Tham luận nâng cao chất lượng đại trà
A. Đặt vấn đề
Mơn Ngữ Văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình của cấp
học THCS. Ngồi việc cung cấp kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ
Văn cịn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em
học sinh: biết yêu thương, q trọng gia đình, thầy cơ, bạn bè, có lịng yêu
nước, biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lịng nhân ái, tinh thần tơn
trọng lẽ phải, sự cơng bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu, bước đầu các em
có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả.
Tuy nhiên học Văn là cả một q trình tích luỹ lâu dài, không thể học
xổi, học dồn mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm.
Đây cũng là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên đã
thực hiện song đó cũng là các đề tài có tính chất chung cho việc dạy học môn
Ngữ Văn. Qua kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, qua việc
tìm hiểu thực tế ở dạy – học môn Ngữ Văn ở trường sở tại, chúng tôi mạnh
dạn đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn.
B. Nội dung
I. Thực trạng
Các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn đều đạt chuẩn về chuyên mơn
nghiệp vụ, có lịng u nghề, nhiệt tình trong giảng dạy.
Xác định tầm quan trọng của mơn Ngữ Văn nên đa số học sinh có ý
thức học tập bộ môn.
Học sinh ở xã đại đa số là con em nông dân nên chăm chỉ, có ý thức cố
gắng trong học tập và rèn luyện bộ môn Ngữ Văn.
Tuy nhiên theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xã hội, môn Ngữ văn
đang bị mất dần vị thế của nó. Học sinh ít mặn mà với bộ mơn Văn và chỉ coi
môn văn là môn học bắt buộc để thi vào lớp 10.
Sách tham khảo cho bộ mơn rất nhiều nên khó khăn cho việc lựa chọn
tài liệu để nâng cao chất lượng dạy – học môn Ngữ Văn.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn? Sau
đây chúng tơi xin trình bày một vài kinh nghiệm nho nhỏ, hi vọng sẽ giúp
1
nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
II. Giải pháp
Từ thực tiễn giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh
chúng tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm dạy - học nhằm nâng cao chất lượng
bộ môn Ngữ Văn.
1. Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân.
- Cuộc sống xã hội biến đổi từng ngày từng giờ nên dù giáo viên giảng
dạy môn Ngữ Văn đều được đào tạo chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ nhưng
cần tích cực, thường xun tự bồi dưỡng chun mơn nghiệp vụ cho bản
thân. Từ năm học 2008 – 2009 là năm mà Bộ Giáo dục lấy là năm ứng dụng
công nghệ thông tin vào trong việc dạy - học. Vì thế tất cả các trường trong
cả nước đều được hỗ trợ lắp đặt mạng Internet. Việc lắp đặt mạng sẽ giúp các
thầy cô giáo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Có thể tìm kiếm thơng tin
phục vụ giảng dạy, trao đổi với các thầy cô giáo trên mọi miền tổ quốc (VD:
Bài giảng Bạch kim, , Thi viên.Nét; Sachhay.com,...). Bên cạnh đó cũng có
thể học hỏi bạn bè đồng nghiệp để tích luỹ nâng cao năng lực chun mơn,
nghiệp vụ.
- Nên nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái
nhì n bao qt về nội dung yêu cầu cho từng khối lớp.
- Soạn - giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định
trong phân phối chương trình.
- Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp
học để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Giáo viên cũng cần phân loại
được học sinh trong lớp. Dù là lớp chọn, lớp đại trà hay lớp yếu kém thì mức
độ tiếp thụ, học tập của học sinh có sự khác nhau. Từ đó xác định học sinh
yếu kiến thức, kĩ năng nào để tìm ngun nhân, biện pháp khắc phục cịn đối
với học sinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng
thú trong việc học tập bộ môn.
2. Hướng dẫn học sinh cách học (trên lớp và ở nhà)
* Khi tiếp nhận lớp cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép sao cho đúng, đủ,
khoa học, dễ học. Học sinh rất tiết kiệm, thường để lề rất ít hoặc không để lề,
2
vì vậy giáo viên phải kiểm tra nhắc nhở để học sinh phải để lề đủ lớn (2,5-3,0
cm) đề dễ theo dõi bài học. Nếu cần bổ sung thì ghi vào lề cho tiện. Phần số
tiết, tên bài, các đề mục cũng cần phải ghi làm sao cho nổi bật dễ nhận thấy.
Sau mỗi tiết học cần có thói quen kẻ hết bài để dễ học, dễ kiểm tra.
* Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập
- Với phân môn Văn (Phần văn bản)
+ Đọc lại toàn bộ văn bản trước khi học (Mặc dù ở phần học chính khố
đã đọc). Đối với văn bản là tác phẩm thơ phải học thuộc, là văn xi phải tóm
tắt được nội dung của văn bản, học thuộc dẫn chứng.
+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả
(Năm sinh năm mất- nếu có- tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp
văn chương của tác giả đó, hiểu được hồn cảnh sáng tác tác phẩm
+ Nắm chắc được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm (tìm
hiểu phần nội dung cần đạt, phần ghi nhớ).
+ Biết phân tích, cảm thụ một số chi tiết (câu, đoạn) được cho là đặc sắc (Đối
với học sinh khá giỏi)
- Đối với phân môn Tiếng Việt
+ Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ dễ đến
khó(Từ nhận biết đến thông hiểu, vận dụng ở mức độ thấp, vận dụng ở mức
độ cao)
+ Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của
phép tu từ đó trong hồn cảnh sử dụng.
+ Biết viết câu, viết đoạn (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) với nhiều chủ
đề và yêu cầu khác nhau (Diễn dịch, quy nạp…)
- Đối với phân môn Tập làm văn
+ Nắm được dặc trưng các thể loại: Miêu tả, Tự sự, Biểu cảm, Nghị luận,
thuyết minh, hành chính cơng vụ.
+ Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý;
biết viết các đoạn để hoàn chỉnh bài viết.
* Hướng dẫn học sinh cách làm bài :
- Phần trắc nghiệm: Học sinh thường hay nhầm lẫn ở tác giả, phương
thức biểu đạt, … vì thế giáo viên cần nhắc nhở thường xuyên để học sinh
3
tránh các lỗi đó. Cần cho học sinh nắm rõ các hình thức trắc nghiệm: trắc
nghiệm nhiều lựa chon, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm ghép đôi, ...
- Phần tự luận: Khi làm phần tự luận cũng cần chú ý ở từng câu. Học
sinh thường chủ quan khi đọc câu hỏi, thấy câu nào quen thường chú tâm vào
làm mà không để ý đến thang điểm nên những câu ít điểm thì chú ý cịn câu
nhiều điểm thì làm rất sơ sài …. dẫn tới bài làm bị điểm thấp, không đạt yêu
cầu.
+ Đối với dạng tự luận ngắn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách trả
lời, cách làm bài. Không nhất thiết viết thành một bài có bố cục ba phần đầy
đủ nhưng trong đoạn văn cũng cần có phần nêu, phần nội dung và kết thúc.
VD: Nêu ý nghĩa tình huống truyện “Làng” của Kim Lân
“Làng” là một thành công của Kim Lân. Truyện thể hiện tình yêu làng
của nhân vật ơng Hai. Tình cảm ấy của ơng Hai được đặt trong một tình
huống thử thách, tình huống ơng đột ngột nghe tin dữ: làng quê ông - làng
Chợ Dầu, theo giặc . Làng Chợ Dầu mà ông hằng tự hào, hãnh diện bấy lâu
nay bỗng theo giặc. Tình huống ấy giúp nhà văn có thể đi sâu khai thác nội
tâm nhân vật để thể hiện rõ tình yêu làng và tinh thần kháng chiến của những
người nông dân phải rời làng đi tản cư như ông Hai.
+ Đối với dạng tự luận dài, giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi
tiết học sinh có thể vận dụng để lập dàn ý một cách thuần thục. Giáo viên
cũng cần viết mẫu cho học sinh một số bài văn để học sinh có thể dựa vào đó
mà vận dụng.
Ở từng lớp (7, 8, 9) nên rèn cho học sinh cách viết bài cho các kiểu văn
bản nhất là văn bản nghị luận. Trước hết là phần mở bài để ít nhất khi đọc
một đề văn học sinh biết tự làm phần mở bài (dù là học sinh yếu). Muốn thế
giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều cách mở bài., hướng dẫn cho
học sinh một cách mở bài và viết gợi ý cho học sinh một cách mở bài. Để lên
các lớp trên học sinh biết viết phần thân bài (từ khâu viết đoạn).
* Sau mỗi tiếti dạy, ra bài tập và hướng dẫn học sinh cách làm, những nôi
dung cụ thể cần học thuộc, cần ghi nhớ để học sinh chuẩn bị cho tiết sau.
3. Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá
4
Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh
phải tự giác học tập.
- Kiểm tra vở ghi: Kiểm tra chữ viết, kiểm tra nội dung ghi chép có đầy đủ
không (nhắc nhở về cách ghi chép)
- Kiểm tra sách, tài liệu - sách tham khảo, vở nháp của học sinh. Học sinh
nào chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại. Nên giới thiệu một
số sách tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập.
- Kiểm tra đầu giờ,
+ Kiểm tra miệng: Nội dung đã nhắc từ tiết trước
+ Vừa kiểm tra miệng, vừa kiểm tra viết: Kiểm tra miệng có thể là tác
giả, bài văn; kiểm tra viết có thể cho học sinh viết nội dung nghệ thuật của
tác phẩm truyện, bài thơ,…
+ Làm bài tập Tiếng Việt: Nếu bài tập trong sách giáo khoa nên kiểm tra
sách của học sinh để tránh việc học sinh ghi lời giải vào bài tập trong sách.
Có thể ra bài tập tương tự SGK, bài tập nâng cao (HS khá, giỏi)
* Đối với học sinh chưa thuộc kĩ hoặc không thuộc. Lần đầu cho kiểm tra vào
cuối tiết. lần 2 cho học lại và kiểm tra vào tiết học chuyên đề, lần tiếp theo có
thể bố trí riêng một buổi để kiểm tra nếu khơng sửa chữa sẽ mời gia đình đến
để thơng báo, nhắc nhở, trao đổi thêm. Đối với những học sinh cá biệt như
lười học, yếu kĩ năng, ... giáo viên nên lập một danh sách riêng để chú ý kiểm
tra nhiều hơn.
4. Kết hợp giữa học chính khố và học chuyên đề (Học thêm, phụ đạo)
Bộ GD&ĐT đã cho phép các trường tổ chức học thêm để nâng câo chất
lương dạy học các mơn nói chung và mơn Ngữ Văn nói riêng. Vì thế khi tổ
chức các lớp học chuyên đề giáo viên phải biết lựa chon những kiến thức cơ
bản nhất để dạy có hiệu quả và gây sự hứng thú học tập bộ môn.
Khi dạy học cần quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm tra, đánh giá vì dạy
chun đề có nhhiều thời gian so với dạy chính khố.
Ở mỗi khối lớp, cần chia theo các nội dung lớp để giảng dạy cho có hệ
thống
VD: Ở lớp 9, có thể chia thành các nội dung như: Truyện Trung đại, Thơ hiện
đại, truyện hiện đại, Văn bản nhật dụng, Văn bản thuyết minh, Các phương
5
châm hội thoại,...
Kết thúc mỗi nội dung nên có các bài kiểm tra để đánh giá việc học tập
của học sinh để đề ra cách giảng dạy cho phù hợp. Những học sinh chưa đạt
yêu cầu (bước đầu có thể kiểu tra học sinh từ điểm 4 đến 4.75) cần cho học
sinh ôn lại để kiểm tra theo sự bố trí của giáo viên.
5.Lập danh sách, tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém
Bước đầu tiên, bàn giao chuyên môn giữa giáo viên năm học cũ và năm học
mới sau khi nhận lớp; qua bài khảo sát chất lượng đầu năm và bài viết số 1,
tiến hành lập danh sách học sinh yếu ở các lớp và tìm ra những nguyên nhân
dẫn đến học sinh yếu kém như sau:
Lười học bài (nhất là những dẫn chứng); chăm học bài nhưng mau quên; yếu
kỹ năng đọc - hiểu văn bản; viết đoạn văn chưa rõ nghĩa; đọc không kỹ đề,
dẫn đến viết bài văn lạc đề; chữ viết cẩu thả, khó đọc.
6.Xây dựng kế hoạch phụ đạo phù hợp
Sau khi tìm hiểu được nguyên nhân học sinh yếu kém của lớp, căn cứ vào
định hướng phụ đạo của tổ, vào cấu trúc đề kiểm tra, thi học kì của Sở
GD&ĐT, thời khóa biểu của lớp..., giáo viên tiến hành xây dựng kế hoạch
phụ đạo cho phù hợp
Kế hoạch dạy phụ đạo giúp học sinh yếu được lãnh đạo chun mơn kí duyệt
và sẽ thực hiện xun suốt hết học kì.
Tuần
Chủ đề
Nội dung phụ đạo
Thời gian
Phương pháp
7. Phối hợp chặt chẽ với, nhà trường, với GVBM
Thông báo cho Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập
chung của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực đề
6
xuất các hình thức khen thưởng, kỉ luật kịp thời.
8. Kết hợp gia đình học sinh
Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy - học: Giáo viên dạy
Văn thường là các giáo viên chủ nhiệm nên có thể trao đổi với phụ huynh
qua buổi họp phụ huynh, nếu khơng có thể đến gặp gỡ với gia đình, trao đổi
qua điện thoại, thư, … để gia đình đơn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp
học sinh chăm chỉ tích cực hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ mơn.
Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối
tượng học sinh (Trung bình, Yếu) để thơng báo với gia đinh, bàn với gia
đình những biện pháp nâng cao chất lượng học tập.
C. Kết luận
Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất
lương dạy học bộ mơn. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những ý kiến cá nhân.
Trong thực tế cịn có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp. Rất
mong sự đóng góp của các thầy cơ.
Người viết tham luận
Nguyễn Thị Kiều Thúy
Nâng cao chất lương môn ngữ văn
7
Các môn học ở phổ thông, ngữ văn là một trong hai môn thi bắt buộc trong
các kỳ thi tuyển sinh. Hơn thế, học văn còn là học làm người, để mỗi người
sống nhân hậu, biết yêu thương và đối nhân xử thế… Để học sinh (HS) lớp 9
học tốt môn văn, các trường THCS đã nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy
nhằm nâng cao chất lượng tuyển sinh vào lớp 10.
Tại trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai (TP.TDM) chất lượng tuyển sinh
vào lớp 10 ở môn ngữ văn mỗi năm đều được tăng lên, số HS đạt điểm cao
bộ môn cũng tăng đáng kể. Theo các giáo viên (GV) dạy bộ môn văn, để thực
hiện một tiết dạy sinh động, hấp dẫn, đạt kết quả cao thật vô cùng khó. Trước
hết, GV cần nắm rõ đặc điểm nhận thức cũng như đặc điểm nhân cách của
từng HS. Trên cơ sở đó sẽ phân loại HS chính xác. GV cần tạo cho các em
niềm đam mê học tập, nâng cao tính tự giác, tích cực chủ động học tập.
Trong quá trình giảng dạy, GV cần kết hợp cung cấp kiến thức mới với việc
ôn tập một cách hợp lý.
GV phải phối hợp nhiều phương pháp, kỹ năng để tạo nên những giờ học
sinh động, lôi cuốn, đạt hiệu quả cao. GV chú ý hướng dẫn HS cách học trên
lớp, ở nhà; đa dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá; kết hợp giữa học
chính khóa và học tự chọn, tăng tiết. Theo kinh nghiệm của trường, trong
tháng ôn tập thi tuyển sinh, ngay sau khi kết thúc kiểm tra học kỳ 2 nhà
trường xếp lịch ôn tập cho HS. Sau 2 tuần đầu ôn tập nhà trường sẽ tổ chức
thi thử lần 1. Trước khi kết thúc ôn tập khoảng 1 tuần, nhà trường tiếp tục tổ
chức thi thử lần 2 và kịp thời báo điểm để GV rút kinh nghiệm sửa sai những
thiếu sót cho HS giúp các em làm bài tốt.
Trong khi đó, GV dạy mơn ngữ văn ở trường THCS Trịnh Hoài Đức
(TX.Thuận An) đã đưa ra phương pháp giảng dạy để hạn chế tỷ lệ HS yếu
kém. Ngay từ đầu năm, GV phân loại HS bằng cách chia nhóm và ngồi theo
nhóm. Sau 1 tháng sẽ thay đổi nhóm. Điều quan trọng là GV khơng coi
thường, bỏ mặc HS yếu kém mà chia nhóm để động viên các em học. GV cịn
tìm hiểu ngun nhân yếu kém của từng em. Để nâng cao chất lượng mơn
học địi hỏi sự nhiệt tình của GV. GV tổ chức dạy buổi tối khơng thu học phí
đối với những em yếu kém. Chủ yếu là trả bài, làm những bài tập ngắn. GV
8
nhờ các em học khá giỏi hỗ trợ kèm những em yếu. Ngồi ra, GV cịn hướng
dẫn các em phương pháp học. Khi ở nhà các em làm những bài tập GV giao.
Đọc bài mẫu, sửa lại các bài tập làm văn. Ngay từ đầu năm cứ mỗi bài HS tự
ghi câu hỏi ra giấy, xếp lại và cho vào một hộp. Hộp này các em để ở chỗ
thuận tiện, đi qua bốc một câu đọc rồi cho vào một hộp rỗng kế bên. Một
ngày học được 3 đến 4 câu, lâu ngày chuyển từ hộp có đến hộp khơng, sau đó
làm ngược lại…Thầy Đặng Thanh Nhàn, GV trường THCS Tân Đông Hiệp
(TX.Dĩ An) cho biết, qua những năm tham gia chấm thi tuyển sinh lớp 10,
thầy nhận thấy HS cịn mắc nhiều lỗi về hình thức lẫn nội dung. Để khắc
phục tình trạng trên, GV cần trang bị cho HS nền tảng kiến thức văn học theo
từng giai đoạn, từng tác giả, tác phẩm… cũng như kiến thức tiếng Việt một
cách vững chắc. Rèn cho HS kỹ năng nhận dạng đề, kỹ năng viết văn tùy
theo thời gian, theo yêu cầu, thể loại khác nhau. Chú ý nhắc nhở và sửa lỗi
cho HS trong quá trình giảng dạy, kiểm tra để các em tránh được những lỗi
nhỏ khi làm bài. Đối với HS, các em không nên học tủ, học vẹt mà phải nắm
kiến thức tổng quát phải rèn kỹ năng, phương pháp làm bài, nắm vững cấu
trúc đề thi. Khơng nên viết q vội, chú ý chính tả, trình bày sạch đẹp, khơng
nên viết theo cảm tính mà phải đọc kỹ đề bài, nắm rõ yêu cầu của đề, phải
cân nhắc phân bố thời gian hợp lý theo từng câu hỏi, phải lập dàn ý trước khi
viết. Tránh việc bơi xóa, cần làm bài cẩn thận.
Để đạt kết quả cao ở kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 sắp tới, hiện tại HS bắt đầu
chạy nước rút, tập trung cao độ cho việc học. Với những kinh nghiệm giảng
dạy các GV chia sẻ cùng nhau, hy vọng chất lượng tuyển sinh lớp 10 ở môn
ngữ văn sẽ được nâng lên, góp phần nâng cao chất lượng ở bậc THPT.
9
“Tham luận về giải pháp nâng cao chất lượng bộ mơn Ngữ Văn”
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS-THPT TẢ SÌN THÀNG
I/ THỰC TRẠNG
Trong nhiều năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới nội dung kiểm
tra đánh giá theo hướng mở, đưa các vấn đề cuộc sống, sự kiện lịch sử, xã hội
vào đề thi thì kết quả của học sinh chúng ta đã khơng cịn như trước. Kết quả
thi THPT môn Ngữ văn năm học 2014-2015 thấp, điểm bình qn mơn văn
của trường đạt 4,39 điểm. Và như vậy mục tiêu lấy các môn học thuộc lĩnh
vực khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa làm cứu cánh cho học sinh vùng đặc
biệt khó khăn trong kỳ thi THPT là chưa đạt được.
Học sinh 100% là con em dân tộc thiểu số với khả năng ngôn ngữ tiếng Việt
từ nghe, nói, đọc, viết, đến hiểu vốn từ tiếng việt cịn thiếu, yếu.
Thống kê chất lượng mơn ngữ văn HKI năm học 2015-2016
Lớp
Điểm TBM Ngữ văn HKI (15-16)
Ghi chú
< 3,5
3,5 - 5,0
5,1 - 6,4
6,5 -7,9
> 8,0
12A1
0
4
14
9
0
12A2
3
11
9
7
0
12A3
0
2
19
9
0
17
42
25
0
Tổng số 3
Tổng số 87
10
%
23%
48%
30%
Kết quả thống kê trên cho ta thấy tình trạng học sinh đáng lo ngại, hơn các
năm trước rất nhiều nếu ta khơng có cách thức biện pháp cụ thể, tỉ lệ trượt
năm nay sẽ khơng cịn vài học sinh như năm ngối nữa. Số học sinh ở trong
tình trạng phải quan tâm đặc biệt là: 20-25 HS chiếm: khoảng 25-30%.
II. NGUYÊN NHÂN
Từ thực tế khảo sát công tác dạy, học, ôn thi tốt nghiệp THPT, tôi xin đưa ra
một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nguyên nhân thứ nhất: giáo viên ngữ văn có kiến thức cơ bản về mơn học
cịn rất hạn chế. những giáo viên lâu năm, có kinh nghiệm thì lại chuyển cơng
tác, hoặc do cách thức sắp xếp phân công giáo viên dạy các khối lớp của Ban
chun mơn cịn chưa khoa học và cịn nhiều hạn chế khi chưa bồi dưỡng,
nâng cao, hướng dẫn được giáo viên cốt cán môn văn, dẫn đến năm học
2015-2016 này giáo viên chính thức giảng dạy khối 12 khơng có 1 đồng chí
giáo viên lâu năm có kinh nghiệm nào, gây khó khăn khơng nhỏ trong việc
dạy và học, cũng như truyền thụ kiến thức tới học sinh và trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy và ôn thi.
- Nguyên nhân thứ 2: Đề thi THPT mơn Ngữ văn có 03 phần: Phần 1 là phần
đọc hiểu, phần 2 là phần nghị luận xã hội và phần 3 là phần nghị luận văn
học.
Cấu trúc đề rất rõ ràng song trong thực tế lại gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể:
1. Phần đọc hiểu:
Phần này gồm 8 câu hỏi đọc hiểu văn bản thông tin và văn bản nghệ thuật.
Đây là phần được coi là dễ trong đề thi nhưng thực chất lại là phần rất khó
bởi hai nguyên nhân:
- Năng lực của người dạy:
giáo viên đều học theo chương trình cũ, chủ yếu là nhồi nhét kiến thức, học
theo mẫu có sẵn, năng lực mơn học, năng lực bao qt chương trình giáo dục
phổ thơng, năng lực đánh giá các vấn đề xã hội, năng lực giải thích các khái
niệm, các thuật ngữ văn học, thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội rất hạn
11
chế …
Giáo viên lại chưa thực sự làm chủ các yêu cầu về nội dung và hình thức của
đề mà chỉ dừng lại ở sự mơ phỏng trên phương diện hình thức.
- Năng lực của người học
Học sinh là học sinh dân tộc thiểu số, việc sử dụng ngôn ngữ rất hạn chế, dẫn
đến khó khăn trong đọc hiểu văn bản.
2. Phần Nghị luận xã hội
Phần này yêu cầu thí sinh bàn bạc, nêu ý kiến của mình về một tư tưởng, đạo
lí, một vấn đề chính trị- xã hội hoặc một hiện tượng đời sống. Trong chương
trình Ngữ văn THPT, các em được học ba dạng bài nghị luận xã hội: nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị
luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Đây là phần thi cũng được cho là dễ bởi không cần học cũng có thể làm được
ít nhiều song thực tế lại không như vậy. Học sinh chúng ta làm phần này rất
kém. Nguyên nhân:
- Năng lực của người dạy
giáo viên là những người ít quan tâm, nhận xét, đánh giá các vấn đề xã hội.
Cộng thêm, ngày ngày tiếp xúc với học trò, với tư duy trẻ nhỏ nên các vấn đề
xã hội được đặt ra trong các bài dạy, các đề thi, các bài kiểm tra được các
thầy cô giáo giải quyết một cách rất đơn giản, thiếu thực tế, thiếu thuyết
phục, thiếu tính định hướng cho người học.
- Năng lực của người học
học sinh vùng đặc biệt khó khăn, ít có điều kiện đọc sách báo, xem tivi, ít tiếp
cận thông tin và va chạm xã hội nên thiếu hiểu biết về các vấn đề xã hội là
chuyện tất yếu.
3. Phần nghị luận văn học
Câu hỏi nghị luận văn học rất đa dạng về nội dung và cách hỏi. Đề văn có thể
u cầu các em phân tích, cảm nhận về một tác phẩm văn học hoặc một đoạn
trích; phân tích vấn đề nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm; bình luận về
một ý kiến bàn về văn học hoặc so sánh văn học…
Đây là phần quen thuộc, ít có sự thay đổi, tuy nhiên kết quả làm bài thi phần
này cũng chưa cao, nguyên nhân:
12
- Năng lực của người dạy
Môn ngữ văn là một môn học khó; giáo viên ngữ văn khơng làm cho học sinh
thấy được cái hay, đẹp của môn học, không khơi dậy được cảm xúc cho học
sinh trong giờ học.
Vài năm trở lại đây, đề thi thường địi hỏi tính sáng tạo hoặc ra dưới dạng so
sánh văn học. Với dạng đề này, người dạy phải nắm vững kiến thức lý luận
văn học, khi dạy các tác phẩm cụ thể phải bám vào đặc trưng thể loại của tác
phẩm, đồng thời phải làm chủ kiến thức môn học từ lớp 6 đến lớp 12. Giáo
viên trường ta có lợi thế là được dạy khối THCS nhưng thực sự kiến thức
không sâu, hiểu biết còn hời hợt và chủ yếu là chỉ biết cái da lơng bên ngồi
mà chưa hiểu cái bản chất thực sự của vấn đề.
- Năng lực của người học
Học sinh khơng muốn hoặc khơng thích học văn, vì cho rằng khó học…. Học
sinh thờ ơ với những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Số phận nhân vật, tiếng
nói tâm tình của tác giả ít gây được sự đồng cảm với học sinh.
Ngồi ra cịn có các ngun nhân khác như định hướng xã hội, định hướng
nghề nghiệp, chất lượng dạy học cấp dưới… nhưng tôi xin phép không bàn ở
đây.
Nguyên nhân thứ 3: Trường ta chưa phân loại đối tượng học sinh nên trong
giờ học khó cho giáo viên truyên thụ kiến thức cho HS. Các em khá giỏi –
các em trung bình, các em yếu kém. mỗi học sinh với lực học khác nhau như
thế thì khả năng tiếp thu bài học, khả năng tự học và khả năng ý thức học sẽ
khác nhau rất nhiều.
Nguyên nhân thứ 4: Học sinh chưa ý thức được việc học, ý nghĩa việc học, hệ
quả của chương trình giáo dục phổ cập và căn bệnh thành tích….
III/ GIẢI PHÁP
1. Nhà trường:
- Chia lớp lại theo đối tượng hs hay khối thi của hs … (trường ta có làm
nhưng lại làm chậm, trễ hơn các trường khác. Có trường làm từ đầu năm học
đã có phân loại học sinh sẽ tiện cho gv chủ nhiệm, gv dạy và hs). Thực tế cho
thấy nếu chia lớp những năm trước đã làm – kết quả học sinh lớp yếu bỏ học
nhiều, chất lượng dạy và học của lớp đó cũng khơng nâng lên, nếu khơng có
13
HS khá trong lớp đó học sinh thiếu tính phấn đấu theo. Giải pháp này sẽ phù
hợp hơn nếu bước sang chỉ cịn ơn thi TN. Đây là cách thức trường ta vẫn
làm trong mấy năm nay, nhưng hiện tại tơi thấy khơng phù hợp, với đề thi cũ
thì làm thế được, nhưng giờ kiểu đề thì mới địi hỏi năng lực hiểu bài của học
sinh là chủ yếu chứ không phải cần cù, chăm chỉ học thuộc mà thành cơng
nữa. Nếu khơng tách lớp chính khóa được thì buổi chiều phải tách. Vì ơn TN
như hiện tại chúng ta sẽ mất 3-4 tháng ơn hiệu quả rất ít. GV ra bài tập hay ôn
kiến thức, nếu ôn lại nhiều cho hs yếu thì hs khá khơng thích học, chán, cũng
bỏ học, nếu ra bài tập thì đa phần học sinh yếu mất ½ tiết học mới được
50%, nhưng 1 lớp lại có 25 học sinh, 1/3 học sinh khá, quá khó để GV ra bài
tập và hướng dẫn.
-Tổ chức ôn thi tốt nghiệp và đại học song song. Vì thi TN cách thức kiếm
điểm và cách dạy nó khác thi đại học. Vd thi TN kiến thức cần ít, kĩ năng cần
chủ yếu. Nhưng Thi ĐH lại cần cả 2. Tránh tình trạng khơng hiệu quả như
các năm trước, cho Gv tự ôn, tự chuẩn bị nội dung, nhà trường chỉ quản lí về
cơ sở vật chất, việc thu học phí học và đăng kí học, nội dung chương trình là
do GV và HS tự thỏa thuận.
- Có kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra, khoán chất lượng và thi đua khách quan và
theo đối tượng. (cái này khó và ln bị xem nhẹ nên tâm huyết của các GV
ôn được đánh giá khơng chính xác). Việc đánh giá xếp loại GV sau khi có kết
quả thi cịn hời hợt, chưa cơng bằng, cách tính phần trăm theo lớp khơng
phản ánh được hết tâm huyết của GV. Ví dụ GV lớp khá thì tỉ lệ cao hơn GV
lớp TB- yếu là tất nhiên, nếu thi đua, đánh giá như vậy thì GV được dạy lớp
Khá mãi mãi được khen thưởng, còn GV lớp yếu mãi mãi xếp sau. Theo ý
kiến cá nhân tôi nghĩ xét thi đua theo từng lớp. các GV dạy của lớp A1 sẽ thi
đua chọn ra 2 Gv có kết quả cao nhất, A2 cũng thế và A3 cũng vậy. như thế
là gần tới công bằng trong đánh giá.
- Buổi tối, sáng.. trình chiếu hoặc chiếu riêng cho hs khối 12 xem thời
sự (bắt buộc).
- Giảm tải về yêu cầu học ở các mơn khơng thi.
* Bên cạnh đó với cương vị GV môn văn tôi xin đưa ra vài ý kiến về chiến
lược dạy và học bộ môn văn với đặc điểm ở trường ta hiện tại và tương lai
14
như sau:
- Cần tạo nguồn GV cốt cán môn văn.
- Cần tạo điều kiện cho GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ bằng
các đợt tập huấn, giao lưu riêng cho các bộ mơn: Văn – Tốn - Tiếng anh với
các trường vùng ngồi.
- Cần nắm bắt trước tình hình giáo dục đổi mới, cần đi trước, dẫn trước ở việc
áp dụng phương pháp giáo dục mới, thử nghiệm ….. theo ý tơi từ năm sau
nên có lớp thực nghiệm dạy chương trình và phương pháp mới bắt đầu từ
khối 6 và 10 năm học sau.
- Cần thêm nhiều cuộc thi liên quan đến ngôn ngữ, văn học … cho HS, chứ
không phải cứ thi thể thao hay văn nghệ như trước. cuộc thi nên định kì 1
tháng 1 cuộc thi nhỏ, 1 năm 1 cuộc thi lớn …. Ví dụ: rung chng vàng,
đường lên đỉnh Olympia, đuổi hình bắt chữ …. để giúp các em tăng thêm
vốn từ, vốn hiểu biết ….
- Nên phân công giảng dạy cho GV dạy các lớp hợp lý hơn. Phân công GV
nên dạy theo lớp từ khối 10 cho đến tốt nghiệp. Dạy lâu mới hiểu đối tượng
mà hiểu thì sẽ có cách thức hợp lý hơn. Hiện tại 1 kì đổi 2-3 GV, rồi 1 khóa
học có tới 3 GV dạy, mỗi GV dạy 1 năm, phương pháp GV này chưa hết
hiệu quả, GV khác lại áp dụng phương pháp khác, cuối cùng vẫn là GV và
HS thiệt thòi còn Ban giám hiệu thì than phiền chất lượng ….
- Việc đọc sách tại thư viện theo hình thức bắt buộc cần tiếp tục duy trì. Nên
có kế hoạch đọc sách cụ thể. GV bộ môn nên giao nhiệm vụ đọc sách gì cho
HS và yêu cầu bài thu hoạch hàng tuần, hàng tháng. Vì thế cần xin thêm hoặc
tự mua thêm số lượng sách văn học nhiều hơn: từ điển tiếng việt, truyện ngắn
hiện đại gần đây…, hạn chế mua sách tham khảo.
- Cần cho GV tin có bài dạy ngoại khóa cho HS cách thức khai thác Internet
hiệu quả, chứ khơng phải cách tìm nhạc, phim, chơi game. Mà cách đọc
những bài báo, trang báo, phần báo, diễn đàn liên quan đến việc học. Kênh
tin tức điện tử của nhà trường cần lớn mạnh hơn nữa, kết hợp kênh Facebook
để giao lưu, hướng dẫn học tập HS ….
2. Giáo viên:
- Thay đổi tư duy dạy học kiểu mới, dạy cho Hs năng lực và kĩ năng, chứ
15
không phải dạy học sinh cảm thụ văn chương sáo rỗng. HS viết hay mà
khơng hiểu, nói hay mà khơng sâu sắc.
- Nâng cao kiến thức chuyên môn: kĩ năng đọc hiểu bằng việc tự học, tự bồi
dưỡng nên> xem lại kiến thức khi dạy hs cấp 2.
- Có phương pháp phù hợp đối tượng: chia làm 3 đối tượng: khá – TB Yếu, kém => dạy và yêu cầu, ra bài tập … cho phù hợp. K tạo áp lực cho
hs yếu khiến các em càng chán học hơn.
- Thường xuyên có bài tập kiểm tra lại phần đọc hiểu. VD trong 2 tiết ôn
TN thì dành 15-30p làm bài kiểm tra thử (dùng máy chiếu, chiếu câu hỏi,
mẫu thi thử, phiếu học tập).
- Tự tạo ngân hàng câu hỏi hoặc xin để ra câu hỏi nhiều loại, phong phú và
chất lượng cho hs tập làm quen cách làm bởi làm nhiều mới nhớ lâu => tạo
thành kĩ năng, kĩ xảo.
- Nên dạy các thủ thuật làm nhanh hay làm gần đúng với các hs yếu,
trung bình.
- Có bài tập về nhà hàng tuần về việc phân tích các vấn đề thời sự trong tuần,
tháng…. (nghị luận XH)
- Mượn một số bộ từ điển Tiếng Việt cho giáo viên và học sinh sử dụng để
nâng cao năng lực sử dụng ngơn ngữ (thư viện có từ điển tiếng việt).
- Nâng cao kiến thức phần lý luận văn học. Đây là kiến thức quan trọng làm
dạng đề NL văn học dạng so sánh (dạng chủ yếu của câu 4 điểm).
- Chuẩn bị các kiểu viết bài theo công thức, in sẵn và photo cho hs yếu
kém, trung bình để các em học thuộc và dạy các em cách lắp ghép để lấy
điểm tối đa có thể. Thường xuyên kiểm tra lại những hs này.
* Với hs khá:
- Nâng cao khả năng cảm nhận, u thích mơn văn cho học sinh. Vì
thích thì mới chú tâm học khơng cần gượng ép, mới đạt hiệu quả nhất.
- Có bài tập, chữa bài, hướng dẫn học nâng cao phù hợp cho từng học
sinh.
- Tăng cường dạy học lý luận văn học và cách hoàn thiện các phần từ
đọc hiểu -> làm văn …
- Hướng dẫn hs cách học hiểu chứ không phải học biết. Học cần sáng
16
tạo và tư duy khách quan, chứ không chủ quan, gượng gạo ép học thuộc. Vì
đề mới nên khơng cịn kiểu học thuộc là thi qua nữa.
* với HS yếu:
Đây là đối tượng cần chú ý và có cách thức dạy học phù hợp:
- Các em cực kì yếu khả năng nghe, nói, đọc, viết nên cần bồi dưỡng khả
năng này bằng các bài tập riêng biệt về chính tả, đọc, hiểu từ.
- Các em khơng có kiến thức, tơi khơng nói là thiếu hay hổng kiến thức
mà là khơng có. Vì khơng có nên ta phải có cách thức riêng biệt vì thời gian
khơng có để ta trao các em kiến thức được nữa. Tôi gọi phương pháp dành
cho các em sau đây là mẹo thi. Giống với bộ mơn tiếng Anh có mẹo làm bài,
mơn văn cũng có. Vì cách thức ra đề và cách chấm ta có thể rút ra được các
cách hướng dẫn học sinh học theo và làm để đạt những điểm tối thiếu và dễ
nhất. chắc chắn 1 điều với HS yếu trường ta không thể cho các em đạt trên 4
điểm được. Tôi hướng tới Điểm 3-4. với bài văn nghị luận ở các câu 3 và 4
điểm. cho các em học thuộc các mở bài, kết bài khuôn mẫu, lắp ráp và
cách sử dụng nó nhanh nhất. điều này khơng q khó. Làm tốt các em sẽ có 1
điểm cho phần văn nghị luận. ở phần thân bài: cũng với cách tương tự GV
cần dạy cho HS nhưng mẹo làm từng loại đề NL xã hội hay NL văn học để có
thể có 1-1,5 điểm.
- Với kiểu bài đọc hiểu, tính ra nội dung kiến thức không nhiều. ép các
em làm bài tập dạng đọc hiểu thật nhiều. phương châm của tôi là làm nhiều
thành quen và không cần hiểu, cứ đọc câu hỏi dạng như thế nào là HS sẽ biết
cách cho ra đáp án tương ứng. Cái này là ta đang trị phần ngọn, nhưng thời
gian không cho phép ta làm từ đầu nữa. thời kì đặc biệt ta phải dùng biện
pháp đặc biệt. Lưu ý cách này chi áp dụng cho HS ơn thi TN. Nếu làm tốt các
em sẽ có 1-1,5 điểm.
3. Học sinh:
- Hs cần xác định tư tưởng học tập: thi TN chẳng hạn thì cần học những gì,
nghe giáo viên hướng dẫn ra sao bởi thời gian khơng cịn d. Các e vẫn cịn
tư tưởng ỷ lại do quá trình giáo dục cũ tồn tại bao năm qua. Các em vẫn còn
mong cờ Gv làm cho, cố gắng vừa phải vẫn lên lớp …. Thời gian còn vài
tháng chưa vội …. (cơng việc này ngồi Hs tự ý thức thì cần GVCN +
17
GVBM, đoàn TN cùng tham gia giáo dục tuyên truyền).
- Học gấp 2,3 lần với hs thi đại học về thời gian và cường độ học. Học khoa
học. Cách học … gv cần hướng dẫn cụ thể cho từng môn.
- Xem tivi, thời sự, sách báo điện tử.
- Hoàn thành tất cả các yêu cầu của gv.
- H/ọc theo nhóm mơn, nhóm khối. Mỗi nhóm 3-5 thành viên.
- Hạn chế đi chơi, sử dụng điện thoại trong giờ tự học.
- Học ngôn ngữ, ngữ nghĩa của từ bằng cách tự học, đọc từ điển, hỏi thầy cô
….
IV/ KIẾN NGHỊ
Để giáo viên Ngữ Văn có thể làm tốt hơn vai trị, nhiệm vụ, tơi cũng xin có
một số kiến nghị:
- Các cấp quản lý giáo dục cần quan tâm nhiều hơn nữa với mơn Ngữ Văn
như các mơn tự nhiên khác vì nó địi hỏi sự tư duy, kỹ năng làm bài chứ
khơng đơn thuần là thuộc bài, “vẽ hươu vẽ vượn” trong bài cũng có điểm như
nhiều người đã nghĩ.
- BGH và đoàn thanh niên thường xuyên tổ chức định kỳ các buổi ngoại
khoá, cuộc thi về biển đảo, chiến tranh biên giới, về những vấn đề xã hội
nóng bỏng hàng tháng dành cho học sinh cấp THCS, THPT.
V/ KẾT LUẬN
Trên đây là một vài suy nghĩ là một vài suy nghĩ về biện pháp cải thiện việc
dạy, học văn của tôi. Dù đơn giản nhưng đôi khi chúng ta dễ bỏ qua, chỉ chú
trọng đến những phương pháp lý tưởng hóa việc dạy và học mà quên mất
rằng với học sinh vùng sâu, vùng xa, việc hiểu và viết được một bài văn
không phải là chuyện dễ dàng.
18