PHÂN LUẬN , NHẬN LUẬN CHĂM PA
I – ĐẶT VẤN ĐỀ:
Người Chăm hiện sinh sống tập trung ở vùng nam trung bộ và nam bộ. Hiện nay,
dân tộc Chăm theo khá nhiều tôn giáo khác nhau: Bà Chăm (Bàlamôn), Hồi
giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Phật giáo… Tuy nhiên, nếu nói tới đền tháp
Chăm nghĩa là nói tới tơn giáo văn hóa ảnh hưởng của Ấn Độ trong đó đặc biệt
là Bàlamôn giáo. Đây cũng là yếu tố truyền thống thể hiện trong nghệ thuật kiến
trúc đền tháp Chăm, bên cạnh những yếu tố bản địa và khu vực.
II – NỘI DUNG:
Lịch sử hình thành dân tộc Chăm ở Việt Nam:
1.1. Nguồn gốc tộc người:
Người Chăm hay còn gọi là người Chàm, người Chiêm,… đã sinh tụ rất lâu đời
trên dải đất miền Trung Việt Nam từ nam Đèo Ngang đến Bình Thuận. Khoảng
thế kỉ II-III đầu Cơng ngun cho đến thế kỉ XVII-XVIII, người Chăm đã xây dựng
một nền văn minh Chămpa phát triển rực rỡ, với nền tảng văn hóa Sa Huỳnh và
ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ.
Về mặt chủng tộc, người Chăm (cùng với một số dân tộc Tây Nguyên) thuộc
nhóm ngữ hệ Nam Đảo, là một bộ phận của nhóm loại hình Indonésien(1) (Hình
thành vào khoảng thời đồ đá giữa, cách ngày nay 10.000 năm).
Chủng Indonésien, là sự hợp chủng giữa chủng Mongoloid (thuộc đại chủng Á)
thiên di từ vùng Tây Tạng xuống vùng Đông Dương, với chủng Melannésien bản
địa (thuộc đại chủng Úc), với đặc điểm nhân chủng: nước da ngăm đen, tóc xoăn
dợn sóng, tầm vóc thấp; cư trú rải rác từ nam đèo Ngang đến Bình Thuận.
Như vậy có thể hiểu rằng, trên dải đất trung và nam trung bộ, từ thời đá giữa đã
có cư dân cổ bản địa sinh sống có nguồn gốc là chủng Indonésien, về sau có
thêm những người nói tiếng Nam Đảo (Malaiơ – Pơlinêxia) đến cộng cư ở các
vùng ven biển, dần hình thành lên tộc người Chăm.
1.2. Văn minh Chămpa:
Nhìn vào hệ thống di tích đền tháp Chăm, kênh mương thủy lợi hay kỹ thuật làm
đồ gốm còn lại đến ngày nay như làng gốm Bàu Trúc (thị trấn Phước Dân,
huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) cũng giúp ta phần nào hình dung được sự
phát triển rực rỡ một thời của nền văn minh Chămpa.
Trong khuôn khổ một bài tiểu luận, chúng ta chỉ phác họa những nét cơ bản của
nền văn minh Chămpa trong khoảng thế kỉ II-III đầu Công nguyên đến thế kỉ
XVII-XVIII, trên dải đất miền trung từ Bình-Trị-Thiên trở vào đến Ninh ThuậnBình Thuận.
1.2.1. Nhà nước Chămpa:
Trong suốt chiều dài hình thành và xây dựng nên vương quốc Chămpa, có nhiều
biến đổi mà hiện nay cịn phải nghiên cứu; có những khoảng lịch sử bị đứt đoạn,
chưa đủ tài liệu để khẳng định, có những giai đoạn vương quốc bị chia tách rồi
hợp lại rồi lại chia tách, lãnh thổ có thời kỳ được mở rộng có giai đoạn bị thu
hẹp. Cũng bởi tích chất phức tạp như vậy, nên trong khuôn khổ một bài tiểu luận
cũng xin tạm đưa ra bốn giai đoạn của vương quốc Chămpa. Để có cái nhìn bao
qt nhất về lịch sử của một vương quốc – một nền văn minh Chămpa.
Giai đoạn thứ nhất: Cuộc đấu tranh dành độc lập của nhân dân Chăm và sự ra đời
của các quốc gia Lâm Ấp cuối thế kỉ II giữa thế kỉ VIII
Như đã biết, trên dải đồng bằng ven biển trung và nam trung bộ xưa kia đã có
những cư dân cổ từ thời đồ đá sinh sống, cũng tại nơi này các nhà khảo cổ đã tìm
thấy một nền văn hóa vật chất đặc chưng, gọi chung là nền văn hóa Sa
Huỳnh (tên một địa danh cực nam tỉnh Quảng Ngãi). Qua khai quật khảo cổ, các
nhà khoa học cho rằng “Văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa thuộc giai đoạn sơ kỳ đồ
sắt của cư dân nông nghiệp ở ven biển, có niên đại khoảng giữa thiên niên kỷ I
trước Công nguyên, đến đầu Công nguyên”(1). Vào thời kì này, trên địa bàn văn
hóa Sa Huỳnh có hai bộ lạc Cau (tiếng Phạn: Kramuka vams’a) và Dừa (Narikela
vams’a) sinh sống. Bộ lạc Cau cư trú trên vùng từ Phú n đến Bình Thuận ngày
nay, cịn bộ lạc Dừa cư trú vùng từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay.
Về bộ lạc Cau, theo như bia Võ Cạnh (làng Võ Cạnh, thành phố Nha Trang, tỉnh
Khánh Hoà; được xác định có vào khoảng cuối thế kỉ thứ II sau Công nguyên) viết
bằng chữ Phạn cho biết về sự tồn tại của một triều vua mà người sáng lập có tôn
hiệu là Sri Mara. Như vậy, từ trước khi bia Võ Cạnh được tạo dựng, bộ lạc Cau đã
hình thành nên một Nhà nước hay đúng hơn là một tiểu vương quốc (sau này
qua bi ký ta biết được vùng này có tên là Panduranga) mà người sáng lập có tơn
hiệu là Sri Mara. Bia Võ Cạnh cịn nói lên sự ảnh hưởng rõ nét của văn hóa Ấn
Độ đến tơn giáo và có lẽ cả kinh tế, xã hội của tiểu vương quốc này. Lúc này, bộ
lạc Dừa ở phía Bắc đứng ngồi sự phát triển của tiểu vương quốc phía Nam và
đang chịu ách đơ hộ của nhà Hán. Năm 111, nhà Hán thay thế nhà Triệu đô hộ
nước Âu Lạc, đồng thời xua quân đánh chiếm vùng đất phía nam quận Cửu Chân
và lập nên quận Nhật Nam (từ Quảng Bình đến Bình Định ngày nay). Quận Nhật
Nam bao gồm cả vùng đất mà bộ lạc Dừa cư trú, quận được chia làm 5 huyện:
Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung và Tượng Lâm. Trong suốt thời kỳ bị đô
hộ, nhân dân Tượng Lâm (Quảng Nam-Quảng Ngãi ngày nay) đã liên tục nổi dậy,
kết hợp với nhân dân 3 quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ nhằm lật đổ ách cai
trị của nhà Hán. Vào khoảng cuối thế kỉ II sau Công nguyên nhà Hán suy yếu,
năm 192 dưới sự lãnh đạo của Khu Liên, nhân dân huyện Tượng Lâm một lần
nữa đã nổi dậy và lật đổ được ách thống trị của nhà Hán, lập ra quốc gia Lâm Ấp
–tiền thân của vương quốc Chămpa. Như vậy, trong khoảng hai thế kỷ đầu Công
nguyên, từ hai bộ lạc Cau và Dừa đã hình thành nên hai tiểu quốc: tiểu quốc
miền nam mà sau này có tên là Panduranga (tiếng Phạn) và tiểu quốc miền Bắc
được gọi với tên Lâm Ấp. Việc xuất hiện hai tiểu quốc phía bắc và phía nam
chính là tiền đề hình thành nên vương quốc Chămpa về sau.
Sau khi thoát khỏi ách cai trị nhà Hán, vương quốc Lâm Ấp đi vào thời kì xây
dựng và phát triển. Theo như nguồn thư tịch cổ Trung Quốc và bi ký Chăm ghi
lại, thì vương quốc Lâm Ấp tồn tại từ cuối thế kỉ II đến giữa thế kỉ VIII sau Cơng
ngun. Trong thời gian này, có thể tồn tại hai giai đoạn mà khoảng đứt đoạn
nằm ở khoảng thế kỉ V đến thế kỉ VI; “trong vòng một thế kỷ khơng thấy có bia,
cịn Lương thư thì cung cấp một phổ hệ gồm khoảng 10 vua, nối tiếp nhau khá rắc
rối, từ Phạm Tu Đạt đến Bật Xuế Bạt Ma”(1). Khoảng đứt đoạn này có lẽ ứng
với “một sự kiện trong những sự kiện quan trọng theo Tống thư là việc thứ sử
Giao Châu thuộc nhà Tiền Tống, tên gọi Đàn Hòa Chi, đã đem quân đánh Lâm Ấp
năm 446, cướp đoạt nhiều của cải và đốt phá tàn hại cả kinh đơ”(2). Có lẽ chính
việc đốt phá này đã dẫn đến việc khơng cịn cơng trình kiến trúc nào trước thế kỉ
VI. Trong thời kì này kinh đơ lúc đầu, theo các nhà nghiên cứu có thể nằm ở nơi
mà nay là xã Thủy Xuân, Huế có tên là Kandapurpura; được xây dựng vào
khoảng thế kỷ IV sau Cơng ngun. Sau đó kinh đơ được dời vềSinhapura, nay là
làng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam; việc dời kinh có lẽ do “Đàn Hịa
Chi, đã đem qn đánh Lâm Ấp năm 446, cướp đoạt nhiều của cải và đốt phá tàn
hại cả kinh đô”. Trong giai đoạn này có ghi nhận “Phạm Văn (khoảng năm 337349) là người đem quân lấn đất, mở rộng cương vực ra phía bắc đèo Hải Vân, nay
là đất Quảng Bình – Quảng Trị, Thừa Thiên”(1).
Giai đoạn thứ hai: Hoàn Vương Quốc khoảng giữa thế kỷ VIII – giữa thế kỷ IX
Trong khoảng một thế kỷ của giai đoạn này, không thấy có bia ký nói đến triều
vua miền Bắc ở Sinhapura, mà lại cho biết về một dòng vua miền Nam và có kinh
đơ tên là Virapura. Nguồn thư tịch Trung Hoa có nói tới cái bên Hồn Vương
quốc trong thời kỳ này, có thể là gọi thay tên Lâm Ấp. Ở giai đoạn này được ghi
nhận đã xây dựng được hơn 10 tháp gạch gồm 3 nhóm tháp (vẫn cịn đến ngày
nay): nhóm tháp Phố Hài (Phú Hải, Phan Thiết), nhóm tháp Po Dam (làng Lạc
Trị, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, Bình Thuận), nhóm tháp Hịa Lai (làng Ba
Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, Ninh Thuận).
Giai đoạn thứ ba: Vương quốc Chiêm Thành (Chămpa) – vương triều Đồng Dương
(Indrapura) từ năm 860 đến năm 982
Kinh thành của vương triều mới có tên Indrapura nay là làng Đồng Dương, xã
Bình Định, huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Thời kì này thư tịch Trung Hoa đổi
tên gọi Hoàn Vương thay bằng Chiêm Thành. Vương triều chỉ kéo dài hơn một
thế kỷ nhưng lại đánh dấu một giai đoạn phát triển đặc sắc của vương quốc
Chămpa, giới nghiên cứu vẫn gọi giai đoạn này bằng cái tên vương triều Đồng
Dương. Đầu tiên, Đồng Dương đã mở đầu cho một phong cách nghệ thuật mới –
phong cách nghệ thuật Đồng Dương với: Các trang trí chuyển thành những hình
hoa lá hướng ra ngoài. Các tháp thuộc phong cách Đồng Dương đều có những
hàng trụ bổ tường và vịm cửa khỏe khắn và có góc cạnh. Vương triều Đồng
Dương cũng ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo trên đất Chăm, bằng
việc tìm ra hàng loạt di tích Phật giáo , các băn bia nói nhiều đến các triết lý của
nhà Phật. Có thể nói, vương triều Đồng Dương là “vương triều Phật Giáo” như
nhiều nhà nghiên cứu nhận định. Một điều thú vị nữa của vương triều này chính
là sự khơng bài xích Ấn Độ giáo, mà ngược lại Phật giáo và Ấn Độ giáo thời kỳ
này cùng song hành, Phật giáo phát triển mạnh mẽ nhưng cư dân Chăm vẫn giữ
truyền thống tôn sùng các vị thần Ấn Độ giáo.
Vương triều Đồng Dương còn ở trong thời điểm rất đặc biệt có tác động đến lịch
sử sau này của Chămpa, đó là ở phía Bắc, năm 938, người Việt đã lật đổ chính
quyền phong kiến Trung Quốc, giành lại nền độc lập và nhanh chóng trở thành
một quốc gia hùng mạnh; phía nam, Chân Lạp cũng trở thành một quốc gia
mạnh và tiến hành bành trướng lãnh thổ ráo riết. Trong sử Việt có ghi lại việc
Phê My Thuế vào năm 979 đã tấn công Đại Cồ Việt bằng thủy quân nhưng bị tan
vỡ vì gặp bão; đến năm 982, vua Lê Đại Hành đem quân đánh trả và Phê My
Thuế bị chết trong trận này, vương triều Đồng Dương – Indrapura chấm dứt.
Giai đoạn thứ tư: Vương quốc Chiêm Thành (Chămpa) – vương triều Vijaya từ thế
kỷ X đến thế kỷ XV
Sau khi vương triều Indrapura sụp đổ, một vua khác lúc bấy giờ Sri Vijaya sau
năm 1000 đã rời đô về lưu vực sông Cơn (Bình Định), đặt tên kinh đơ là Vijaya
mà sử Việt gọi là Phật Thành hay Phật Thệ hay còn gọi là Chà Bàn. Mở ra vương
triều mới, vương triều Vijaya.
Đây là giai đoạn phát triển cực thịnh của Chămpa sau đó tàn lụi, trong vịng
gần năm thế kỷ. Thời gian này ghi nhận những vị vua tài năng của Chămpa:
Hariđêva (1265-1285), Chế Mân (1288-1307), Chế Bồng Nga (1360-1389); đặc
biệt, Chế Bồng Nga – một vị vua mà được sử sách Đại Việt cho là một nhà chính
trị, một nhà quân sự đại tài. Trong giai đoạn này, dưới thời vua Hariđêva và Chế
Mân, quân dân Chămpa đã trải qua một cuộc kháng chiến đầy gian khổ nhưng
cũng đầy hào hùng, chống lại quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh thiện
chiến. Chămpa ở phía nam, Đại Việt ở phía bắc đã đồng thời đánh đuổi được
quân Nguyên, giữ vững bờ cõi. Giai đoạn này, bang giao giữa Đại Việt – Chămpa
phát triển tốt đẹp nhất và được đánh dấu bằng sự kiện thượng hồng Trần Nhân
Tơng đã gả cơng chúa Huyền Trân cho vua Chămpa là Chế Mân vào năm 1306.
Trong nửa đầu thế kỷ XV, sau những năm tháng chiến tranh liên miên và sau cái
chết của Chế Bồng Nga, Chiêm Thành suy yếu hẳn, nội tộc tranh giành ngơi vị.
Phía bắc, Đại Việt cũng phải hứng chịu sự sụp đổ của nhà Trần, nhà Hồ thay thế,
đất nước chìm trong bể máu vì quân xâm lược nhà Minh đến khi Lê Lợi lên ngôi,
kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1428), nhà nước phong kiến
Đại Việt đạt đỉnh cao dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497)
Năm 1471, vua Lê Thánh Tơng đích thân đem 26 vạn qn đi đánh Chiêm Thành.
Vua Lê chiếm được Phật Phệ, bắt được Bàn La Trà Tồn (1) (lên ngơi năm 1468)
Vua Lê quyết định lấy lại đất Chiêm Động, Cổ Lũy, thêm đất Vijaya, lập đạo Quảng
Nam (gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay), trong thực tế, vương
quốc Chămpa đến đây chấm dứt.(2)
Sau đó, các chúa Nguyễn Đàng Trong dần kiểm sốt đất đai cịn lại của
Champa, năm 1693, kiểm soát miền đất cuối cùng Phan Rang – Bình Thuận. Tuy
nhiên người Chăm vẫn được chúa Nguyễn và nhà Nguyễn phong vương kéo dài
đến năm 1822 khi vua Chăm cuối cùng là Po Chơn Chan bỏ sang Campuchia thì
vương triều Champa thật sự chấm dứt(3) .
1.2.2. Kinh tế:
Xưa kia, địa phận vương quốc Chămpa kéo dài suốt từ Bình-Trị-Thiên vào đến
Ninh Thuận-Bình Thuận ngày nay, nghĩa là nguyên một dải đồng bằng ven biển
miền trung và nam trung bộ. Địa hình nơi này mang một số đặc điểm như sau:
hẹp chiều Tây sang Đông, dài “dằng dặc” chiều Bắc-Nam; phía Tây là núi rừng
phía Đơng là biển nên các con sông trong khu vực đồng bằng duyên hải nơi đây
có độ lắng đọng phù sa kém hơn so với vùng châu thổ sơng Hồng, sơng Mã ở
phía bắc và vùng đồng bằng sơng Cửu Long phía nam; địa hình bị chia cắt bởi
nhiều sơng, nhiều đèo.
Vương quốc Chămpa xưa nổi tiếng với những sản vật quý như gỗ trầm. “Gỗ trầm,
thổ nhân dẫn ra để cắt hàng năm, mục nát nhưng ruột vẫn còn, bỏ vào nước thì
chìm nên gọi là trầm hương, thứ nữa là loại khơng chìm khơng nổi, nên gọi là
sạn hương” (Lương thư). Hay như trong Thủy kinh chú có đoạn viết: “thứ quế
thơm, cây mọc thành rừng, khí trong khói lặng…uống quế đắc đạo” để nói lên sự
dồi dào nguyên liệu quế. Đến như đặc sản Yến sào nổi tiếng cũng đã được dân
Chăm khái thác từ lâu và xuất sang Trung Quốc, người Ấn Độ đã giao lưu buôn
bán ở đây từ khá sớm. Chỉ một vài dẫn chứng, chúng ta đã dễ thấy sự dồi dào của
các sản vật quý và chính điều này cũng góp phần đẩy nhanh sự giao thoa trong
văn hóa của người Chăm.
Nơng nghiệp mà cụ thể ở đây là trồng lúa đóng một vai trị hết sức quan trọng
trong nền kinh tế Chămpa xưa. Với địa hình hẹp, một bên là đồi núi, một bên là
biển, nên việc phát triển nông nghiệp sẽ gặp một số bất lợi sau: độ lắng đọng phù
sa kém dẫn đến đất kém màu mỡ, đồi núi nhiều lại sát biển nên diện tích đất
nơng nghiệp khá ít (theo số liệu năm 2000, diện tích đất nơng nghiệp dun hải
nam trung bộ khoảng hơn 500 nghìn ha, gần như thấp nhất so với các vùng trên
cả nước), khí hậu khơ hạn cũng gây khó khăn trong sự phát triển nơng nghiệp…
Tuy nhiên, cư dân Chămpa đã có nhiều giải pháp để khắc phục các điểm yếu
này: xây dựng hệ thống thủy lợi, tìm ra loại lúa chịu hạn tốt (lúa Chiêm), vào
mùa mưa tận dụng các vùng đất cao ở chân núi để trồng thêm hoa màu…Với
nhiều biện pháp, cư dân Chămpa đã khắc phục được những bất lợi mà điều kiện
tự nhiên mang lại, giúp giữ được sự ổn định trong kinh tế-xã hội. Được biết, cư
dân Chămpa xưa có thơng thương trao đổi mọi loại hàng hóa từ các sản vật quý
hiếm đến cái “thứ” nước ngọt được lấy từ các giếng Chàm ven biển, nhưng chỉ trừ
lúa gạo là khơng bán ra ngồi vì “thiếu”.
Các nghề thủ công cũng khá phát triển, đặc biệt là nghề dệt vải, nhiều thư tịch cổ
có nói đến một loại vải trắng gọi là “cát bối” được sử dụng khá nhiều. “ Cát bối là
tên cây, hoa nở giống như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt thành vải trắng muốt chẳng
khác gì vải đay,cịn nhuộm được năm sắc, dệt thành vải hoa” (Lương thư).Vải
trắng còn được dùng để cống nạp, các chính sử của Đại Việt và Trung Hoa đều
ghi chép lại Chiêm thành cống vải trắng. Hay như nghề gốm cũng được đánh giá
là độc đáo và có kỹ thuật cao mà ngày nay cịn lại là làng gốm Bàu Trúc (thị trấn
Phước Dân, huyện Ninh Phước, Ninh Thuận); sự độc đáo chính nằm ở kỹ thuật
làm gốm khơng bàn xoay và khơng cần lị nung, nhưng vẫn tạo ra được những
sản phẩm gốm có độ bền và giá trị thẩm mỹ cao.
Nghề đóng gạch và xây dựng cũng đạt trình độ cao thể hiện qua hệ thống đền
tháp đồ sộ còn lại đến ngày nay, chạy dọc trung và nam trung bộ nước ta. Các
nhà nghiên cứu cho biết, dân Chăm xưa đã xây dựng tường gạch bằng chất keo
được chiết từ một loại cây có ở quanh vùng, vậy mà các cơng trình vẫn đứng
vững trước mưa nắng cả nghìn năm. Bên cạnh việc xây dựng đền tháp cịn hình
thành và phát triển cả nghề chạm khắc trên gạch và đá, khẳng định tay nghề
khéo léo của cư dân Chămpa.
Thật thiếu xót khi nói đến nền kinh tế của người Chămpa mà lại bỏ qua yếu tố
biển, ở đây chính là thương mại biển và ngư nghiệp biển. Có một nét chung khá
đặc trưng của chủng người Mala-Pơlinêxia chính yếu tố văn hóa biển thể hiện
ở việc mở cửa giao thương với bên ngoài qua các thương cảng và việc đánh bắt
cá ngoài khơi xa. Tuy nhiên, để thấy được vị trí đặc biệt về biển của Chămpa ở
đây xin phép mượn lời của GS Trần Quốc Vượng (trong Việt Nam, cái nhìn địa –
văn hóa): Biển là cái gạch nối giữa khơng gian văn hóa Sa Huỳnh – Chămpa – Ĩc
Eo với thế giới Đông Nam Á hải đảo – Mã Lai và các khơng gian văn hóa biển
khác, từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương…. Và bằng chứng là một loạt các
cảng thị dọc miền Trung được nghiên cứu đánh giá đều là những cảng thị
Chămpa như: Nhật Lệ (Quảng Bình), Hội An (Quảng Nam), Thị Nại (Bình Định)…
Trên đây chỉ là điểm qua một số ngành nghề quan trọng trong nền kinh tế
Chămpa xưa, nhưng phần nào cũng thấy được cư dân Chăm đã biết tận dụng lợi
thế tự nhiên để khai thác tốt mang lại nguồn lợi lớn về kinh tế, bên cạnh đó kỹ
thuật tay nghề thủ cơng, điêu khắc… cũng đạt trình độ cao. Việc hình thành và
phát triển từ sớm cùng với số lượng các cảng thị đã khẳng định vị trí quan trọng
của biển trong kinh tế – xã hội – văn hóa của cư dân Chămpa xưa kia.
1.3. Văn hóa, tín ngưỡng và tơn giáo của người Chăm:
Nếu nhìn qua hệ thống đền tháp và các bi ký được viết bằng chữ Phạn, có thể dễ
dàng nhận thấy văn hóa Chăm ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ. Nhưng nếu chỉ
nhìn văn hóa Chăm qua lăng kính văn hóa Ấn Độ thì thật là thiếu xót. Như đã
biết, Chămpa chịu ảnh hưởng tôn giáo của Ấn Độ: Bàlamôn và Phật giáo, nhưng
Bàlamôn vẫn là tôn giáo chính xuyên suốt lịch sử nền văn minh Chămpa mặc dù
có thời gian Phật giáo trở thành tơn giáo chính của Chămpa (Vương triều Đồng
Dương – Indrapura giữa thế kỷ IX – cuối thế kỷ X). Bàlamôn giáo coi trọng yếu tố
phụ hệ và đẳng cấp trong xã hội, tuy nhiên khi du nhập vào Chămpa yếu tố mẫu
hệ vẫn khá rõ nét cho dù tính chất phụ quyền cũng được khẳng định hơn. Như
việc thờ và lưu truyền truyền thuyết về nữ thần Pô Nagar, hay việc thừa hưởng
tài sản thuộc về người con gái út, như trong việc làm đồ gốm (Bàu Trúc) là người
phụ nữ làm chứ không phải đàn ông, hay bản thân đạo Bàlamôn cũng được cải
biên thành đạo Bà Chăm để phù hợp với văn hóa người Chăm.
Để hiểu bản chất văn hóa Chăm, xin mượn cách tiếp cận văn hóa của GS Trần
Ngọc Thêm: “Nguồn ảnh hưởng Ấn Độ, tuy đóng vai trị quan trọng trong sự hình
thành văn hóa Chăm, nhưng nó không phải là tất cả. Kế thừa di sản phong phú
của văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm tất yếu còn là sản phẩm tổng hòa của cả
nguồn ảnh hưởng khu vực và nguồn bản địa”(1). Như vậy, có ba nguồn văn hóa
tác động đến văn hóa Chăm, nguồn văn hóa Ấn Độ, nguồn văn hóa khu vực và
nguồn văn hóa bản địa. Cả ba nguồn văn hóa bao bọc, hịa quyện lại, cùng tồn tại
chứ khơng triệt tiêu lẫn nhau. Điều này lý giải tại sao người Chăm vốn cứng rắn,
cương nghị thậm chí hiếu chiến lại có tạo ra những bức tượng vũ nữ Apsara mềm
mại, thanh thoát mang tính âm của văn hóa nơng nghiệp khu vực Đơng Nam Á
nhưng đồng thời cũng khốc lên mình vẻ tơn nghiêm, huyền bí của Bàlamơn
giáo.
Nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chăm ở Việt Nam:
3.1. Nghệ thuật xây dựng và tạo hình trong kiến trúc đền tháp Chăm:
Văn hóa Chăm ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nên rõ ràng việc xây dựng các
cơng trình kiến trúc tơn giáo cũng khơng thốt ra ngồi sự ảnh hưởng đó.
Nhưng yếu tố bản địa cũng tác động lên các cơng trình, điều này tạo ra những
nét độc đáo mà chỉ đền tháp Chăm mới có được.
Về cấu trúc quần thể tháp Chăm, theo GS Trần Duy Hinh (trong Người Chăm xưa
và nay) có hai loại: Loại thứ nhất là quần thể kiến trúc bộ ba gồm ba tháp song
song thờ ba vị thần Brahma, Visnu và Shiva (Hòa Lai, Khương Mỹ…). Loại thứ
hai là quần thể kiến trúc có một tháp chính thờ Shiva và các tháp phụ để thờ các
vị thần thứ cấp hay để phục vụ tế lễ.
Tháp Chăm được xây dựng theo mơ típ đền tháp Ấn Độ kiểu khối chữ nhật đứng
với đáy có thể là hình vng hoặc hình chữ nhật, nhọn dần lên đỉnh biểu trưng
cho ngọn núi thiêng Mêru (Ấn Độ), theo truyền thuyết là nơi các vị thần ngự trị
và vị thần tối cao sẽ ngự trên đỉnh cao nhất.
Tháp Chăm thường có kết cấu ba phần: đế, thân và mái. Đế tháp tượng trưng cho
thế giới trần tục, được xây bằng gạch hoặc bằng đá được trạm trổ công phu thể
hiện nhiều chủ đề khác nhau như: hoa lá, linh vật hay bầu vú thể hiện tín
ngưỡng phồn thực…Thân tháp tượng trưng cho thế giới tâm linh, nơi con người
gột rửa mọi bụi trần để đến gần hơn với tổ tiên và thần linh; phần thân tháp
được “ghép” bằng gạch và rất dày (trên dưới 1m), có một cửa chính (thường
quay về hướng Đơng) và ba cửa giả; mặt ngồi thân tháp được trang trí đa dạng:
cột trụ áp tường, cửa giả thường có hình vịm cuốn, bên trong vịm cuốn chạm
nổi các hình trang trí, thường thấy là hình người chắp tay thành kính (đền
PơKlơng Garai). Mái tháp tượng trưng cho thế giới thần linh, thường có 3 tầng
và một chóp bịt kín phần đỉnh tháp. Mỗi tầng đều mang đầy đủ đặc điểm kiến
trúc của một thân tháp thờ với cửa giả, trụ áp tường, diềm mái… nhưng được
giản lược và thu dần vào khi lên cao.
Bên trong đền tháp Chăm là một không gian nhỏ hẹp, tường bên trong để trơn
khơng trang trí, ở giữa đặt một đài thờ bằng đá, xung quanh là một lối đi hẹp;
đài thờ có khi là tượng thần (thần shiva – tháp Bánh Ít) hoặc vua (đền PôKlông
Garai), nhưng thường là phối ngẫu linga và yoni. Đặc biệt là linga – sinh thực
khí nam, cũng là biểu tượng của Shiva theo quan niệm của cư dân Chămpa, thể
hiện tính dương trong văn hóa bản địa, được đặt trên yoni – sinh thực khí nữ,
thể hiện tính âm trong văn hóa khu vực. Bởi khơng gian bên trong tháp nhỏ hẹp
như vậy nên các nghi lễ cúng tế đều được thực hiện phía bên ngồi của tháp.
Nói đến tháp Chăm, nói đến tín ngưỡng cư dân Chăm chắc chắn phải nói đến
linga. Quả thực, linga xuất hiện dày đặc trong hệ thống tháp Chăm và chưa thấy
dân tộc nào trên đất nước Việt Nam này lại sùng bái linga như dân tộc Chăm.
Vậy linga có đơn thuần là thể hiện tín ngưỡng phồn thực hay cịn ẩn chứa những
giá trị lớn lao khác? Và điều này có tác động gì đến nghệ thuật kiến trúc đền
tháp Chăm?
Cùng với linga – sinh thực khí nam, cịn có yoni – sinh thực khí nữ được xem là
hai biểu tượng nằm trong hệ thống biểu tượng thể hiện tín ngưỡng phồn thực.
Tín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng sùng bái sự sinh sơi nảy nở, đã có ở cư dân
nông nghiệp từ xa xưa. Vậy trước hết, việc thờ linga là cách thể hiện tín ngưỡng
phồn thực và người Chăm cũng là cư dân nông nghiệp nên tục thờ sinh thực khí
đã phải có từ trước khi Bàlamơn giáo xâm nhập.
Các nhà nghiên cứu chia linga Chăm làm ba loại:
– Một loại linga chỉ có một phần hình trụ trịn(1) nghĩa là thuần linga, thể hiện
tính dương trong chất bản địa của người Chăm.
– Loại linga thứ hai có cấu tạo hai phần. Phần trên vẫn là hình trụ trịn, phần dưới
là một vật thể to hình trịn hoặc vng(2). Đến đây đã xuất hiện yoni (vật thể to
hình trịn hoặc vng), thể hiện cả tính âm trong chất khu vựcnơng nghiệp
– Loại linga thứ ba có cấu tạo ba phần. Phần trụ tròn bên trên, phần ở giữa là
hình bát giác và phần cuối là hình vng. Cấu trúc ba phần này phản ánh ảnh
hưởng của triết lý Bàlamơn giáo Ấn Độ: Phần hình vng (âm tính) ở dưới ứng
với thần Brahma sáng tạo; khúc hình bát giác ở giữa là một phần chuyển tiếp,
ứng với thần Visnu bảo tồn; cịn phần trụ trịn (dương tính) ở trên ứng với thần
Siva phá hủy.(3)
Như vậy, linga ngồi tín ngưỡng phồn thực cịn mang yếu tố tơn giáo Bàlamơn ở
loại linga có cấu tạo ba phần. Tuy nhiên, nếu chỉ đến đây và kết luận rằng linga
của cư dân Chămpa thể hiện tín ngưỡng phồn thực và triết lý Bàlamơn, đồng
thời khẳng định nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chăm là nghệ thuật phản ánh tín
ngưỡng và tơn giáo thì chưa thực sự đầy đủ, yếu tố chủ thể ở đây là cư dân
Chămpa vẫn chưa được làm rõ. Vậy yếu tố chủ thể là cư dân Chăm là gì? Và được
thể hiện bằng hình thức nào?
Linga ngồi phân loại theo cấu tạo, các linga cịn được phân biệt qua hình thức
như Mukhalinga (linga tạc hình mặt người), Jatalinga (tạc Shiva hình ngọn nến
tượng trưng cho lửa với kiểu tóc búi), Kosalinga (khối kim loại được dùng che
phủ linga, mang ý nghĩa trang trí); trong đó loại Jatalinga chiếm số lượng lớn.
Người Chăm tôn thờ cả ba vị thần, nhưng thần hủy diệt – Siva mang đặc tính
dương được đề cao hơn cả (thể hiện ở số tượng Siva và bia ký nói về Siva chiếm
đa số). Việc tơn thờ Siva (dương tính) được thể hiện trên linga (dương tính) như
muốn khẳng định cái chất mạnh mẽ, dương tính của cư dân Chăm.
Khơng chỉ xem linga là hiện thân của Siva, cư dân Chăm còn tạc tượng Siva cầm
linga, thần voi Ganesa cầm linga hay trên đỉnh tháp cũng có xuất hiện linga
(tháp Bà – Nha Trang)…
Tưởng chừng Chămpa chịu ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ sâu sắc như vậy
nhưng có lẽ, tơn giáo chỉ là cơng cụ (trong xây dựng và tạo hình) cho cư dân
Chăm thỏa sức sáng tạo, thể hiện trình độ kỹ nghệ điêu luyện để thổi cái hồn
Chăm vào các cơng trình tơn giáo. Chính điều này đã tạo ra nhưng nét độc đáo
của riêng Chăm, mà nhiều cơng trình cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở
những nơi khác khơng có được.
Tháp được xây dựng bằng gạch nung ghép chồng lên nhau, biến cả tòa tháp cao
20m – 30m như khốc lên mình màu đỏ nâu của đất, tạo cho tháp vẻ đẹp dung
dị mang nhiều vẻ cổ kính hơn sự hào nhống. Điều này trái ngược với những
ngôi chùa rực rỡ của người Khơme.
Tháp được xây nhỏ hơn nhiều so với tháp ở Campuchia và Ấn Độ nhưng cư dân
Chămpa đã biết lợi dụng địa hình đồi cao để tôn thêm giá trị của đền tháp, đồng
thời vẫn truyền tải hết được nội dung trong tôn giáo cũng như thể hiện được tín
ngưỡng bản địa một cách tinh tế.
Kỹ thuật điêu khắc trên gạch ở trình độ rất cao, ngay cả sử sách Trung Hoa cũng
phải công nhận người Chăm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc
gạch. Quả thực như vậy, các cơng trình xây dựng bằng có rất nhiều tuy nhiên để
có cơng trình điêu khắc trên gạch gần như chỉ ở tháp Chăm mới có và tinh xảo
đến thế.
Điêu khắc trên gạch rõ ràng người Chăm là bậc thầy nhưng ngay cả với những
chất liệu khác như sa thạch, đất nung, đồng… người Chăm cũng tỏ rõ sự khéo
trong tay nghề và tinh trong con mắt thẩm mỹ như: “Vũ nữ Apsara” ở bệ tượng
Trà Kiệu (Quảng Nam), “Tượng thần Siva” Tháp Mẫm (Bình Đinh)….; và đặc biệt
là các ngẫu tượng linga mà theo nhận định của GS Lương Ninh (Lịch sử Việt Nam
tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985, tr 231) “Chưa ở đâu trong
các quốc gia Đơng Nam Á có ngẫu tượng linga nhiều, kích thước lớn và đẹp như
những linga ở Chămpa”.
3.2. Giá trị trong nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chăm:
Nói đến nghệ thuật là nói đến cái đẹp, mà cái đẹp là một phạm trù mỹ học đem
lại cho con người một cảm giác khoái lạc về mặt thẩm mỹ, biểu hiện dưới hình
thức cảm tính thơng qua việc phản ánh và đánh giá những hiện tượng của hiện
thực và những tác phẩm nghệ thuật. Khái quát rộng hơn đó là việc truyền tải văn
hóa tinh thần vào văn hóa vật chất đồng thời thơng qua văn hóa vật chất để làm
thỏa mãn tinh thần. Như vậy, khi xét đến nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chăm,
có ba giá trị chi phối, đó là: truyền tải, thể hiện và lưu giữ.
Cư dân Chămpa đã thể hiện những tư tưởng, tơn giáo, niềm tin,… – những yếu tố
trong văn hóa tinh thần vào đền tháp – mang văn hóa vật chất thông qua nghệ
thuật (gồm yếu tố sáng tạo và kỹ thuật).
Nhưng ngược lại, nghệ thuật đền tháp Chăm cũng truyền tải lại những yếu tố văn
hóa tinh thần, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu được thụ hưởng cái đẹp (trong tơn
giáo, tín ngưỡng và con người) của cư dân Chămpa.
Nghệ thuật kiến trúc đền tháp cũng chính là nơi lưu giữ những cái đẹp trong tâm
hồn, lưu giữ tính mạnh mẽ của văn hóa bản địa, cái mềm nhẹ trong văn hóa
nơng nghiệp khu vực vả được bao trùm lên bởi cái tôn nghiêm của tôn giáo. Để
giờ đây, sau hàng ngàn năm, những gì là đẹp nhất, giá trị nhất của người Chăm
xưa kia vẫn cứ hiển hiện ra trước mắt chúng ta.
III. Kết luận:
Nét độc đáo trong nghệ thuật kiến trúc đền tháp Chăm chính là những gì tinh
túy của người Chăm, được chắt lọc qua hàng ngàn năm. Từ việc hiểu những giá
trị đó, ta sẽ cảm thấy quý trọng và nâng niu hơn những gì mà bậc tiền nhân lưu
giữ lại; thấy thêm yêu và tự hào hơn văn hóa truyền thống dân tộc.
Xã hội luôn biến động, nền văn minh Chămpa đã đi qua, nhưng văn hóa Chămpa
vẫn cịn ở lại và đang đóng góp vào chuỗi những giá trị văn hóa riêng trong một
tổng thể văn hóa Việt Nam thống nhất, đậm đà bản sắc dân tộc.