tơi nhận được thông báo không đủ bộ nhớ. Hệ
thống của tơi đã có 32 MB RAM. Tơi có cần bổ sung thêm?
    Khơng cần. Có thể bạn bị thất thốt bộ nhớ. Đơi khi trong lúc một chương trình phần mềm đóng lại, nó khơng giải phóng
bộ nhớ đã sử dụng, vì vậy Windows khơng biết sự tồn tại của phần bộ nhớ này. Vấn đề này trầm trọng hơn nhiều trong
Windows 3.x so với trong Windows 95/98, tuy nhiên vẫn xảy ra trong Win95/98. Cách duy nhất để sửa đổi là khởi động lại
PC. Nếu xác định được chương trình nào chiếm dụng bộ nhớ như vậy, bạn có thể cài đặt lại để đề phịng trường hợp có lúc
nó sẽ bị hỏng.

    Xác định nguồn gốc gây ra trục trặc thường không dễ. May mắn là Windows 9x có một cơng cụ chẩn đốn xuất sắc System Monitor - liên tục theo dõi hiệu năng của PC theo thời gian thực. Để chạy System Monitor, hãy vào menu System
Tools (chọn Start.Programs.Accessories.System Tools). Nếu System Monitor khơng có ở đó, bạn phải cài đặt nó từ CDROM Windows 9x thông qua Add/Remove Programs trong Control Panel.


    Chọn Numeric Charts và Always on Top trong menu View để đặt một cửa sổ nhỏ trên màn hình làm việc. Sau đó từ
menu Memory Manager của System Monitor (chọn Edit.Add Item.Memory Manager để truy cập nó), chọn các thông số
thống kê hiệu năng mà bạn muốn hiển thị. Chú ý ba chỉ số - Unused physical memory (bộ nhớ vật lý không sử dụng đến),
Swapfile in use (file hốn chuyển đang sử dụng), Swapfile size (kích thước file hốn chuyển) - khi bạn mở, sử dụng và đóng
các ứng dụng khác nhau. Điều này sẽ giúp bạn xác định nguồn gốc gây thất thoát. Nhớ xem xét cả thống kê Threads thơng
qua Edit.Add Item.Kernel.Threads. Nó sẽ tăng hoặc giảm tùy theo số lượng chương trình đang chạy. Nếu nó tăng khơng
phụ thuộc cơng việc bạn đang làm thì có thể bạn đã bị thất thốt bộ nhớ.
Sắp hết pin
Sau khi tơi tắt máy tính đi khoảng vài giờ là đồng hồ hệ thống lại chỉ sai thời gian. Không hiểu PC chậm đi, hay đồng hồ
tay của tôi chạy nhanh lên, hay Superman đã kéo lùi thời gian lại?

    Theo cách nói thơng tục là PC của bạn bị chậm đi. Có một viên pin nhỏ trên bo mẹ nuôi đồng hồ hệ thống khi bạn tắt PC.
Đồng hồ chậm có nghĩa là cần phải thay pin. Nếu pin chết hẳn thì bạn có nguy cơ bị mất tồn bộ các thơng số thiết lập quan
trọng trong chương trình CMOS của mình vì pin này ni cả CMOS.
    Hãy kiểm tra trong cuốn hướng dẫn xem pin của bạn là loại gì và nằm ở vị trí nào trên bo mẹ. Thơng thường nó là loại
pin nhỏ dạng rời dễ tháo lắp. Nếu như pin được nối với bo mẹ bằng dây thì bạn cũng có thể gắn pin thay thế vào mối nối
bên cạnh. Phải nhớ lưu tất cả thông số thiết lập CMOS trước khi thay pin; nếu khơng bạn có thể bị trắng tay.
Máy bị treo và không phục hồi được

Thật là cú sốc nếu vào một buổi sáng bận rộn, bạn khởi động máy PC và thấy nó chết cứng. Trong trường hợp này, hãy lạc
quan và thực hiện theo các bước sau:

1. Kiểm tra những gì rõ rệt nhất. Hãy xem tất cả các dây cáp hệ thống có cắm bình thường khơng.
2. Tìm đầu mối. Khởi động lại PC và theo dõi kỹ màn hình xem có manh mối về hỏng phần cứng khơng. Nếu các
3.
4.
5.

thành phần khởi động tốt thì một thơng báo xác nhận sẽ xuất hiện trên màn hình. Khi có một thành phần gặp sự cố,
PC có thể hiển thị thơng báo lỗi về sự cố này.
An tồn. Khởi động Windows trong chế độ Safe bằng cách giữ F8 ngay trước khi Windows khởi động. Chọn Safe
Mode từ Startup Menu của Windows để tải riêng hệ điều hành, khơng có các driver và các chương trình khác.
Khởi động lại. Nếu PC khởi động trong chế độ Safe, hãy khởi động lại, trở về Startup Menu của Windows và chọn
Step-by-step confirmation. Nó sẽ tải mỗi lần một driver. Nếu may mắn, bạn sẽ xác định được driver hay thiết bị
nào là thủ phạm.
Đọc phần giải thích. Nếu PC vẫn trục trặc, hãy khởi động lại, vào Startup Menu và chọn Logged (\bootlog.txt).
Nhờ vậy sẽ tạo ra một file log gọi là bootlog.txt trong folder gốc ghi lại từng bước của q trình khởi động và xác
nhận bước đó thành công hoặc thất bại.


6.

Đi đến kết luận. Mặc dù file log mang tính kỹ thuật, nhưng kiểm tra nó bằng một trình văn bản sẽ có thể cung cấp
đầu mối cho bạn. Nếu khơng thì nó cũng có ích cho người hỗ trợ kỹ thuật.

Lưu trữ
Mất cluster
Tôi vô ý nhấn phải nút tắt PC khi chưa thốt khỏi Windows. Sau đó tơi khởi động máy thì ScanDisk tìm thấy các cluster thất
lạc và các file liên kết chéo (cross-linked file), rồi hỏi xem có muốn lưu chúng lại khơng. Có cần khơng?

    Có thể có, có thể khơng. Sau khi tắt máy khơng đúng qui định, ScanDisk thường tìm thấy các cluster thất lạc và file liên
kết chéo. Cả hai chỉ là lỗi tính tốn trong bảng định vị file (File Allocation Table - FAT) của đĩa cứng chứ không phải hỏng
vật lý trên bề mặt đĩa.
    Tất cả các file trên đĩa cứng đều được chia thành nhiều đoạn nhỏ gọi là cluster. Cluster thất lạc đơn giản là cluster khơng
cịn được kết nối với file hiện hữu. Trừ khi bạn sợ mất file quan trọng mà bạn đã mở khi máy gặp sự cố, cịn khơng thì
khơng cần chuyển đổi các cluster thất lạc thành file; chúng thường vô dụng. Đối với các cluster hỏng cũng vậy; nên xóa
chúng đi.
    File liên kết chéo, theo FAT của đĩa cứng, là file có dùng chung cluster với file khác. ScanDisk sẽ đề nghị tạo hai file
riêng biệt, mỗi file có một bản sao riêng của cluster tranh chấp. Đây là phương án tốt nhất mà bạn nên theo.
    Nếu nghi ngờ ổ cứng bị hỏng, bạn hãy chạy ScanDisk. Nhấn Start.Programs .Accessories.System Tools.ScanDisk và
chọn mục Thorough. Tiện ích này sẽ qt tồn bộ bề mặt đĩa để kiểm tra chỗ hỏng vật lý. (Lưu ý: q trình này có thể mất
hàng giờ tùy theo kích thước đĩa của bạn). Có thể sẽ xuất hiện một số sector hỏng do hao mòn và hư hỏng thông thường.
Nhưng nếu bạn thường xuyên phát hiện thấy các sector hỏng ngày càng xuất hiện nhiều, thì chắc là có vấn đề. Hãy sao lưu
ngay tồn bộ dữ liệu và mua cho mình một ổ đĩa mới.
Thiếu bộ nhớ ảo
Tơi khơng thay đổi máy tính và các ứng dụng đã vài năm, bỗng dưng gần đây lại thấy xuất hiện thông báo 'insufficient
memory' (không đủ bộ nhớ) khi tơi mở một số bảng tính. Điều gì xảy ra với bộ nhớ của máy?
    Thật là một câu hỏi hóc búa. Có vẻ như vấn đề khơng phải ở bộ nhớ. Có thể sau nhiều năm sử dụng đĩa cứng của bạn đã
chật cứng. Windows cần chỗ trống trên đĩa để xử lý file tráo đổi - là nơi chứa dữ liệu khi RAM bị trưng dụng hết. Nếu bạn
mở các bảng tính lớn hay nhiều ứng dụng mà đĩa cứng đã đầy, file hốn chuyển khơng thể làm việc bình thường.
    Bạn có hai lựa chọn: giải phóng đĩa bằng cách xóa hay chuyển dời các file, hoặc di chuyển file hoán chuyển sang nơi
khác (partition hay ổ cứng bổ sung) có nhiều chỗ hơn. Để chuyển file hốn chuyển đi, nhấn phím phải vào My Computer,
chọn Properties, nhấn vào ô Performance trong hộp thoại System Properties. Nhấn nút Virtual Memory và chọn Let me
specify my own virtual memory settings. Hộp 'Hard disk' sẽ liệt kê các partition và đĩa hiện có đồng thời cho biết dung
lượng cịn trống của từng cái.
Đĩa bị co lại
Tơi mua một ổ đĩa mà tôi cho là loại EIDE 2 GB và cài đặt nó vào hệ thống Pentium II mới bằng tính năng tự động phát
hiện (autodetect) trong chương trình thiết lập CMOS, nhưng Windows lại báo ổ đĩa chỉ có 504 MB. Có phải tơi đã bị lừa?
    Khơng phải. Nhưng người ta thường nói: "Đừng nên tin ai, ngay cả chính mình". Có thể bạn đã cài đặt đĩa cứng sai trong
chương trình thiết lập CMOS. Hãy trở lại chương trình tự phát hiện của CMOS và thử cài đặt lại đĩa cứng. Chương trình sẽ

đưa ra vài lựa chọn cấu hình. Có thể lần trước bạn đã chọn nhầm cấu hình để máy tính hiểu rằng ổ đĩa mới là loại IDE (kích
thước hạn chế ở mức 504 MB). Lần này hãy chọn phương án LBA (Logical Block Addressing), nó cho phép PC của bạn
định cấu hình ổ đĩa lớn hơn 504 MB.
Chính và phụ


Tơi khơng thể nào làm cho máy tính của mình nhận biết được ổ cứng mới. Tôi đã cài đặt nó vào cùng cáp EIDE điều khiển
ổ cứng đầu tiên và thử thiết lập nó trong CMOS nhưng khơng thành công.
    Không sao đâu. Khi bạn kết nối hai đĩa cứng hay các thiết bị EIDE khác vào cùng một cáp, một thiết bị phải được chỉ
định là "chính" (master) và một là "phụ" (slave). Nếu ổ ban đầu của bạn là ổ khởi động, nó được thiết lập là ổ chính. Có thể
ổ mới cũng được thiết lập là ổ chính và vì vậy hệ thống khơng "thấy" được nó. Muốn khắc phục điều này, bạn chỉ cần thay
đổi jumper trên ổ mới để đặt thành ổ phụ. Bạn sẽ tìm thấy các thơng số thiết lập jumper ngay trên ổ cứng hoặc trong tài liệu
kèm theo. Nếu trên ổ cứng không ghi sẵn, bạn nên lấy bút ghi thẳng lên đó để tiện tham khảo sau này.
Vấn đề khởi động
Tôi muốn khởi động máy bằng đĩa mềm cấp cứu. Tôi đưa đĩa mềm vào ổ và bật máy thì thấy Windows vẫn được khởi động
từ ổ cứng. Trong trường hợp này tơi có cần làm mất hiệu lực ổ cứng không?
    Đừng nên làm vậy. Hãy kiểm tra các thông số thiết lập ổ đĩa khởi động trong chương trình thiết lập CMOS của hệ thống.
Tìm Boot Sequence hay thơng số nào tương tự. Nó có thể được đặt là 'C:, A:', có nghĩa là hệ thống sẽ xét đến ổ C trước tiên
khi khởi động, sau đó mới đến ổ A. Hãy thay đổi thông số này thành 'A:, C:'. Phần lớn các máy tính mới đều có BIOS cho
phép bạn thiết lập ổ khởi động thứ nhất là ổ Zip, LS-120 hay CD-ROM.
Đĩa mềm kém chất lượng
Tôi chạy ScanDisk trên một số đĩa mềm mà tôi dùng để sao lưu các file cũ và thấy có nhiều sector hỏng, vì vậy tơi đã
chuyển dữ liệu sang đĩa mới. Có nên format lại rồi dùng những đĩa cũ này khơng?
    Về mặt lý thuyết thì có, nhưng khơng an tồn chút nào. Khi một đĩa mềm, nhất là đĩa đã dùng vài năm, có dấu hiệu trục
trặc thì tốt nhất là sao lại dữ liệu trên đó vào đĩa mới rồi vứt nó đi.
Đĩa cứng q lớn?
Tơi mới bổ sung một đĩa cứng 4 GB cho hệ thống Pentium 166 chạy Windows 95. Nhưng tôi gặp đủ thứ rắc rối trong quá
trình làm cho Windows nhận biết ổ cứng này. Điều gì xảy ra vậy?
    Trước hết hãy liên hệ với nhà sản xuất hệ thống để biết chắc BIOS của bạn có hỗ trợ ổ 4 GB không. Nếu không, bạn cần
phải nâng cấp BIOS bằng cách tải nó từ Web site của nhà sản xuất hoặc mua mới từ một hãng thứ ba như Micro Firmware

chẳng hạn.
    Nếu vấn đề khơng phải do BIOS, thì có thể thủ phạm là hệ thống định vị file (FAT) mà PC sử dụng để tổ chức file trên
đĩa cứng. Như đã biết, FAT16 không hỗ trợ các phân vùng (partition - phân vùng đĩa cứng được định nghĩa bằng chữ cái tên
ổ đĩa) lớn hơn 2 GB. Nếu đang dùng FAT16, bạn có hai lựa chọn: tạo nhiều phân vùng nhỏ đủ cho FAT16 xử lý, hoặc nâng
cấp lên FAT32. Bạn có thể tạo 2 hay 3 phân vùng, mỗi phân vùng này không lớn hơn 2 GB, bằng tiện ích DOS FDISK nếu
đĩa cứng đang trống. Cịn nếu có dữ liệu, bạn cần tiện ích kiểu như PartitionMagic 70 USD của PowerQuest để thực hiện
công việc này. Số tiền đầu tư cũng đáng giá.
    Phương án thứ hai là nâng cấp hệ thống file của đĩa lên FAT32, có thể hỗ trợ phân vùng lớn tới 8 GB. Nhưng bạn chỉ có
thể làm điều này khi có Win 98 hoặc phiên bản OSR2 của Win 95. Để xác định phiên bản Win 95 bạn đang dùng, nhấn
phím phải chuột vào My Computer và chọn Properties. Nếu số phiên bản kết thúc bằng B tức là bản OSR2 và bạn có thể
dùng PartitionMagic chuyển đổi hệ thống thành FAT32. Windows 98 có tiện ích chuyển đổi riêng của nó.
* Nâng cấp BIOS, 59 USD đến 79 USD; Micro Firmware; www.firmware.com
* PartitionMagic 70 USD; PowerQuest; www.powerquest.com
Vấn đề âm thanh


Cả ổ CD-ROM và loa của tôi đều hoạt động tốt khi tơi chơi các trị chơi như Flight Simulator hay Tomb Raider. Nhưng khi
đưa CD nhạc vào thì tơi lại khơng nghe được gì. Có điều khiển âm thanh riêng cho CD nhạc không?
    Không, mà bạn cũng không cần đến. Vấn đề của bạn khá phổ biến. Tín hiệu từ CD audio, bỏ qua mọi hoạt động bên trong
PC, đi từ ổ CD-ROM đến card âm thanh nhờ một dây cáp nhỏ. Vì thế khơng ít trường hợp dây cáp này tiếp xúc kém hoặc
hồn tồn khơng cịn tác dụng. Hãy nối lại cáp hoặc mua cáp mới với giá khoảng 5 USD.

Đổi ổ đĩa mềm
Tôi mới đổi ổ đĩa mềm 5,25 inch cũ vào máy để sao chép một số đĩa cũ. Mọi động tác lắp đặt có vẻ đúng, nhưng Windows
khơng chịu nhận ổ đĩa này. Có thể cho biết tại sao?
    Bạn cần phải kiểm tra chương trình thiết lập CMOS. Hãy vào màn hình đầu tiên trong chương trình thiết lập, bạn sẽ tìm
thấy những thông số cài đặt cho ổ đĩa mềm. Bạn cần thay đổi ổ A: từ 3,5 inch (hay 1,44 MB) thành 5,25 inch (hay 1,2 MB).
Đừng quên đổi trở lại khi bạn lắp ổ 3,5 inch vào.
Trục trặc với ổ Zip
Tơi gắn một ổ Zip lắp ngồi vào cổng song song của máy in laser mà không thấy máy tính có phản ứng gì? Tại sao?

    Khi phải dùng chung cổng song song, ổ Zip và máy in luôn gây gổ với nhau (giống như Microsoft và Bộ Tư Pháp Mỹ).
Muốn cho hai thiết bị này chạy đồng thời trên một cổng song song thì khá phức tạp nếu khơng muốn nói là khơng thể được.
Có thể tham khảo thơng tin về tính tương thích và các biện pháp giải quyết rắc rối liên quan đến ổ Zip tại trang Web của nhà
sản xuất. Nếu vẫn khơng tìm thấy lời giải, hãy tải xuống và cài đặt trình điều khiển mới nhất dành cho máy in của bạn. Sau
đó kiểm tra xem cổng song song có làm việc tốt khơng bằng cách nhấn phím phải chuột vào My Computer và chọn
Properties. Tìm trong mục Ports (COM and LPT) và nhấn đúp vào mục cổng LPT, quan sát hộp 'Device Status' để xem nó
có đang thực hiện đúng chức năng không. Nếu không, bạn phải liên hệ với nhà sản xuất hệ thống. Cịn nếu đúng thì bước
tiếp theo là tìm thơng số thiết lập cổng song song trong chương trình cài đặt CMOS và đảm bảo khơng đặt nó là ECP; các
thiết lập Standard và EPP thì thân thiện với Zip hơn.
    Một cách làm khác là vô hiệu hóa hỗ trợ định hướng kép (bidirectional) của máy in. Việc này có thể làm mất một số khả
năng giao tiếp của máy in (chẳng hạn thông báo sắp hết giấy) nhưng lại có tác dụng "đánh thức" các ổ Zip đang trong trạng
thái "lơ mơ". Cách thực hiện như sau: chọn Start.Settings.Printers để mở thư mục Printers; nhấn phím phải chuột lên biểu
tượng máy in của bạn rồi chọn Properties; cuối cùng, chọn nhãn Details, nhấn nút Spool Settings rồi đến Disable Bidirectional Support for this printer.


ổ Zip gây ồn khi hoạt động
ổ Zip của tôi khi chạy thường phát ra tiếng ồn. Tôi được biết đây có thể là biểu hiện của sự hỏng hóc, khơng biết có phải
đĩa của tơi sắp hỏng khơng?
    Đừng quá lo lắng! Có thể thần chết chưa đến gõ vào ổ Zip của bạn đâu. Đôi khi tiếng động lịch kịch là hồn tồn bình
thường đối với ổ đĩa này, đặc biệt là khi nó truy xuất hoặc lưu dữ liệu. Nhưng nếu tiếng ồn lớn và phát ra liên tục thì bạn
nên liên hệ ngay với nơi cung cấp thiết bị. Trong lúc chưa xác định được vấn đề, chớ nhét đĩa có dữ liệu quan trọng vào ổ.
    Nếu thích tự mình giải quyết vấn đề, bạn thử cho chạy chương trình chẩn đốn đi kèm theo ổ Zip. Nhấn phím phải chuột
lên biểu tượng ổ Zip trong Explorer, chọn Diagnostics rồi chọn tiếp Diagnose now. Nếu mọi chuyện vẫn chưa sáng tỏ, bạn
hãy thử một tiện ích mạnh hơn của Gibson Research có tại www.grc.com/clickdeath.htm.
Trong bụng quái vật
    Ẩn bên dưới màn hình nhiều màu sắc và các biểu tượng ngạo mạn của Windows là BIOS, một phần mềm nhỏ bé với các
lệnh đơn giản nhằm kiểm soát những phần cơ bản nhất của PC. Trong khi BIOS biết cách đọc đĩa mềm 720 KB và 1,44 MB
thì nó lại khơng biết hệ thống của bạn có loại ổ gì (hoặc có ổ đĩa mềm hay không). Cần phải cho BIOS biết những điều này
khi bật PC. Đó chính là thơng tin được lưu trong các thông số thiết lập CMOS của bạn. CMOS dựa trên một chip nhỏ được
nuôi bằng pin, hoạt động cả khi máy PC đã tắt. Ngày nay, mỗi BIOS có một chương trình thiết lập CMOS mà bạn có thể sử

dụng để định cấu hình và giải quyết trục trặc cho các thành phần cơ bản của PC.
    Có nhiều cách khác nhau để vào chương trình thiết lập CMOS. Hầu hết các PC đều có thơng báo xuất hiện trên màn hình
khi bạn bật máy, cho biết cần nhấn DEL, F1 hay phím nào khác để mở chương trình này. Nếu khơng nhìn thấy thơng báo,
bạn nên tham khảo sách hướng dẫn.

    Khơng phải tất cả các chương trình thiết lập CMOS đều thể hiện giống nhau. Các
nhà sản xuất BIOS khác nhau thường sử dụng thuật ngữ khác nhau cho cùng thông số thiết lập. Nhưng bạn sẽ dễ dàng nhận
biết được phần lớn các thông số bạn cần. Trong trường hợp không nắm rõ về thông số nào đó, bạn có thể tham khảo trong
cuốn hướng dẫn kèm theo hệ thống hoặc bo mẹ.
    Kinh nghiệm khi làm việc trong CMOS: đừng cắt hết mọi đường thoái lui. Vơ tình thay đổi sai thơng số có thể làm máy
ngưng hoạt động. Khi vào chương trình thiết lập, hãy tìm chức năng 'Exit Without Saving Changes' (thốt mà khơng lưu
những thay đổi) hoặc tương tự. Sau này, nếu bạn có chút nghi ngờ là đã thay đổi một thơng số khơng quen thuộc thì hãy
chọn lối thốt này.
    Để an toàn, nhớ sao lưu tất cả thiết lập CMOS trước khi có bất kỳ thay đổi nào. Nhiều chương trình có thể giúp bạn làm
việc này, kể cả Norton Utilities; hoặc cũng có thể ghi lại bằng tay.
    Phải cảnh giác với những lựa chọn 'Load BIOS Defaults' (tải các thơng số mặc định của BIOS) vì bạn khơng thể biết chắc
các giá trị thiết lập mặc định này có phải là giá trị tối ưu ban đầu khơng. Các nhà sản xuất PC thường thay đổi thiết lập
BIOS để phù hợp với PC của họ và các cấu hình riêng.


    Cuối cùng, biện pháp duy nhất để giải quyết một số xung đột phần cứng là nâng cấp BIOS bằng phiên bản mới nhất của
nhà sản xuất. Phần lớn các PC hiện nay chứa flash BIOS cho phép nâng cấp thơng qua chương trình phần mềm có được từ
nhà sản xuất hệ thống. Bạn có thể xác định phiên bản BIOS đang dùng của mình khi quan sát màn hình khởi động.
Vào bên trong máy
Khi đã quyết định tự sửa lỗi phần cứng, sớm hay muộn gì bạn cũng có lúc phải tháo nắp máy và thị tay vào bên trong.
Nhưng đừng vội manh động trước khi tiến hành những bước sau:

1. Tháo cáp. Chỉ tắt máy cũng chưa đủ. Nhiều hệ thống vẫn cịn có dịng điện dù nhỏ khi đã tắt. Để an toàn bạn phải
2.
3.

4.
5.

rút cả modem và cáp mạng ra.
Sắp xếp có tổ chức. Nên hình dung trước những cơng việc bạn sẽ làm bên trong PC. Bạn cần có chỗ để "vật lộn"
với các card mở rộng và chip bộ nhớ, đồng thời làm sao để nhìn rõ được mọi thứ.
Nối đất. Người bạn có thể tích điện đủ để bị giật bởi những dịng điện nhỏ trong máy tính. Biện pháp bảo vệ tốt
nhất là đeo dây nối đất vào cổ tay (có bán ở các cửa hàng đồ điện tử). Iít nhất cũng nên chạm tay vào vỏ kim loại
của PC trước khi xử lý mạch điện bên trong.
Cẩn thận. Khi kéo hay đẩy các card bổ sung, đừng quên là mạch điện của chúng rất mỏng manh. Không bao giờ
nên vặn, xoắn card mở rộng. Nhấn card vào khe cắm mở rộng đôi khi cũng phải hơi mạnh tay, nhưng nhớ từ từ
thôi.
Dùng công cụ chuẩn. Đừng bao giờ làm việc với máy tính bằng những thứ đồ linh tinh tiện tay vớ được như dao,
kẹp giấy, chúng có thể gây tổn thương cho bạn cũng như cho máy.

Đảm bảo về driver
Driver phần mềm mà bạn có kèm theo card video có thể đã lỗi thời. Để có được driver tốt nhất, hãy lưu ý đến những lời
khuyên khôn ngoan này:

1. Tìm đúng phiên bản. Tìm hiểu số model và số series chính xác của thiết bị phần cứng trước khi vào Web site của
2.
3.
4.

5.
6.

nhà sản xuất để tải driver.
Đừng nhầm lẫn. Lưu ý đừng lấy nhầm bản beta của driver, nó có thể gây rắc rối cho hệ thống của bạn.
Làm theo chỉ dẫn. Hãy đọc tài liệu và làm theo những gì nó hướng dẫn. Nhà sản xuất bao giờ cũng nắm rõ nhất

cách cài đặt các driver của họ.
Trước tiên phải gỡ bỏ các driver cũ. Khi thay thế một card hiện hữu, phải loại bỏ driver cũ trước khi cài đặt phần
cứng mới. Vào Device Manager bằng cách nhấn phím phải chuột lên My Computer và chọn Properties. Tìm thiết
bị cũ rồi nhấn nút Remove. Vì bạn không thể loại bỏ card đồ họa trong Device Manager, hãy thay đổi driver của nó
thành driver VGA chuẩn của Windows.
Khơng bao giờ ngắt giữa chừng q trình cài đặt driver. Nếu có thay đổi ý định, bạn cũng phải hồn tất q
trình cài đặt driver rồi hãy gỡ bỏ nó. Nếu dừng giữa chừng có thể làm thay đổi hoặc hỏng các file hệ thống chủ
chốt.
Không cần phiên bản mới nhất. Nếu card đồ họa, card âm thanh và những thứ tương tự đang làm việc tốt thì việc
gì phải nâng cấp lên phiên bản driver mới nhất? Hãy xem xét mọi chi tiết trong Web site của công ty xem có nhất
thiết phải chuốc thêm phiền phức hay không.

Các IRQ, DMA ...
Ai đã từng cài đặt card và các thiết bị ngoại vi thời DOS và Windows 3.x còn thịnh hành hẳn sẽ biết rất rõ cảm giác hoảng
sợ khi nhắc tới IRQ, DMA, hay địa chỉ I/O. Giải tỏa nỗi lo lắng này quả không dễ. Windows 9x đã làm cho qui trình dễ
dàng hơn chút ít nhưng khơng có nghĩa là hồn tồn khơng bị sự cố.


Nếu muốn gán IRQ riêng của mình, bạn phải tới ô Resources của từng thiết bị và bỏ chọn Use automatic settings.
IRQ, DMA và địa chỉ I/O (thường được gọi là tài nguyên hệ thống) được gán riêng cho từng bộ phận trong máy tính. Chúng
điều khiển dịng dữ liệu lưu thông một cách trật tự giữa các bộ phận và máy tính. Nếu có 2 bộ phận cùng dùng chung một
nguồn tài nguyên, chẳng hạn modem và chuột đều được thiết lập là IRQ 3, thì hệ thống có thể gặp sự cố. Cũng may là
Windows 9x, bus PCI và công nghệ Plug-and-Play đã hợp sức làm tốt công việc phân bổ tài nguyên mỗi khi khởi động hệ
thống. Nhưng xung đột vẫn có thể xảy ra, đặc biệt là đối với các loại card cũ, không hỗ trợ Plug-and-Play mà chỉ làm việc
với một hoặc hai nguồn tài nguyên cụ thể.
Trong Windows 98, xung đột tài nguyên được liệt kê trong Hardware Resources.Conflicts\Sharing trong tiện ích System
Information. Nếu là Windows 95, bạn tìm xung đột trong Device Manager.
Dù trong trường hợp nào, nếu có xung đột tồn tại bạn cũng phải khắc phục ngay trong Device Manager. Giả sử bạn có một
card âm thanh và một card mạng, cả hai đều không Plug-and-Play và đều được thiết lập là IRQ 5, nhưng theo tài liệu kỹ
thuật thì card mạng cịn có thể thiết lập lại là IRQ 7. Như vậy, trước tiên, bạn phải thiết lập card mạng là IRQ 7. Sau đó giữ

lại cả IRQ 5 và IRQ 7 để Windows khỏi dùng chúng cho các thiết bị khác. Cách làm là nhấn đúp vào biểu tượng Computer
trong Device Manager và chọn Reserve Resources. Nếu Windows nhận biết cả hai card này cùng thiết lập của chúng thì coi
như xong. Cịn khơng, bạn phải nhấn đúp vào tên của từng card trong Device Manager, tới ô Resources và buộc mỗi card
phải chấp nhận IRQ do bạn đưa ra bằng cách bỏ chọn Use automatic settings.

Đồ Họa
3D hay không 3D?
Tôi mới cài đặt card đồ họa 3D cho máy tính của mình vì trước đây máy khơng chơi được game. Nhưng với card mới máy
vẫn không chơi được các game 3D. Tại sao vậy?
    Lạ thật! Máy tính của bạn có lẽ vẫn cịn đang dùng chip đồ họa cũ. Những hệ thống có chip đồ họa được tích hợp ngay
trên bo mạch chủ có thể tự động tìm và cài đặt card đồ họa mới. Nhưng cũng có một số u cầu bạn phải vơ hiệu hóa chip
tích hợp bằng cách thay đổi thiết lập jumper trên bo mạch chủ hoặc thay đổi thiết lập trong chương trình cài đặt CMOS. Hãy
quan sát trên màn hình khi máy tính khởi động để tìm thơng báo về tên của chip hoặc card đồ họa đang sử dụng. Vấn đề sẽ
được xác minh nếu bạn thấy màn hình khơng hiển thị tên card mới.
Hỏng màn hình
Màn hình của tơi mới đây xuất hiện các vệt màu sau khi sử dụng khoảng vài giờ. Đó là dấu hiệu màn hình sắp hỏng?
    Chưa hẳn. Nếu tình trạng này có thể khắc phục bằng cách tắt màn hình đi rồi bật lại thì nguyên nhân chỉ là những trường
điện từ rải rác trên màn hình. Thay vì tắt màn hình, bạn có thể nhấn nút giải từ (degauss button) trên băng điều khiển của
màn hình, nút này thường có hình một miếng nam châm nhỏ. Màn hình sẽ nhấp nháy trong chốc lát rồi trở về bình thường.
Màn hình rung
Màn hình 19 inch mới của tơi tự nhiên bị rung. Có thể khắc phục được khơng?
    Trước hết cần phải nói rằng độ rung của màn hình là một đặc tính liên quan đến tỉ lệ "làm tươi" (refresh) theo chiều dọc.
Tỉ lệ làm tươi là số lần trong một giây màn hình vẽ lại tồn bộ hình ảnh đang hiển thị. Nếu tỉ lệ này dưới 70 Hz (là 70 màn
hình/giây) màn hình có thể bị rung. Trung bình con số này phải nằm trong khoảng từ 75 đến 85 Hz, thậm chí cao hơn nếu
bạn thường xem hình có độ phân giải cao.


    Bây giờ hãy kiểm tra xem card đồ họa và màn hình có làm tốt trách nhiệm của mình không. Để xác định tỉ lệ làm tươi của
card đồ họa, đầu tiên bạn nhấn đúp vào biểu tượng Display trong Control Panel rồi chọn nhãn Settings. Sau đó nhấn nút
Advanced và chọn Adapter. Bạn sẽ nhìn thấy một số lựa chọn ở phía cuối hộp thoại: Optimal, mặc định Adapter, và một tập

hợp các tỉ lệ làm tươi riêng cho một số adapter. Khơng phải màn hình nào cũng hỗ trợ tất cả các tỉ lệ làm tươi, vì thế bạn
phải xem kỹ tài liệu hướng dẫn đi kèm với màn hình. Cả hai phương án Optimal và mặc định Adapter sẽ chọn một tỉ lệ làm
tươi dựa trên những hạn chế của màn hình. Optimal thiết lập tỉ lệ cao hơn, nhưng để Windows đưa ra một tỉ lệ tối ưu thì nó
cũng cần phải biết những giới hạn của màn hình. Nếu Windows khơng thể tìm thấy file.inf cho màn hình thì nó sẽ tự động
đưa ra tỉ lệ làm tươi là 60 Hz. Chọn Monitor trong hộp thoại Properties của adapter. Nếu màn hình của bạn không được liệt
kê trong danh sách, bạn nhất nút Change và làm theo các chỉ dẫn.
Màn hình dở chứng

Máy tính ở nhà của tơi có màn hình rất khác với màn hình ở cơ quan khi hiển thị cùng một hình ảnh. Màn hình máy tính ở
cơ quan hiển thị hình ảnh rất rõ nét cịn màn hình ở nhà thì cho hình mờ hơn dù đã hết sức điều chỉnh. Có phải màn hình cũ
ở nhà của tơi sắp hỏng?
    Nếu nói về chất lượng hình ảnh thì khơng phải màn hình nào cũng như nhau. Màn hình cũ có thể đã đến tuổi "về hưu" vì
khi thành phần phospho của màn hình trở nên già cỗi thì hình ảnh mà nó hiển thị bị mờ và nhịe. Để khắc phục tạm thời tình
trạng này bạn có thể chỉnh độ tương phản và độ sáng của màn hình. Tuy nhiên đừng nhầm lẫn giữa hình mờ (blurring) với
hình có bóng (ghosting). Nếu hình có bóng thì có thể là do card đồ họa và màn hình kết nối với nhau chưa tốt, bạn hãy cẩn
thận kiểm tra lại chỗ cắm này. Dây cáp "rởm" hoặc quá dài cũng là một nguyên nhân. Thử thay dây mới xem tình hình có
được cải thiện khơng.
Trình bảo dưỡng màn hình
Trình bảo dưỡng màn hình (screen saver) có giúp kéo dài tuổi thọ của màn hình?
    Nhận định trên chỉ đúng với màn hình monochrome. Màn hình phospho màu ngày nay chịu đựng tốt hơn bậc tiền bối của
chúng. Vì vậy, screen saver có giá trị giải trí nhiều hơn là giúp kéo dài tuổi thọ. Khơng những thế, việc chạy screen saver
cịn có thể làm màn hình mau hỏng hơn. Đúng là độ sáng của phân tử phospho trên màn hình sẽ bị mờ dần đi sau một thời
gian sử dụng nhưng thành phần bị hỏng đầu tiên lại là súng điện tử (electron gun), bộ phận dẫn đường cho chùm tia chiếu
sáng của màn hình. Vì vậy cách tốt nhất để bảo dưỡng màn hình là thiết lập các cơng cụ quản lý màn hình để màn hình được
tự động tắt đi khi khơng sử dụng. Trong Windows 98, bạn có thể kích hoạt và hiệu chỉnh những thiết lập này trong mục
Power schemes nằm trong biểu tượng Power Management của Control Panel. Đơn giản hơn, bạn chỉ cần tắt hẳn màn hình
khi khơng dùng đến nó trong một thời gian.


Mất con trỏ

Tôi mới cài đặt một phần mềm đồ họa mới và sau đó, khi làm việc trong chương trình này, con trỏ bị biến mất mỗi khi tơi
nhấn vào thanh menu. Vì sao vậy?
    Những vấn đề về đồ họa thường xảy ra khi có sự xung đột giữa ứng dụng và trình điều khiển đồ họa sai hoặc cũ. Để xác
định xem vấn đề của bạn có phải do trình điều khiển đồ họa hay khơng, bạn hãy thử cài driver VGA của Windows. Cách
làm như sau: nhấn phím phải vào My Computer, chọn Properties, nhấn vào nhãn Device Manager rồi chọn View devices by
type, nhấn đúp vào Display adapters. Tiếp theo, nhấn đúp vào adapter màn hình, chọn Driver, chọn tiếp Update Driver rồi
nhấn Next. Chưa hết, bạn nhấn vào Display a list, chọn Next, nhấn Show all hardware, chọn Standard display types trong
danh sách các nhà sản xuất và Standard Display Adapter trong danh sách Models. Nhấn Next để kết thúc.
Thiết bị ngoại vi
Modem của tôi phát ra tiếng ồn khi làm việc. Làm thế nào để khắc phục?
    Trong Control Panel, bạn nhấn đúp vào biểu tượng Modems rồi điểm sáng modem của bạn trong danh sách. Sau đó chọn
Properties. Trong ơ General bạn sẽ thấy một thanh trượt điều chỉnh mức độ âm thanh modem phát ra. Nếu modem của bạn
không hỗ trợ tính năng này thì bạn tới ơ Connection và nhấn vào nút Advanced. Ơở đây có hộp "Extra settings" để bạn thêm
một số lệnh điều khiển modem. Để modem giữ im lặng khi làm việc, gõ ATMO.
Kết nối bị gián đoạn
Tơi rất bực mình khi modem tự nhiên ngắt kết nối tới ISP. Mà điều này xảy ra rất thường xuyên, khoảng 2 lần/giờ. Nguyên
nhân này do đâu: phần mềm, phần cứng hay ISP?
    Những lần mất kết nối một cách ngẫu nhiên thường xảy ra khi modem hoặc cổng tuần tự khơng duy trì được dịng lưu
thơng của dữ liệu. Sự bất lực này có thể do những điều kiện về đường dây, phần cứng đã cũ, hoặc cả hai. Sau đây là một số
cách để làm chậm lại dịng lưu thơng dữ liệu và từ đó có thể khắc phục được vấn đề.
    Đầu tiên trong Control Panel, bạn mở Modems và nhấn vào Properties. Ơở phía cuối ô General, bạn có thể thay đổi tốc
độ tối đa của modem bằng cách chọn tốc độ chậm hơn sau đó kết nối lại đến ISP. Điều này tất nhiên làm chậm tốc độ
modem, nhưng bạn lại có thể duy trì được kết nối.
    Bạn có thể thử cách khác là tới ô Connection trong Properties và nhấn vào nút Port settings. Có hai thanh điều khiển
luồng dữ liệu thơng qua cổng tuần tự. Kéo ngược hai thanh này về bên trái rồi thử kết nối lại.
Modem không giao tiếp được với DOS
Tôi mới mua một hệ thống Celeron-433 nhưng không làm sao cho modem làm việc được với các phần mềm giao tiếp DOS
cũ. Tại sao?
    Nhiều hệ thống rẻ tiền có modem phần mềm (Winmodem) khơng làm việc được trong môi trường DOS. Modem loại này
thiếu những phần cứng có trong các modem chuẩn. Thay vì sử dụng chip, chúng lại dùng phần mềm lưu trên đĩa cứng để

chỉ huy các hoạt động, mà những phần mềm này lại chỉ chạy trong Windows. Nếu quá yêu các chương trình DOS cũ của
mình, bạn hãy bỏ tiền mua một modem mới, loại lắp trong có giá 40 USD đến 80 USD mà thôi.
Modem X
Modem mới của tôi làm việc rất tốt khi kết nối Web nhưng một số tính năng, như Caller ID, lại khơng có tác dụng. Tơi có
phạm sai lầm khi cài đặt?
    Rất có thể. Nhiều vấn đề có thể xảy ra khi bạn cài đặt không đúng driver cho modem. Khi bắt đầu cài đặt một modem,
Windows sẽ tìm kiếm thơng tin cấu hình sao cho phù hợp với modem đó, nếu khơng thấy thơng tin cần thiết, Windows sẽ
coi modem của bạn là loại chung chung, có khả năng thực hiện các hoạt động cơ bản chứ khơng chứa những tính năng riêng


được thiết kế đặc trưng cho loại modem đó. Nếu bạn cài đặt modem bằng phần mềm đi kèm thì thường khơng có vấn đề gì
xảy ra, nhưng cũng nên vào Web site của nhà sản xuất để xem có trình điều khiển mới khơng.
    Để biết đang dùng phiên bản trình điều khiển nào, bạn nhấn đúp vào tên modem trong Device Manager và chọn nút
Driver. Nút Update Driver khởi động một trình wizard dẫn bạn đi qua các bước cài đặt một trình điều khiển mới từ cơ sở dữ
liệu trình điều khiển của Windows có trong đĩa CD-ROM Windows, hoặc cũng có thể trên đĩa mềm, đĩa cứng hoặc CDROM của nhà sản xuất modem.
Rắc rối của máy in
Văn bản và hình ảnh trong Word khi tơi in từ máy in laser trơng cứ như bị nóng chảy ra vậy. Hãy giúp tôi!
    Máy in của bạn có thể đã đến lúc phải sửa chữa, nhưng trước hết bạn nên thử một số biện pháp rẻ tiền hơn xem sao.
    Đầu tiên, bạn phải đọc phần "Các tình huống đối với máy in" cũng trong bài này. Nếu những chỉ dẫn ở đây khơng giúp
được gì, và máy in lại là loại hỗ trợ Postscript, hãy chạy một trình điều khiển Postscript. Nếu việc in ấn trở lại bình thường
thì có thể ngun nhân là do file unidrv.dll bị hỏng. Hãy sao lại phiên bản gốc từ đĩa CD-ROM Windows 98.
    Bạn cũng có thể thử bỏ qua chức năng spooling của Windows. Đây là chức năng chuyển tác vụ in thành một định dạng
dữ liệu trung gian gọi là EMF, lưu trữ lại rồi sau đó in ra. Gửi tác vụ in trực tiếp đến máy in là bỏ qua qui trình này và vì thế
tránh được những xung đột mà máy in có thể có với chức năng spooling trong Windows. Để tắt/mở spooling, bạn mở
Details trong menu Properties và nhấn vào Spool Settings.

Máy in trục trặc? Từ ô Details của máy in bạn nhấn vào nút Spool Settings (A). Sau đó bạn có thể thử bật/tắt tính năng
Spooling (B) hoặc cũng có thể thay đổi định dạng dữ liệu của nó để có thể sử dụng RAM máy in một cách hiệu quả hơn (C).
    Cuối cùng, bạn hãy thử in từ DOS. Cách đơn giản để làm việc này là chọn Restart in DOS mode trong menu Shutdown
của Windows và chờ cho dấu nhắc DOS xuất hiện. Tại dấu nhắc, bạn gõ dir>LPT1 và Enter. Câu lệnh đơn giản này tạo một

danh sách thư mục các tên file và sau đó gửi chúng đến máy in. Nếu danh sách này được in ra mà khơng có vấn đề gì thì có
vẻ như vấn đề bạn nêu là do lỗi phần mềm, chứ không phải lỗi phần cứng. Còn nếu cố gắng này chẳng mang lại điều gì thì
hãy nhanh chóng gọi cho bộ phận hỗ trợ kỹ thuật.
Hình ảnh khơng đồng đều
Khi tơi in file văn bản bằng máy in laser thì khơng có vấn đề gì xảy ra. Nhưng nếu là file hình ảnh thì chỉ in được một phần
của hình ảnh đó. Tại sao?
    Có thể máy in khơng có đủ bộ nhớ để in tồn bộ hình ảnh. Nếu thường xuyên phải in đồ họa, bạn nên tăng cường bộ nhớ.


    Nếu máy in của bạn đã có trên 1 MB bộ nhớ thì có thể trình điều khiển máy in khơng sử dụng bộ nhớ đó. Mở Properties
của máy in bằng cách nhấn phím phải vào biểu tượng máy in trong folder Printer. Sau đó chọn Device options. Nếu thấy
thiết lập bộ nhớ thì kiểm tra xem thơng số có phù hợp khơng. Bạn cũng có thể tới ơ Details, nhấn vào nút Spool Settings và
đổi thiết lập 'Spool data format' từ EMF thành RAW. Việc làm này có thể làm tăng hiệu quả RAM của máy in.
    Phương cách cuối cùng là hạ bớt độ phân giải của máy in trong mục Graphics. Cách này làm giảm chất lượng hình ảnh
của hình in ra nhưng tiết kiệm được bộ nhớ của máy in.
Chuột khó điều khiển
Tơi thay đổi độ phân giải của màn hình từ 640x480 thành 800x600 và thế là con trỏ chuột trở nên rất khó điều khiển. Có
thể khắc phục được khơng?
    Biểu hiện bất thường của chuột thường là do có xung đột giữa trình điều khiển chuột và trình điều khiển màn hình. Để
xác định cụ thể, nhấn phím phải chuột vào My Computer, vào Properties và chọn Performance. Sau đó nhấn nút Graphics
rồi đẩy con trỏ trên thanh Hardware acceleration một nấc về bên trái. Nếu sau đó chuột hoạt động lại bình thường thì có
nghĩa là bạn đã có xung đột với trình điều khiển.
Các vấn đề về USB
Tơi có máy tính Pentium-233 chạy Windows 95 với các cổng USB gắn sẵn, nhưng tôi không làm sao cho chuột USB hoạt
động được. Chẳng lẽ USB không phải là loại Plug and Play?
    USB là Plug and Play. Nhưng có cổng USB khơng có nghĩa là chuột chắc chắn sẽ làm việc được. Khi mới có USB, một
số máy tính được gắn cổng USB chỉ nhằm "lấy le" chứ lúc đó các đặc tả USB chưa ra đời. Để thiết lập một kết nối USB,
bạn phải có đúng loại phần cứng, đúng phiên bản Windows (Win 95 OSR2 hoặc Win 98), và đúng BIOS. Muốn biết máy
tính đã có sẵn USB chưa, bạn chạy usbready.exe, một tiện ích miễn phí để kiểm tra hệ thống và cho biết máy cịn cần những
gì. Tải file này từ Web site USB (www.usb/usbready.exe).

    Nếu có một cổng chưa được gán chức năng, bạn có thể thêm các cổng USB với một card mở rộng PCI như USB BusPort
của Belkin giá 50 USD (www.belkin.com).
Các tình huống đối với máy in
Thật khó chịu nếu bạn đang muốn in một file quan trọng mà lại thấy xuất hiện dịng chữ "Error writing to LPT1" trên màn
hình. Rất có thể máy in bị hỏng, nhưng trước khi mang máy đi sửa bạn thử làm theo các chỉ dẫn sau đây:

1. Kiểm tra nguồn điện và giấy. Phải đảm bảo là máy đã được cắm vào nguồn điện và giấy có sẵn trong khay. Giải
phóng bộ nhớ máy in bằng cách tắt máy trong giây lát rồi bật lại.

2. Kiểm tra dây cáp. Cáp máy in phải được gắn chặt ở cả đầu máy tính và đầu máy in. Nếu cáp q cũ hoặc q dài
3.
4.

5.

thì việc truyền tín hiệu cũng khơng được tốt. Hãy bỏ ra vài chục nghìn đồng để mua một dây cáp mới, loại IEEE
1284 (chứ khơng phải tương thích IEEE 1284) chất lượng cao.
Kiểm tra các cổng. Vào Device Manager (nhấn phím phải chuột vào My Computer rồi chọn Properties). Tới
'PORTS (COM and LPT)' và nhấn đúp vào thiết lập LPT1. Phải đảm bảo là hộp thoại 'Device status' khơng có các
xung đột IRQ và DMA.
Dàn xếp các xung đột. Nếu bạn có xung đột DMA với cổng song song thì phải kiểm tra xem cổng này có được
cấu hình là ECP khơng. ECP được dùng trong đa số các máy in mới, giúp tăng tốc độ in nhờ sử dụng RAM của
máy tính. Nếu máy in dùng ECP và bạn bị xung đột DMA, thì hãy chỉ định cổng song song là một DMA khơng
được sử dụng thơng qua chương trình thiết lập CMOS hoặc Device Manager. Nếu máy in không hỗ trợ ECP, bạn
cần cấu hình cổng song song sao cho chậm hơn và tương thích trong thiết lập CMOS. Đa số các máy tính đều có 4
thiết lập. Thiết lập chuẩn là chậm nhất nhưng lại có khả năng tương thích rộng.
Cài đặt trình điều khiển mới. Nếu trình điều khiển bị trục trặc hoặc quá cũ, bạn hãy cài đặt một phiên bản mới
bằng cách vào folder Printers (chọn Start.Settings.Printers) và xóa biểu tượng máy in của bạn đi. Sau đó tới Web
site của nhà sản xuất máy in bạn đang dùng để tải về và cài đặt một trình điều khiển mới. Cịn nếu khơng, bạn cài
đặt lại trình điều khiển hiện tại thông qua biểu tượng Add Printer.



Tìm kiếm sự cố
Đừng nhọc cơng tìm kiếm sự cố, chúng sẽ tự tìm đến bạn. Và chừng nào chúng đến gõ vào máy tính của bạn thì bạn chỉ
muốn nhanh chóng tống khứ chúng ra khỏi cửa. Mặc dù có nhiều tiện ích từ các hãng thứ ba, nhưng bạn vẫn cứ nên chọn
điểm xuất phát là các công cụ trong Win95 và Win98.

1. Các wizard khắc phục hỏng hóc. Cả Win95 và Win98 đều có các wizard giúp giải quyết các tranh chấp phần
2.
3.

4.
5.
6.

cứng và nhiều vấn đề khác. Để xem danh sách các wizard này bạn chọn Start.Help, vào ô Index rồi gõ
troubleshooting.
Device Manager. Đây là công cụ rất hữu hiệu để phát hiện những trục trặc phần cứng và thay đổi thơng số cài đặt.
Nhấn phím phải vào My Computer và chọn Properties để tìm Device Manager. Biểu tượng vòng tròn vàng xung
quanh dấu chấm than (!) là thơng báo có sự cố.
Tiện ích System Information. Bạn có thể tìm tiện ích tuyệt vời này của Win98 tại
Start.Programs.Accessories.System Tools. Tiện ích có 3 phần: Hardware Resources cho bạn thông tin sơ bộ về
IRQ, DMA cùng một số tài nguyên khác; Components liệt kê tất cả những thiết bị có sự cố và cung cấp thơng tin
về driver; Software Environment chỉ ra những chương trình đang chạy.
Tiện ích System Configuration. Nằm trong menu Tools của tiện ích System Information, chương trình này cho
phép hiệu chỉnh, vơ hiệu hóa, hoặc chạy một phần hay tồn bộ các file hệ thống, chẳng hạn như system.ini và
autoexec.bat. Theo cách này bạn có thể biết chính xác ngun nhân của vấn đề là do đâu.
System File Checker. Đây là một công cụ khác có trong tiện ích System Information của Win98. Nó có thể phát
hiện các file bị hỏng hoặc khơng theo chuẩn, sau đó tự thay bằng các phiên bản gốc có trong đĩa CD-ROM
Windows 98.

Registry Checker. Có lẽ đây là cơng cụ quan trọng nhất trong các chương trình của System Information. Nó quét
Registry và sửa chữa một vài hỏng hóc nhất định. Thế nhưng chức năng quan trọng nhất của Registry Checker lại
là sao lưu các file Registry (system.dat và user.dat) và nhiều file quan trọng khác.
Theo PC World Mỹ 8/1999

MƯỜI BƯỚC CÀI ĐẶT PHẦN CỨNG
    Ngay cả với một số công nghệ mới như Plug and Play, việc cài đặt phần cứng vẫn có thể gặp rắc rối. Sai sót và trục trặc
sẽ làm bạn mất hàng giờ để xử lý. Chỉ dẫn dưới đây sẽ giúp bạn vận hành máy một cách êm ru.
    Trước tiên, hãy tạo ra một backup. Hằng ngày, Windows 98 sẽ tự động sao chép để lưu trữ các file Registry. Theo mặc
định, nó sẽ lưu giữ 5 backup cuối cùng trong Windows\Sysbckup folder, kiểu như các file .cab có tên là rb xxx.cab (xxx là
số của backup, ví dụ như 001 hoặc 002). Hãy copy một file .cab mới nhất và đặt một tên khác sao cho nó khơng bị ghi đè do
copy hỏng. Nếu bạn cần lưu trữ một backup file, hãy khởi động lại hệ thống trong chế độ DOS và chạy regscan.exe.
    Tiện ích System Restore của Windows Me sẽ tự động thực hiện việc backup hệ thống. Ấn chuột vào Start, Programs,
Accessories, System Tools, System Restore để reload cấu hình hệ thống mà Windows đã lưu từ trước đó.
    Cuối cùng, hãy chắc chắn rằng điện trên người bạn đã được tiếp đất. Thậm chí chỉ một sự tích điện tĩnh rất nhỏ trên cơ
thể cũng có thể làm hỏng mạch điện tinh xảo trong PC của bạn. Hãy sờ vào phần khung gầm kim loại của hệ thống ngay
trước khi bạn rút phích cắm ra khỏi ổ điện được tiếp đất. Luôn luôn phải tháo dỡ tất cả đường dò tới các thiết bị cũ trước khi
bạn cài đặt cái mới vào. Hãy làm như sau:
1. Sử dụng chương trình ứng dụng Add/Remove Programs trong Control Panel để gỡ bỏ tất cả phần mềm liên quan tới thiết
bị.
2. Dỡ bỏ driver của thiết bị. Nhấn chuột vào Start, Settings, Control Panel, System, chọn phím Device Manager tab, kích
đúp chuột vào category của thiết bị, chọn thiết bị mà bạn đang tháo cài đặt và click vào nút Remove. Lưu ý: Để tháo dỡ bộ
phận điều khiển của một graphics card (Windows gọi nó là “display adapter”), trước hết kích đúp chuột vào tên thiết bị,


chọn Driver tab trong hộp Properties, và chọn nút Update Driver; sau đó sử dụng Update Device Driver Wizard để cài đặt
bộ phận điều khiển VGA của Windows.
3. Tắt máy PC.
4. Mở hộp hệ thống và gỡ bỏ thiết bị cũ. Nếu bạn muốn nâng cấp graphics card, hãy đặt thẻ mới vào đúng thời điểm này.
5. Khởi động lại máy tính và kiểm tra Device Manager. Nếu mục nhập của thiết bị cũ vẫn cịn ở đó, hãy lặp lại thao tác tháo

cài đặt một lần nữa. Đôi khi, bạn phải hơn một lần remove một thiết bị trước khi khơng cịn sót một trace nào trong
Windows.
    Cài đặt từng thiết bị mới vào và sử dụng PC của bạn trong vài ngày sau mỗi lần cài đặt để phát hiện trục trặc. Có 5 điều
bạn cần nhớ khi cài đặt:
1. Plug and Play không phải lúc nào cũng là phương pháp tối ưu để cài đặt một thiết bị. Một số driver đã có sẵn chương
trình cài đặt riêng.
2. Nếu chỉ dẫn cài đặt không rõ ràng hoặc đưa ra hướng dẫn cho một model khác, hãy vào website của nhà sản xuất và tìm
kiếm tài liệu cập nhật.
3. Hãy có được một update mới nhất của driver. Hãy kiểm tra website của người bán để có được các phiên bản mới hơn.
4. Đừng gián đoạn quy trình cài đặt vì có thể gây ra rắc rối cho bạn. Nếu bạn muốn huỷ bỏ việc cài đặt, trước hết hãy hồn
tất quy trình rồi mới tháo cài đặt driver.
5. Hãy chắc chắn rằng tất cả đinh vít trên card của bạn đã được xiết chặt. Những card không được vít chặt có thể bị trật ra
khỏi rãnh.
    Cũng có khi bạn cần Windows CD-ROM của mình khi PC đang chạy trong lúc bạn cài đặt phần cứng. Nếu bạn khơng
tìm thấy đĩa này, hoặc khơng thể làm cho CD-ROM driver hoạt động, có thể bạn đã bị kẹt.
    Để thao tác an toàn, hãy đặt một folder trên đĩa cứng của bạn, đặt tên nó là CABS và copy các tệp tin Windows' .cab
(phiên bản nén của các tệp tin hệ điều hành Windows). Bạn chỉ việc copy các folder “win98” và “drivers” từ Windows CD.

10 THỦ THUẬT ĐỐI VỚI MODEM
1. Cập nhật driver mới nhất
    Trước hết và tốt nhất, bạn phải chắc rằng mình có các driver mới nhất cho modem của mình. Các driver này thường có ở
trang Web của nhà sản xuất. Nếu khơng biết chính xác địa chỉ trang Web của nhà sản xuất, bạn đọc kỹ tài liệu kèm theo
modem để tìm tên chip dùng cho modem. Bạn có thể vào trang Web của nhà sản xuất bằng cách gõ tên của loại chip vào ơ
địa chỉ trong trình duyệt.
2. Phục hồi các thiết lập ban đầu
    Nếu modem của bạn không hoạt động, hãy thử dùng lệnh AT&F1 hoặc ATZ. Lệnh AT&F1 thường phục hồi cấu hình khi
xuất xưởng modem, cịn ATZ thường đặt lại cấu hình mặc định (default).
3. Khơng có tín hiệu và âm thanh của modem
    Nếu bạn khơng thể nghe được tín hiệu, hãy cắm lại jack nối với đường dây điện thoại và kiểm tra xem đã chỉnh âm lượng
đủ lớn để có thể nghe được âm thanh phát ra từ modem chưa. Nếu modem nhận được tín hiệu và gọi đi được nhưng khơng

thể kết nối thì ngun nhân phần nhiều là từ phía modem mà bạn đang kết nối tới.


    Để điều chỉnh âm lượng của modem, vào Control Panel/Modem, chọn Properties và điều chỉnh thanh trượt. Nếu vẫn
không thể kết nối được, hãy thử quay một số khác để kiểm tra.
4. Dây nối ngắn
    Nếu có thể được, hãy dùng dây nối càng ngắn càng tốt, vì dùng dây dài, tín hiệu nhận được sẽ kém, cũng có nghĩa là kết
nối sẽ chậm hơn.
5. Hãy để modem được riêng biệt
    Không nên cắm điện thoại vào chấu cắm Phone trên modem, điều đó có thể làm ảnh hưởng tới các kết nối
Internet/Fax/BBS. Đối với một số modem, khi bạn cắm điện thoại vào, nó chỉ có thể kết nối được ở tốc độ 31.200? Nhưng
khi bạn rút điện thoại ra nó lại đạt tốc độ 33.600?
6. Chỉnh thơng số MTU cực đại
    Một số người nhận thấy rằng tác vụ truyền file trên Internet khá chậm, thường chỉ trong khoảng 900 -1800 ký tự
(character), ngay cả với modem 56K. Ngun nhân có thể liên quan đến một thơng số của Win95/98 gọi là Maximum
Transmission Unit (MTU). Hãy nhìn vào mục "Bytes received/sec" trong System Monitor và so sánh thơng số đó với thơng
số mà trình duyệt Web của bạn thông báo. Hai số này chỉ nên khác nhau trong khoảng 10%-12%. Nếu thông số do System
Monitor thông báo là 3300 thì thơng số cịn lại phải vào khoảng 3000. Nếu như 2 thông số này sai lệch quá nhiều thì có thể
là do thơng số MTU của Windows 95/98. Microsoft vẫn chưa đưa ra chương trình nào để sửa thơng số này, nhưng bạn có
thể tải về từ địa chỉ: />7. Bộ đệm lớn hơn
    Trong bất cứ tác vụ truyền dữ liệu nào cũng sẽ có một phần dữ liệu bị mất đi trên đường truyền và khơng có cách nào để
lấy lại được. Nhưng bạn có thể tăng tỷ lệ nhận tín hiệu chính xác bằng cách bổ sung thêm một dịng lệnh vào file
SYSTEM.INI. Có điều trước khi bắt đầu, bạn cũng nên biết cách Windows điều khiển luồng dữ liệu tới như thế nào.
Modem của bạn gửi dữ liệu tới trình điều khiển COMM của Windows, trình điều khiển này lưu dữ liệu vào một vùng đệm
cho tới khi chương trình truyền thơng của bạn lấy lại. Nhưng thật không may là công việc này chỉ được làm khi chương
trình rảnh rỗi, kết quả là nó khơng thể lấy được dữ liệu từ trình điều khiển COMM thường xuyên như yêu cầu.
    ở chế độ mặc định, Windows chỉ dành ra một phần bộ nhớ có khả năng lưu trữ 128 ký tự (character). Nhưng một khi
modem đã được nối mạng thì dịng dữ liệu đi vào máy bạn một cách liên tục. Máy tính có thể tạm thời ngừng dịng dữ liệu
đi vào này, nhưng làm như vậy sẽ mất thời gian nên dữ liệu vẫn tiếp tục đi vào mà không được lưu giữ ở bộ đệm của trình
điều khiển COMM. Nếu kết nối của bạn chậm hoặc chương trình truyền thơng nhanh thì bộ đệm chứa 128 ký tự có thể đủ,

nhưng nếu ngược lại thì lượng bộ nhớ đệm đó sẽ là quá nhỏ.
    Bạn có thể khắc phục được vấn đề này theo cách sau:
+ Mở file SYSTEM.INI bằng một trình soạn thảo văn bản.
+ Tìm mục [386enh]
+ Thêm dịng có dạng như sau: COMxBuffer=num
    trong đó "x" là một số từ 1 tới 4 cho biết tên của cổng COM mà modem của bạn sử dụng, còn "num" là số trong khoảng
128 tới 10.000 để xác lập độ lớn của bộ đệm. Thường bạn nên đặt ở giá trị 10.000. Sau đó nếu trong thời gian tải file về mà
tốc độ truyền bị giảm dần thì hãy đặt một số nhỏ hơn cho đến khi vừa ý.
    Bạn cần phải khởi động lại Windows để xác lập này có tác dụng.
8. Tiếp thêm sức mạnh cho các cổng COM


    Thơng thường, Windows 95/98 đặt cấu hình cho các cổng COM ở tốc độ 9.600bps, nhưng nếu bạn sử dụng modem 14,4
Kbps thì nên tăng trị số này.
    Mở Control Panel/System, kích chuột vào tab Device Manager, mở rộng nhánh Ports, nhấn đúp chuột vào mỗi cổng
COM, chọn thanh Port Setting và thay đổi thông số "Bits Per Second" lên ít nhất là 57.600 (hình 2), sau đó nhấn nút
Advanced và đánh dấu chọn "Use FiFO buffers [requires 16550 compatible UART]".
9. Truyền dữ liệu nhanh hơn và tăng tốc kết nối
    Với Windows 95/98, mở Control Panel/Modem, chọn nút Properties; trong thanh General, chọn "Maximum Speed" là
115.200; trong thanh Connection, chọn Advanced và đánh dấu chọn "User Error Control", "Compress Data" và "Use Flow
Control (Hardware)".
10. Giảm thiểu nhiễu đường dây điện thoại
    Nhiễu (tiếng ồn) đường dây điện thoại là một trong những yếu tố dễ phát hiện nhất. Nhiễu đường dây không phải là vấn
đề với các modem thuộc loại ISDN, DSL hoặc modem cáp mà với loại đường dây điện thoại kiểu tuần tự (analog), như ở
nước ta thì nó là một trong những ngun nhân chính dẫn đến kết nối chậm.
    Để kiểm tra mức độ tiếng ồn, bạn nhấc ống nghe lên và lắng nghe âm thanh. Có thể bạn sẽ nghe thấy các âm thanh rè rè
khác nhau và khác âm thanh tín hiệu, đó có thể là do chất lượng dây điện thoại kém, do hơi nước hoặc một vài nhân tố khác.
Cách tốt nhất để giảm bớt tiếng ồn đường dây là cố gắng sử dụng dây điện thoại càng ngắn càng tốt, nếu vẫn không được
hãy gọi nhân viên sửa chữa điện thoại của Bưu điện đến để kiểm tra chất lượng đường dây.


BÊN TRONG BỘ XỬ LÝ
     Bộ vi xử lý là trái tim của máy tính hiện đại; đây là một loại chip được tạo thành từ hàng triệu transistor và những thành
phần khác được tổ chức thành những khối chức năng chuyên biệt, bao gồm đơn vị xử lý số học, khối quản lý bộ nhớ và bộ
nhớ đệm, khối luân chuyển dữ liệu và phép toán luận lý suy đốn.
     Bộ vi xử lý của máy tính hiện nay đã phát triển cực mạnh về khả năng, tốc độ và tính phức tạp so với thập niên trước
đây. Tốc độ cao, kích thước nhỏ, số lượng transistor khổng lồ. Nếu bộ xử lý năm 1983 chỉ có 30.000 transistor thì hiện nay
với một số bộ xử lý con số này là trên 40 triệu.
     Bất kỳ chương trình máy tính nào cũng bao gồm rất nhiều lệnh để thao tác với dữ liệu. Bộ xử lý sẽ thực hiện chương
trình qua bốn giai đoạn xử lý: nạp, giải mã, thực thi và hoàn tất.
     Giai đoạn nạp (lấy lệnh và dữ liệu) đọc các lệnh của chương trình và dữ liệu cần thiết vào bộ xử
lý.
     Giai đoạn giải mã xác định mục đích của lệnh và chuyển nó đến phần cứng tương ứng.
     Giai đoạn thực thi là lúc có sự tham gia của phần cứng, với lệnh và dữ liệu đã được nạp sẵn, các
lệnh sẽ được thực hiện. Q trình này có thể gồm các tác vụ như cộng, chuyển bít hay nhân thập
phân động.
Giai đoạn hoàn tất sẽ lấy kết quả của giai đoạn thực thi và đưa vào thanh ghi của bộ xử lý hay bộ
nhớ chính. 
     Một bộ phận quan trọng của bộ vi xử lý là đồng hồ xung nhịp được thiết kế sẵn, xác định tốc độ
làm việc tối đa của những bộ phận khác và giúp đồng bộ hoá những hoạt động liên quan. Hiện nay
tốc độ nhanh nhất của bộ xử lý có trên thị trường là trên 2 GHz hay hơn hai tỷ xung nhịp mỗi giây.
Một số người thích sử dụng thủ thuật "ép" xung để chạy ở tốc độ cao hơn, nhưng nên nhớ là khi đó
nhiệt độ làm việc của chip sẽ cao hơn và có thể gây trục trặc.
Các bộ phận của CPU 


     Mạch của bộ xử lý được thiết kế thành những phần luận lý riêng biệt - khoảng hơn một chục bộ
phận - được gọi là những đơn vị thực thi. Chúng có nhiệm vụ thực hiện bốn giai đoạn trên và có
khả năng xử lý gối đầu. Dưới đây là một số đơn vị thực thi phổ biến nhất.
     Bộ luận lý số học: Xử lý tất cả những phép tốn số học. Đơi lúc đơn vị này được chia thành
những phân hệ, một chuyên xử lý các lệnh cộng và trừ số nguyên, phân hệ khác chuyên tính toán

các phép nhân và chia số phức. 
     Bộ xử lý dấu chấm động (FPU): Thực hiện tất cả các lệnh liên quan đến dấu chấm động (không
phải là số nguyên). Ban đầu FPU là bộ đồng xử lý gần ngoài nhưng hiện nay nó được tích hợp ngay
trên bộ xử lý để tăng tốc độ xử lý. 
     Bộ phận nạp/lưu: Quản lý tất cả lệnh đọc hay ghi bộ nhớ. 
     Bộ phận quản lý bộ nhớ (MMU): Chuyển đổi địa chỉ của ứng dụng thành địa chỉ bộ nhớ vật lý.
Điều này cho phép hệ điều hành ánh xạ mã và dữ liệu của ứng dụng vào những khoảng địa chỉ ảo
để MMU có thể thực hiện các dịch vụ theo chế độ bảo vệ bộ nhớ.
     Bộ phận xử lý rẽ nhánh (BPU): Dự đoán hướng đi của lệnh rẽ nhánh nhằm giảm sự ngắt quãng
của dòng chuyển dữ liệu và lệnh vào bộ xử lý khi có một luồng xử lý nhảy đến một địa chỉ bộ nhớ
mới, thường gặp trong các phép toán so sánh hay kết thúc vòng lặp.
     Bộ phận xử lý vector (VPU): Xử lý các lệnh đơn, đa dữ liệu (single instruction multiple dataSIMD) để tăng tốc các tác vụ đồ hoạ. Những lệnh theo kiểu vector này gồm các tập lệnh mở rộng
cho multimedia của Intel, 3DNow của AMD, AltiVec của Motorola. Trong một vài trường hợp khơng
có bộ phận VPU riêng, chẳng hạn Intel và AMD tích hợp những tính năng này vào trong FPU của
Pentium 4 và Athlon.
     Không phải tất cả các bộ phận này đều thực thi lệnh. Người ta đã có những nỗ lực to lớn để bảo
đảm cho bộ xử lý lấy lệnh và dữ liệu ở tốc độ nhanh nhất. Tác vụ nạp truy cập bộ nhớ chính (khơng
nằm ngay trên CPU) sẽ chiếm nhiều chu kỳ xung nhịp, trong khi đó CPU lại khơng làm gì cả. Tuy
nhiên, BPU sẽ phải làm việc rất nhiều để lấy sẵn dữ liệu và lệnh.
Một cách giảm thiểu tình trạng khơng hoạt động của CPU là trữ sẵn mã và dữ liệu thường được
truy cập trong bộ nhớ ngay trên chip, như vậy CPU có thể truy cập mã và dữ liệu trên bộ nhớ đệm
chỉ trong một chu kỳ xung nhịp. Bộ nhớ đệm chính ngay trên CPU (cịn gọi là Level1 hay L1)
thường chỉ có dung lượng khoảng 32KB và chỉ có thể lưu được một phần chương trình hay dữ liệu.
Thủ thuật để thiết kế bộ nhớ đệm là tìm giải thuật để lấy thông tin quan trọng vào L1 khi cần đến.
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tốc độ nên hơn một nửa số lượng transistor của bộ
xử lý có thể dành cho bộ nhớ đệm.
     Tuy nhiên, hệ điều hành đa nhiệm và một loạt các ứng dụng chạy đồng thời có thể làm quá tải
ngay cả với bộ nhớ đệm L1 được thiết kế tốt nhất. Để giải quyết vấn đề này, cách đây nhiều năm,
các nhà sản xuất đã bổ sung đường truyền tốc độ cao để bộ xử lý có thể giao tiếp với bộ nhớ đệm
thứ cấp (Level2, L2) với tốc độ khoảng 1/2 hay 1/3 tốc độ của bộ xử lý. Hiện nay trong những bộ xử

lý mới nhất như Pentium 4 hay PowerPC 7450 còn tiến xa hơn khi đưa bộ nhớ đệm L2 vào ngay
trong CPU và hỗ trợ giao tiếp tốc độ cao với bộ nhớ đệm ngoài L3. Trong tương lai, các nhà sản
xuất thậm chí cịn tích hợp bộ điều khiển bộ nhớ ngay trên CPU để tăng tốc độ lên cao hơn nữa.

BỔ SUNG THIẾT BỊ MỚI KHÔNG CẦN KHỞI ĐỘNG LẠI WINXP
     Khác với Windows 98/ME, nhưng cũng giống như Windows 2000, mỗi khi khởi động hệ thống, Windows XP chỉ nạp
driver của các thiết bị phần cứng đang sẵn sàng hoạt động (được kết nối và có cấp điện).


     Vì thế, mỗi khi đang làm việc mà cần sử dụng một thiết bị nào mà mình có thói quen tắt điện, chỉ mở khi cần xài (như
máy in, modem gắn ngoài,...), bạn buộc phải khởi động lại máy cho WindowsXP nhận diện và load các driver thiết bị tương
ứng.
     Để khỏi tốn thời gian khởi động máy mỗi khi có thiết bị phần cứng mới được gọi lên sử dụng, bạn chỉ việc vào Control
Panel, chọn mở icon System.
     Trên bảng hộp thoại System Properties, bạn chọn tab Hardware rồi nhấn lên nút Device Manager.
     Bạn dùng chuột tô chọn vào tên người đang sử dụng máy vi tính trong cửa sổ Device Manager.

     Sau đó click lên menu Action và chọn trên menu pop-up lệnh Scan for hardware changes (Quét tìm các thay đổi phần
cứng).

     Sau khi Windows nhá màn hình 1-2 cái để scan hệ thống, bạn có thể kiểm tra lại xem thiết bị phần cứng mà mình muốn
làm việc đã được gọi lên chưa.

BỘ TĂNG TỐC ĐỒ HỌA


    Những trò chơi hàng đầu như Tomb Raider III có thể vắt kiệt máy tính của bạn nếu nó khơng được trang bị một card màn
hình tăng tốc đồ họa 3D thật sự. Hãy cùng xem xét và đánh giá 15 loại card mới và mạnh nhất đang có trên thị trường.
    Với sự gia tăng của nhu cầu chơi game và các ứng dụng truyền thông đa phương tiện, các loại card đồ họa cao cấp hiện
đang được chờ đợi hơn bao giờ hết. Những loại card 2D tẻ nhạt chỉ hỗ trợ hình ảnh 2 chiều đang bắt đầu lùi vào quá khứ,

nhường chỗ cho các loại card 3D hùng mạnh hỗ trợ tăng tốc đồ họa 3 chiều có hầu hết trong những ứng dụng mới nhất mà
một bộ vi xử lý dù nhanh và mạnh vẫn không đáp ứng nổi. Không những thế, trong khi có thể mua một bộ tăng tốc đồ họa
3D hiện khá dễ dàng, việc có một quyết định khơn ngoan và đúng đắn lại khá khó khăn khi phải chọn lựa giữa quá nhiều
chủng loại của các nhà sản xuất khác nhau. Và, tất nhiên khi mọi công ty đều cho rằng phần cứng của mình là tốt nhất với
cách chọn tên đầy khoa trương cho các chipset cũng như cách đánh giá tốc độ bằng các biệt ngữ khó hiểu để bán hàng, hy
vọng những phân tích sau đây có thể giúp các bạn đỡ bối rối hơn trong "khu rừng đồ họa" khó hiểu này, trả lời các thắc mắc
của bạn và chỉ ra các sản phẩm "Best Buys"
Đồ hoạ 2D/3D hay chỉ 3D
    Điều đầu tiên cần làm khi nâng cấp phần cứng đồ họa là làm sao xác định chính xác loại card nào bạn thực sự cần. Nếu
nói chung bạn khơng thật hài lịng với chất lượng đồ họa mà bạn đang có, vậy bạn có thể chỉ muốn tìm kiếm một card mới
với các tính năng tăng tốc đồ họa cả 2 chiều và 3 chiều cùng một lúc. Mặt khác, nếu bạn chỉ muốn tăng cường thêm một
chiều cho chiếc card sẵn có như để chơi game chẳng hạn, lúc đó bạn chỉ cần cân nhắc mua bộ tăng tốc đồ họa 3D để phối
hợp thôi.
    Giải pháp 2D/3D phối hợp là chọn lựa phổ biến nhất, với 13 trên 15 card thử nghiệm. Điều thuận lợi là do bạn chỉ dùng
một khe cắm mở rộng duy nhất cho giải pháp đồ họa này và bạn sẽ có cả hiển thị 3D trong cửa số Windows và tồn màn
hình. Các loại card 3D thuần túy, trên nền tảng chip 3Dfx Voodoo II, thì không hỗ trợ tăng tốc trên cửa sổ desktop và phải
chiếm trọn màn hình hiển thị để làm việc.
Phần mềm hỗ trợ
    Khi thử nghiệm, ngoài việc đánh giá dựa trên các tính năng hiển thị mà các nhà sản xuất cơng bố cho loại card của mình,
điều quan trọng ở đây là còn phải xem xét các card này có thật sự tương thích với các phần mềm ứng dụng mà bạn cần tăng
tốc không? Thật vô nghĩa nếu chọn mua loại card nhanh và mạnh nhất nhưng lại khơng hỗ trợ cho những phần mềm u
thích của bạn.
    Đa số các ứng dụng 3D trên Windows và các trò chơi được viết theo hệ thống Direct 3D của Microsoft, một phần của
phần mềm multimedia DirectX của Windows và hầu hết các card tăng tốc đồ họa tốt đều hỗ trợ chuẩn này. Do đó, các bạn
khơng nên mua các bộ tăng tốc khơng hồn tồn tương thích với DirectX và nên chỉ lựa chọn card nào có trình driver làm
việc với phiên bản mới nhất của DirectX là 6.1.
    Có một hệ thống chuẩn 3D hay cịn gọi là API (Application Program Interface) phổ biến khác là OpenGL (Open
Graphics Language) đang được phát triển bởi các chuyên gia của Silicon Graphics. Có một số trị chơi cung cấp cho các bạn
lựa chọn để chuyển sang hệ thống đồ họa này như Quake & Quake 2, Hexen 2, Heretic 2 và game mới nhất Half Life của
Sierra. Trong hầu hết các trường hợp, chơi game trong môi trường OpenGL sẽ có hiệu ứng đồ họa đẹp hơn rất nhiều so với

chuẩn Direct3D. Bộ tăng tốc đồ họa Millenium G200 của Matrox là card duy nhất khơng hỗ trợ tồn diện cho OpenGL.
    Bên cạnh hai API chính này, 3Dfx còn phát triển một chọn lựa khác là Glide cho các loại card của họ trên nền chip
Voodoo và các game tương thích như Turok, Shadows of Empire và Unreal nhưng hiện chuẩn này có xu hướng thu hẹp bởi
vì ngày càng có nhiều nhà phát triển phần mềm hỗ trợ OpenGL.
Chip đồ họa
    Trái tim của tất cả các card chính là chipset, điều quyết định phạm vi phân giải màn hình, các tính năng 3D và các hiệu
ứng đặc biệt khác. Ngày nay, hầu hết các card được thiết kế quanh một trong 4 chipset phổ biến nhất: Voodoo Banshee và
Voodoo 2 của 3Dfx, Riva TNT của NVIDIA và Savage của S3. Tuy nhiên, có một vài cơng ty như Matrox và ATI vẫn phát
triển các card với chipset riêng của mình.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×