.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
NGUYỄN VŨ THIÊN DUYÊN
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ LIPID MÁU VÀ
HIỆU QUẢ GIẢM CÂN SAU CAN THIỆP NHĨ CHÂM TRÊN
BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU
CĨ THỪA CÂN, BÉO PHÌ.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------
NGUYỄN VŨ THIÊN DUYÊN
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ LIPID MÁU VÀ
HIỆU QUẢ GIẢM CÂN SAU CAN THIỆP NHĨ CHÂM TRÊN
BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU
CĨ THỪA CÂN, BÉO PHÌ.
NGÀNH: Y HỌC CỔ TRUYỀN
MÃ SỐ: 8720113
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.BS NGUYỄN THỊ BAY
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Đánh giá sự thay đổi các chỉ số lipid
máu và hiệu quả giảm cân sau can thiệp nhĩ châm trên bệnh nhân đang điều
trị rối loạn lipid máu có thừa cân, béo phì” là cơng trình nghiên cứu của riêng
tơi.
Kết quả trong luận văn do tơi thu thập, tìm hiểu, phân tích và trình bày
một cách trung thực, khách quan.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 2021
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Vũ Thiên Duyên
.
.
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
i
Danh mục từ viết tắt
iv
Danh mục các bảng
iv
Danh mục các hình
vii
Danh mục biểu đồ
viii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
1.1 Béo phì theo quan điểm y học hiện đại .......................................................... 4
1.2 Rối loạn lipid máu theo quan điểm y học hiện đại ........................................ 9
1.3 Thừa cân, béo phì và rối loạn lipid máu theo y học cổ truyền .................... 14
1.4 Nhĩ châm trong điều trị béo phì và rối loạn lipid máu................................. 17
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 30
2.3 Phân tích và xử lí số liệu .............................................................................. 33
2.4 Định nghĩa biến số và biến cố bất lợi........................................................... 34
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu ............................................................................ 36
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 38
3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu ...................................................................................... 38
3.2 Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ................................................................ 38
.
i.
3.3 Các đặc điểm chung ban đầu của mẫu nghiên cứu ...................................... 39
3.4 Kết quả nghiên cứu ...................................................................................... 44
3.5 Các biến cố bất lợi........................................................................................ 56
Chƣơng 4: BÀN LUẬN ...................................................................................... 58
4.1 Các đặc điểm ban đầu của nghiên cứu ......................................................... 58
4.2 Cân nặng....................................................................................................... 58
4.3 BMI .............................................................................................................. 63
4.4 Số đo vòng eo ............................................................................................... 64
4.5 Các chỉ số cholesterol................................................................................... 67
4.6 Biến cố bất lợi .............................................................................................. 70
4.7 Những khó khăn và hạn chế của nghiên cứu ............................................... 71
4.8 Tính mới và tính ứng dụng........................................................................... 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
.
.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
Tiếng Việt
CHCB
Chuyển hóa cơ bản
RLLPM
Rối loạn lipid máu
YHCT
Y học cổ truyền
YHHĐ
Y học hiện đại
Tiếng Anh
BMI
Body Mass Index
DXA
Dual X-ray Absorptiometry
HDL-C
High Density Lipoprotein Cholesterol
IDF
International Diabetes Federation
IDL-C
Intermediate Density Lipoprotein Cholesterol
LDL-C
Low Density Lipoprotein Cholesterol
NCEP-ATP
National Cholesterol Education Program –
Adult Treatment Panel
RCT
Randomise Control Trial
TG
Triglyceride
VLDL-C
Very Low Density Lipoprotein Cholesterol
WC
Waist Circumference
WHO
World Health Organization
WHR
Waist Hip Ratio
WPRO
Western Pacific Regional Office
.
.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành
Châu Á – Thái Bình Dương dựa theo thang phân loại của WHO (IDI và
WPRO) ..................................................................................................... 5
Bảng 1.2: Bảng đánh giá các thông số lipid máu theo NCEP- ATP III ........ 11
Bảng 1.3: Mục tiêu điều trị dựa trên LDL- cholesterol ................................. 12
Bảng 2.1: Bảng định nghĩa các biến số nền ........................................................ 34
Bảng 3.1: Trung bình các chỉ số lipid máu thu thập từ hồ sơ ngoại trú .............. 38
Bảng 3.2: Thời điểm dừng nghiên cứu phân theo nguyên nhân .................... 39
Bảng 3.3: Đặc điểm phân bố giới tính ở hai nhóm ........................................ 39
Bảng 3.4: Đặc điểm phân bố nhóm tuổi và tuổi trung bình của hai nhóm .... 40
Bảng 3.5: Đặc điểm nghề nghiệp ở cả hai nhóm ........................................... 41
Bảng 3.6: Đặc điểm trình độ học vấn ở hai nhóm ......................................... 41
Bảng 3.7: Đặc điểm về thói quen tập thể dục ở hai nhóm ............................. 42
Bảng 3.8: Đặc điểm trung bình mạch và huyết áp ở hai nhóm..................... 42
Bảng 3.9: Đặc điểm trung bình chiều cao, cân nặng, BMI, số đo vịng và tỷ lệ
phân bố BMI eo ban đầu ở hai nhóm. .................................................... 43
Bảng 3.10: Trung bình các giá trị lipid máu ở hai nhóm ban đầu ................. 44
Bảng 3.11: Trung bình cân nặng sau mỗi 2 tuần ở nhóm chứng ................... 44
Bảng 3.12: Trung bình cân nặng sau mỗi 2 tuần ở nhóm can thiệp .............. 45
Bảng 3.13: Mức thay đổi cân nặng giữa hai nhóm ........................................ 45
Bảng 3.14: Trung bình BMI sau mỗi 2 tuần ở nhóm chứng .......................... 46
Bảng 3.15: Trung bình BMI sau mỗi 2 tuần ở nhóm can thiệp ..................... 47
Bảng 3.16: Mức thay đổi BMI giữa hai nhóm ............................................... 48
Bảng 3.17: Tỷ lệ phân bố BMI ở cả hai nhóm sau 8 tuần ............................. 48
Bảng 3.18: Trung bình số đo vịng eo sau mỗi 2 tuần ở nhóm chứng ........... 50
Bảng 3.19: Trung bình số đo vịng eo sau mỗi 2 tuần ở nhóm can thiệp ...... 50
.
i.
Bảng 3.20: Mức thay đổi vịng eo ở hai nhóm............................................... 51
Bảng 3.21: Số lượng và tỷ lệ đối tượng giảm vịng eo ở hai nhóm ............... 52
Bảng 3.22: Trung bình các chỉ số lipid máu trước và sau 8 tuần can thiệp ở
nhóm chứng ............................................................................................ 52
Bảng 3.23: Trung bình các chỉ số lipid máu trước và sau 8 tuần ở nhóm can
thiệp nhĩ châm ........................................................................................ 53
Bảng 3.24: Mức thay đổi các chỉ số lipid máu giữa hai nhóm ...................... 53
Bảng 3.25: Số lượng và tỷ lệ đối tượng giảm LDL-cholesterol máu ............ 54
Bảng 3.26: Các triệu chứng được phản hồi trong thời gian nghiên cứu ở nhóm
can thiệp và nhóm chứng ......................................................................... 56
Bảng 3.27: Tỷ lệ xuất hiện các biến cố bất lợi ở hai nhóm ........................... 57
.
.
i
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ phơi thai đảo ngược mô tả thuyết con người thu nhỏ theo
Nogier ................................................................................................... 18
Hình 1.2: Vị trí các huyệt thường dùng trong nhĩ châm giảm cân ................ 21
.
ii.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Sự thay đổi cân nặng ở nhóm chứng và nhóm can thiệp trong 8
tuần nghiên cứu ...................................................................................... 46
Biểu đồ 3.2: Sự thay đổi BMI ở nhóm chứng và nhóm can thiệp trong 8 tuần
nghiên cứu .............................................................................................. 47
Biểu đồ 3.3: Sự thay đổi phân bố BMI ở nhóm chứng và nhóm can thiệp
trước và sau 8 tuần nghiên cứu .............................................................. 49
Biểu đồ 3.4: Sự thay đổi số đo vịng eo ở nhóm chứng và nhóm can thiệp
trong 8 tuần ............................................................................................ 51
Biểu đồ 3.5: Nồng độ các lipid trong máu ở hai nhóm trước nghiên cứu ..... 55
Biểu đồ 3.6 : Nồng độ các lipid trong máu ở hai nhóm sau nghiên cứu........ 55
.
.
MỞ ĐẦU
Thừa cân, béo phì là bệnh mãn tính khơng lây có mức độ phổ biến phủ
khắp tồn cầu. Tổ chức Y tế thế giới thống kê năm 2016 có 1,9 tỷ người thừa
cân béo phì trên tồn thế giới, tỷ lệ trẻ em béo phì đã tăng hơn bốn lần kể từ
năm 1975 và chưa có dấu hiệu giảm [80]. Thống kê năm 2015 tại Việt Nam,
tỷ lệ người trưởng thành thừa cân, béo phì chiếm khoảng 25% dân số cả nước,
tỷ lệ trẻ em bị béo phì thừa cân cũng đang ở con số đáng báo động [4],[10].
Cùng với thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu được xem là những yếu tố
thuận lợi gây ra hoặc làm tăng nặng thêm các bệnh lý về tim mạch, đột quỵ,
các bệnh cơ xương khớp, đái tháo đường, ung thư và một số các rối loạn
chuyển hóa khác [30]. Theo kết quả một nghiên cứu trên 5000 người trong 14
năm, cứ tăng mỗi 1 kg/m2 BMI sẽ làm tăng 5% nguy cơ tim mạch ở nam và
7% ở nữ [48]. Trọng lượng cơ thể tăng 10 kg làm tăng 12% nguy cơ mắc
bệnh mạch vành [39]. Việc giảm LDL- cholesterol là nền tảng trong điều trị
rối loạn lipid máu và ngăn ngừa các biến cố tim mạch [9]. Giảm 38,7 mg/dl
LDL-C sẽ làm giảm 21% tỷ lệ tử vong hằng năm do nguyên nhân mạch vành
[24],[75]. Hiện nay có nhiều phương pháp nhằm mục tiêu kiểm soát cân nặng
và ổn định lipid máu như thực hiện chế độ ăn uống khoa học, tăng cường rèn
luyện hoạt động cơ thể, dùng thuốc hay phẫu thuật. Tuy nhiên các phương
pháp trên vẫn tồn tại nhiều hạn chế và tác dụng không mong muốn [42],[65].
Y học cổ truyền có nhiều đóng góp vào phương pháp điều trị giảm cân
không dùng thuốc và ngày càng được sự quan tâm của cộng đồng cũng như
các nhà nghiên cứu bởi tính hiệu quả và an tồn đối với người bệnh [73].
Trong đó, nhĩ châm là phương pháp đã được nghiên cứu nhiều về cơ chế và
tính hiệu quả trong điều trị béo phì cũng như làm thay đổi các chỉ số lipid
máu [20],[52]. Hiệu quả giảm cân và khả năng kiểm soát các chỉ số lipid máu
của một người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, bệnh kèm
.
.
theo và sự tuân thủ trong điều trị dùng thuốc [32],[56]. Hầu hết các nghiên
cứu trước thực hiện trên các đối tượng thừa cân béo phì đơn thuần và khơng
ghi nhận có bệnh rối loạn chuyển hóa kèm theo; mặc khác công thức huyệt
nhĩ châm sử dụng trong các nghiên cứu cũng khơng có sự thống nhất
[20],[83]. Nghiên cứu của tác giả Liêu Khiết Tiểu Hoa (2019) đã cho thấy kết
quả nhĩ châm cơng thức 3 huyệt Đói, Dạ dày, Nội tiết làm giảm cân nặng, số
đo vòng eo và BMI khơng thua kém với cơng thức 5 huyệt (Đói, Dạ dày, Nội
tiết, Thần Môn, Tỳ). Điều này giúp lựa chọn cơng thức ít huyệt, giảm gây khó
chịu cho bệnh nhân tuy nhiên lại chưa khảo sát được ảnh hưởng của nhĩ châm
trên các chỉ số lipid máu [8].
Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi “Liệu rằng
cơng thức nhĩ châm 3 huyệt (Đói, Dạ dày, Nội tiết) trong 8 tuần kết hợp cùng
với liệu pháp statin có thể làm giảm tốt hơn các chỉ số lipid máu và cân nặng
trên các đối tượng đang điều trị rối loạn mỡ máu có thừa cân, béo phì?”
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Đánh giá sự thay đổi các chỉ số lipid máu và hiệu quả giảm cân nặng, số đo
vòng eo, BMI sau can thiệp nhĩ châm trên bệnh nhân đang điều trị rối loạn
lipid máu có thừa cân, béo phì.
MỤC TIÊU CỤ THỂ
1. Đánh giá sự thay đổi các chỉ số cholesterol toàn phần, triglyceride,
HDL-C, LDL-C trước và sau nhĩ châm 3 huyệt Đói, Dạ dày, Nội tiết trên
bệnh nhân đang điều trị rối loạn lipid máu có thừa cân, béo phì.
2. Đánh giá hiệu quả giảm cân nặng, số đo vòng eo, BMI sau nhĩ châm 3
huyệt Đói, Dạ dày, Nội tiết trên bệnh nhân đang điều trị rối loạn lipid máu có
thừa cân béo phì.
.
.
3. So sánh sự khác biệt (nếu có) của các giá trị lipid máu, cân nặng, BMI,
số đo vòng eo giữa nhóm bệnh nhân được can thiệp bằng nhĩ châm 3 huyệt
Đói, Dạ dày, Nội tiết với nhóm chứng.
.
.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1
Béo phì theo quan điểm y học hiện đại
1.1.1 Khái niệm về thừa cân, béo phì
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thừa cân béo phì là sự
tích tụ chất béo bất thường hoặc quá mức có nguy cơ đối với sức khỏe. Một
cá thể được xem là béo phì khi tỷ lệ mỡ cơ thể lớn hơn 25 % ở nam giới và từ
32% trở lên ở nữ giới [80].
Béo phì là một bệnh mãn tính khơng lây, tái phát, đa yếu tố, trong đó sự gia
tăng chất béo trong cơ thể thúc đẩy rối loạn chức năng mô mỡ và phân bố mỡ
bất thường dẫn đến hậu quả xấu về chuyển hóa, sinh học và sức khỏe tâm lý.
Đồng thời còn là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh không lây khác như đái tháo
đường, rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, tăng huyết áp,
các bệnh lý về xương khớp….[60]
1.1.2 Các phƣơng pháp dùng để đánh giá béo phì
1.1.2.1 Phƣơng pháp nhân trắc
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là trọng lượng của một người tính bằng kilogam
chia cho chiều cao của họ bình phương tính bằng mét. Đây là chỉ số đơn giản,
dễ thực hiện, có thể lặp lại nhiều lần, được dùng rất phổ biến trong chẩn đốn
thừa cân, béo phì và được Tổ chức y tế thế giới sử dụng để phân loại béo phì
trong nhiều năm qua. Hiện nay, để áp dụng phù hợp với đặc điểm từng vùng
qua nghiên cứu thực tế ở các quốc gia châu Á, WHO đã chính thức đồng lấy
tiêu chuẩn ban hành tháng 2 năm 2000 làm tiêu chuẩn chẩn đốn bệnh béo phì
[3],[80].
BMI =
.
.
Bảng 1.1: Bảng phân loại tình trạng dinh dƣỡng dành cho ngƣời trƣởng
thành Châu Á – Thái Bình Dƣơng dựa theo thang phân loại của WHO
(IDI và WPRO)
Tình trạng
Chỉ số BMI theo WHO
Chỉ số BMI theo IDI và
dinh dưỡng
(kg/m2 )
WPRO (kg/m2 )
Thiếu năng lượng
BMI < 18,5
trường diễn
Bình thường
18,5 ≤ BMI < 25
18,5 ≤ BMI < 23
BMI ≥ 25
BMI ≥ 23
Tiền béo phì
25 ≤ BMI < 30
23 ≤ BMI < 25
Béo phì độ I
30 ≤ BMI < 35
25 ≤ BMI < 30
Béo phì độ II
35 ≤ BMI < 40
30 ≤ BMI
Thừa cân
Béo phì độ III
BMI ≥ 40
Tuy nhiên việc sử dụng BMI để chẩn đốn béo phì gần đây nhận nhiều ý kiến
trái chiều [14]. Lý do là vì trọng lượng cơ thể bao gồm hai thành tố là lượng
nạc và lượng mỡ; trong đó lượng mỡ là thành tố quan trọng của bệnh sinh béo
phì và cần được quan tâm hơn. Ở một số đối tượng như các vận động viên thể
hình hoặc những người có chơi thể thao nặng thường xuyên thì lượng nạc của
họ cao hơn lượng mỡ và làm họ nặng cân hơn. Cho nên BMI không phản ảnh
được đúng tỉ trọng mỡ trong cơ thể. Chỉ số “vàng” để chẩn đốn béo phì là tỉ
trọng mỡ trong cơ thể [14]. Định nghĩa về béo phì dựa vào BMI cịn thiếu
chính xác khi áp dụng vào các đối tượng như người có tình trạng ứ nước trong
cơ thể do bệnh lý hoặc do thuốc (suy tim ứ huyết, bệnh thận giai đoạn cuối,
bệnh xơ gan cổ chướng, người dùng corticoid lâu ngày hoặc các nội tiết tố
sinh dục), những người có tình trạng tăng khối lượng xương (xương to di
truyền, các chất tích tụ bất thường trong xương), mang thai, u bướu khổng lồ
.
.
[1]. Mặc dù vậy cho đến nay do điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất có hạn nên
phương pháp này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.
Chỉ số cánh tay/đùi: Đo chu vi cánh tay và đùi ở phần gốc chi, tỉ lệ của chu
vi cánh tay với chu vi của đùi ở gốc là 0,58 ở nam và 0,52 ở nữ [3].
Tỷ lệ eo/hông (WHR): là tỷ số giữa chu vi vòng eo và chu vi vòng hông.
Đây là một trong những chỉ số nhân trắc quan trọng giúp xác định tình trạng
béo phì và sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng như đánh giá béo bụng trung tâm.
Béo phì được xác định ở nam giới khi WHR trên 0,9 và ở nữ giới khi WHR
trên 0,85 [79]. Tỷ lệ eo/hơng càng cao dự đốn nguy cơ nhồi máu cơ tim và
các bệnh chuyển hóa như đái tháo đường tuýp 2 càng lớn [31],[84].
Số đo vòng eo (WC) có mối tương quan chặt chẽ với tình trạng béo bụng
và là thước đo lâm sàng thường được sử dụng để đánh giá phân bố mỡ trong
cơ thể cũng như là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng chuyển
hóa. Số đo vịng eo được chứng minh là có mối tương quan mạnh với nguy cơ
mắc đái tháo đường 2 hơn các chỉ số khác như WHR hay BMI [84]. Liên
đoàn Đái Tháo Đường Quốc tế (IDF) quy định ngưỡng vòng eo đối với béo
bụng ở người châu Á là trên 90 cm ở nam và trên 80 cm ở nữ [43].
Độ dày nếp gấp da phản ánh lớp mỡ tích tụ dưới da. Trung bình, độ dày
nếp gấp cơ tam đầu là 16,5 đối với nam và 12,5 đối với nữ [3].
1.1.2.2 Cận lâm sàng
Có thể sử dụng siêu âm để đo độ dày mô mỡ tại vị trí như cánh tay, đùi,
bụng hoặc sử dụng phương pháp đo tỷ trọng mỡ cơ thể bằng hấp phụ tia X
năng lượng kép (DXA). Lợi điểm của kỹ thuật DXA là có thể xác định bề mặt
mơ mỡ sâu quanh các tạng và định lượng lượng mỡ dưới da, cho kết quả đáng
tin cậy và chính xác. Phần cắt ngang qua L4-L5 sẽ cho phép phân biệt chính
xác sự khác nhau về phân bố mỡ giữa 2 giới. Kết quả của phép đo này được
xem là “tiêu chuẩn vàng” cho việc chẩn đốn béo phì. Trong nghiên cứu của
.
.
tác giả Hồ Phạm Thục Lan (2011), dựa vào mối liên hệ của BMI và tỷ trọng
mỡ cơ thể (PBF), giữa BMI và nguy cơ tử vong, nhà nghiên cứu xác định
được ngưỡng tỉ trọng mỡ từ trên 30% cho nam và từ trên 40% cho nữ là
ngưỡng có thể được sử dụng chẩn đốn béo phì ở Việt Nam [3],[14].
1.1.3 Các thể béo phì
Tùy theo lứa tuổi, BMI hay sự phân bố mỡ trên cơ thể mà có các cách phân
loại thể béo phì khác nhau.
Theo lứa tuổi có thể phân thành béo phì thể phì đại và thể tăng sản phì đại.
Dạng phì đại là dạng béo phì xảy ra ở tuổi trưởng thành với số tế bào mỡ cố
định và tăng trọng là do tích tụ quá nhiều lipid trong mỗi tế bào. Cịn thể tăng
sản phì đại là thể mà các tế bào mỡ không chỉ tăng về kích thước mà cịn cả
về số lượng, thường gặp ở lứa tuổi trẻ hơn và khó điều trị hơn [3].
Nếu dựa vào sự phân bố mỡ trên cơ thể có thể phân thành béo phì dạng
hình “quả táo” với phân bố mỡ tập trung ưu thế ở nữa người trên rốn. Thể này
thường gắn liền với các nguy cơ bệnh tật. Nếu sự phân bố mỡ tập trung ở nữa
thân dưới rốn thì thường gọi là béo phì dạng “quả lê” và dạng này ít có nguy
cơ bệnh tật hơn [3],[79]. Ngoài ra các trường hợp lượng mỡ phân bố khá đồng
đều khắp cơ thể thì thường gặp ở người béo phì dạng hỗn hợp [3].
1.1.4 Nguyên nhân thừa cân béo phì
Mơi trường: là những yếu tố có liên quan đến việc cung cấp năng lượng
nhiều hơn so với nhu cầu của cơ thể như ăn quá nhiều và/hoặc giảm hoạt
động thể lực. Ăn quá nhiều có thể do thói quen, do tính chất gia đình hoặc
trong bệnh lý tâm thần kinh. Giảm hoạt động thể lực có thể do lối sống, cơng
việc tĩnh tại, tuổi già, ít di chuyển hoặc do thói quen lười vận động. Giảm hoạt
động thể lực nhưng không giảm ăn nên sử dụng năng lượng tạo ra ít dẫn đến
dư thừa và tích lũy calo [46].
.
.
Nội tiết: tổn thương vùng hạ đồi đặc biệt tại nút leptin-neuropeptic Y gây
kích thích thèm ăn và ăn nhiều; u vùng dưới đồi thường có biểu hiện béo phì
kèm tình trạng giảm phát triển các cơ quan sinh sản; giảm testosterol ở nam
giới bị mất tinh hoàn sẽ gây tăng tích tụ mơ mỡ quanh háng và đùi; các
ngun nhân nội tiết khác như suy thượng thận, suy giáp, cường insulin
[1],[3],[59].
Thuốc: một số thuốc có khả năng gây tăng cân như các hormon steroide
hoặc các thuốc điều trị tâm thần kinh, NSAIDs, corticosteroid, thuốc trị đái
tháo đường nhóm Sulfunylurea, thuốc trị tăng huyết áp nhóm ức chế
β...[3],[46].
Ngồi ra, di truyền cũng là yếu tố có thể dẫn đến tình trạng béo phì đặc biệt
là béo phì ở trẻ nhỏ [46],[64].
1.1.5 Điều trị
Các nguyên tắc điều trị thừa cân, béo phì hiện nay chủ yếu tập trung vào
giảm năng lượng ăn vào thơng qua kiểm sốt chế độ ăn; tăng năng lượng tiêu
hao thông qua chế độ vận động thể lực. Nếu chưa đạt mục đích, có thể chỉ
định thuốc và các can thiệp khác như điều chỉnh hành vi, tâm lý liệu pháp
hoặc phẫu thuật. Các phương pháp trên hầu như đều cho kết quả tùy theo mức
độ can thiệp và tuân trị của người bệnh; tuy nhiên rất nhiều trường hợp tái
thừa cân sau khi đã giảm hoặc phải chịu ảnh hưởng bởi các tác dụng không
mong muốn [57].
Chế độ ăn tiết chế năng lượng: hiệu quả phụ thuộc tuổi, mức hoạt động thể
lực, và ý chí của người bệnh. Năng lượng đưa vào phải ít hơn nhu cầu cơ thể.
Mức độ giảm cân hợp lý là khoảng 0,5-1 kg/tuần tương đương với mức năng
lượng hạn chế khoảng 20-25 kcal/kg/ngày [3].
Tập luyện, vận động thể lực mang lại những tác động tích cực như giảm
khối lượng mơ mỡ dưới da, tăng cường phân hủy mỡ ở cơ, tăng cường huy
.
.
động mô mỡ, tạo khuynh hướng hạn chế ăn quá nhiều sau hoạt động, tăng
mức chuyển hóa và oxy hóa mỡ [7]. Bên cạnh đó là những thay đổi về thành
phần lipoprotein qua quá trình tập luyện lâu dài, cụ thể là giảm cholesterol
toàn phần, triglycerid, LDL- C và tăng HDL-C [7]. Thời gian tập luyện vận
động thể lực khoảng 60 đến 75 phút mỗi ngày, cường độ và thời gian tập tùy
thuộc vào tình trạng sức khỏe nhất là những người có bệnh lý huyết áp, mạch
vành, suy tim [3]. Hoạt động thể lực được chia theo các mức độ nặng, vừa,
nhẹ. Hoạt động nặng là những hoạt động thể lực ở mức gắng sức, làm tăng
nhịp thở so với bình thường rất nhiều, ví dụ: gánh vác nặng, thợ hồ, đào đất,
xúc đất, cưa xẻ, chạy dài, thể thao gắng sức, đạp xe từ trên 16 km/giờ. Hoạt
động vừa là những hoạt động như lau chùi nhà cửa, làm vườn, sơn vẽ, bơi lội,
leo cầu thang, cầu lông, bóng chuyền nghiệp dư, đạp xe từ 8 đến 15 km/giờ.
Hoạt động thể lực nhẹ như đi bộ dưới 5 km/giờ, đạp xe dưới 8 km/giờ, làm
vườn. Nghỉ ngơi hoặc không hoạt động như xem tivi, đọc sách báo, ngồi hay
nằm nghỉ [12].
Thuốc sử dụng thuốc điều trị béo phì được chỉ định cho những bệnh nhân
có chỉ số BMI lớn hơn 30 kg/m2 và có một hoặc nhiều bệnh đi kèm như tăng
huyết áp, đái tháo đường tuyp 2. Điều trị bằng thuốc kết hợp với thay đổi lối
sống có thể đạt hiệu quả giảm từ 3 đến 5 kg cân nặng. Số cân giảm do điều trị
bằng thuốc có thể phục hồi khi ngừng sử dụng, thậm chí sự dung nạp thuốc và
tăng cân có thể xảy ra ngay cả khi vẫn tiếp tục dùng thuốc. Trong số các thuốc
được FDA phê duyệt dùng trong điều trị béo phì, một số thuốc đã bị thu hồi vì
những tác dụng phụ của chúng trên hệ tim mạch, thần kinh trung ương [57].
1.2
Rối loạn lipid máu theo y học hiện đại
1.2.1 Các dạng lipoprotein trong cơ thể
Lipid là những phân tử kỵ nước vì vậy để có thể được vận chuyển trong
môi trường dịch thể như máu, các lipid thường kết hợp với protein tạo thành
.
0.
các lipoprotein [3],[38]. Với phương pháp phân tích siêu ly tâm, lipoprotein
được chia thành các loại bao gồm chylomicron, lipoprotein tỷ trọng rất thấp
(VLDL), lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), lipoprotein tỷ trọng trung gian
(IDL) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL). Ngồi cholesterol của HDL được
xem là “cholesterol tốt” vì chúng bảo vệ thành mạch, khơng gây xơ vữa thì
các loại cịn lại khi tăng q nhiều đều có nguy cơ gây xơ vữa mạch máu [2].
Rối loạn lipid máu (RLLPM) là tình trạng bệnh lý khi có một hoặc nhiều
thơng số lipid bị rối loạn (tăng cholesterol, triglyceride, LDL-C hoặc giảm
HDL-C) [3]. RLLPM thường được phát hiện cùng lúc với mội số bệnh lý tim
mạch, nội tiết, chuyển hóa đồng thời RLLPM cũng là yếu tố nguy cơ của
bệnh lý này. Điều trị RLLPM góp phần vào điều trị bệnh nguyên của nhiều
bệnh tim mạch, nội tiết, chuyển hóa [9],[38].
1.2.2 Nguyên nhân rối loạn lipid máu
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các rối loạn chuyển hóa lipid máu. Các
nguyên nhân do đột biến gen đa phần thường xuất hiện ở lứa tuổi nhỏ và ít
khi kèm thể trạng béo phì hoặc những người có tiền sử nhiều người trong gia
đình mắc bệnh có biểu hiện lâm sàng thường béo phì, ban vàng, tình trạng đề
kháng insulin, tăng acid uric máu [3].
Các đối tượng có lối sống tĩnh tại, ít vận động, dùng nhiều bia rượu, ăn
nhiều thức ăn giàu chất béo bão hòa hoặc mắc các bệnh như đái tháo đường,
bệnh thận mạn tính, suy giáp, xơ gan; hoặc dùng thuốc thiazid, corticoid,
estrogen, ức chế beta, NSAIDs … thường là những người có nhiều nguy cơ
rối loạn lipid máu thứ phát [3].
1.2.3 Chẩn đoán rối loạn lipid máu
Phần lớn triệu chứng lâm sàng của rối loạn lipid máu chỉ được phát hiện
khi nồng độ các thành phần lipid máu cao kéo dài hoặc gây ra các biến chứng
ở các cơ quan như xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não,
.
1.
viêm tụy cấp. Một số dấu chứng đặc hiệu có thể được dùng để gợi ý chẩn
đoán RLLPM như cung giác mạc; ban vàng mi mắt, lòng bàn tay; u vàng da,
gân duỗi các ngón, gan nhiễm mỡ, rãnh xẻ thùy tai, vịng lipid võng mạc [3].
Để chẩn đốn chính xác RLLPM cần thực hiện xét nghiệm định lượng
nồng độ các lipid trong máu khi đói. Các thơng số thường được khảo sát gồm
cholesterol toàn phần, triglyceride, HDL-C, LDL-C [3],[9].
Xét nghiệm lipid máu cần được thực hiện trên các đối tượng có một hoặc
một số các bệnh lý sau: đái tháo đường typ 2, bệnh tim mạch, tăng huyết áp,
bệnh thận mạn, các bệnh lý viêm mạn tính (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp
gout…), người có tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm hoặc rối
loạn lipid máu, thừa cân, béo phì, các đối tượng là nam trên 40 tuổi hoặc nữ
trên 50 tuổi, hút thuốc lá [9].
Bảng 1.2: Bảng đánh giá các thông số lipid máu theo NCEP- ATP III
Thơng số lipid
Cholesterol tồn phần
(mg/dl)
Triglyceride (mg/dl)
LDL- C (mg/dl)
HDL- C (mg/dl)
.
Nồng độ
Đánh giá nguy cơ
< 200
Bình thường
200 - 239
Giới hạn cao
≥ 240
Cao
< 150
Bình thường
150 – 199
Giới hạn cao
200 – 499
Cao
≥ 500
Rất cao
< 100
Tối ưu
100 – 129
Gần tối ưu
139 – 159
Giới hạn cao
160 – 189
Cao
≥ 190
Rất cao
< 40
Thấp
2.
≥ 60
Cao
1.2.4 Điều trị
1.2.4.1 Mục tiêu điều trị
Điều trị RLLPM cần kết hợp điều chỉnh lối sống và dùng thuốc. Chỉ số
LDL-C được khuyến cáo là mục tiêu điều trị đầu tiên. Non- HDL-C được xem
là mục tiêu điều trị thứ hai đặc biệt là trong rối loạn lipid máu dạng hỗn hợp.
Cholesterol nên được xem là mục tiêu điều trị nếu các giá trị lipid khác khơng
có sẵn [9].
Bảng 1.3: Mục tiêu điều trị dựa trên LDL- cholesterol
Phân tầng nguy cơ
Mức mục tiêu
Trung bình
< 115 mg/dl ( 3mmol/l)
Cao
< 100 mg/dl (2,5 mmol/l)
< 70 mg/dl (1,8 mmol/l)
Rất cao
và/hoặc
giảm LDL-C trên 50% so với ban đầu nếu
không thể đạt mục tiêu điều trị
1.2.4.2 Thay đổi lối sống
Thay đổi lối sống được xem là nền tảng trong điều trị các bệnh lý chuyển
hóa. Thay đổi lối sống bao gồm những thay đổi về thói quen ăn uống, xây
dựng thực đơn ăn uống tốt cho sức khỏe, tăng cường và duy trì tập luyện thể
dục thể thao, các hoạt động thể lực hằng ngày; ln giữ gìn tinh thần thoải
mái và lạc quan [3],[9].
1.2.4.3 Liệu pháp Statin
.
3.
Cho đến hiện tại, các statin vẫn được đánh giá là liệu pháp điều trị rối loạn
lipid máu đạt hiệu quả cao. Mặc dù nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những tác
dụng phụ cũng như những thất bại trong quá trình điều trị thuốc [65],[75].Tuy
nhiên lợi ích mà liệu pháp mang lại trong phòng ngừa tỷ lệ tử vong do các
biến cố bệnh mạch vành dường như là quá lớn và chưa thể thay thế được vì
vậy các nhà khoa học cùng các Hiệp hội về tim mạch trên thế giới vẫn duy trì
các khuyến cáo hướng dẫn sử dụng statin trong điều trị rối loạn mỡ máu và
phòng ngừa các nguy cơ tim mạch xơ vữa [22],[43].
Theo ATP IV, bốn nhóm bệnh nhân được hưởng lời từ Statin bao gồm [72]
Bệnh nhân có bệnh tim mạch xơ vữa (hội chứng vành cấp, tiền sử nhồi
máu cơ tim, đau thắt ngực ổn định và không ổn định, tái thông mạch vành, đột
quỵ, cơn thoáng thiếu máu não, hay bệnh động mạch ngoại biên do xơ vữa).
Xét nghiệm LDL-C ≥ 190 mg/dL trong máu.
Bệnh nhân đái tháo đường tuổi từ 40 đến 75 có xét nghiệm LDL-C từ
70 đến 189 mg/dL trong máu.
Bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa 10 năm ≥ 7,5% , tuổi từ
40 đến 75 và có LDL-C huyết thanh trong khoảng 70 -189 mg/dL.
Statin có tác dụng ức chế enzym Hydroxymethylglutaryl CoA Reductase
(HMGR) - là một enzym tổng hợp cholesterol ở gan, làm giảm cholesterol nội
sinh và kích thích tăng thu giữ LDL-C tại gan, giảm LDL- C ở các mơ
[40],[68]. Có nhiều loại statin khác nhau với các mức hiệu quả tác động khác
nhau trên các thụ thể LDL-C. Atorvastatin và Rosuvastatin là những loại
statin có liên kết thụ thể mạnh nhất [24]. Việc lựa chọn statin và liều điều trị
dựa trên nồng độ cholesterol định lượng trong máu tại cùng thời điểm và
nhóm phân tầng nguy cơ tim mạch mà bệnh nhân thuộc về. Các phác đồ
hướng dẫn điều trị được Bộ y tế Việt Nam và Hội tim mạch Việt Nam đồng
thuận và khuyến cáo thực hiện [9]. Mặc dù Statin được đánh giá là khá an
.
4.
toàn để sử dụng cho đại đa số bệnh nhân bị rối loạn mỡ máu; tuy nhiên việc
sử dụng kéo dài trên các đối tượng có nhiều bệnh đồng mắc sẽ dẫn tới nhiều
tác dụng không mong muốn như đau cơ, tiêu cơ vân, tăng men gan hoặc tăng
nguy cơ đái tháo đường [65].
1.3
Thừa cân, béo phì và rối loạn lipid máu theo y học cổ truyền
1.3.1 Thừa cân béo phì và rối loạn lipid máu dƣới cái nhìn của y học cổ
truyền
Trong Y học cổ truyền, chứng phì bạng là tình trạng tích lũy cao chỉ vượt
q mức bình thường tại một vùng hay toàn thân đến mức ảnh hưởng sức
khỏe [1],[13],[16],[17]. Thực tế có sự nhầm lẫn giữa chứng phì bạng trong
YHCT với thừa cân, béo phì trong YHHĐ. Nếu người có thể trạng hình thái
mập mạp, sắc mặt tươi nhuận, tinh thần sung mãn, lưỡi và mạch bình thường,
kiểm tra khơng có tật bệnh nào thì khơng thuộc phạm vi chứng phì bạng nêu
trên [16].
Thừa cân, béo phì và rối loạn lipid máu trong YHCT khơng có tên gọi cụ
thể tuy nhiên xét về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của nó thì thấy được có
mối liên quan đến sự rối loạn chức năng vận hóa của tạng Tỳ và sự hình
thành của đàm ẩm [11].
1.3.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Sách Đan khê tâm pháp viết rằng người phì bạng đa phần là đàm thấp. Sách
Cảnh nhạc tồn thư thì viết phì bạng chủ yếu là khí hư [17]. Thủy thấp, đàm
ẩm là những sản phẩm bệnh lý được hình thành do rối loạn vận hóa thủy dịch
của cơ thể. Sự vận hóa thủy dịch của cơ thể liên quan đến các chức năng của
các tạng Phế, Tỳ, Can, Thận. Phế chủ tuyên phát, túc giáng, thơng điều thủy
đạo; Tỳ chủ vận hóa, Can chủ sơ tiết, duy trì khí cơ tồn thân thơng suốt, thúc
đẩy vận hành khí huyết tân dịch; Thận chủ thủy, chủ trì và điều tiết trao đổi
tân dịch; mà trong bệnh cảnh này chủ yếu là rối loạn chức năng vận hóa của
.
5.
Tỳ. Các sản phẩm bệnh lý này sau khi hình thành sẽ gây khốn Tỳ, khiến chức
năng vận hóa của Tỳ bị rối loạn, khơng vận hóa được thủy thấp nên tiếp tục
sinh đàm, gây ứ đọng, tạo thành một vòng xoắn bệnh lý. Đàm thấp một mặt
sinh ra làm trì trệ khí cơ, gây nhiễu loạn chức năng thăng giáng khí cơ của
tạng phủ, mặt khác lại lưu trú ở kinh lạc làm ngăn trở khí huyết vận hành gây
chứng khí trệ huyết ứ [11]. Vì vậy ngun nhân gây các chứng đàm thấp, phì
bạng chính là những ngun nhân sinh ra thủy, thấp, đàm, ẩm.
Do ăn uống không điều độ hay do ăn quá nhiều hoặc quá mức thức ăn
cao lương, đồ béo ngọt, uống nhiều rượu, lâu dần làm tổn thương Tỳ. Tỳ hư
khơng vận hóa tốt thủy thấp, dẫn đến tích tụ, đình trệ lâu ngày sẽ hóa đàm
gây bệnh [11],[17].
Do uất ức lâu ngày hoặc do Can Đởm thấp nhiệt, khí cơ bất lợi ảnh
hưởng chức năng sơ tiết Can Đởm dẫn đến quá trình chuyển vận thủy dịch bị
đình trệ, tích lại hóa đàm mà gây bệnh [11].
Do bẩm tố thể trạng béo mập, dương khí bất túc, lười vận động hoặc
mơi trường làm việc tĩnh tại, ít di chuyển lại thêm ăn uống quá mức các loại
thức ăn cao lương, béo ngọt, làm cho khí cơ vận hành khơng thơng sướng ảnh
hưởng đến sự vận hóa thủy dịch trong cơ thể mà gây ra bệnh. [11],[16],[17].
Người có tuổi, thể chất suy yếu: chức năng tạng phủ hầu hết đều suy
giảm. Thận dương hư khiến Tỳ dương không được ôn ấm, chức năng vận hóa
của Tỳ, Thận suy giảm làm tích trệ thủy dịch mà gây bệnh.[11],[17].
Người có chứng phì bạng, đàm trọc thường có các triệu chứng thể trạng
béo bệu, tồn thân nặng nề, mệt mỏi, thiếu khí, lười di chuyển, đau đầu, hoa
mắt, chóng mặt, đau ngực [11],[16],[17].
1.3.3 Các thể lâm sàng
Chưa ghi nhận có tiêu chuẩn thống nhất trong chẩn đốn thừa cân, béo phì
theo y học cổ truyền. Theo nhiều tài liệu, sách giảng dạy đối tượng đại học và
.