Giáo trình Bệnh nhiễm
HO GÀ
(Pertussis)
ThS.Bs. Hồng Trường
MỤC TIÊU
1. Trình bày ngắn gọn được đặc điểm dịch tễ học bệnh ho gà trên thế giới và
Việt Nam.
2. Trình bày được cơ chế bệnh sinh của bệnh ho gà
3. Mô tả đặc điểm lâm sàng của các thể lâm sàng bệnh ho gà .
4. Chẩn đoán phân biệt bệnh ho gà với các bệnh lý gây khác.
5. Trình bày được các biện pháp phòng ngừa ho gà cho cá nhân và cộng đồng.
I
ĐẠI CƯƠNG :
1. Định nghĩa:
Ho gà là bệnh nhiễm trùng cấp tính lây qua đường hơ hấp do vi khuẩn
Bordetella pertussis và Bordetella parapertussis gây ra. Biểu hiện của bệnh là
những cơn ho đặc trưng, kịch phát, dữ dội, không thể kìm chế được, kéo dài
kèm ói sau ho và sự gia tăng đáng kể bạch cầu lympho trong máu ngoại biên.
2. Lịch sử:
Bệnh ho gà có lẽ đã được nói đến từ thời Hypocrat, khoảng 400 năm trước
cơng ngun, với tên gọi Perinthus cough.
1640 Guillaume de Baillou nhà dịch tễ học người Pháp lần đầu tiên mô tả rõ
ràng bệnh ho gà trong đợt dịch bệnh ở Pháp xảy ra năm 1578
1679 Sydenham người đầu tiên đặt tên bệnh là pertussis.Theo tiếp đầu ngữ
Latin, per có nghĩa là trầm trọng và tussis nghĩa là ho.
1906 Trực khuẩn ho gà lần đầu tiên được Jules Bordet và Octave Gengou phân
lập từ một bệnh nhi mắc bệnh ho gà và sau đó khoảng giữa những năm 1940 họ
bào chế được vắc-xin ngừa hệnh ho gà đầu tiên .
1923 Bergey và cộng sự đặt tên cho trực khuẩn này là Hemophilus Pertussis
1952 Moreno Lopez đã chứng minh trực khuẩn ho gà không có liên quan với
kháng nguyên của giống Hemophilus và đặt lại tên là Bordetella pertussis.
2002 toàn bộ genome của B. pertussis (gồm 4,086,186 cặp base) được xác
định.
Do tính chất ho đặc biệt mà bệnh ho gà được gọi theo nhiều tên khác nhau tùy
theo ngôn ngữ sử dụng: Mỹ :whooping cough (ho kèm hít vào mạnh đột ngột);
Tây Ban Nha: tos ferina , Ý: tosse canina ( tiếng chó sủa) ; Pháp: coque luche
(ho gà ) và Trung Quốc thì có tên là " ho 3 tháng 10 ngày "…
227
Giáo trình Bệnh nhiễm
II
DỊCH TỄ HỌC:
1. Mầm bệnh:
Trực khuẩn ho gà thuộc họ Alcoligenacae, giống Bordetella. Họ
Alcaligenaceae là một họ mới được De Lay đề xuất năm 1986, gồm giống
Alkaligenes và Bordetella. Giống Bordetella hiện nay gồm 8 loài : B. pertussis,
B.parapertussis, B. chronchiseptica, B.avium, B.hinzii, B.holmessi, B.trematum
và B.petrii . Trong đó chỉ có mình B. pertussis là có khả năng sản xuất độc tố
ho gà. Ngoài ra B. pertussis cịn được phân biệt với các lồi Bordetella khác
bởi tính chất khơng di động và các đặc tính sinh hóa khác.
Bệnh ho gà chủ yếu do B. pertussis gây ra, một số ít trường hợp do B.
parapertussis gây ra (5%) nhưng thường bệnh cảnh lâm sàng nhẹ hơn. Ngoài ra
Bordetella pertussis cịn có thể gây viêm tai giữa.
Vi khuẩn Bordetella pertussis thuộc loại trực-cầu trùng Gram âm nhỏ, nhọn ở
hai đầu, có vỏ bọc, khơng sinh nha bào, hiếu khí tuyệt đối, kích thuớc 0,2-0,5 x
0,5-1,5 µm, đứng đơi hoặc riêng rẽ, không di động.
B. Pertussis là vi khuẩn đề kháng yếu với ngoại cảnh (nhiệt độ, hóa chất, tia
cực tím..). Chúng chết rất nhanh khi ra ngồi cơ thể. Dưới ánh sáng mặt trời vi
khuẩn chết sau 1 giờ và ở nhiệt độ 55oC chết sau 30 phút.
Hình 1. Vi khuẩn Bordetella pertussis
B. pertussis thuộc dạng vi khuẩn khó nuôi cấy, mọc chậm. Khi mới phân lập
chúng không mọc trên các môi trường dinh dưỡng thông thường mà chỉ mọc
trong môi trường cấy chuyên biệt (môi trường Bordet-Gengou) với nhiệt độ
thích hợp nhất là 37oC . Trên mơi trường Bordet-Gengou, sau khoảng 5-7
ngày, B. pertussis mọc thành những khuẩn lạc nhỏ, hình vịm nhẵn bóng như
giọt thủy ngân. Khi chuyển cấy nhiều lần, B. pertussis trải qua 4 pha :
Pha I (pha S) : Chỉ mọc trên môi trường chun biệt, tính chất khuẩn lạc như đã
mơ tả ở trên, có đầy đủ ngưng kết nguyên, độc tố và kháng nguyên ngưng kết
hồng cầu của vi khuẩn ho gà.
Pha IV (pha R) : là giai đoạn cuối cùng của thối hóa tự phát. Khuẩn lạc sù xì,
mọc trên được mơi trường cấy thơng thường, khơng độc, khơng có các kháng
nguyên như ở pha I.
Pha II và III là dạng trung gian giữa pha I và IV.
228
Giáo trình Bệnh nhiễm
Sự biến đổi pha có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sản xuất vaccin :
vaccin ho gà chỉ có hiệu lực khi chọn đúng vi khuẩn đang ở pha I.
1.1 Độc lực của vi khuẩn :
Bảng 1. Thành phần của vi khuẩn B. pertussis và vai trị của các thành phần
Thành
phần
Hiện diện
Hoạt tính sinh học
Tính sinh
miễn dịch
Thành
phần của
vaccin tinh
chế
Có
Có
Chưa rõ
Khơng
Có
Có
Có thể quan
trọng
Khơng
Chưa rõ
Khơng
Có
Có
Độc tố
PT
Bên ngồi tế bào
TCT
Bên ngoài tế bào
ACT
Bên ngoài
bào tương
(extracytoplasmic)
Nội
độc tố
LPS
Màng tế bào
HLT,
yếu tố
hoại
tử da
Trong bào tương
Tăng bám dính vào biêu mơ hơ hấp
Nhạy cảm với histamin
Kích thích tiết insulin
Tăng lympho bào
Kích thích tạo Interleukin 4 và Ig E
Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu
Tăng sự tổng hợp Interleukin 1 và NO
Ức chế chức năng thực bào của bạch cầu
Thúc đẩy hiện tượng chết theo chương
trình đối với đại thực bào.
Gia tăng q trình tổng hợp AMP vịng
trong tế bào
Tán huyết in vitro
Ức chế hoạt động lông mao
Tổn thương tế bào
Hoạt tính tương tự như LPS của vi khuẩn
Gram âm. Gây sốt, phản ứng tại chỗ (ho)
Làm tổn thương tế bào
Yếu tố liên quan đến sự bám dính (Adhesin factors)
FHA
Bề mặt tế bào
Tăng tính bám dính vào bề mặt biểu mơ
hơ hấp
Ngưng kết hồng cầu in vivo
FIM
2,3
Bề mặt tế bào
Trên các lơng tua
(fimbriae)
Tăng tính bám dính vào bề mặt biểu mơ
hơ hấp
Có
Có
PRN
Màng tế bào
Có
Có
TCF
Màng tế bào
Tăng tính bám dính vào bề mặt biểu mơ
hơ hấp
Tăng tính bám dính vào bề mặt biểu mô
hô hấp
Chưa rõ
Không
B. pertussis sản xuất ra một số hóa chất có tính sinh học được cho rằng đóng
vai trò trong cơ chế bệnh sinh và tạo miễn dịch. Đó là các ngưng kết tố FHA
(filamentous hemagglutination), PRN (perpactin), protein màng ngồi 69 kDA
và lơng tua; các loại độc tố như độc tố ho gà PT, độc tố ACT (adenylate
cyclase toxin), độc tố tế bào khí quản TCT và độc tố hoại tử biểu bì dễ hủy bởi
229
Giáo trình Bệnh nhiễm
nhiệt HLT. Vi khuẩn cịn tiết ra các chất khác như yếu tố định cư, yếu tố chống
xâm nhập vào hệ tuần hoàn, yếu tố chống bị tiêu diệt BrkA.
Các thành phần của vi khuẩn B. pertussis và vai trò của chúng trong cơ chế
bệnh sinh và đáp ứng miễn dịch được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Người ta cho rằng sự điều hòa sản xuất phần lớn các thành phần trên liên quan
tới một gen, và gen này liên quan đến sự thay đổi của vi khuẩn ho gà trong các
pha nuôi cấy.
Trong các thành phần trên thì độc tố ho gà (PT: Pertussis toxin) là có vai trị
quan trọng trong cơ chế bệnh sinh và được nghiên cứu nhiều nhất.
1.2 Độc tố ho gà một protein có phổ tác động sinh học khá rộng. Ngoại độc
tố này gồm hai thành phần: thành phần B (Binding: gắn dính) gồm 4 tiểu
đơn vi S2-S4 đóng vai trịn trong việc gắn dính vào tế bào biểu mơ hơ
hấp. Phần A (Active: hoạt động) gồm một tiểu đơn vi S1, là chất ức chế
protein G của tế bào đích ( một protein gắn kết với guanosine
triphosphate (GTP)), gây ra nhiều tác động sinh học khác nhau. Dựa vào
hoạt tính sinh học, PT cịn có nhiều tên gọi khác nhau như: yếu tố tăng
lympho bào – LPF (lymphocytosis promoting factor); protein hoạt hóa
vùng đảo tụy – IPA(islet activating protein); yếu tố nhạy cảm với
histamin – HSF (histamin sensitizing factor).PT có lẽ đóng vai trị quan
trọng nhưng khơng phải là yếu tố duy nhất trong cơ chế bệnh sinh của
bệnh ho gà.
Hình 2. Độc tố ho gà
2. Nguồn bệnh:
Người là nguồn bệnh duy nhất của vi khuẩn ho gà. Những người bệnh ho gà là
nguồn lây duy nhất. Đặc biệt là ở những bệnh nhân bị ho gà thể khơng điển
hình (thường xảy ra ở trẻ lớn và người lớn) rất hay bị bỏ sót chẩn đốn, chính
các đối tượng này không bị cách ly nên sẽ lây lan rất rộng cho xung quanh và
đây là nguồn lây bệnh quan trọng.
Cho tới nay vẫn chưa xác nhận tình trạng người lành mang khuẩn mặc dù trong
các vụ dịch người ta phát hiện có người mang vi khuẩn khơng triệu chứng
230
Giáo trình Bệnh nhiễm
nhưng thống qua.Tình trạng “mang mầm bệnh thống qua” này có vẻ khơng
phải là nguồn lây bệnh quan trọng vì những đối tượng này khơng ho.
3. Đường lây truyền bệnh:
Bệnh lây trực tiếp bằng đường hô hấp do vi khuẩn có trong các hạt nước bọt,
chất tiết bắn ra từ đường mũi, miệng khi bệnh nhân ho, hắt hơi. Trong trường
hợp cơn ho gà điển hình, phạm vi lây bệnh là trong vòng 3 mét.
Đây là bệnh rất hay lây và lan nhanh, khả năng lây lan của bệnh thay đổi từ 50100% tùy theo điều kiện tiếp xúc. Nếu người bị phơi nhiễm có tiếp xúc trực
tiếp với người bệnh có những cơn ho dữ dội thì khả năng lây nhiễm lên đến
100%.
Bệnh lây lan mạnh nhất trong giai đoạn viêm long và giảm nhanh sau đó.
Nguy cơ lây bệnh sẽ khơng cịn sau 5 ngày điều trị với kháng sinh nhạy cảm.
Tuy nhiên ở bệnh nhân không được điều trị, sự lây lan bệnh vẫn còn kéo dài
khoảng 3 tuần hoặc hơn kể từ khi khởi phát cơn ho điển hình.
Vi khuẩn ho gà rất kém chịu đựng với ngoại cảnh, chết rất nhanh khi ra ngồi
nên khơng lây gián tiếp qua các đồ dùng sinh hoạt cá nhân của bệnh nhân.
4. Cơ thể cảm thụ:
Tuy bệnh thường gặp ở trẻ em nhưng ho gà có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả
người già và hiện nay nhìn chung tỉ lệ bệnh ho gà đang có xu hướng gia tăng ở
trẻ lớn và người lớn.
Ở vùng có tỉ lệ phủ vaccin thấp hoặc các nước việc chủng ngừa ho gà hạn chế
(Đức, Thụy Điển…), bệnh ho gà tập trung ở nhóm tuổi 1-5 tuổi, trẻ em dưới 1
tuổi ít bị hơn (dưới 15% tổng số ca ho gà) và trẻ sơ sinh ít khi bị ho gà vì được
nhận kháng thể chống ho gà từ mẹ truyền qua trong lúc mang thai.
Ngược lại, ở các nước có tỉ lệ phủ vaccin cao, tỉ lệ bệnh ho gà ở trẻ em dưới 1
tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất. Trẻ lớn và người lớn chiếm tỉ lệ cao thứ hai (tại Mỹ
50% bệnh ho gà xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi và hơn 25% ho gà ở trẻ lớn và người
lớn). Trẻ lớn và người lớn dễ bị ho gà do thiếu miễn dịch với bệnh ho gà vì
khơng có sự tái nhiễm ho gà tự nhiên hoặc không được chủng ngừa nhắc lại
vaccin ho gà. Trẻ dưới 1 tuổi dễ bị ho gà vì mẹ khơng có kháng thể để truyền
cho con và do trẻ ở nhóm tuổi này (đặc biệt ở trẻ dưới 3 tháng) có thể chưa
được chích ngừa đủ 3 mũi vaccin ho gà ban đầu.
Ở trẻ em, nam và nữ có tỉ lệ mắc bệnh ho gà ngang nhau, trong khi đó ở người
lớn thì nữ chiếm tỉ lệ nhiều hơn nam ( 67% ở đối tượng trên 20 tuổi bị ho gà là
nữ).
Bệnh ho gà thường đi kèm với những bệnh làm giảm sức đề kháng của cơ thể
như bệnh sởi chẳng hạn.
231
Giáo trình Bệnh nhiễm
5. Tính sinh miễn dịch:
Cả hai cơ chế bảo vệ không đặc hiệu ( phản ứng viêm tại chỗ, gia tăng hoạt tính
thực bào, sản xuất interferon) và đặc hiệu (tăng sinh lympho B và lympho T)
đều tham gia trong bệnh ho gà.
Sau khi chủng ngừa vaccin ho gà đáp ứng miễn dịch dịch thể đã được biết khá
rõ bởi sự gia tăng nồng độ kháng thể Ig G và Ig M .
Sau khi mắc bệnh ho gà cơ thể xuất hiện các kháng thể Ig A tiết, IgM và IgG
trong huyết thanh (trong đó anti-PT, anti_FHA được cho là hai Ig G quan
trọng) có tác dụng bảo vệ chống nhiễm khuẩn.
Ig G thường xuất hiện từ tuần thứ 3, đạt mức cao nhất vào tuần thứ 8-10 của
bệnh sau đó giảm dần và tồn tại nhiều năm. Ig M xuất hiện sớm hơn và đôi
khi vẫn có thể tồn tại nhiều tháng sau nhiễm trùng.
Vai trị của miễn dịch tế bào trong ho gà vẫn chưa được biết đầy đủ.
Miễn dịch, có được khi mắc bệnh ho gà hoặc do chủng ngừa, không phải là
vĩnh viễn. Miễn dịch thường chỉ có hiệu lực bảo vệ tốt trung bình khoảng 4-5
năm (có thể tới 12 năm) sau chủng ngừa và khoảng 10-15 năm (có thể tới 20
năm) sau mắc bệnh ho gà
6. Tình hình bệnh ho gà trên thế giới và Việt nam:
Hình 3. Tình hình bệnh ho gà trên thế giới
Kể từ khi có vaccin ho gà, tỉ lệ bệnh đã giảm đi một cách ngoạn mục trong vài
thập kỉ qua. Trong thời kỳ trước khi có vaccin, ho gà là một trong những bệnh
thường gặp nhất ở trẻ em với tỉ lệ bệnh mới hàng năm khoảng 150- 200
ca/100.00 dân, sau khi vaccin ho gà được đưa vào sử dụng đại trà thì tỉ lệ mắc
bệnh giảm hơn 90%. Tuy nhiên kể từ những năm 90, nhất là tại các nước phát
triển, bệnh ho gà lại trỗi dậy và có xu hướng gây bệnh cho đối tượng trẻ lớn và
người lớn ngày một nhiều hơn. Chu kỳ dịch xảy ra là mỗi 2-5 năm và chu kỳ
này hầu như vẫn không thay đổi kể từ trước khi có vaccin ( khơng giống như
các bệnh lý truyền nhiễm có thể ngừa bằng vaccin khác : Thường chu kỳ dịch
của các bệnh này sẽ khơng cịn hoặc thưa hơn sau khi có vaccin)
232
Giáo trình Bệnh nhiễm
Ví dụ điển hình tại Mỹ, trước khi có vaccin tỉ lệ bệnh mới hàng năm khoảng
157 ca/100.000 dân, sau vaccin ho gà được đưa vào sử dụng thì tỉ lệ này giảm
cịn < 1ca/100.000 vào năm 1970. Vào những năm 1984 tỉ lệ bệnh ho gà bắt
đầu gia tăng trở lại với tỉ lệ bệnh mới hàng năm lên đến 9/100,000 dân và chu
kì dịch là 2-5 năm một lần. Người ta cũng bắt đầu nhận thấy có một sự gia
tăng đều đặn tỉ lệ bệnh ho gà tại Mỹ , đặc biệt ở lứa tuổi trẻ dưới 1 tuổi , trẻ lớn
và người lớn : Trong giai đoạn từ 1990 đến 2003 tỉ lệ bệnh mới ở trẻ lớn tăng
gấp 10 lần. Năm 2000, tỉ lệ bệnh ho gà ở trẻ dưới 7 tháng là 24%, trẻ lớn là
36%, và người lớn là 20%. Trong năm 2004, đã có sự gia tăng tỉ lệ bệnh mới
gần 19 lần ở nhóm đối tượng 10-19 tuổi và khoảng 16 lần ở nhóm đối tượng
trên 20 tuổi so với những năm 1990-1993.
Hiện tại bệnh ho gà vẫn là bệnh lưu hành xảy ra quanh năm, là nguyên nhân tử
vong quan trọng ở trẻ dưới 1 tuổi và tiếp tục là vấn đề quan trọng của sức khỏe
cộng đồng ngay cả với các nước có tỉ lệ phủ vaccin cao. Đánh giá gần đây của
tổ chức y tế thể giới, năm 2003 trên thế giới có khoảng 17.6 triệu trường hợp
ho gà, 90% xảy ra ở các nước đang phát triển và có khoảng 279,000 trường hợp
tử vong vì ho gà và cũng nhấn mạnh thêm rằng , trong năm 2003, chính
chương trình tiêm chủng chống bệnh ho gà đã giúp tránh được 38,8 triệu
trường hợp mắc bệnh ho gà và 60700 trường hợp tử vong do ho gà trên tồn
cầu.
Trước tình hình gia tăng trở lại một cách đáng ngại của bệnh ho gà, kèm theo
sự tái phân bố lại lứa tuổi mắc bệnh và gia tăng tỉ lệ tử vong do bệnh ho gà ở
trẻ nhỏ. Vào năm 2000, một chương trình hành động tồn cầu về ho gà (Global
Pertussis Initiative) được thành lập, đây là một diễn đàn của các chuyên gia y tế
trên khắp thế giới trao đổi, phân tích tình trạng ho gà trên tồn cầu, đánh giá
chương trình tiêm chủng ho gà của các quốc gia nhằm mục đích cải thiện tình
trạng bệnh ho gà trên toàn cầu.
Tại Việt nam, vaccin ho gà được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng của
quốc gia từ năm 1981, vào năm 2006 tỉ lệ trẻ nhận đủ 3 mũi vaccin DTP là
94%. Tỉ lệ bệnh ho gà đã giảm đi đáng kể từ khi vaccin ho gà được đưa vào
chương trình tiêm chủng với số ca ho gà từ 96,577 ca vào năm 1980 giảm chỉ
còn 144 ca vào cuối năm 2006.
III. SINH LÝ BỆNH
Về sinh lý bệnh học, bệnh ho gà là một tình trạng nhiễm trùng – nhiễm độc.
B.pertussis là vi khuẩn ký sinh bắt buộc ở đường hơ hấp của người, có ái tính
với tế bào có lơng chuyển của đường hơ hấp. Sau khi xâm nhập vào đường hô
hấp, vi khuẩn bám vào tế bào biểu mơ có lơng chuyển nhờ sợi ngưng kết hồng
cầu (FHA), lông tua và các yếu tố khác như TCF, PRN.. Người ta ghi nhận có
hiện diện vi khuẩn ho gà trong trong tế bào biểu mô hô hấp, tuy nhiên không
233
Giáo trình Bệnh nhiễm
thấy xảy ra hiện tượng vi khuẩn xâm nhập sâu vào lớp dưới niêm mạc hay vào
máu.
Vi khuẩn tăng sinh tại chỗ bám và bắt đầu sản xuất và tiết ra các độc tố khác
nhau gây tổn thương niêm mạc hô hấp (độc tố TCT, độc tố hoại tử da), làm suy
yếu sức đề kháng của ký chủ ( độc tố ho gà, ACT). Tác dụng và hoạt tính sinh
của các yếu tố độc lực được trình bày ở bảng trên. Chính nhờ tác dụng sinh
học của các độc tố này mà vi khuẩn ho gà mới có thể thốt khỏi hệ thống miễn
dịch của ký chủ, tăng sinh được tại đường hô hấp và gây nên cơn ho gà điển
hình.
Cơ chế chính xác tạo ra cơn ho đặc trưng của ho gà vẫn chưa được sáng tỏ.
Người ta nghĩ đến vai trò của các độc tố, một số tác tác giả cho rằng các loại
độc tố như độc tố khí quản, độc tố hoại tử biểu bì tàn phá cơ chế làm sạch
đường hơ hấp của các lông chuyển và tạo ra cơn ho đặc biệt của bệnh. Sự giải
phóng histamin từ các tổ chức tổn thương tác động lên niêm mạc hô hấp bị
viêm vốn đã nhạy cảm với histamin (nhờ HSF) gây kích thích cực độ đường
hơ hấp có thể là một trong những yếu tố góp phần gây nên cơn ho khơng kìm
chế được.
Độc tố ho gà PT gây nên hiện tượng tăng lympho bào điển hình ở máu ngoại
vi và tình trạng này có liên quan đến mức độ nặng của bệnh.
Biểu hiện thần kinh (co giật, bệnh lý não) trong ho gà có thể do hạ đường
huyết, do thiếu oxy não trong cơn ho hơn là do tác động của độc tố ho gà hay
do bội nhiễm virus có ái tính thần kinh.
Dưới tác dụng của các yếu tố độc lực của vi khuẩn ho gà, hệ thống nhung mao
bị tê liệt, tế bào bị hoại tử gây viêm cấp niêm mạc hơ hấp, kích thích niêm mạc
tăng tiết nhầy. Điều này làm giảm tính đề kháng tự nhiên của đường hô hấp và
tăng nguy cơ bội nhiễm phổi trong bệnh ho gà. Cho tới hiện nay chưa có bằng
chứng chứng minh ho gà gây suy giảm chức năng hô hấp kéo dài.
IV. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ
Các thương tổn trong bệnh ho gà xảy ra chủ yếu ở phế quản và các tiểu phế
quản. Ngoài ra phế nang và não bộ cũng bị ảnh hưởng.
1. Phế quản và các tiểu phế quản :
Phế quản và tiểu phế quản co thắt. Niêm mạc bị tổn thương tại chỗ, tăng tiết
nhầy. Dịch tiết bao gồm các mảnh niêm mạc bong tróc, vi khuẩn, các tế bào
viêm đặc biệt là lympho. Quanh phế quản và các mạch máu lân cận bị bao bọc
bởi 1 lớp các tế bào viêm lympho, tạo nên hình ảnh đặc biệt trong bệnh ho gà.
2. Phế nang:
Trong lòng phế nang có nhiều dịch và mơ bào. Thành phế nang xung huyết,
tẩm nhuận nhiều tế bào lympho.
234
Giáo trình Bệnh nhiễm
3. Não:
Có thể có hiện tượng phù nề tổ chức não, xuất huyết não với các ổ hoại tử
thiếu oxy. Tuy nhiên khơng thấy có hiện tượng thâm nhập của các tế bào
lympho và các tế bào viêm khác vào tổ chức não.
Nồng độ kháng thể PT và anti FHA cao trong dịch não tủy cũng đã được ghi
nhận trên một trẻ bị bệnh ho gà có biểu hiện bệnh lý não.
V. LÂM SÀNG
Triệu chứng lâm sàng của bệnh ho gà đa dạng, thay đổi tùy theo tình trạng
miễn dịch trước đó của bệnh nhân với ho gà, tuỳ theo lứa tuổi và cơ địa của
bệnh nhân.
Ở trẻ nhũ nhi thường nặng nhưng trẻ vị thành niên và người lớn, đặc biệt đã có
chủng ngừa thì thường nhẹ, có khi khơng có triệu chứng lâm sàng.
Ho gà được chia theo lứa tuổi và tình trạng miễn dịch thành các thể lâm
sàng chủ yếu sau:
o Thể điển hình ở trẻ em chưa chủng ngừa
o Thể lâm sàng ở trẻ nhũ nhi chưa chủng ngừa
o Thể lâm sàng ở trẻ em đã chủng ngừa hoặc ở người lớn
A. Lâm sàng thể điển hình
1.
Thời kỳ ủ bệnh :
Thay đổi từ 1-3 tuần, trung bình 7-10 ngày. Bệnh nhân khơng có triệu chứng
lâm sàng.
2.
Thời kỳ khởi phát :
Còn gọi là thời kỳ xuất tiết hay viêm long đường hô hấp. Thời kỳ này kéo dài
từ 1 đến 2 tuần. Thời kỳ này vi khuẩn tập trung nhiều nhất trong đường hô hấp
nên có tỉ lệ phân lập cao nhất và cũng là giai đoạn lây lan dữ dội nhất của bệnh.
Biểu hiện lâm sàng chính trong giai đoạn này là triệu chứng viêm long đường
hô hấp và triệu chứng ho khan nhẹ hầu như không thể phân biệt trên lâm sàng
với triệu chứng của bệnh lý nhiễm siêu vi hô hấp trên. Thường chẩn đoán ho
gà chỉ được nghĩ khi ta ghi nhận bệnh nhân có tiếp xúc với nguồn bệnh ho gà
trước đó.
Bệnh nhân mệt mỏi, chán ăn, chảy mũi nước, hắt hơi, khàn giọng, nuốt đau, kết
mạc mắt đỏ, đôi khi sốt nhẹ. Khám họng: họng hơi đỏ, hạch hạnh nhân hơi to.
Cuối giai đoạn này, thường kéo dài khoảng vài ngày, bệnh nhân bắt đầu có
những ho khan nhẹ vài tiếng về đêm. Sau đó chuyển thành ho cơn nặng dần,
nhiều dần, xuất hiện cả ban ngày và bệnh bước qua giai đoạn toàn phát.
Đặc điểm của cơn ho trong bệnh ho gà là không giảm ho đối với những thuốc
giảm ho thông thường.
Ở giai đoạn này, tổng trạng bệnh nhân còn tốt.
235
Giáo trình Bệnh nhiễm
3.
Thời kỳ tồn phát :
Cịn gọi là thời kỳ ho cơn hay giai đoạn co thắt kéo dài 2-4 tuần.. Triệu chứng
điển hình của thời kỳ này là cơn ho đặc biệt. Chính cơn ho đặc biệt này gây ra
nhiều biến chứng.
Hình 4. Trẻ bị ho gà
Cơn ho xuất hiện bất chợt vô cớ lúc trẻ đang chơi, đang bú hoặc khi có các yếu
tố bên ngồi tác động như tiếng ồn, khơng khí lạnh, bị xúc động (quấy khóc,
sợ hãi…) đơi xảy ra sau khi khám họng. Cơn ho diễn tiến qua 3 giai đoạn : Ho,
thở rít vào và khạc đàm.
Ho bắt đầu bằng một tràng dài rũ rượi với 15-20 tiếng liên tục ho khơng thể
kìm chế được, trẻ khơng thể dừng lại để thở được.Trong cơn ho, trẻ tím tái, mặt
đỏ, mắt đỏ, chảy nước mắt nước dãi, tĩnh mạch cổ nổi lên, lưỡi bị đẩy ra ngoài
cạ vào cung răng dưới nhiều lân gây loét hãm lưỡi. Tiếng ho càng về sau ho
càng yếu dần rồi trẻ ngưng ho và thở rít vào một cái thật sâu nghe “ót” như
tiếng gà rít, âm thanh nghe được là do luồng khí được hít vào mạnh vượt qua
chỗ hẹp tương đối ở thanh môn. Ngay tiếp theo sau đó lại là những cơn ho
khác nối tiếp nhau cho đến khi trẻ khạc ra được một chất nhớt màu trắng như
tròng trắng trứng, lúc này cơn ho mới ngừng hẳn. Đàm nhớt khạc ra có chứa
trực khuẩn ho gà, tế bào biểu mô phế quản và bạch cầu lympho. Thường mỗi
đợt ho như vậy kéo dài khoảng 30 phút, tần số cơn ho rất thay đổi có thể 5-10
cơn đến 30 cơn ho mỗi ngày trong giai đoạn đỉnh điểm của bệnh, cơn xảy ra
chủ yếu về ban đêm. Trong thời kỳ này cơn ho thường nặng dần, đạt tới đỉnh
điểm sau khoảng 7-10 ngày, duy trì cho tới cuối giai đoạn tồn phát sau đó thì
giảm dần mức độ nặng và bắt đầu chuyển qua giai đoạn hồi phục.
Sau mỗi cơn ho trẻ bơ phờ mệt nhọc, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh và đặc
biệt thường ói sau ho. Triệu chứng ói sau ho gặp ở tất cả các lứa tuổi kể cả ở
người lớn và đây được coi là triệu chứng gợi ý đặc biệt quan trọng hướng chẩn
đoán bệnh ho gà ở các đối tượng khơng có cơn ho điển hình.
236
Giáo trình Bệnh nhiễm
Giữa các cơn trẻ hầu như khỏe mạnh, tuy nhiên tổng trạng suy sụp dần nếu
bệnh kéo dài.
Thăm khám có thể thấy mi mắt phù nề, kết mạc mắt sung huyết, cũng có thể có
xuất huyết, đơi khi có tử ban điểm ở mặt, loét hãm lưỡi. Phổi có thể có ran
ngáy hoặc ran rít.
Bệnh nhân hầu như khơng sốt hoặc có sốt nhẹ. Sốt cao là dấu hiệu của bội
nhiễm phổi.
Bảng 2. Các yếu tố gợi ý tình trạng nặng của cơn ho kịch phát trong bệnh ho gà
Thông số
Thời gian một cơn ho
Vẻ mặt trong cơn ho
Thông thường
< 45 giây
> 60 giây
Lo lắng, hoảng hốt, khơng dỗ
được, mắt bụp, chảy nước mắt
Đặc tính cơn ho
Ho lớn tiếng, mạnh, liên tục
Mặt
Đỏ
Nhịp tim nhanh
Trở về bình thường 30 giây sau
cơn ho
sau cơn ho mà khơng cần kích
thích
Độ bão hịa oxy
Về bình thường 30 giây sau cơn
ho
(Tiếp) Thơng số
Khạc ra đàm nhầy cuối cơn
ho
Tự bù trừ nhịp thở sau mỗi
cơn ho
Thơng thường
Tự khạc ra
Mạnh
Tình trạng sau cơn ho
Mệt lả
4.
Ngạt thở nhiều hơn là ho
Tồn tại kéo dài
Kéo dài, địi hỏi phải kích
thích
Kéo dài
Nặng
Phải hút
Bù trừ nhanh chóng, hít thở sâu
Tiếng rít hít vào
Lịm, ủ rũ, mất sắc
Tái xanh
Nhanh chóng trở về bình thường
Nhịp tim chậm
Nặng
Ngưng thở, thở yếu
Khơng nghe
Khơng đáp ứng với kích
thích
Thời kỳ lui bệnh:
Khi các cơn ho giảm về tần số và mức độ nặng (ho ngắn hơn và nhẹ hơn) là
dấu hiệu báo hiệu bắt đầu chuyển qua thời kỳ hồi phục. Ở giai thời kỳ các
triệu chứng lâm sàng giảm dần: cơn ho thưa dần, thời gian ho ngắn dần rồi
không thành cơn, giảm mức độ nặng, trẻ giảm ói, ăn uống khá hơn. Tổng trạng
tồn thân tốt dần lên và sau đó hết ho hẳn , trẻ vui chơi bình thừơng. Thời kỳ
này kéo dài từ 1- 3 tháng.
Tuy nhiên trong khoảng 6 tháng đến 1 năm kể từ giai đoạn hồi phục, một số
trường hợp trẻ thỉnh thoảng xuất hiện những cơn ho kịch phát kiểu ho gà (
237
Giáo trình Bệnh nhiễm
thường khơng ói sau ho) khi tiếp xúc với các yếu tố gây kích thích hơ hấp (bị
cảm lạnh, bụi,..), gắng sức, xúc động….Trên các đối tượng này khơng hề phát
hiện cósự hiện diện của vi khuẩn ho gà hay bằng chứng của tái nhiễm vi trùng
ho gà . Cơ chế gây ho được nghĩ là do tăng phản xạ nhạy cảm tạm thời của cây
phế quản sau ho gà.
B. Lâm sàng một số thể không điển hình
1.
Thể lâm sàng ở trẻ nhũ nhi chưa chích ngừa
Ho gà ở lứa tuổi này là nặng nề nhất, nguy cơ tử vong cao. Trẻ càng nhỏ tháng
thì bệnh ho gà càng có nguy cơ nặng nề hơn.
Bệnh cảnh lâm sàng ở nhóm này cũng có một số đặc điểm khác biệt so với
bệnh cảnh điển hình:
Thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ khởi phát (viêm long) ngắn hơn so với ở trẻ lớn hơn
hoặc người lớn.
Trẻ cũng có những cơn ho kéo dài, tuy nhiên trẻ rất hay bị tím tái (60% ca ho
gà ở trẻ nhũ nhi) và trong cơn ho ta không nghe được âm thanh điển hình như
tiếng gà rít.
Trẻ dưới 3 tháng tuổi rất kém dung nạp với cơn ho gà, ở lứa tuổi này thường
khơng có cơn ho điển hình mà nổi bật là những cơn ngưng thở, tím tái, chậm
nhịp tim và ngất xảy ra nhiều lần đôi khi gây mất ý thức kéo dài xảy ra ngay
trong cơn ho gắng sức hoặc ngoài cơn ho. Đặc biệt riêng ở trẻ dưới 3 tháng
tuổi, ho gà có thể tiến triển rất nặng nề mà các tác giả Pháp gọi là ho gà ác
tính với biểu hiện nguy kịch hô hấp, rối loạn về huyết động, tổn thương thần
kinh, suy đa cơ quan và tỉ lệ tử vong rất cao khoảng 75% dù đã được điều trị
tích cực. Cơ chế bệnh sinh thể này vẫn chưa rõ ràng nhưng ln có tình trạng
tăng áp lực động mạch phổi.
Ho gà cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây tử vong đột ngột ở trẻ
nhũ nhi.
2.
Thể lâm sàng ở trẻ em lớn chưa chích ngừa nhắc lại và ở người lớn
Miễn dịch có được do mắc phải hay ho chủng ngừa sẽ mất dần đi khả năng bảo
vệ theo thời gian. Ở nhóm lứa tuổi này có thể có người đã từng tiếp xúc từ lâu
hoặc gần đây với nguồn bệnh ho gà trong cộng đồng (chủng ngừa “tự nhiên”),
có đối tượng chưa hề tiếp xúc… Nên tình trạng miễn dịch với bệnh ho gà rất
thay đổi tùy từng cá thể một. Điều này giải thích tại sao bệnh cảnh lâm sàng ho
gà ở đối tượng này rất đa dạng từ thể điển hình như đã mô tả đến thể lâm sàng
thô sơ hầu như không thấy ho chỉ hắt hơi nhiều.
Thường ho gà ở nhóm này nhẹ nhàng hơn, biểu hiện lâm sàng khơng điển hình
với 3 thời kỳ như mơ tả ở trên.
Triệu chứng viêm long chỉ khoảng 50% các trường hợp. Cơn ho ngắn và thưa
hơn, ho có thể kịch phát, nặng nề về đêm nhưng tiếng thở rít vào lại ít có. Bệnh
nhân ít khạc đàm nhớt hơn, tuy nhiên triệu chứng ói sau ho là một triệu chứng
238
Giáo trình Bệnh nhiễm
khá thường gặp và là yếu tố quan trọng để gợi ý tới bệnh ho gà ở trẻ lớn và
người lớn.
Theo nhiều nghiên cứu gần đây tại các nước phát triển (Úc, Đan mạch, Pháp,
Đức, Canada, Mỹ) thì bệnh ho gà chiếm khoảng 12 – 32 % trường hợp ho kéo
dài trên một tuần ở người lớn và trẻ lớn.
Ho gà ở người lớn, nữ chiếm tỉ lệ nhiều hơn nam do nữ thường chăm sóc con
trẻ bị ho gà.
Ho gà ở nhóm đối tượng này có biểu hiện nổi bật là ho cơn và kéo dài có thể
từ nhiều tuần đến nhiều tháng nên dễ nhầm lẫn với các bệnh lý gây ho kéo dài
khác( viêm phế quản mạn, hút thuốc lá, hen phế quản..) và dễ bị bỏ qua chẩn
đoán. Trên lâm sàng để phân biệt với các bệnh lý này ta phải chú ý yếu tố dịch
tễ có chăm sóc người bệnh ho gà, tổng trạng bệnh nhân thường tốt, không sốt
hoặc sốt nhẹ, cơn ho kéo dài, xảy ra kịch phát vào ban đêm gây mất ngủ,
khơng có ngun nhân rõ ràng gợi ý bệnh lý khác và đặc biệt triệu chứng ói sau
ho.
VI. BIẾN CHỨNG
Rất khó xác định cụ thể về tỉ lệ xảy ra các biến chứng trong bệnh ho gà vì
thường đa số các tác giả chỉ tập trung báo cáo các biến chứng nặng và trầm
trọng trong khi đó lại ít nói tới các biến chứng khác.
Ho gà thể ác tính ở trẻ nhũ nhi:
Trẻ càng nhỏ tỉ lệ biến chứng và mức độ trầm trọng của bệnh càng cao. Lứa
tuổi dưới 6 tháng là lứa tuổi có tỉ lệ bị biến chứng và tử vong cao cao nhất.
Biến chứng nhiễm trùng:
Biến chứng nhiễm trùng liên quan chủ yếu đường hô hấp dưới do vi trùng ho
gà làm suy yếu cơ chế đề kháng tại chỗ, do bệnh nhân hít sâu và mạnh kéo theo
đàm nhớt vào phổi có thể gây tắc các phế quản nhỏ gây xẹp phổi, hoặc hít phải
chất nơn ói . Viêm phổi có thể nguyên phát do vi trùng ho gà hoặc thứ phát do
bội nhiễm vi trùng có vỏ bọc, có ái tính với biểu mô hô hấp như Streptoccoccus
pneumoniae, Haemophilus influenzae, và Staphyloccoccus aureus. Viêm phổi
nguyên phát do vi trùng ho gà thường xảy ra ở trẻ dưới 1 tuổi, trong khi đó ở
người lớn thì viêm phổi thứ phát do bội nhiễm vi khuẩn lại thường gặp hơn.
Dấu hiệu lâm sàng gợi ý tình trạng bội nhiễm phổi bao gồm: Diễn tiến lâm
sàng trở nặng hơn, thay đổi tổng trạng, trẻ sốt cao, nhịp thở tăng, nghe phổi
phát hiện có nhiều ran ẩm ran nổ hơn, chụp Xquang phổi thấy có những sang
thương mới với hình ảnh nốt hoặc đám mờ rải rác và cơng thức máu cho thấy
tình trạng tăng bạch cầu với bạch cầu đa nhân chiếm ưu thế.
Tỉ lệ viêm phổi khoảng 25% ở lứa tuổi dưới 2 tháng, 12-17% dưới 6 tháng,
9,4% dưới 2 tuổi và khoảng 3% ở lứa tuổi trên 20 tuổi.
Biến chứng viêm tai giữa cấp cũng hay xảy ra và phải được nghĩ tới khi trẻ sốt
cao đột ngột.
239
Giáo trình Bệnh nhiễm
Ngồi ra do tình trạng suy giảm miễn dịch tạm thời, trẻ mắc bệnh ho gà dễ
mắc một số bệnh lý khác như sởi, nhiễm siêu vi hô hấp trong hoặc ngay sau
khi mắc bệnh ho gà.
Biến chứng cơ học do cơn ho:
Biến chứng cơ học gây ra bởi những cơn ho gà gắng sức nên biến chứng
thường liên quan đến hệ thống hô hấp và tiêu hóa.
Tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất do vỡ phế nang.
Khí phế thủng, xẹp phổi do tắc nghẽn cơ học các tiểu phế quản.
Gãy xương sườn.
Loét hoặc đứt hãm lưỡi
Ĩi máu trong hội chứng Mallory-Weiss do ói nhiều gây trầy xước niêm mạc
tiêu hóa.
Sa trực tràng, lồng ruột, thốt vị bẹn, thoát vị rốn.
Xuất huyết võng mạc, xuất huyết kết mạc mắt, tử ban điểm ở mặt.
Biến chứng thần kinh:
Thường gặp nhất là những cơn co giật có thể xuất hiện trong các bệnh cảnh
sau:
Sốt cao co giật
Thiếu oxy não do những cơn ho liên tục và kéo dài.
Xuất huyết não màng não. Bệnh cảnh hiếm gặp, gặp ở bệnh nhân có cơn ho quá
mạnh và kéo dài, đặc biệt ở những người có dị dạng mạch máu não.
Viêm não cấp. Đây là bệnh cảnh hiếm gặp xảy ra vào tuần thứ 2-thứ 3 của bệnh
với biểu hiện co giật, rối loạn tri giác, thay đổi trên EEG.
Biến chứng co giật chiếm khoảng 3% và bệnh lý não cấp chiếm khoảng 1% ở
lứa tuổi dưới 2 tuổi, 2,1% và 0,5% ở lứa tuổi < 6 tháng, 2.6% và 0.4% ở lứa
tuổi dưới 2 tuổi, 0,5% và 0,1% ở lứa tuổi trên 20 tuổi.
Biến chứng rối loạn điện giải và dinh dưỡng:
Biến chứng này do tình trạng ói mửa nhiều trong cơn ho gà, sặc khi ăn uống
gây khó khăn cho việc ni dưỡng. Thức ăn một mặt góp phần cung cấp dinh
dưỡng nhưng bản thân cũng là một yếu tố kích thích cơn ho.
Ĩi mửa nhiều có thể gây rối loạn toan kiềm (kiềm hóa máu), rối loạn nước và
điện giải.
VII. CẬN LÂM SÀNG
1.
Công thức máu
Nổi bật là sự gia tăng tế bào lympho (số lượng lympho trên 10.000/ml máu) với
hình dạng và kích thước bình thường. Số lượng bạch cầu tăng cao 15.000 100.000 bạch cầu/ml máu trong đó lympho chiếm hơn 60%. Lympho bào tăng
cao nhất ở cuối giai đoạn khởi phát và khởi đầu giai đoạn ho cơn. Ở tuổi thanh
niên, người lớn và người có miễn dịch một phần với bệnh ho gà có sự gia tăng
240
Giáo trình Bệnh nhiễm
tế bào lympho ít hơn hoặc khơng tăng. Nếu có sự gia tăng số lượng tuyệt đối
bạch cầu đa nhân trung tính gợi ý một tình trạng bội nhiễm vi trùng.
Hiện tượng gia tăng bạch cầu lympho và gia tăng tiểu cầu có liên quan đến tử
vong ở trẻ em bị ho gà. Trong một nghiên cứu cho thấy ở những ca tử vong có
số lượng bạch cầu là 94,000 bạch cầu/ml, số lượng tiểu cầu là 782,000 tiểu
cầu/ml cao hơn rất nhiều so với các ca bệnh ho gà bình thường với số lượng
các tế bào tương ứng là 18,000/ml và 556,000/ml. Các tác giả lý giải có lẽ do
có hiện tượng kết tụ tế bào làm gia tăng áp lực phổi.
2.
X- quang phổi:
X quang phổi thường bình thường, đơi khi có thể thấy hiện tượng viêm phổi,
rốn phổi đậm, xẹp phổi, ứ khí hoặc mờ góc sườn hồnh.
X quang phổi cho phép ta phát hiện và loại trừ tràn khí màng phổi, tràn khí
trung thất đây là biến chứng hiếm gặp (dưới 1%) nhưng làm bệnh trầm trọng
thêm.
3.
Chẩn đoán vi sinh:
Kém đặc hiệu hơn, chủ yếu dùng để theo dõi và phát hiện biến chứng biến
chứng:
(a) Chẩn đoán trực tiếp:
B.pertussis tồn tại ở niêm mạc hơ hấp trong q trình bệnh. Bệnh phẩm là các
chất tiết từ đường hơ hấp có thể được lấy qua phết họng bằng tăm bông hoặc
bằng cách hút trực tiếp (cho kết quả tốt hơn) từ phế quản hoặc từ vùng hầu
họng. Ta có thể phát hiện vi khuẩn trực tiếp từ bệnh phẩm này bằng các
phuơng pháp:
Phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp:
B. pertussis có thể được phát hiện trực tiếp trong phết nhớt cổ họng bằng
phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp DFA (Directd Fluorescent
Antibody) được dùng từ hơn 40 năm qua để xác định B.Pertussis trong mẫu lấy
từ phết nhớt cổ họng trực tiếp, hoặc từ canh cấy.
Phương pháp cho kết quả nhanh, rẻ tiền và có thể vẫn cho kết quả duơng tính
trên bệnh nhân đã dùng kháng sinh trước đó trong khi ni cấy thường cho kết
quả âm tính.
Tuy nhiên phương pháp này ít được tin tưởng vì cần kỹ thuật viên có kinh
nghiệm, độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối thấp (khoảng 60%) có thể có phản
ứng chéo với các vi khuẩn chí vùng hầu họng.
Cấy phân lập tác nhân gây bệnh:
Lấy bệnh phẩm bằng tăm bông mềm và đàn hồi qua đường mũi, cấy vào môi
trường ngay tại giường bệnh. Trong cơn ho có thể hứng trực tiếp mơi trường
cấy gần kề miệng bệnh nhân. Môi trường lý tưởng nhất dùng để cấy B.
pertussis và B. parapertussis là môi trường Bordet –Gengou (thạch máu,
glycerin, khoai tây và các kháng sinh như Cephalexin, Penicillin, hoặc
241
Giáo trình Bệnh nhiễm
Methicillin) hoặc mơi trường Regan - Lowe. Môi trường Regan – Lowe chứa
Kanamycin là chất bổ sung có thể ức chế sự phát triển những vi khuẩn chí
trong phết họng. Vi khuẩn sẽ mọc ở nhiệt độ 360C trong vòng 5-7 ngày.
Tỉ lệ phân lập vi khuẩn khi sử dụng tăm bông phết nhớt cổ họng là 50-60% nếu
bệnh phẩm được lấy ở giai đoạn sớm của bệnh và sau đó độ nhạy cảm giảm
nhanh chóng nhất là bệnh nhân đã dùng kháng sinh trước đó và hầu như âm
tính ở giai đọan hồi phục. Ở người lớn và trẻ lớn thì tỉ lệ cấy dương tính chỉ
khỏang dưới 10%.
Kỹ thuật này có ưu điểm là rất đặc hiệu, hiện giờ vẫn được coi là tiêu chuẩn
vàng để khẳng định chẩn đoán ho gà (bệnh ho gà khơng có tình trạng mang
trùng mạn tính). Phương pháp ni cấy cho phép xác định loại vi khuẩn, mức
độ và tính kháng thuốc, xác định phenotype, genotype của vi khuẩn mà các
phương pháp khác khơng có được.
Kỹ thuật PCR:
Kỹ thuật PCR có thể phát hiện nhanh DNA của 3 chủng
B.Pertussis,B.parapertussis và B.bronchoseptica. Kỹ thuật được sử dụng trong
điều tra cũng như trong chẩn đốn lâm sàng.
Kỹ thuật PCR có độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh sau 2 ngày, nhạy cảm hơn
phương pháp nuôi cấy đặc biệt là khi bệnh kéo dài trên 3 tuần hoặc bệnh nhân
đã sử dụng kháng sinh trước đó. Độ nhạy cảm thay đổi 60-96% tùy thuộc vào
nhiều yếu tố: Độ nhạy cảm cao nhất ở giai đọan viêm long và giảm dần sau đó
và chỉ cịn 60% sau 3 tuần và trở nên âm tính sau 6 tuần kể từ khi có triệu
chứng đầu tiên. Gần 90% kết quả PCR dương tính vần không thay đổi trong 4
ngày sử dụng kháng sinh, tuy nhiên sau đó thì độ nhạy cảm giảm xuống rất
nhanh và chỉ còn 50% sau một tuần sử dụng kháng sinh. Tỉ lệ dương tính PCR
ở trẻ lớn đã chủng ngừa và người lớn bị ho gà rất thấp khoảng dưới 10%.
(b) Chẩn đoán huyết thanh học:
Phương pháp ELISA hay còn gọi là phương pháp EIA phát hiện và đo lường
được nồng độ kháng thể Ig G, Ig M và Ig A. Đây là phương pháp nhạy cảm,
tương đối rẻ, chỉ cần một lượng nhỏ bệnh phẩm. Độ chuyên biệt khoảng 75%
tuy nhiên độ chính xác của phương pháp này phụ thuộc vào mức độ thuần khiết
của kháng nguyên sử dụng.
Phản ứng kết hợp bổ thể tìm kháng thể (chủ yếu IgG, IgA ) kháng B. pertussis
và B. parapertussis. Phương pháp này chỉ có giá trị chẩn đốn nếu hiệu giá
kháng thể lần 2 cách 4 tuần sau cao hơn 4 lần so với lần thứ nhất.
Tuy nhiên, các phương pháp này ít có giá trị chẩn đốn bệnh trong giai đoạn
cấp vì các kháng thể xuất hiện muộn. Các phương pháp này kém tin cậy ở
bệnh nhi nhỏ hơn 6 tháng và ở trẻ mới chích ngừa gần đây (dưới 2 năm) vì gây
lầm lẫn với kháng thể do mắc bệnh với từ mẹ sang hoặc do chích ngừa mà có.
242
Giáo trình Bệnh nhiễm
Chẩn đốn huyết thanh thường chỉ được thực hiện khi các phương pháp khác
không thực hiện được hoặc cho kết quả âm tính.
VIII. CHẨN ĐỐN:
A. Chẩn đốn lâm sàng:
Chẩn đốn lâm sàng thường gặp khó khăn hơn thời kỳ chưa sử dụng vaccin đại
trà, do hiện tại bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, khơng điển hình. Tuy nhiên
chẩn đoán lâm sàng phải được đặt ra sớm nhất có thể để tiến hành điều trị và
phịng ngừa thật sớm bệnh ho gà.
Chẩn đoán lâm sàng ho gà dựa chủ yếu vào diễn tiến của bệnh, đặc tính cơn ho
và tiền căn tiếp xúc ho gà.
1.
Dịch tễ học:
Tại địa phương có nhiều người ho kéo dài trên 1 tuần.
Tiếp xúc với ca nghi ngờ ho gà trong vòng 7- 15 ngày gần đây.
Trẻ em dưới 5 tuổi.
2.
Lâm sàng:
Bệnh diễn tiến qua 3 giai đọan: viêm long, ho cơn và hồi phục.
Ho gồm 3 giai đọan (ho, thở rít khi hít vào và khạc đàm) và kéo dài trên 1 tuần.
Một số điểm lưu ý là tiếng thở rít vào như tiếng gà rít có thể khơng có ở trẻ
nhũ nhi, ở người lớn. Ho thường từng cơn, kéo dài, kịch phát kèm ói sau ho mà
khơng có ngun nhân gợi ý rõ ràng khác. Bệnh không sốt, không có dấu hiệu
hơ hấp khác, tổng trạng bình thường giữa các cơn.
3.
Xét nghiệm:
Xét nghiệm càng ngày càng quan trọng trong chẩn đóan ho gà, nhất là ở vùng
có tỉ lệ phủ vaccin cao vì thể lâm sàng khơng điển hình thường chiếm ưu thế.
Tuy nhiên vì bệnh nhân thường đến trễ và do bệnh ho gà chỉ được nghĩ tới khi
triệu chứng ho đã rõ ràng nên kết quả phân lập vi trùng cũng khơng cao.
Chẩn đốn gợi ý: Tình trạng tăng lympho bào với hình dạng và kích thước bình
thường. Có thể có gia tăng tiểu cầu.
Chẩn đốn vi sinh: Phương pháp trực tiếp (DFA, PCR và nuôi cấy) hoặc chẩn
đoán huyết thanh học.
Ở đối tượng là trẻ sơ sinh hoặc nhũ nhi: Xét nghiệm được chọn là các phương
pháp trực tiếp DFA, PCR, ni cấy. Chẩn đốn huyết thanh khơng hiệu quả ở
nhóm tuổi này.
Nếu khơng thể thực hiện được PCR và ni cấy thì đo nồng độ kháng thể antiPT của trẻ trong giai đoạn cấp với nồng độ kháng thể của mẹ trong giai đoạn
cấp và với nồng độ kháng thể của mẹ trong lúc mang thai. Nếu có sự chuyển
đổi hyết thanh sớm của mẹ thì khẳng định chẩn đốn ho gà ở trẻ.
243
Giáo trình Bệnh nhiễm
Bảng 3. Tiêu chuẩn chẩn đốn ho gà theo Tổ chức y tế thế giới năm 2000
Tiêu chuẩn lâm sàng:
Ho kéo dài trên 2 tuần kèm theo ít nhất một trong các triệu chứng sau:
Ho kịch phát.
Thở rít khi hít vào
Ĩi ngay sau ho mà khơng có nguyên nhân rõ ràng nào khác.
Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
Phân lập được vi khuẩn B.pertussis hoặc
PCR dương tính hoặc
Huyết thanh chẩn đốn dương tính với hiệu giá kháng thể lần 2 tăng ít nhất 4
lần so với lần 1.
4.
Phân loại chẩn đốn
Bảng 4. Tóm tắt lâm sàng và diễn tiến sinh học của ho gà
Triệu chứng
Ho
Cơn ho kịch phát
Cơn ho gà điển hình
Ĩi mửa
Tím tái
Ngưng thở
Cận lâm sàng
Cấy
PCR
Huyết thanh chẩn đoán
Hiệu qủa điều trị kháng sinh
Triệu chứng thuyên giảm
Giai đoạn
khởi phát
tuần 1 -2
++
+/-
Giai đoạn
toàn phát
tuần 3-6
+++
+++
+++
+++
+++
+++
Giai đoạn
hồi phục
tuần 6 trở đi
++
+/+/+/-
++
++
+/-
+/++
++
++
+
+/-
-
Bảng 5. Các yếu tố hướng dẫn chẩn đoán lâm sàng ho gà
Yếu tố gợi ý chẩn đoán ho gà
Tiếp xúc đối tượng ho kéo dài
Chủng ngừa ho gà không đầy đủ
Ho là triệu chứng duy nhất hoặc chiếm
ưu thể
Ho kịch phát
Bình thường giữa các cơn ho
Thở rít khi hít vào
Ĩi sau ho
Cơn ngạt thở đột ngột, thở ngáp hít vào
đột ngột
Tử ban điểm xuất hiện từ xương đòn trở
lên
Tế bào lympho tăng cao với hình dạng
bình thường
Yếu tố ít nghĩ tới ho gà
Sốt
Tiêu chảy
Nội ban
Nhịp tim nhanh liên tục
Khò khè
Ran phổi
Nổi hạch
Tăng bạch cầu đa nhân trung tính
Giảm bạch cầu đa nhân trung tính
Tế bào lympho tăng với tế bào lympho
khơng điển hình tăng cao.
Long SS, Edwards KM. Bordetella pertussis and other species. In: Long S, Pickering L and Prober C:
Principles and Practice of Pediatric Infectious Diseases. 2nd ed. Philadelphia. Churchill Livingstone;
2003. Page 880-888.
244
Giáo trình Bệnh nhiễm
Chẩn đốn lâm sàng ho gà khi bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn lâm sàng nhưng
không đáp ứng tiêu chuẩn cận lâm sàn. Chẩn đoán lâm sàng dựa vào tiêu chuẩn
trên có độ nhạy khoảng 81% và độ đặc hiệu khoảng 58%
Chẩn đoán khẳng định ho gà khi bệnh nhân đáp ứng đủ cả hai tiêu chuẩn lâm
sàng và cận lâm sàng.
B.
Chẩn đóan phân biệt:
a. Nhiễm Adenovirus:
Là nguyên nhân thường phải được phân biệt với ho gà.
Bệnh nhân thường bị sốt, đau họng, viêm kết mạc mắt, đau nhức
mình mẩy; đơi khi kèm tiêu chảy, nơn ói. Bạch cầu máu không tăng
quá cao và bệnh thường tự khỏi sau 1- 2 tuần.
Tuy nhiên trong một nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân nhiễm
Adenovirus có triệu chứng ho kéo dài trung bình khoảng 18 ngày,
50% có cơn ho kịch phát kéo dài trên 21 ngày, 53% có triệu chứng ói
sau ho và có tới 20% có thở rít sau ho.
b. Viêm phổi do Chlamydia pneumoniae: Chlamydia pneumoniae là
vi khuẩn nội bào bắt buộc gây bệnh cảnh viêm phổi khơng điển hình
thường gặp nhất ở lứa tuổi trên 60 tuổi với biểu hiện bệnh nhân có
sốt, ho nhưng khơng thành cơn kịch phát như ho gà.
c. Viêm phổi do M. pneumoniae.
M. pneumoniae có thể gây bệnh lý phế quản ở trẻ lớn và người lớn
kéo dài rất khó phân biệt với bệnh ho gà trong nhóm tuổi này.
Bệnh cảnh ho, nhức đầu và biểu hiện triệu chứng toàn thân cũng như
phổi có ran gợi ý nhiễm M. pneumoniae nhiều hơn.
d. Viêm họng mạn tính.
Bệnh nhân thường khơng sốt, loạn cảm họng, ho kéo dài, có cảm giác
ngứa ở vùng họng trước khi ho chứ khơng có cơn ho kịch phát như ho
gà. Khám họng có thể phát hiện viêm họng hạt.
e. Nhiễm RSV (Respiratory syncytial Virus) : với bệnh cảnh viêm tiểu
phế quản gây ho nhiều tuy nhiên trẻ khó thở liên tục ngay cả khi
khơng ho, khị khè nhiều.
IX. ĐIỀU TRỊ
1. Mục đích điều trị:
Rút ngắn thời gian bệnh.
Giảm tần số và mức độ cơn ho.
Hạn chế tối đa biến chứng và tử vong do ho gà
Bảo đảm dinh dưỡng tốt nhất cho bệnh nhân
245
Giáo trình Bệnh nhiễm
2. Điều trị cụ thể:
2.1 Kháng sinh:
Mục đích sử dụng kháng sinh trong bệnh ho gà là để rút ngắn thời gian bệnh,
chấm dứt sớm sự lây lan từ góp phần làm giảm biến chứng, tử vong và nguy
cơ lây lan bệnh.
Kháng sinh được chỉ định ngay khi có chẩn đốn nghi ngờ ho gà trên lâm sàng.
Kháng sinh sử dụng sớm (trong giai đoạn viêm long) có thể cải thiện được
phần nào diễn tiến bệnh. Kể từ giai đoạn ho cơn thì kháng sinh khơng cịn hiệu
quả rõ rệt lên diễn tiến bệnh, việc kháng sinh được ở thời điểm này nhằm mục
đích chấm dứt lây lan đúng hơn là điều trị bệnh.
Erythromycin, Clarithromycin hoặc Azithromycin là những kháng sinh ưu tiên
hàng đầu trong điều trị và điều trị phòng ngừa ho gà ở đối tượng trên 6 tháng
tuổi.
Sử dụng Erythromycin bằng đường uống ở trẻ dưới 6 tháng tuổi sẽ làm tăng
nguy cơ bị hẹp mơn vị phì đại (IHPS: Infantile Hypertrophic Pyloric Stenosis)
lên 7-10 lần so với trẻ không uống Erythromycin, nguy cơ này cao nhất ở nhóm
trẻ dưới 2 tuần tuổi. Nguy cơ xuất hiện IHPS sau khi sử dụng chế phẩm khác
thuộc nhóm Macrolide có hay khơng vẫn chưa được biết rõ. Bác sĩ kê toa phải
luôn cảnh báo cho cha mẹ bé về nguy cơ có thể xuất hiện IHPS dù dùng bất kỳ
chế phẩm nào thuộc nhóm Macrolide
Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi việc lựa chọn kháng sinh phải đặc biệt lưu ý. Do
nguy cơ xuất hiện IHPS sau dùng Erythromycin, Hiệp hội nhi khoa Mỹ coi
Azithromycin là kháng sinh được lựa chọn đầu tiên trong điều trị ho gà ở
nhóm trẻ dưới 6 tháng này..
2.2 Điều trị triệu chứng nhằm làm giảm cơn ho
Hiện nay chưa có bất kỳ một phương pháp điều trị nào (thuốc giảm ho,
corticoide, kháng histamin..) có khả năng làm dịu cơn ho trong giai đoạn tiến
triển của bệnh ho gà
Có vài bằng chứng (cần phải làm nghiên cứu thêm) cho thấy globulin miễn
dịch chống vi khuẩn ho gà có thể làm giảm mức độ ho, cải thiện độ bão hòa
oxy và cải thiện tình trạng chậm nhịp tim ở những ca bệnh nặng.
2.3 Chăm sóc điều dưỡng
Tránh những yếu tố kích thích gây cơn ho, đặt trẻ nằm nơi yên tĩnh, tránh gió
lùa.
Chống chỉ định vật lý trị liệu cho bệnh nhân.
Dinh dưỡng đầy đủ: đây là vấn đề khó khăn địi hỏi phải kiên trì cho trẻ ăn
nhiều bữa, đầy đủ năng lượng và vitamin, nếu cần có thể phải ni ăn qua
đường tĩnh mạch.
Bồi hoàn nước, điện giải đầy đủ, đặc biệt ở những trẻ bị ói nhiều.
246