TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
BÀI THUYẾT TRÌNH
Nhóm sinh viên thực hiện
NHÓM: 1 - LỚP: K12402A
Giáo viên hướng dẫn
ThS. VÕ ĐÌNH VINH
THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 1
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
CÔNG VIỆC
THÀNH VIÊN
MSSV
1. Tìm tư liệu
Lịch sử
Ngô Thị Dung
Huỳnh Thiên Trúc
K124020140
K124020250
Công nghiệp khai thác
Lê Đoàn Duy
K124020141
Dự đoán trữ lượng
Võ Thị Thanh Hiền
Nguyễn Thái Phong
K124020159
K124020203
Yếu tố tác động
Lê Thị Phương Thảo
Phạm Thị Kim Thủy
K124020222
K124020232
Tác động của vàng đến
thị trường tài chính
Đinh Thị Tường Vi
K124020264
2. Tổng hợp và trình bày Word
Lê Thị Phương Thảo
3. Trình bày Power Point
Phạm Thị Kim Thủy
4. Chuẩn bị trò chơi
Ngô Thị Dung
Nguyễn Thái Phong
5. Hình ảnh và clip
Huỳnh Thiên Trúc
6. Thuyết trình
Võ Thị Thanh Hiền
Đinh Thị Tường Vi
7. Hậu cần
Lê Đoàn Duy
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 2
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ 3
I. VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ: 3
1. Vàng: 3
2. Kim loại quý: 3
3. Đặc điểm và giá trị: 3
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI: 4
1. Lịch sử ra đời của vàng và bạc: 4
2. Sự hình thành và phát triển của thị trường vàng và kim loại quý trên thế giới: 4
III. CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC: 6
1. Quy trình khai thác: 6
2. Tình hình khai thác vàng trên thế giới: 6
3. Bảng xếp hạng 5 công ty khai thác vàng lớn nhất thế giới: 7
4. Thực trạng sản xuất vàng ở Việt Nam: 8
IV. DỰ ĐOÁN TRỮ LƯỢNG: 10
Bảng xếp hạng 10 quốc gia tích trữ vàng nhiều nhất thế giới: 10
Bảng xếp hạng 10 mỏ có trữ lượng lớn nhất trên thế giới: 12
CHƯƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ
15
I. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG KIM LOẠI QUÝ: 15
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG VÀNG: 16
1. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến biến động của giá vàng: 16
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới: 16
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam: 18
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA VÀNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ KIM
LOẠI QUÝ
I. VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ:
1. Vàng:
- Vàng là một loại kim loại rất quý và hiếm, được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở
nhiều nước và sử dụng trong các ngành nha khoa, trang sức, điện tử.
- Vàng luôn có một ý nghĩa biểu tượng cho các giá trị cao nhất trong các xã hội như:
quyền lực, giàu có, hy vọng, lạc quan, hoàn hảo, mùa hè, mùa thu hoạch, mặt trời
2. Kim loại quý:
- Kim loại quý (kim khí quý) là các kim loại có tính quý, hiếm trong tự nhiên, đó là
những nguyên tố hóa học có giá trị kinh tế, có tầm quan trọng đối với kinh tế xã hội.
Bao gồm các kim loại nhóm bạch kim: ruthenium, rhodium, palladium, osmium,
iridium, và bạch kim.
- Trong khi vàng và bạc đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, còn có một số
kim loại rất quý hiếm khác có những tính năng sử dụng quý giá đặc biệt như: bạch
kim, palladium
3. Đặc điểm và giá trị:
- Thường thì loại kim khí này có độ bóng cao, mềm hơn hoặc dễ uốn hơn so với các
kim loại bình thường khác và có điểm nóng chảy cao hơn so với các kim loại khác.
- Trong lịch sử, kim loại quý được sử dụng như một loại tiền tệ, ngày nay nó là tài sản
đầu tư. Các mặt hàng công nghiệp như vàng, bạc, bạch kim và palladium có một mã
tiền tệ ISO 4217.
- Các kim loại quý được sử dụng để
đúc tiền (tiền xu hoặc thành từng thỏi,
nén, miếng, khối) là vàng và bạc.
Ngoài ra cả hai đều được sử dụng công
nghiệp, thủ công nghiệp, là nguyên vật
liệu để chế tác những loại hình vật chất
nghệ thuật, đồ trang sức
- Các kim loại quý dưới hình thức số lượng lớn được gọi là vàng thỏi và được giao
dịch trên thị trường. Vàng thỏi có thể được đúc thành từng thỏi, hoặc đúc thành tiền
xu. Đơn vị đo lường dùng cho kim loại quý là “troy ounce” – tương đương với 1,1
ounce thường hay bằng 0,031 kg (1 ounce = 28,35g).
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 4
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI:
1. Lịch sử ra đời của vàng và bạc:
- Lịch sử của vàng bắt nguồn từ thời rất xa xưa. Nhưng không có một bằng chứng
khảo cổ học xác đáng nào chỉ ra điều này. Để xác định chính xác thời gian cũng như
nơi đầu tiên con người hạnh phúc bắt gặp kim loại, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán
những con người đó trong những vùng khác nhau tại những thời điểm khác nhau khám
phá ra vàng tự nhiên. Ví dụ như:
Vàng đã được biết tới và sử dụng bởi các nghệ nhân từ thời Chalcolithic. Các
đồ tạo tác bằng vàng ở Balkans xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 4 trước Công
nguyên, ở Trung Âu từ thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên trong thời kỳ
đồ đồng.
Ở Hy Lạp, năm 3600 trước công nguyên, khối vàng đầu tiên được nung chảy.
Những người thợ vàng nung quặng vàng để lấy được vàng từ bên trong.
Năm 2600 trước công nguyên, đồ trang sức bằng vàng đầu tiên được ra đời do
thợ vàng người Iraq làm ra.
- Ngoại trừ vàng, phổ biến nhất là bạc. Trong 1 thời gian dài, bạc được coi là kim loại
quý thứ hai sau vàng.
- Bạc được xem như được tìm thấy từ thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Nó được
định làm cơ sở cho đơn vị tiền tệ có thể nói là vào cùng thời kì với vàng (chế độ song
bản vị). Từ đó, thị trường bạc cũng ra đời và có thể nói đây cũng đánh dấu sự ra đời
của thị trường kim loại quý như bạch kim (năm 1906 ở Nam Phi).
2. Sự hình thành và phát triển của thị trường vàng và kim loại quý trên thế
giới:
- 1500 năm TCN: Ai Cập trở thành quốc gia giàu có nhờ việc có nhiều vàng và vàng
đã dần trở thành tiêu chuẩn trung bình trong giao thương giữa các nước. Shekel, đồng
tiền vàng khoảng 11.3 gram vàng, được dùng như đơn vị đo lường tiểu chuẩn suốt khu
vực Trung Đông.
- Năm 1091 TCN: vàng miếng được hợp pháp ở Trung Hoa.
- Năm 50 TCN: đế chế La Mã phát hành đồng tiền vàng đầu tiên tên gọi là Aureus.
- Năm 1787: đồng tiền vàng của Mỹ đầu tiên đã được đúc bởi một thợ kim hoàn tên
Ephraim Brasher.
- Năm 1792: đạo luật Coinage thiết lập ở Mỹ chế độ lưỡng kim, xác định giá trị đồng
tiền USD tương đương với 24.75 grai vàng và 371.25 Grain bạc (1 grain = 0.0648
gam).
- Năm 1900: Mỹ áp dụng tiêu chuẩn vàng có giá trị tiền tệ ở Mỹ.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 5
- Năm 1933: tổng thống Mỹ Franklin D.Roosevelt chính thức cấm việc xuất khẩu
vàng, dừng việc chuyển đổi USD ra vàng, buộc công dân Mỹ phải chuyển giao vàng
họ đang nắm giữ và thiết lập một mức giá hàng ngày cho vàng.
- Năm 1934: tổng thống Roosevelt cố định giá vàng tại mức 35USD/ounce.
- Năm 1944: hiệp ước Bretton Woods thiết lập chế độ bản vị vàng tiêu chuẩn, thành
lập quỹ tiền tệ thế giới IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB.
- Năm: 1973: đồng USD từ bỏ chế độ bản vị vàng, giá vàng được phép thả nổi theo
biến động thị trường. Cho tới tháng 6, giá vàng ở thị trường London đạt hơn
120USD/ounce.
- Năm 1974: vào ngày 31/12, chính quyền Mỹ chấm dứt chính sách cấm công dân sở
hữu vàng.
- Năm 1976: trung tâm vàng được
thiết lập ở Washington, mục đích để
thúc đẩy hơn nữa ngành công nghiệp
vàng bằng việc cung cấp dữ liệu
thống kê và các thông tin liên quan
cho các thành viên, giới truyền
thông, chính quyền, và công chúng.
- Năm 1980: vàng đạt mức cao kỷ
lục 870USD/ounce vào ngày 21/01 ở
thị trường New York.
- Năm 1997: vàng mất giá lớn dưới
mức 300USD/oz do ảnh hường cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu
Á.
- 26/9/1999: NHTW Châu Âu ECB tuyên bố kế hoạch 5 năm đóng băng các hoạt động
cho vay mượn vàng. Ngay lập tức giá vàng tăng từ mức thấp nhất dưới 300USD/oz.
- Năm 2003: chiến tranh Mỹ - Iraq, vàng tăng giá mạnh trở lại.
- 05/2006: vàng đạt mức 730 USD/oz trước khi xuồng giá nhanh chóng 543USD/oz
trong tháng sau do các quỹ đầu cơ bán ra thu lãi sau đợt tăng giá mạnh trước đó và mối
lo ngại các NHTW sẽ hành động khi giá tăng quá cao.
- 17/03/2008: vàng đã tái thiết lập ngưỡng giá cao kỷ lục qua moị thời đại với mức giá
1032,56 USD/oz (vàng giao ngay) nhưng chỉ vỏn vẹn 03 ngày sau đó giá giảm mạnh
gần 130 USD/oz khi chỉ còn 904,60 USD/oz phiên ngày 20/03/2008
- 06/09/2011: vàng thiết lập đỉnh cao nhất mọi thời đại tại mức 1921 USD/ounce thể
hiện sức ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu, đặc biệt tại Hy
Lạp.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 6
III. CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC:
1. Quy trình khai thác:
- Vàng là kim loại quý hiếm. Để có được một
thỏi vàng ròng quý giá, hành trình từ khi khoan
sâu dưới lòng đất hàng trăm mét đến khi cho ra
sản phẩm không hề đơn giản, phải trải qua nhiều
công đoạn.
2. Tình hình khai thác vàng trên thế giới:
- Châu Phi, sở hữu 1/2 trữ lượng vàng thế giới, đạt sản lượng hơn 600 tấn, chiếm 1/4
sản lượng toàn cầu năm 2010. Nam Phi, với sản lượng 300 tấn/năm, Ghana (75
tấn/năm) và Mali (50 tấn/năm) là 3 nước sản xuât vàng lớn nhất của lục địa đen.
- Sau một thập kỷ đình trệ, 2010 là một năm kỷ lục về sản xuất vàng trên toàn cầu, với
sản lượng đạt 2.652 tấn, khi nhu cầu trên thị trường quốc tế tăng mạnh đẩy giá vàng
Khai quặng
Nghiền nhỏ và
chế biến
Luyện vàng
Đổ khuôn
Vàng dore'
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 7
lên mức cao. Tháng 5-2011, hãng tin Bloomberrg công bố, nhóm 3 nước khai thác
vàng nhiều nhất thế giới là Nam Phi, tiếp sau là Nga và Trung Quốc.
- Giá vàng tăng đã khuyến khích nhiều nước châu Phi khác bắt tay sản xuất loại kim
loại quý này, một nguồn tài chính thực sự giúp nhiều quốc quốc gia châu Phi phát triển
đất nước.
- Châu lục đen đã thu hút được nhiều tập
đoàn đa quốc gia chuyên về khai thác và
sản xuất vàng. Những tập đoàn lớn như
New-Mont Minning đã đầu tư đáng kể vào
châu lục này, nhất là khu vực Trung và Tây
Phi, những khu vực với hơn 80% mỏ vàng
có trữ lượng lớn.
- 2010 là một năm tốt lành đối với Ghana
(đất nước còn được mệnh danh là “Bờ biển
vàng”) khi sản lượng vàng tăng 2,9% và
doanh thu tăng 30% trong 9 tháng đầu năm
2010 so với cùng kỳ năm 2009.
- Việc sản lượng vàng của các nước khác cũng tăng nhờ những nỗ lực trong việc làm
trong sạch hoạt động buôn bán kim loại quý này đã tạo thêm nền tảng cho sự phát triển
kinh tế của các nước châu Phi.
3. Bảng xếp hạng 5 công ty khai thác vàng lớn nhất thế giới:
A, Barrick Gold Corp - Canada
- Sản lượng: 7,16 triệu ounce/năm
- Công ty này có trụ sở tại Toronto và hoạt động trên cả bốn lục địa. Hoạt động chủ
yếu của Barrick là ở Chile, Argentina, Peru, Nevada, và Úc.
- Tài sản lớn nhất của công ty này là mỏ Cortez có năng suất khai thác khổng lồ ở
Nevada, với hơn một triệu ounce vàng mỗi năm. Mặc dù bị lỗ khoảng 10 tỷ USD do
giá vàng giảm trong năm 2013, công ty này vẫn đang tiếp tục đặt cược vào sự tăng
trưởng trong tương lai ngay khi giá vàng phục hồi.
B, Newmont Mining Corp – Mỹ
- Sản lượng: 5,1 triệu ounce/năm
- Có mặt trên cả 4 lục địa, công ty Newmont Mining có trụ sở tại Colorado hoạt động
sản xuất ở 16 mỏ tại Nevada. Sản lượng chiết xuất vàng hàng năm lên tới gần 2 triệu
ounce. Công ty này cũng hoạt động chủ yếu ở Peru, Ghana, Indonesia và Australia.
C, AngloGold Ashanti – Nam Phi
- Sản lượng: 4,1 triệu ounce/năm
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 8
- AngloGold Ashanti là nhà sản xuất vàng lớn nhất châu Phi. Công ty này hoạt động
trên khắp lục địa, bao gồm cả các địa điểm ở Ghana, Namibia, Guinea, Mali, và
Tanzania. AngloGold cũng sản xuất vàng ở Úc, Colorado, và Colombia.
- AngloGold có sản lượng khai thác khổng lồ từ sáu mỏ trong nước, mỗi năm thu được
gần hai triệu ounce vàng. Song công ty cũng gặp phải một số vấn đề và ảnh hưởng
đáng kể tới danh tiếng của mình sau khi các thợ mỏ liên tục đình công do tiền lương
thấp và bị đối xử bất công. Điều này đã gây ra sự gián đoạn của nhiều hoạt động khai
thác vàng tại Nam Phi của công ty này trong năm trước.
D, Goldcorp Inc. – Canada
- Sản lượng: 2,67 triệu ounce/năm
- Công ty Goldcorp (Canada) khai thác trung bình 490.000 ounce vàng hàng năm từ
mỏ Red Lake ở miền Bắc Ontario. Công ty này cũng hoạt động tại Nevada, Mexico,
Guatemala, Chile và Argentina. Đặc biệt, chỉ riêng mỏ Peñasquito ở trung tâm Mexico
đã sản xuất được khoảng 400.000 ounce mỗi năm.
E, Kinross Gold Corp. – Canada
- Sản lượng: 2,63 triệu ounce/năm
- Công ty vàng Kinross Gold (Canada) hoạt động chủ yếu ở Ghana, Brazil, Nga và
Thổ Dân. Công ty cũng khai thác vàng ở Nevada và Chile. Mỏ vàng Paracuta của công
ty này tại Brazil là mỏ vàng lớn nhất nước này với hơn 450.000 ounce vàng được sản
xuất mỗi năm.
4. Thực trạng sản xuất vàng ở Việt Nam:
- Việt Nam không phải quốc gia có thế mạnh về vàng, hoạt động khai thác vàng rải rác
trên khắp cả nước với quy mô nhỏ. Tổng trữ lượng vàng nước ta khoảng 154 tấn, trong
đó trữ lượng thăm dò chỉ đạt 42,7 tấn. Theo Bộ Tài chính, công nghệ khai thác, chế
biến vàng của các doanh nghiệp trong nước chưa cao, hiệu quả kinh tế đạt thấp, gây
lãng phí tài nguyên và phát sinh tác động xấu về môi trường.
- Hai mỏ vàng đang hoạt động vào loại lớn và có công nghệ sản xuất hiện đại nhất cả
nước là Bồng Miêu và Phước Sơn, nằm tại tỉnh Quảng Nam. Đáng chú ý là hai công ty
này cùng chung một chủ.
- Besra Gold, trước đây có tên là Olympus Pacific Minerals là một doanh nghiệp khai
thác vàng được thành lập ở Canada và sở hữu các mỏ vàng tại Việt Nam, Malaysia và
Philippines.
- Hai mỏ tại Malaysia và Philippines vẫn đang trong giai đoạn thăm dò. Trong đó, mỏ
Bau ở miền Đông Malaysia là mỏ lớn nhất của Besra với trữ lượng khoảng 3 triệu oz
vàng. Besra kỳ vọng khi đưa mỏ này vào khai thác từ cuối năm 2015, quy mô của
công ty sẽ được nâng lên một tầm cao mới.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 9
- Năm 1997, Besra đã có được quyền khai thác mỏ Bồng Miêu và đến năm 2005 thì
đưa nhà máy vào vận hành. Mỏ Phước Sơn được cấp phép vào năm 1999 và ra lò sản
phẩm vào tháng 6/2011.
- Hiện tại, Besra sở hữu 80% cổ phần của mỏ Bồng Miêu và 85% cổ phần của Phước
Sơn. Bồng Miêu được coi là mỏ vàng lớn nhất Việt Nam, được khai thác từ hơn 100
năm nay nên sản lượng khai thác hiện không còn lớn và thấp hơn nhiều so với Phước
Sơn.
- Công ty CP Kỹ nghệ Khoáng sản Quảng Nam (Minco – MIC) tham gia góp vốn vào
cả 2 dự án trên với tỷ lệ tương ứng là 10% và 15%. Tuy nhiên, theo thỏa thuận giữa
Minco và Besra thì Minco có quyền tăng tỷ lệ sở hữu tại Phước Sơn lên 30% và 50%
sau một khoảng thời gian nhất định
- Ngoài 2 mỏ trên, Besra hiện còn tiến hành thăm dò mỏ vàng Tiên Thuận ở huyện
Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Besra nắm 75% cổ phần của dự án này. Phần còn lại
thuộc về CTCP Khoáng sản Biotan, một doanh nghiệp hoạt động chính trong lĩnh vực
khai thác titan.
- Ước tính trong năm tài chính 2013 (kết thúc vào 30/6), sản lượng vàng của 2 nhà
máy đạt từ 60-65.000 oz và dự kiến sẽ lên đến 170.000 oz/năm vào năm 2015.
- Trong 9 tháng đầu của năm tài chính, Besra sản lượng bán ra của Besra đạt gần
36.400 oz vàng (~1,1 tấn), thu về hơn 60,5 triệu USD, tương ứng với giá bán bình
quân là 1.663 USD/oz.
- Trong đó, Phước Sơn đóng góp hơn 26.000 nghìn oz và Bồng Miêu đóng góp phần
còn lại. Chi phí sản xuất cho một oz của Phước Sơn cũng thấp khoảng 20% so với
Bồng Miêu. Tuy nhiên, Phước Sơn chịu khoản thuế tài nguyên với thuế suất lên tới
15% trên tổng doanh thu trong khi Bồng Miêu chỉ bị đánh thuế ở mức 3%.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 10
IV. DỰ ĐOÁN TRỮ LƯỢNG:
- Theo cuộc khảo sát vàng hàng năm của Thomson Reuters, tổng số lượng vàng đã
được khai thác trên toàn thế giới là 171.300 tấn, đủ để lấp đầy một khối lập phương có
cạnh dài 20,7 mét. Nhưng các nhà khoa học vẫn chưa thể thống nhất về lượng vàng đã
được các nền văn minh cổ đại khai thác và lượng vàng nằm trong tầng hầm của các
ngân hàng trên thế giới. Vì vậy, con số trên có thể ít hoặc nhỉnh hơn một chút.
- Theo Viện Tiêu chuẩn vàng của Mỹ ước tính, trữ lượng vàng trên thế giới đạt 2,5
triệu tấn. Cuộc khảo sát địa chất của Mỹ cho thấy, có khoảng 52.000 tấn vàng đã được
khai thác có giá trị kinh tế.
- Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng trữ lượng vàng của Việt Nam
ước vào khoảng 154 tấn, trong đó trữ lượng thăm dò chỉ đạt 42,7 tấn. Sản lượng khai
thác, chế biến vàng của tất cả các doanh nghiệp trên cả nước vào khoảng 2.500 kg
vàng/năm. Trong đó, riêng Bồng Miêu và Phước Sơn khai thác khoảng 1.500 kg/năm.
Bảng xếp hạng 10 quốc gia tích trữ vàng nhiều nhất thế giới:
1. Mỹ:
- Dự trữ vàng chính thức: 8.133,5 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 75,6%
- Theo WGC, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất vào năm 1952, đạt 20.663 tấn
và giảm xuống dưới 10 nghìn tấn vào năm 1968.
2. Đức:
- Dự trữ vàng chính thức: 3.391,3 tấn
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 11
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 72,7%
- Đức bán vàng theo thỏa thuận CBGA, gồm CBGA1 và CBGA2 để đúc tiền vàng kỷ
niệm. Trong năm đầu tiên thực thi thảo thuận CBGA3 (2008-2009), ngân hàng
Bundesbank bán khoảng 6 tấn vàng, và sau đó đã bán thêm 4,7 tấn nữa kể từ tháng 9
năm 2011. Cho đến thời điểm hiện nay không có sự thay đổi về tổng khối lượng vàng
của Đức, song các ngân hàng Bundesbank tuyên bố sẽ mua vàng tại thị trường Paris và
New York trong trong tháng Giêng sắp tới.
3. Italia:
- Dự trữ vàng chính thức: 2.451,8 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 72,2%
- Italia không bán vàng theo CBGA 1 hoặc 2 và CBGA3 nhưng trong năm 2011, các
ngân hàng lại hỏi mua vàng của Ngân hàng Italia (BOI) để phục vụ cho việc thanh
toán.
4. Pháp:
- Dự trữ vàng chính thức: 2.435,4 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 69,2%
- Pháp có kế hoạch bán 572 tấn vàng theo CBGA2 và bán thêm ngoài thỏa thuận nói
trên. Năm 2004, Pháp chuyển khoảng 17 tấn vàng cho Ngân hàng Thanh toán Quốc
tế (BIS) để mua cổ phần của BIS. Pháp công bố sẽ không có kế hoạch bán vàng dự trữ
theo CBGA3.
5. Trung Quốc:
- Dự trữ vàng chính thức: 1.054,1 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 1,7%
- Đối với Trung Quốc vàng chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong dự trữ ngoại hối của quốc
gia có mức GDP 3,2 nghìn tỷ USD, trong khi đó ở các nước khác vàng có "thị phần"
trong dự trữ ngoại tệ bình quân 10%. Theo tờ Thời báo tài chính Anh (Financial
Times) thay vì dự trữ vàng, người Trung Quốc theo dõi rất sát sự chuyển động tiền tệ
toàn cầu, và gần đầy dự trữ vàng cũng đang trở nên quan trọng đối với Trung Quốc
nên chiều mua đang có xu hướng tăng nhanh.
6. Thụy Sĩ:
- Dự trữ vàng chính thức: 1.040,1 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 10,5%
- Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), năm 1997, Thụy Sỹ công bố bán một phần dự
trữ vàng của quốc gia vì nó "quan trọng cho mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ".
Cũng theo WGC, Thụy Sỹ có mức thặng dư khoảng 1.300 tấn vàng và bắt đầu bán ra
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 12
từ tháng 5 năm 2000 khoảng 1.170 tấn theo thỏa thuận CBGA1, 130 tấn khác theo
CBGA2 và không bán thêm tí vàng nào nữa theo CBGA3.
7. Nga:
- Dự trữ vàng chính thức: 969,9 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 9,8%
- Nga chính thức công cuộc dự trữ vàng từ năm 2006 để đa dạng hóa dự trữ ngoại hối,
và tăng cường sức khỏe đồng Rúp, với hy vọng biến đồng tiền này thành công cụ dự
trữ quốc tế. Năm 2012, Nga mua thêm 75 tấn, chủ yếu từ người dân trong nước.
8. Nhật Bản:
- Dự trữ vàng chính thức: 765,2 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 3,2%
- Dự trữ vàng của Nhật Bản năm 1950 chỉ có 6 tấn nhưng đến năm 1959 Ngân hàng
Trung ương Nhật Bản đã bắt đầu mua thêm, đưa số lượng lên tới 169 tấn. Trong năm
2011, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã bán lượng vàng dự trữ thu về 20 nghìn tỷ
Yên để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trấn an giới nhà đầu tư sau thảm họa sóng thần
và sự độ điện hạt nhân.
9. Hà Lan:
- Dự trữ vàng chính thức: 612,5 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 59,2%
- Vào năm 1999, theo CBGA1 (Thỏa thuận vàng của Ngân hàng Trung ương), Hà Lan
thông báo sẽ bán 300 tấn vàng trong 5 năm tiếp theo, nhưng thực tế chỉ bán 235 tấn
bán. Còn theo CBGA2, (2004 /2005 - 2008/2009), Hà Lan sẽ bán 165 tấn vàng (bao
gồm cả 65 tấn còn lại từ CBGA1), và thông báo sẽ không thêm theo CBGA3
( 2008/2009-2013/2014).
10. Ấn Độ:
- Dự trữ vàng chính thức: 557,7 tấn
- Tỷ lệ vàng/dự trữ ngoại hối: 9,9%
- Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ đã mua vàng từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với niềm tin
giữ vàng là kênh đầu tư an toàn nhất, nhưng thực tế Ấn Độ lại hiếm khi công bố công
khai kế hoạch khi tích trữ vàng. Chính phủ cố gắng hạn chế người dân mua vàng, lý
do, nhập khẩu vàng sẽ làm cho nền kinh tế thâm hụt.
Bảng xếp hạng 10 mỏ có trữ lượng lớn nhất trên thế giới:
1. Mỏ Grasberg (Indonesia): hơn 2 triệu ounce
2. Mỏ Muruntau (Uzbekistan): 1,8 triệu ounce
3. Mỏ Carlin - Nevada Complex (Mỹ): 1,7 triệu ounce
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 13
4. Mỏ Yanacocha (Peru): 1,46 triệu ounce
5. Mỏ Goldstrike (Mỹ): 1,24 triệu ounce
6. Mỏ Cortez (Mỹ): 1,14 triệu ounce
7. Mỏ Veladero (Argentina): 1,12 triệu ounce
8. Mỏ Lagunas Norte (Peru): 808.000 ounce
9. Mỏ Lihir (Papua New Guineau): 790.974 ounce
10. Mỏ Super Pit (Australia): 788.000 ounce
- Với tư cách là hàng hóa thông thường: Tổng lượng vàng mà thế giới đã khai thác
trong suốt 6.000 năm là 140 nghìn tấn, tổng dự trữ vàng trên sổ sách của các NHTW
Âu - Mỹ là 21 nghìn tấn. Vàng được giao dịch với nhiều hình thức như vàng trang sức,
vàng miếng, vàng thỏi, vật liệu cho kỹ thuật và trang trí… Vàng thường được định giá
bằng USD, 1 ounce vàng = 0,83 lượng, tương đương 31,103476 gram, 1 lượng =
1,20556 ounce vàng.
- Theo báo cáo của Hội đồng Vàng
thế giới, vàng trang sức thường
chiếm khoảng 2/3 nhu cầu vàng
toàn cầu, nổi bật là ở Ấn Độ, xếp
thứ hai là Trung Quốc. Năm 2009,
tốc độ tăng trưởng mạnh trong dài
hạn và nhiều chủng loại vàng hấp
dẫn đã thúc đẩy nhu cầu tại quốc
gia này với mức tăng 8% vào năm
2009 và vượt Ấn Độ trở thành nước
tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới.
Tháng 12/2009, công ty khai thác vàng lớn nhất (Barrick Gold - ABX.TO) cho biết là
sản lượng vàng sẽ tăng vào cuối năm 2010, công ty khai thác vàng thứ hai Newmont
Mining - Nem. N) cũng tăng 5-10% sản lượng vàng so năm 2009.
- Trong khi giá vàng thế giới chính thức phá vỡ ngưỡng hỗ trợ 1.400 USD/ounce và
thiết lập mức cao kỷ lục mới 1.406,2 USD/ounce vào ngày 03/12/2010 thì giá vàng
trong nước cũng đã gần chạm mốc 36,60 triệu đồng/lượng vào ngày 04/12/2010 vừa
qua. Như vậy, năm 2010 này có thể trở thành năm tăng giá thứ 10 liên tiếp của vàng.
- Với tư cách là hàng hóa tiền tệ: Trong lịch sử, vàng là một loại hàng hóa tiền tệ trong
hơn 6.000 năm của nền văn minh này với đỉnh cao là chế độ bản vị vàng trước khi sụp
đổ vào năm 1971. Vai trò tiền tệ của vàng và bạc được xem là sản phẩm của quá trình
tiến hóa tự nhiên, là sản phẩm của nền KTTT chân chính, là tiền tệ thực đáng tin cậy
của loài người. Hầu như quốc gia nào cũng dự trữ vàng trong dự trữ ngoại hối quốc gia
của mình.
- Theo WGC, Nga đứng thứ 3 trong các nước có trữ lượng vàng lớn nhất thế giới, dự
trữ vàng và ngoại hối của Nga nắm giữ đang là 484,6 tấn vào 26/11/2010. NHTW
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 14
Philippines có tổng lượng vàng nắm giữ là 164,7 tấn. Vàng chiếm tới 80% trong dự trữ
ngoại hối của Bồ Đào Nha, bình quân, các quốc gia thành viên trong Eurozone có 58%
dự trữ ngoại hối dưới dạng vàng.
- Tại các nền kinh tế mới phát triển ở châu Á, các NHTW và các quỹ lợi ích quốc gia ở
khu vực này cũng gia tăng khối lượng vàng nắm giữ. Theo nhiều chuyên gia, sau 2
thập kỷ mạnh tay bán vàng, tỷ lệ dự trữ vàng của một số nước vẫn còn cao. Riêng
Trung Quốc năm 2009 đã tăng gấp đôi dự trữ vàng với 1.054 tấn. Với lượng vàng dự
trữ này, Trung Quốc trở thành quốc gia giữ vàng lớn thứ năm trên thế giới, so với
8.134 tấn của Mỹ và 2.452 tấn của Italia. Cho dù có những thời kỳ, các nước phát triển
xem nhẹ vai trò tiền tệ của vàng vì những động cơ khống chế nền tiền tệ thế giới thì
cho đến nay, chưa bao giờ họ xa rời được vàng.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 15
CHƯƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ
TRƯỜNG VÀNG VÀ KIM LOẠI QUÝ
I. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG KIM LOẠI QUÝ:
- Thị trường luôn là một sự đan xen của rất nhiều sự việc và có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng tới kim loại quý theo những chiều hướng khác nhau. Thị trường kim loại quý
giao ngay có tính thanh khoản cao, có thể vào lệnh và thoát lệnh nhiều lần trong một
phút. Vì vậy, giá dễ bị biến động trong ngắn hạn mà không nhất thiết phải tuân theo xu
hướng dài hạn.
- Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thị trường kim loại quý:
Sự hiểu biết về các yếu tố kinh tế và chính trị: Các chỉ số tác động đến lạm
phát như: Chỉ số giá tiêu dùng và sản xuất (CPI, PPI), lãi suất và đấu giá trái
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 16
phiếu đóng một vai trò lớn trong việc xác định tỷ lệ lạm phát, do đó tác động
đến giá vàng.
Các sự kiện chính trị cũng có tác động đáng kể lên giá vàng: Nếu những cuộc
xung đột ở Trung Đông tạo nên nhiều bất ổn, điều này sẽ ảnh hưởng đến độ an
toàn khi đầu tư vào trái phiếu hoặc tiền tệ của một quốc gia. Để tránh những rủi
ro này, các nhà đầu tư có thể chuyển sang đầu tư kim loại quý. Giá dầu hoặc giá
hàng hóa khác cũng có thể bị ảnh hưởng và từ đó ảnh hưởng đến thị trường kim
loại quý.
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG VÀNG:
1. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến biến động của giá vàng:
- Vàng tuy được xem là một kênh đầu tư an toàn với giá trị bền vững theo thời gian,
nhưng nhìn chung vẫn mang tính chất của một loại hàng hóa, nên không tránh khỏi
việc giá cả biến động lên xuống theo thời gian.
- Các yếu tố chính ảnh hưởng đến nó:
Kinh tế toàn cầu – lạm phát và giảm phát.
Nguồn cung và nhu cầu vàng vật chất.
Chính sách tiền tệ và mức dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương.
Giá trị của đồng USD.
Bất ổn địa chính trị và giá dầu.
Vùng cản tâm lý trong yếu tố kỹ thuật.
Hoạt động đầu cơ của các quỹ đầu tư.
Thị trường chứng khoán.
Giá cả các kim loại quý có liên quan khác.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới:
- 6 yếu tố ảnh hưởng tới giá vàng tại thời điểm hiện tại:
Sức cầu từ Ấn Độ đối với kim loại vàng: Theo báo cáo từ phía UBS, nếu đánh
giá dòng chảy vật chất vào Ấn Độ thì có thể thấy nhu cầu đầu tư tại đây vẫn rất
mạnh mẽ…. ít nhất là cao gấp năm lần so với thời điểm trước đây. Kể từ sau hai
ngày trượt giá trong tháng 4, nhu cầu mua bán cùng với chương trình cho vay
hỗ trợ của chính phủ Ấn Độ đã ít nhiều giúp quốc gia này tích lũy được nhiều
vàng hơn. Lúc này, tình trạng khan hiếm vàng vẫn tiếp diễn tại thị trường Ấn
Độ, và trên thực tế, các công ty chế tác nữ trang đã phải trả cao hơn khoảng
10~12USD/oz để đảm bảo nguồn cung trong nước.
Ngân hàng TW: Tính từ ngày 2/5/2011 cho tới 26/4/2013, ngoại trừ một lượng
nhỏ tiền vàng, mọi giao dịch vàng dường như không thay đổi trong hệ thống
các ngân hàng TW của Châu Âu. Tuy nhiên, hoạt động mua bán vàng không
được đề cập trong Hiệp định Giao dịch Kim loại quý của EOB.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 17
Tác động của đồng USD lên giá vàng:
Giá vàng hiện chủ yếu được yết bằng
USD, do vậy biến động của chỉ số USD
có ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng.
Ngoài ảnh hưởng bởi tỷ giá quy đổi giữa
vàng và USD thì ngay trong bản thân
các yếu tố tác động đến sự tăng - giảm
của chỉ số USD cũng ảnh hưởng trực
tiếp đến giá vàng theo từng thời điểm
nhất định. Thị trường chứng khoán Mỹ đang gào thét sung sướng khi chứng
kiến cảnh thu mua mạnh mẽ. Nhìn chung, có thể khẳng định rằng, mọi thứ đang
trên đà hồi phục, thế nhưng, các con số thu được sau sáu năm phục hồi lại khiến
không ít người phải thất vọng. Tỷ lệ lãi suất cho vay ở mức cực thấp cũng chính
là yếu tố tạo ra đà tăng này nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều nỗi lo. Rõ
ràng, nếu tỷ lệ lãi suất tăng thêm chút ít thôi thì thị trường chứng khoán cũng sẽ
phải hạ nhiệt. Xét cho cùng, tốc độ tăng trưởng hữu hình phải mạnh mẽ trước
khi thế giới thừa nhận rằng Mỹ đang hồi phục thực sự. Hiện thực này cũng
khiến không ít nhà đầu tư tin rằng nền kinh tế toàn cầu đang phụ thuộc chặt chẽ
vào tốc độ tăng trưởng của Mỹ. Và cho đến tận khi khái niệm này thay đổi thì
vàng vẫn tiếp tục chảy từ Mỹ sang Châu Á.
Cục dự trữ liên bang Mỹ – FED và chính sách lãi suất thấp: Nguyên thống
đốc ngân hàng của FED cho biết: “Ngân hàng TW có thể sẽ tiếp tục chương
trình nới lỏng nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm nay chưa đủ để giải quyết
vấn đề việc làm cho hàng triệu người dân Mỹ. Cụ thể, thị trường việc làm được
kỳ vọng tăng trưởng hơn 3~3.5%, nhưng có lẽ nền kinh tế lớn nhất thế giới khó
lòng thu được con số này trong năm 2013. Bởi thế, các nhà hoạch định chính
sách vẫn phải tiếp tục các động thái như hiện tại. Tại thời điểm này, nền kinh tế
Mỹ đang tăng trưởng với tốc độ vừa phải trong khi tỷ lệ lạm phát có dấu hiệu đi
xuống, thấp hơn so với mục tiêu dài hạn mà chính phủ đề ra. Dựa vào thực tế
đó, Cục Dự trữ Liên bang sẽ tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp dao động từ 0%
đến 0,25%, ít nhất là cho tới khi tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn khoảng 6,5%.
Nền kinh tế Mỹ và số liệu việc làm: Trong báo cáo mới đây nhất của Bộ Lao
động Hoa Kỳ, tháng 4 đã tạo ra 165,000 việc làm cho người dân và tình hình
tuyển dụng của hai tháng trước đó dường như sôi nổi hơn. Thị trường việc làm
trong tháng 4 có phần chững lại, phần lớn là do cú trượt giảm đột ngột trong
tháng 3. Hay nói cách khác, tình hình tuyển dụng đang dậm chân bất chấp dấu
hiệu về đợt suy thoái liên tiếp của nền kinh tế. Sau hai cú rớt giá liên tiếp của
kim loại quý, nhiều nhà đầu tư cho rằng các thông tin tài chính của Mỹ chính là
nhân tố tác động chủ yếu lên giá vàng thời điểm này. Phản ứng từ các khu vực
khác trên thế giới trước đà giảm của giá vàng cũng phần nào khuấy động thị
trường Mỹ. Trước khi hồi phục theo phân tích kỹ thuật, giá vàng vẫn đang đi
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 18
theo lối thoát của mình. Một khi hiện thực vẫn tiếp diễn thì có lẽ quan điểm của
nhà đầu tư Mỹ sẽ thay đổi nhờ những bước chuyển biến tích cực của giá vàng.
Kinh tế Châu Âu vẫn còn đó nỗi lo: Tình trạng suy thoái tại Châu Âu dường
như ngày một tồi tệ hơn khi mà nền kinh tế của Đức có nhiều dấu hiệu đi
xuống. Điều đó là hiển nhiên bởi có tới 40% khối lượng xuất khẩu của Đức là
dành cho các thành viên trong EU. Trong bối cảnh này, ngân hàng TW Châu
ÂU cũng đã quyết định hạ thấp lãi suất cho vay xuống còn 0,5%. Rõ ràng, trong
thời gian tới, Mario Draghi thậm chí còn đưa ra các mức lãi suất âm với mục
đích thúc ép các ngân hàng đổ tiền cho nền kinh tế. Tuy nhiên, bối cảnh suy
thoái cùng nhiều rủi ro gia tăng càng khiến các ngân hàng này chùn chân. Đó
cũng là lý do giải thích tại sao tình trạng khủng hoảng kinh tế tại Châu Âu ngày
một xấu đi.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam:
- Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng trong nước:
Giá vàng trên thế giới.
Cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường
trang sức.
Chính sách về vàng của các ngân hàng, công
ty vàng bạc đá quý lớn.
- Trục tam giác tạo sóng gồm vàng – USD – VND đã bị phá huỷ nên theo quan điểm
của Tổng giám đốc Công ty Vàng Việt Nam Trần Thanh Hải, cho nên 2014 không
phải là thời gian để giới đầu tư lướt sóng vàng.
- Năm 2013, vàng thế giới giảm giá mạnh nhất hơn 3 thập kỷ. Tuy nhiên giá vàng hiện
nay phụ thuộc rất lớn vào những quyết sách của bà Janet Yellen, tân Chủ tịch Cục Dự
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 19
trữ liên bang Mỹ (FED). Cách đây 8 năm, ông Ben Bernanke lên làm Chủ tịch FED đã
luôn đi theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ mà điểm nhấn là gói kích thích kinh
tế, nhờ đó giá vàng liên tục tăng cao, có thời điểm vượt ngưỡng 1.900 USD.
- Trong năm 2013, gói kích thích này đứng trước nguy cơ thu hẹp và chấm dứt, gây áp
lực lên kim loại quý khi kết thúc năm giảm 28% giá trị. Kể từ tháng 1/2014, với việc
bà Janet Yellen chính thức lên làm Chủ tịch FED, thị trường đón nhận một sự thay đổi
lớn về chủ trương đối với chính sách tiền tệ của Mỹ. Thay đổi trước tiên là trong cuộc
họp của Ủy ban Thị trường mở (FOMC) mới đây đã có định hướng thu hẹp gói kích
thích, yếu tố hỗ trợ đồng USD lên giá, đồng nghĩa với việc vàng chịu áp lực giảm.
- Để dự báo, suy đoán chính xác giá vàng trong năm rất khó. Ngay cả các quỹ đầu tư
thế giới cũng đều dựa vào một số sự kiện, dữ liệu, chỉ số kinh tế Mỹ công bố hàng
ngày, hàng tuần để điều chỉnh hoạt động mua bán. Muốn đầu cơ đẩy giá lên xuống
không hề đơn giản. Nguyên tắc chung là giá vàng biến động đều có lý do. Bởi lẽ, bên
cạnh áp lực đồng USD mạnh lên khiến vàng giảm thì cũng có vài yếu tố hỗ trợ như
một số ngân hàng trung ương khác đang duy trì gói kích cầu để hỗ trợ nền kinh tế.
- Đồng thời trong năm 2014 Ngân hàng Nhà nước vẫn là cơ quan chủ đạo trong xuất
nhập khẩu vàng nên chắc chắn sẽ không có nhiều biến động lớn. Diễn biến giá bên
cạnh sự chi phối của tỷ giá sẽ chịu tác động từ thị trường thế giới.
- Do đó, nếu giá quốc tế xuống quanh vùng 1.000 USD thì vàng trong nước sẽ vẫn dao
động vùng 34 triệu đồng, còn khi thế giới vượt lên trên 1.200 USD, giá sẽ lại tăng
mạnh lên nhưng không vượt quá 37 triệu đồng.
- Nhu cầu hiện vẫn luôn rình rập mà nguồn cung thì độc quyền từ Ngân hàng Nhà
nước. Do đó, dù giá thế giới có giảm mạnh, trong nước vẫn ổn định quanh 34 triệu
nhưng chỉ cần giá quốc tế tăng lên một tí thì trong nước sẽ tăng lên ngay.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 20
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA VÀNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG
TÀI CHÍNH
- Khi người dân nắm giữ một khối lượng vàng lớn, nó sẽ trở thành luồng vốn hoạt
động không chính thức, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tiền tệ, tăng trưởng
kinh tế nói chung và hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng.
- Mặt khác, giá vàng tăng cao gây ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế
vĩ mô trong trung hạn. Xét từ quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến ảnh hưởng gián tiếp có
thể thấy tác động của giá vàng tăng như sau:
Ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn của khu vực tài chính: Khi
giá vàng tăng, người dân rút tiết kiệm để đầu tư vàng thay vì gửi tiết kiệm tại
ngân hàng. Đồng thời, vốn rút ra lại loanh quanh ở thị trường vàng và ngoại tệ,
dẫn đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương mại bị giảm sút, ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh
tế nói chung.
Thị trường ngoại tệ tự do bành trướng: Tình trạng đô la hóa của Việt Nam
không chỉ biểu hiện bằng tỷ lệ tiền gửi/tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng
mà còn là khối lượng ngoại tệ lưu hành ngoài hệ thống tài chính. Khi giá vàng
tăng làm cho nhu cầu mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lậu dẫn
đến tỷ giá USD tăng, khó kiểm soát.
Nguy cơ lạm phát: Chưa có thống kê được quy luật cụ thể cho mối liên quan
chặt chẽ giữa vàng và lạm phát. Tuy nhiên trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế
dẫn đến hiện tượng dùng vàng để định giá các tài sản lớn, điển hình là giá bất
động sản. Khi vàng trở thành thước đo giá trị, việc vàng tăng giá kéo giá bất
động sản và các loại hàng hóa khác tăng theo, gây nguy cơ lạm phát.
Thâm hụt cán cân thương mại: Khi giá vàng tăng thì nhập khẩu vàng tăng và
nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu càng lớn. Với khối lượng vàng cất trữ rất lớn và
gia tăng nhanh chóng những năm gần đây giải thích vì sao thâm hụt cán cân
thương mại.
Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán vốn được
xem là hàn thử biểu của nền kinh tế. Khi giá vàng tăng với mức sinh lợi kỳ
vọng hấp dẫn, các công ty chứng khoán một mặt vừa chú tâm theo dõi diễn biến
của thị trường vàng, mặt khác vừa lo ngại một số nhà đầu tư chứng khoán sẽ
dịch chuyển danh mục đầu tư sang vàng. Nếu nhiều nhà đầu tư chuyển hướng
đầu tư sang vàng, thị trường chứng khoán sẽ thiếu tính thanh khoản, và điều này
sẽ gây ảnh hưởng đến sự phục hồi và sự tăng trưởng của thị trường chứng
khoán và nền kinh tế.
Ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ: Với số liệu trên cho thấy tỉ
trọng vàng trên GDP ở Việt Nam rất lớn. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến điều
hành chính sách tiền tệ. Đơn cử, với tổng phương tiện thanh toán không kể
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 21
vàng (M2) thì hệ số nhân tiền theo tính toán của các chuyên gia khoảng 4,8.
Nhưng nếu tính gộp M2 + vàng thì hệ số này chỉ còn 2,0. Rõ ràng rằng có rất
nhiều vấn đề đối với hệ thống tiền tệ đang bị chi phối bởi khối lượng vàng và
thị trường vàng đang bành trướng hiện nay.
Như vậy, vàng không còn là vấn đề nhỏ của các nhà kinh doanh, mà đang thực
sự trở thành một lực lượng thị trường có khả năng chi phối cả tiết kiệm, đầu tư, cán
cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ và hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Vì vậy, việc
quản lý thị trường vàng, vấn đề vàng hóa và đô la hóa cần phải được nghiên cứu toàn
diện hơn để có chiến lược và chính sách hợp lý.
Lý thuyết tài chính tiền tệ - Thị trường vàng và kim loại quý
Page 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ TRANG WEB THAM KHẢO:
1.
2. />2709353.html
3. sanvangonline.com.vn/showthread.php/39-Lịch-sử-hình-thành-và-phát-triển-
trên-thị-trường-vàng-thế-giới
4. />vang-cua-chau-phi.html
5. />gioi.htm
6.
7. />dinh/126/3822572.epi
8. />kim-loai-quy-vang-bac
9. />kim-loai-quy/
10. />vang/30513.tctc
11. />diem-hien-tai/
12. />giua-vang-va-thi-truong-tien-te.forex
13.
14. />hoat-dong-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-nhtm 581723.html