TƯ LIỆU CHUYÊN MÔN.
-------------------------SÁNG KIẾN MẪU:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
Khoa học giáo dục
1
LỜI NĨI ĐẦU
Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn
lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự
thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng
có vai trị và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người
Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và
nhà nước luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Với chủ đề của
năm học là “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo
dục” đối với giáo dục phổ thông. Để đạt được mục tiêu trên địi hỏi
người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội
dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm
sinh lí của học sinh, về nhu cầu và khả năng của học sinh. Đồng thời
người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Căn cứ
chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ
sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh. Coi trọng sự tiến bộ
của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích
khơng gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội
cho tất cả học sinh hồn thành chương trình và có mảng kiến thức
dành cho đối tượng học sinh năng khiếu. Việc nâng cao cất lượng
giáo dục toàn diện cho học sinh là nhiệm vụ của các trường và giáo
viên. Để có chất lượng giáo dục tồn diện thì việc giáo viên sáng tạo
viết sáng kiến là vô cùng quan trọng. Sáng kiến kinh nghiệm
(SKKN) của người giáo viên (GV) là nhằm thúc đẩy việc nghiên
2
cứu, ứng dụng trong việc giảng dạy, quản lý. SKKN không chỉ mang
đến những đổi mới, sáng tạo trong công tác dạy và học, mà cịn giúp
người GV thốt khỏi sức ỳ. Hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm
(SKKN) là một hoạt động nằm trong nhiệm vụ, kế hoạch chuyên
môn của từng năm học được ngành và các trường học tiến hành song
song cùng với hoạt động dạy- học và một số hoạt động khác....Nó
phải được coi là nghiên cứu khoa học hay phương pháp dạy học của
giáo viên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này còn tồn tại
nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận, đánh giá, hiểu đúng bản chất của
nó. Vì vậy, ở bài viết này tôi muốn mạn phép chia sẻ với bạn đọc để
phần nào hiểu đúng bản chất của hoạt động trên. "Sáng kiến kinh
nghiệm" là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người viết tích
lũy được trong thực tiễn cơng tác giảng dạy và giáo dục, bằng những
họat động cụ thể đã khắc phục được những khó khăn mà với những
biện pháp thơng thường khơng thể giải quyết được, góp phần nâng
cao hiệu quả rõ rệt trong công tác của người giáo viên. Để có tài liệu
nghiên cứu, viết sáng kiến kịp thời và sát với chương trình học, phù
hợp với cơng việc của giáo viên, tôi đã nghiên cứu biên soạn: “Sáng
kiến mẫu: “Một số biện pháp, giải pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong
dạy học Lịch sử ở trường THPT”. Tài liệu nhằm giúp giáo viên có
cơ sở, định hướng để viết sáng kiến hiệu quả hơn để nâng cao chất
lượng dạy học của mình.
Trân trọng giới thiệu với thầy giáo và cô giáo cùng quý vị bạn
đọc tham khảo và phát triển tài liệu:
Phần thuyết trình
3
SÁNG KIẾN MẪU:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
Trân trọng cảm ơn!
4
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................................3
1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................3
2. Mức độ nghiên cứu đề tài ............................................................................8
3. Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu ..................................................8
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài .........................................................................9
5. Kết cấu của đề tài ...................................................................................... 12
NỘI DUNG ................................................................................................... 13
Phần I . Nêu thực trạng của vấn đề .............................................................13
1. Thuận lợi ................................................................................................... 13
2. Khó khăn ................................................................................................... 14
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính................... 15
1. Thực trạng và giải pháp.......................................................................... 15
1.1 Giảng dạy sơ đồ tư duy nhằm tăng tính tích cực trong HS..................... 15
1.2 GV trở thành người hướng dẫn hỗ trợ..................................................... 16
1.3 Những lưu ý HS khi sử dụng sơ đồ tư duy............................................... 19
2. Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy..................................... 20
2.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy............................................................ 20
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học................................ 20
2.3 Giới thiệu một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy.................................... 22
3 Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy............................................... 24
Phần III. Kết quả và bài học kinh nghiệm và kiến nghị .......................... 37
1. Kết quả....................................................................................................... 37
2. Bài học kinh nghiệm.................................................................................. 38
3. Kiến nghị.................................................................................................... 42
KẾT LUẬN ...................................................................................................44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................47
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài, thuận lợi và khó khăn
Từ lâu, dạy học theo kiểu “đọc – chép” được coi là một phương pháp
dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử dụng phổ biến ở nhiều
trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng đã có nhiều cuộc hội
thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực hơn… nhưng hiện
tại khơng ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu “đọc – chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải đọc
cho học sinh chép như mơn chính tả...ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghi lên bảng
các công thức toán học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử, một số yếu tố
địa lý, đoạn thơ, các khái niệm...ở bậc Trung học, điều này khơng có nghĩa là
giáo viên đã sử dụng phương pháp “đọc – chép”.
Cũng phải khẳng định rằng, trong giáo học pháp, chưa bao giờ trong
trường học có phương pháp dạy học mang tên “đọc – chép”. Do đó, “đọc” thế
nào và học sinh “chép” ra sao mới là quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ
6
trương chống việc dạy học “chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép” nghĩa là chống
việc chỉ đọc chép, truyền thụ kiến thức một chiều trong cả một tiết lên lớp.
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khn trong dạy học,
dễ có tư tưởng phó mặc, khơng hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng
tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối
tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu.
Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một
chiều, không động não suy nghĩ, khơng biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở
nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học
thuộc. Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy
vào bài làm, khơng có khả năng sáng tạo, học sinh hiểu bài một cách máy móc
khơng sáng tạo, khơng thể hiện được “cái riêng” của mình hoặc khơng dám thể
hiện “cái riêng” của mình. Bài dạy học đọc – chép tất yếu phải được tổ chức
theo phương thức diễn dịch, do đó tiết dạy “đọc – chép” sẽ nhàm chán và
mang tính áp đặt.
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể kể
ra một số nguyên nhân sau:
Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong
một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm
tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút
để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”.
Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ
động trong học tập nên cũng có thầy cơ chọn cách đọc bài, học trị chép bài.
Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ
cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao…
Cũng cịn một số giáo viên khơng chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài
dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất
sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng
7
lại ghi vài chữ lên bảng. Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa
không tốn sức.
Trang thiết bị và các phịng học chức năng khơng đủ hoặc khơng có để
đáp ứng nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại hóa, học sinh khơng có
nhiều điều kiện để thực hành hoặc học theo phương pháp trực quan sinh động.
Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng cao
chất lượng dạy học đối với tất cả các mơn học. Đó là một nhiệm vụ vơ cùng
khó khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực hiện tốt
việc chống dạy học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quá trình lâu dài với sự
cố gắng của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của thầy cơ giáo là
điều hết sức quan trọng mới có thể có kết quả.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã Chỉ thị chấm dứt việc
dạy học chủ yếu qua đọc chép và nhìn chép ở bậc trung học phổ thông.
Đây là chủ trương phù hợp với tiến trình đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục, đáp ứng sự mong đợi bấy lâu nay của nhiều giáo viên tâm
huyết với giáo dục, giúp học sinh chủ động học tập và sáng tạo.
Có thể nói, nhiều năm qua việc giáo viên đọc cho học sinh chép bài đã
trở thành thói quen của phần lớn thầy – trị bậc phổ thông, kể cả đại học. Nhiều
nhà nghiên cứu giáo dục và dư luận lên tiếng khơng đồng tình, thậm chí phản
đối gay gắt và đề nghị chấm dứt việc dạy học theo kiểu đọc chép, nhưng có lẽ
do còn nhiều việc phải giải quyết, nên mãi đến năm học này, Bộ Giáo dục và
Đào tạo mới có ý kiến chính thức bằng văn bản.
Dạy theo kiểu “đọc cái có sẵn cho học sinh chép vào vở” cứ lặp đi lặp
lại nhiều năm, khiến công việc của các nhà giáo trở nên nhàm chán, khơng có
động lực để đổi mới. Còn với học sinh, dẫu biết rằng phải chép bài của thầy
đọc từ sách giáo khoa, cái mà các em có thể tự đọc – là một sự miễn cưỡng.
Nhưng biết làm sao, khi thầy yêu cầu trả bài phải đúng, thậm chí đúng nguyên
văn những lời thầy đọc.
Đã có những bài thi ngây ngơ đến mức khó tin, bởi thiếu phương pháp
tư duy, rập khn máy móc do việc học lệ thuộc hồn tồn vào thầy, cịn thầy
8
thì lệ thuộc sách giáo khoa. Cách dạy và học này cịn tiếp tay cho nạn quay
cóp, gian lận trong thi cử, tạo ra sự thiếu công bằng giữa những người học
nghiêm túc và những người thầy thực sự muốn đổi mới cách dạy học.
Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miên khiến
các em khơng đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việc tìm tịi, suy
luận để có kiến thức thực sự? Nhưng vấn đề đặt ra, thế nào là thầy khơng đọc,
trị khơng chép? Khơng đọc kiến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa, thì thầy
sẽ nói gì để các em ghi lại và phát triển tư duy?
Chỉ thị không đọc – chép trên lớp sẽ thực hiện từ năm học này. Nếu
không chuẩn bị kỹ lưỡng với một tinh thần hưởng ứng nhiệt tình, có thể xảy ra
tình trạng, giáo viên photo bài giảng và bộ câu hỏi rồi phát cho học sinh tự
đọc, tự trả lời để tránh tiếng “thầy đọc, trò chép”. Và cũng khơng loại trừ xảy
ra chuyện, thầy cứ giảng, trị muốn ghi gì cũng được mà khơng biết đâu là nội
dung chính để tập trung học hỏi. Rồi khi thi kiểm tra chất lượng, thầy có chấp
nhận nội dung bài thi khác với ý của mình hay khơng.
Đội ngũ giáo viên hiện nay phần lớn cũng được đào tạo bằng phương
pháp “đọc – chép” nên để thay đổi cách giảng dạy cũng khó có thể đạt kết quả
một sớm một chiều. Trong khi đó, bộ sách giáo khoa bậc phổ thơng đang tiếp
tục được thay đổi và nội dung còn khá nặng nề cũng là một lực cản trong q
trình nói khơng với “đọc – chép”.
Thực tế những năm qua có nhiều giáo viên (kể cả bậc đại học) đã áp
dụng phương pháp giảng dạy không đọc chép cho học sinh, sinh viên và đem
lại hiệu quả rõ nét. Nhưng vì khơng có động lực, thiếu sự khuyến khích, động
viên và tiêu chí rõ ràng, nên cách làm này chỉ có tính tự phát ở một số ít
người.
Chấm dứt tình trạng không đọc chép sẽ trở thành hiện thực nếu đội
ngũ giáo viên được coi trọng, nếu đội ngũ giáo viên có động lực và sự đánh giá
nghiêm túc, cơng bằng từ các cơ quan quan quản lý.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp
những thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến
9
ở các ngành học, cấp học. Công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện
hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong q
trình dạy học nói chung và đối với bộ mơn lịch sử nói riêng.
Sở GD&ĐT tỉnh nơi tơi công tác đã triển khai cho các Trường THCS
trong tỉnh thực hiện dạy học theo “Sơ đồ tư duy” và mỗi trường THPT cử một
giáo viên dự lớp tập huận đổi mới phương pháp dạy học theo phương pháp
mới do Microsoft tài trợ, nhưng hiện nay chưa triển khai đến giáo viên các
trường THPT, trong đó có nêu lên chỉ thị “chấp dứt hồn hồn việc đọc – chép
hoặc nhìn – chép ở trường THPT” và thầy Hiệu trưởng có giới thiệu một
phương pháp giảng dạy mà từ lâu các nước tiên tiến trên thế giới đã áp dụng
trong dạy học đó là sử dụng sơ đồ tư duy và đã cho giáo viên xem một số hình
ảnh minh họa các “sơ đồ tư duy” mà học sinh các trường đã thực hiện.
Sự việc nầy đã làm tôi liên tưởng đến lớp học của chương trình đổi
mới phương pháp dạy học do chương trình Microsoft tài trợ và huấn luyện mà
tôi đã tham dự, tôi hỏi thăm một số thầy cô đã được cử đi tập huấn ở Singapor
và được biết các trường học ở Singapor cũng đã thực hiện cách dạy nầy rồi.
Tôi đến các lớp hỏi thăm học sinh lớp 10 có biết ghi bài bằng sơ đồ tư duy hay
khơng thì các em trả lời ở Trường THCS các em cũng đã được dạy rồi.
Từ đó tơi mới tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “Sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT” và bài trả lời cho câu hỏi làm thế
nào để đổi mới phương pháp dạy học “không đọc – chép ; khơng nhìn – chép”
theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà tôi trăn trở băn khoăn bấy lâu nay
đã có cách để giải quyết
Qua nhiều năm học áp dụng cho học sinh lớp 10 và lớp 12 ở Trường
THPT nơi tôi công tác ở bộ môn lịch sử, tôi nhận thấy đây là cách dạy mang
lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết vận dụng các kĩ năng CNTT vào tiêt dạy
thì sẽ giúp học sinh hứng thú, yêu thích tiết học lịch sử hơn so với một tiết dạy
bằng giáo án điện tử thông thường.
10
2. Mức độ nghiên cứu đề tài
Vì trong năm học nầy tôi được phân công giảng dạy Lịch sử lớp 10 và
lớp 12 nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụ trách. Trong
phạm vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong vấn đề
lớn : “Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy”.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn Lịch sử 10 và 12 theo sơ đồ tư
duy và chuẩn KTKN được điều chỉnh”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn LS lớp 10 và lớp 12 ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành cơng, sẽ
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Theo GS – TS Đinh Quang Báo,
nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, để cuộc vận động này
thành cơng, thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định. Do vậy ngay từ khâu
đào tạo giáo viên ở các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo họ biết cách
“không đọc chép”.
11
Nói thì dễ nhưng làm thật khó. Nhiều đồng nghiệp đã nhận thức được
sự tai hại của việc dạy học theo lối đọc chép, nhưng quả thực để “Nói khơng
với đọc chép”, có người chưa biết nên bắt đầu từ đâu, làm như thế nào, thậm
chí cịn rất ái ngại, vì thay đổi một tập qn khơng dễ gì nếu thiếu một quyết
tâm và sự định hướng.
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng
u cầu phát triển xã hội, và để “Nói khơng với đọc chép”, giáo viên lịch sử
cần lưu ý một số điểm sau đây:
Trước hết, giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc
dạy học lịch sử là phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản
về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương, qua đó giáo dục tư
tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống cho học sinh. Nghĩa là phải vừa khai
trí vừa khai tâm cho các em. Hai nhiệm vụ này luôn gắn chặt và hỗ tương với
nhau. Phải giúp cho các em am tường và biết cách vận dụng những tri thức
lịch sử vào cuộc sống.Trong sách giáo khoa, các nội dung sự kiện được trình
bày một cách cơ đọng vốn đã rất cần sự phân tích diễn giải, minh hoạ, so sánh,
đối chiếu để giúp học sinh hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Nếu dạy theo lối
đọc chép, có nghĩa giáo viên một lần nữa tóm tắt sách giáo khoa, đọc cho các
em chép rồi buộc các em phải học thuộc lòng. Làm như vậy, bộ môn lịch sử sẽ
trở nên giáo điều, nhồi nhét, vì học sinh chẳng thể nào hiểu nổi một vấn đề,
một sự kiện và như vậy việc học tập trên lớp trở nên vơ bổ, thậm chí làm cho
các em có cảm giác như bị “tra tấn” trong học tập bộ mơn.
Để “Nói khơng với đọc chép”, địi hỏi giáo viên phải có tâm huyết với
nghề nghiệp, phải ln thấy được trách nhiệm và uy tín cá nhân của mình
trước hết là đối với học sinh. Cần phải tích cực đầu tư chun mơn và khơng
ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ. Việc đầu tư chun mơn địi hỏi
phải tiếp cận với thơng tin khoa học chuyên ngành. Điều kiện sách vở, tài liệu
tham khảo và các nguồn thông tin cần thiết hiện nay không đến nổi quá khó
khăn. Mỗi khi đã có sự hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, giáo viên dễ dàng lựa
chọn phương pháp để giảng dạy, vì phương pháp là sự vận động của tri thức.
12
Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dung kiến
thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu
tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho học sinh. Để
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp dạy học sử
dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề cơ
bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho
học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính
tích cực và huy động bộ não các em làm việc hết cơng suất cho mỗi bài học, sẽ
khơng cịn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu
và làm việc với giáo viên trong tiết học.
Việc học sinh tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những yêu cầu của
bài học vừa có tác dụng phát triển tư duy vừa gây hứng thú học tập. Tất nhiên
vai trò dẫn dắt của người thầy là hết sức quan trọng. Dạy học là một nghệ
thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của giáo viên, những “phần
xác” lịch sử sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động và đẹp đẽ, giúp các em
cảm nhận tốt hơn, u thích hơn bộ mơn lịch sử.
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú
và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết
khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng
dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật
sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng “đọc chép” một cách có hiệu quả.Việc sử dụng
sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi hỏi giáo viên phải có
sự đầu tư cơng sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm tốt cơng việc này sẽ
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy và hiên tượng “đọc chép” sẽ
khơng có cơ hội để tồn tại.
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ
thể của quá trình dạy học. Dạy học theo lối đọc chép có nghĩa giáo viên đã thủ
tiêu mất vai trị chủ thể của học sinh, đưa các em vào trạng thái hoàn toàn thụ
động, bị nhồi nhét một cách đáng thương. Việc tạo ra mơ hình dạy học sử dụng
sơ đồ tư duy trong đó học sinh có điều kiện trao đổi với thầy với bạn, sẽ phát
13
huy tốt tính tích cực, chủ động của các em, giúp các em vươn lên chiếm lĩnh tri
thức.Thay đổi mô hình dạy học theo sơ đồ tư duy là một u cầu khơng thể
thiếu được. Nó vừa phát huy tốt ưu thế của bộ môn, vừa tạo được sự hấp dẫn,
hứng thú đối với học sinh. Cần chú ý mô hình dạy lịch sử theo sơ đồ tư duy,
giảm dần tính biên niên trong dạy học lịch sử.
Khả năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống là cái đích của việc
dạy học bộ mơn. Khả năng đó có được từ nghệ thuật truyền dạy và tổ chức rèn
luyện của giáo viên cho các em. Học lịch sử mà không liên hệ được thực tế,
không làm bài tập thực hành, sẽ khơng thể nào có được năng lục vận dụng và
như vậy sự học trở nên vô bổ. Cuộc sống đang đặt ra vô vàn những vấn đề
phức tạp, hiểu sâu sắc lịch sử để lý giải những vấn đề của cuộc sống hiện tại là
vô cùng cần thiết, nó tỏ rõ ưu thế của bộ mơn. Khơng làm tốt điều này xem
như giáo viên lịch sử chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Dạy học “đọc chép” sẽ phải kiểm tra đánh giá theo kiểu “đọc chép”
và ngược lại. Đó là lẽ đương nhiên. Đổi mới phong cách dạy học phải đi liền
với việc thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá. Giáo viên phải biết trăn trở, lựa
chọn hình thức và nội dung kiểm tra để đánh giá đúng thực lực học sinh, đồng
thời tự kiểm tra năng lực giảng dạy của mình một cách chính xác. Phải hết sức
nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá thì mới tạo được sự chuyển biến về chất
lượng đào tạo và mới có thể “Nói khơng với tiêu cực trong thi cử”.
14
5. Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3
phần :
-Phần I : Nêu thực trạng của vấn đề.
-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính.
-Phần III : Kết quả, bài học kinh nghiệm và kiến nghị
15
NỘI DUNG
Phần I . Nêu thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
Được tham dự lớp tập huấn “Phương pháp dạy học mới” và những
năm qua đã soạn giảng khá tốt bộ giáo án điện tử lớp 10 và lớp 12 nên có thuận
lợi hơn khi áp dụng đề tài hướng dẫn học sinh bậc THPT thực hiện ghi bài theo
sơ đồ tư duy.
Trường THPT nơi tôi công tác được đâu tư xây dựng thành đơn vị
Trường THPT chất lượng cao và được Sở đầu tư lắp đặt mỗi phịng học đều có
một bộ máy chiếu để giáo viên giảng dạy tại lớp. Mỗi giáo viên chỉ cầng dùng
một USB ghi nội dung bài dạy và đến lớp để sử dụng ngay trong tiêt dạy tại
lớp nên rất thuận tiện cho giáo viên và học sinh khi áp dụng phương pháp
giảng dạy mới sử dụng sơ đồ tư duy.
16
Học sinh các lớp THPT của tỉnh nơi tôi công tác bước đầu đã được
làm quen với cách ghi bài theo sơ đồ tư duy ở các trường THCS nên các em
tiếp thu cách học mới dễ dàng hơn ở bậc THPT.
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ
cho giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu.
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ, hầu
như đa số giáo viên của các trường THPT đều chưa giảng dạy học sinh theo
phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào trong một tiết dạy.
Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiện cho
học sinh và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theo phương pháp
mới nầy nên tôi phải cho học sinh lớp 10 và lớp 12 xem phim minh họa, hướng
dẫn học sinh cách sử dụng phần mềm, cách vẽ sơ đồ tư duy lại từ đầu (xem
phim hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy theo dĩa CD đính kèm).
17
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”
1. Thực trạng và giải pháp:
1.1 Giảng dạy theo sơ đồ tư duy tăng cường tính tích cực của học sinh
Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai giảng dạy theo sơ đồ tư duy ở
bậc học THPT. Qua thực tế cho thấy việc giảng dạy này đã tạo hứng thú cho
học sinh. Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn
của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Cùng một nội
dung nhưng các em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ
nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của
mình.
Ngay từ đầu năm học, sau khi đăng kí đề tài SKKN tơi đã tìm hiểu, áp
dung dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy. Từ đó tơi tự lập kế hoạch giảng dạy cho
từng tiết học. Nếu khơng sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng
18
hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp
học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học.
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn
gọn thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng). Từ phần nội
dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài
giảng và chú thích, giảng giải theo một ngơn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học
sinh.
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả
bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được
khái niệm qua hình vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên
cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng.
Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh
khơng chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn
lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ,
chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên
bảng rồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành
từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định
hướng lại từng nội dung cho học sinh.
Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay
tỷ lệ nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy
màu sắc và thực sự hiệu quả. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy phát huy tính tích
cực nhiều nhất trong các giờ ơn tập. Khi học sinh trở thành chủ thể thành
nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở nên hào hứng và hăng
say hơn trong học tập.
1.2 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức
cho học sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động. Với
việc giảng dạy bằng sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng
sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua
19
sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổ sung những phần cịn thiếu. Kết thúc bài
giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài
học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết
học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm
của bài học. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận
dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế
trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể
thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận
dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc,
hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa
học.
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử
dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tịi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt
những ý chính của một nội dung, hệ thống hố một chủ đề. Nó là một cơng cụ
tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ
biến rộng khắp thế giới.
Tony Buzan sinh năm 1942, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên
cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map.
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập
đồn, cơng ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp
Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe
chương trình của ơng (ơng đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về
lĩnh vực nghiên cứu của mình).
20